|
|
MỤC
LỤC
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
.
Sắp
Tết đến nơi rồi. Ngồi bên vỉa hè ngập nắng trước ngôi
chùa suốt ngày đóng cổng tam quan im ỉm tịch lặng, dì Thanh
rơm rớm nước mắt nhìn dòng người ngược xuôi tấp nập
trên đường, ai nấy cũng lăng xăng sắm sửa chuẩn bị tống
tiễn năm cũ, còn dì thì cứ như bất động, muốn động
đậy cũng không còn sinh lực để nhấc cử tay chân. Bây giờ
có muốn lo toan đèo bòng cùng thiên hạ, sắm thứ này thứ
nọ, thì dì cũng chẳng có tiền để mà đứng dậy đi ra
chỗ chợ búa xôn xao trăm hàng khoe sắc. Dì cúi xuống nhìn
bé Trang đang nằm ngủ thật vô tư trên manh chiếu rách nát.
Tội nghiệp cho bé, mới năm tuổi đầu mà phải chịu đời
gió sương nắng bụi, không hưởng được tình thương yêu
của cha của mẹ. Dì Thanh chỉ là dì ruột, vì tình huyết
thống mà đưa tấm thân mang tật nguyền ra để cưu mang hai
đứa cháu nhỏ dại bị cha mẹ bỏ rơi. Dì đã ôm lấy bé
Trang, và thằng cu Hoài anh nó, vào vòng tay đầy hơi ấm của
mình vào một đêm đông rét buốt, khi cha chúng đã bỏ xứ
đi biền biệt mang theo tất cả vốn liếng để xây tổ uyên
ương mới với một người phụ nữ lẳng lơ xinh đẹp. Mẹ
của chúng, chính là em ruột duy nhất của dì, cũng là loại
người vô tâm, lẳng lặng bán đi căn nhà, đem hai con của
mình gửi vào nhà trẻ của xã, rồi ôm vàng chạy đi theo
duyên mới với một anh tài xế quê tận xa xa, không màng quay
lại đón con. Dì Thanh choáng váng, khóc đến mất cả giọng,
khi căn nhà nhỏ tuềnh toàng đơn sơ của cha mẹ để lại
cho hai chị em dì đã thuộc về quyền sở hữu hợp pháp của
người khác. Một ông kinh doanh địa ốc đã mua đứt cả
nhà và đất, lạnh lùng dẫn người lại tống khứ dì ra
khỏi nơi bao năm nương náu. Đã vậy, hai đứa bé côi cút
bơ vơ còn khóc ré lên, ôm níu lấy đôi chân teo tóp khẳng
khiu của người dì ruột mà cầu cứu... Dì cháu ôm nhau khóc
ròng, gom góp được ít đồ đạc, lết vào sân đình tạm
trú một thời gian. Bà con trong thôn xóm cũng đã hết lòng
giúp đỡ, động viên dì Thanh trong những tháng ngày sống
vất vơ chẳng nhìn thấy được ngày mai. Nhưng vì là quê
nghèo cằn cỗi, sự giúp đỡ lúc ngặt nghèo của mọi người
chỉ như đem muối bỏ bể, dì Thanh buộc lòng phải mạo hiểm,
cùng hai cháu còn nhỏ dại trôi dạt về thị trấn kiếm ăn,
sống nhờ vào lòng hảo tâm của người qua kẻ lại mấy
tháng trời. Rồi, dì lại đưa hai cháu cùng với mình về
thành phố, với hy vọng sẽ tìm đươc người mẹ vô tâm
của hai đứa bé trong thời gian ngửa tay đưa nón ăn mày thiên
hạ. Cuộc sống trôi sông lạc chợ của dì cháu cứ mãi tiếp
diễn tưởng chừng như bất tận, chút hi vọng trong dì chỉ
còn là đốm lửa nhỏ leo lét đang dần dần nguội lạnh,
sắp sửa thành tro bụi bay đi. Gần cả tháng nay, hai chân
dì đau nhức đến độ phải cắn môi đến tươm máu để
chịu đựng, bé Trang thì cứ sốt từng cơn vào mỗi chiều
xuống, dì phải luôn túc trực bên đứa cháu tội nghiệp
mà lúc này dì đã xem như là đứa con đứt ruột đẻ đau
của mình, không thể lê lết ra chợ để bán vé số như mọi
ngày. Chỉ còn thằng cu Hoài là được trời thương, trời
ban cho khỏe mạnh nhanh nhảu, nó đã một mình đi khắp các
ngõ ngách trong thành phố để bán vé số, nếu gặp khách
cần thì đánh giầy, kiếm được bao nhiêu đều mang về đưa
hết cho dì. Dì Thanh chọn vỉa hè trước ngôi chùa để nghỉ
ngơi cho yên tịnh, dì cảm thấy yên tâm phần nào khi nhìn
thấy được hình bóng của đức Quán Thế Âm Bồ Tát bên
trong sân chùa im ắng. Không nhang đèn, không hoa quả cúng dường,
dì chỉ có một cái Tâm chân thành và lòng tin mãnh liệt để
khấn cầu đấng từ bi gia hộ cho dì và hai đứa cháu ngây
thơ bé bỏng được tai qua nạn khỏi, có được chút niềm
vui vào những ngày cuối năm đang đua nở trăm hoa. Lời khẩn
cầu tha thiết bi ai của dì chừng như bay vào khoảng không
rồi tan biến vào hư vô, không được nghe một lời hồi âm
từ bên trong chốn già lam tịch lặng... Trưa rồi, nắng lên
trên đỉnh đầu rồi mà dì chưa thấy bóng dáng của thằng
cu Hoài trở về cùng với thức ăn trưa mà khi sáng dì đã
dặn dò nó mua. Tội nghiệp cho thằng nhỏ, chiều hôm qua nó
đi bán vé số về, hí hửng đưa cho dì cả trăm nghìn đồng,
một tờ giấy bạc mệnh giá một trăm nghìn đồng còn mới
tinh thơm phức, nói rằng được một bác xe ôm tặng cho, nhờ
nó đã bán cho bác hai tờ vé số trúng giải nhất. Dì cháu
chưa kịp mừng, thì tối hôm ấy bị cả băng đầu trâu mặt
ngựa của xóm chợ kéo đến trấn lột sạch. Dì cháu chỉ
còn biết ôm nhau mà khóc tức tưởi. Thằng cu Hoài nói: “Thôi,
để mai con đi tìm bác xe ôm, mét cho bác nghe, thế nào cũng
cho con lại số tiền đó!”. Nó đi cả buổi sáng, không thấy
quay về, vậy là dì đủ hiểu nó đã không gặp được lại
người mà nó cần tìm. Thôi thì không cầu tờ giấy bạc
một trăm nghìn nữa, dì chỉ mong cho thằng cháu trở về lành
lặn, đừng gặp phải chuyện gì đau buồn trong khi đi bán
mấy chục tờ vé số – vốn liếng còn sót lại nhờ dì
giấu trong chiếc gối nhỏ của bé Trang nằm – và mang thức
ăn về để dì cháu ăn qua loa xong bữa. Bé Trang đã thức
giấc, dụi mắt, lồm cồm ngồi dậy, cặp mắt to có đôi
tròng đen lay láy đảo nhìn bốn bên, hỏi dì: “Anh Hoài của
con đâu rồi dì Hai?”. Dì xoa đầu cháu, nghẹn giọng: “Sắp
về rồi con. Ráng chờ chút xíu nữa...”. Dì ngóng về phía
đầu đường, lòng sôi bỏng đến quên cả đôi chân đang
nhức nhối. Bé Trang ngồi dựa hẳn vào người dì, nói lí
nhí: “Con đói bụng quá...”. Tim dì như vừa bị một bàn
tay thô lỗ vô hình bóp cấu. “Ừ, ráng chờ một chút nữa
thôi, anh con sắp mang bánh mì thịt về rồi. Dì cho con ăn
cả một ổ luôn nhé!”, dì dỗ dành cháu với lệ lưng tròng,
rồi bần thần nhìn lên trên trời cao. Nắng chói chang. Bóng
mát của cây hoa sứ sát tường phía bên trong chùa đã chạy
đi mất rồi. Dì lấy chiếc nón lá tả tơi che lên đầu cho
đứa cháu gái. Bé Trang chợt hỏi: “Cái cô Bồ Tát gì đó
đến thăm dì chưa vậy?”. Dì nhíu mày: “Cô Bồ Tát nào?”.
Bé Trang dụi mắt, nhìn quanh, nói: “Cô Bồ Tát hiện thân
mà hôm qua anh Hoài của con kể đó!”. Dì giật mình, chợt
nhớ ra câu chuyện "vu vơ vớ vẩn" do thằng cu Hoài huyên thuyên
kể cho dì và bé Trang nghe hồi chiều hôm qua, sau khi nó khoe
xong chuyện được bác xe ôm thưởng tiền. Chuyện về một
cô gái được mang tên hiệu “Bồ Tát hiện thân”.
Thằng
cu Hoài nghe người ta, những người bần cùng vô gia cư sống
rày đây mai đó trên các vỉa hè ở khu vực trung tâm thành
phố, kể cho nghe về sự xuất hiện của một cô gái giàu
có trong thời gian gần đây. Cô gái đi trên một chiếc xe
con đã cũ kỹ, có tài xế riêng, đến với những người
sống lang thang vất vưởng, nhất là trẻ em tàn tật, mồ
côi, bằng một tình thương đặc biệt và sự giúp đỡ thiết
thực hiếm thấy. Nghe rằng, đã có hằng trăm người tàn
tật được cô gái tặng cho xe lăn, có hằng trăm trẻ em được
tặng quần áo và sách vở, có hằng trăm người già neo đơn
được lo cơm ăn áo mặc và thuốc men chữa bệnh ... Cô gái
hiện ra như một vị thần tiên, rồi biến đi như một thiên
vương, người ta không biết rõ vị ân nhân của mình đã
đến từ đâu và tên thật là gì, nên gọi là “Bồ Tát
hiện thân”. Có người đoán rằng cô gái là con của một
vị quan to ở cấp Trung Ương; có người cho rằng đó là một
Việt Kiều yêu nước hồi hương làm việc từ thiện; có
người lại bảo rằng có lẽ đó là một hiệp khách kiểu
như những anh hùng Lương Sơn Bạc, đã cướp của nhà giàu,
của bọn quan tham nhũng để đem chia cho nhà nghèo... Nhưng
tất cả chỉ là lời đồn đại, không có căn cứ và bằng
chứng nào đủ sức thuyết phục. Cô gái đã giúp đỡ rất
nhiều người, đã đến với cả những ai mang bệnh phong cùi
bị người đời xa lánh ruồng rẫy để chăm sóc hỏi han,
và lũ trẻ bụi đời - nhất là những đứa tật nguyền –
đều biết mặt của “Bồ Tát hiện thân”, chúng xem cô
gái lạ kỳ huyền bí ấy như một nàng tiên bước ra từ
trong cổ tích đến với cuộc sống hiện đại của thế kỷ
mới. Vậy rồi, cách đây khoảng một tuần, bác tài xế của
“Bồ Tát hiện thân” đã vui miệng kể cho bà con nghe sự
thật về thân thế lai lịch của người con gái giàu có, đang
là Giám đốc một Công ty Trách nhiệm Hữu hạn chuyên môi
giới mua bán bất động sản. “Bồ Tát hiện thân” tên
thật là Quyên, hoàn toàn là người bằng xương bằng thịt,
không phải là các bậc Bồ Tát thánh chúng đến với đời
thường từ bồng lai thượng giới. Thuở ấu thơ, Quyên đã
chịu cảnh côi cút bơ vơ không cha không mẹ, được ông bà
nội nuôi nấng trong một gia cảnh túng bấn nghèo hèn. Ông
bà nội già yếu, đem cháu qua gửi cho người chú ruột của
Quyên cưu mang dạy dỗ. Người chú ngược đãi, hành hạ Quyên
như con ở, đánh đập mắng nhiếc cháu mình thường xuyên.
Chịu không nổi những kiểu dạy bảo bạo tàn và nuôi nấng
bạc bẽo của chú thiếm, Quyên đã trốn nhà bỏ quê ra đi
về phương trời vô định ... Sau nhiều năm dài cô thân độc
thế lăn lộn với đời đầy chông gai cạm bẫy, bằng nghị
lực phi thường Quyên đã vượt qua những vất vả khổ đau,
từ đôi bàn tay trắng của phận gái yếu mềm cùng với chữ
Tín đi đầu, cô gái ngày nào bơ vơ lạc lõng đã dần dần
làm nên sự nghiệp, trở thành chủ nhân của một công ty
bề thế. Công thành danh toại rồi, Quyên vẫn nhất quyết
không lập gia đình, để dành hết thời giờ và tâm huyết
cho công việc khuếch trương phát triển Công ty và... làm việc
thiện. “Bồ Tát hiện thân” đã bỏ tiền túi của mình
kiếm được bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu ra xây dựng
hằng trăm căn nhà tình nghĩa khắp đất nước, dự định
xây một “tổ ấm khổng lồ” cho những người sống bụi
đời lang thang ... Thằng cu Hoài nghe sao kể vậy cho dì Thanh
hay, và hi vọng dì cháu sẽ gặp được “Bồ Tát hiện thân”
trong lúc này. Dì nghe thì nghe vậy, bụng lại không chút tin
tưởng, cứ xem như một giấc mơ hão huyền để tạm quên
đi cuộc đời đầy buồn khổ và ác mộng. Nghe rồi lại
quên, suốt từ sáng đến trưa dì không hề nhớ nghĩ gì đến
chuyện về “Bồ Tát hiện thân” mà thiên hạ đang truyền
miệng ngợi ca. Không ngờ bé Trang lại nhắc hỏi, dì cảm
thấy khó ăn khó nói với đứa cháu thơ dại, nhưng nhìn thấy
đôi mắt đen láy tràn đầy hi vọng của nó, dì cầm lòng
không đậu phải nói: “À, cô Bồ Tát ấy chỉ hiện
ra vào ban đêm, vào khuya vắng vẻ, và những chỗ có đông
người. Còn dì cháu mình đang ở trước cổng chùa vắng lặng,
chỉ có đức Quán Thế Âm Bồ Tát thôi!”. Bé Trang nũng nịu:
“Vậy thì con chờ đến tối, đến khuya, thế nào cô Bồ
Tát cũng đến tặng quà cho dì, cho anh Hoài và cho con nữa!”.
Dì Thanh mỉm cười đau xót, để quên đi giây phút chờ ngóng
thằng cu Hoài trở về, dì cố nghĩ chuyện nói với bé Trang:
“Vậy, nếu cô Bồ Tát hiện ra, con sẽ xin quà gì?”. Bé
Trang cười hồn nhiên: “Con sẽ xin cho dì một chiếc xe lăn.
Con xin cho anh Hòai một chiếc xe đạp để đi bán dạo. Rồi
con xin cho con một chiếc áo đầm mới, nón mới, giầy mới,
với một phong bì lì xì có nhiều tiền để con lì xì lại
cho dì!”.
Dì
Thanh xúc động ôm cháu gái vào lòng. Bé Trang ngạc nhiên:
“Sao dì khóc?”. Dì chùi nước mắt, hôn lên trán cháu, nấc
nghẹn: “Dì cảm ơn cháu!”.
Vừa
lúc ấy, một chiếc xe con màu xám tro đậu xịch sát bên lề.
Hai dì cháu giật mình, nhướng mắt lên ngó, thấy bác tài
xế mở cửa bước xuống, bước ra phía sau mở tiếp cánh
cửa sau của xe. Từ bên trong, một thằng nhỏ nhảy phóc xuống,
mặt tươi cười hí ha hí hửng reo lên: “Dì Hai ơi... Bé
Trang ơi... Cô Bồ Tát hiện thân đến thăm nè!”. Dì Thanh
nhổm người lên, trừng mắt nhìn kỹ, đúng là thằng cu Hoài
rồi, nhưng ... nó vừa nói gì mà Bồ Tát với Bồ Đoàn vậy?
Dì chưa kịp hiểu chuyện gì đang đến, thằng cu Hoài đã
nhào tới, sà vào lòng dì mà lay lay: “Dì Hai, có cô Bồ Tát
đến kìa!”. Nhìn theo ngón tay nó chỉ, dì Thanh thấy một
cô gái bước ra từ trong chiếc xe con. Một gương mặt phúc
hậu hiền từ, và một nụ cười thân thiện cởi mở đang
chào dì. Cô gái thoăn thoắt bước lại gần bên dì Thanh,
giọng rót ra thật ngọt ngào: “Chào chị, em là Quyên. Bà
con gọi trêu em là Bồ Tát hiện thân, thiệt ra em chỉ là
một con người bình thường thôi chị ạ!”. Dì Thanh bàng
hoàng, lúng túng: “Thật vậy sao? Cô... cô chính là nhà hảo
tâm mà bà con đang ca tụng hết lời đó sao?”. Cô gái cười
nhẹ nhàng: “Em tình cờ gặp cháu Hoài nằm ngủ trên ghế
đá bên bãi biển, ghé vào thăm hỏi, được cháu kể cho biết
mọi chuyện về cha mẹ, về người dì... Em rất muốn được
giúp đỡ chị và hai cháu trong lúc này!”. Dì Thanh nghe ù
cả hai tai, rơm rớm nước mắt, giọng run run: “Trời cao
có mắt, đã đưa đường dẫn lối cho cô tìm đến với dì
cháu tôi...”. Dì Thanh không nói tiếp được nữa vì quá
xúc động, khóc òa lên trước vòng tay vỗ về của “Bồ
Tát hiện thân”. Bé Trang lên tiếng sau mấy tiếng vỗ tay:
“Hoan hô cô Bồ Tát, con biết thế nào cô cũng tìm gặp con
mà!”. Nở nụ cười tươi như hoa, “Bồ Tát hiện thân”
xoa đầu bé Trang, nói: “Ừ, cô tìm đến với cháu đây.
Cháu ước muốn thứ gì nào?”. Bé Trang không chút ngần ngại:
“Con muốn có một chiếc xe lăn cho dì Hai ngồi. Có một chiếc
xe đạp nhỏ cho anh Hoài đạp đi bán dạo đỡ mỏi giò mỏi
cẳng. Còn con thì... cô cho con thứ gì con cũng lấy hết á!”.
Bật cười giòn tan, “Bồ Tát hiện thân” nói từng tiếng
chắc nịch: “Được rồi, có hết. Bây giờ trước tiên,
cô mời hai cháu và dì Hai cùng lên xe, về nhà cô, rồi việc
sẽ được giải quyết từng bước một!”. Dì Thanh được
bác tài xế và “Bồ Tát hiện thân” dìu lên ngồi trên
xe, hai đứa nhỏ cũng phóc lên theo, ngồi hai bên dì. Xe nổ
máy, lăn bánh. Lần đầu tiên trong đời, dì Thanh mới được
ngồi trên một chiếc xe hơi, thật là như trong mơ. Trước
khi xe lăn bánh, dì đã kịp nhìn vào bên trong sân chùa, nơi
ấy có tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát dường như vừa
mới mỉm cười, nheo mắt với dì. Dì tự hỏi phải chăng
đó là nụ cười hồi âm, cái nheo mắt trả lời cho những
lời khẩn cầu của mình? Dì ngó tới trước, bất chợt nhìn
thấy gương mặt của “Bồ Tát hiện thân” trong chiếc gương
chiếu hậu. Bồ Tát bằng xương bằng thịt kia đang nhìn dì
đăm đăm, rồi cười hiền hòa, và nheo con mắt bên phải
một cái... Xe lao nhanh trên đường phố nhộn nhịp đón xuân
sang…
Đầu
xuân, chùa làng nghi ngút hương trầm, thiện nam tín nữ chen
chúc nhau vào chánh điện dâng hương bái Phật. Người ra kẻ
vào ngược xuôi như bất tận, mặt ai nấy đều vui tươi
phấn chấn, y rằng cuộc đời này không hề có đau khổ lo
toan. Nhưng rồi, mọi người phải cau mày nhíu mặt khi trông
thấy một cô gái lạ lùng đang lảng vảng ngoài sân chùa,
hệt như người từ hành tinh xa lạ mới xuống thăm trái đất.
Cô
gái lạ lùng vì nổi bật giữa đám đông do có một sắc
đẹp mê hồn, phải công nhận là tuyệt thế giai nhân. Dáng
cao hơn một thước bảy. Tóc đen óng ả phủ dài xuống lưng.
Những vòng đo lý tưởng. Đầy đặn và trắng trẻo. Gương
mặt khả ái, sáng sủa. Nếu không là hoa hậu hoa khôi, thì
cũng là người mẫu tầm cỡ ngôi sao. Không ai có thể nhăn
mặt bực mình trước cái Đẹp bao giờ. Có điều, chỉ vì
cô gái đã tự chọn cho mình bộ trang phục quá độc đáo,
quá quái gở. Chiếc váy ngắn cũn cỡn, tưởng như không còn
kiểu nào ngắn hơn, khoe cặp giò dài khêu gợi. Chiếc áo
thun bó sát ôm lấy thân trên bốc lửa, thân áo trước và
thân áo sau được liền lạc với nhau chỉ bằng hai sợi dây
mỏng mảnh vắt qua hai bên bờ vai tròn trịa và đầy đặn.
Đẹp không chê vào đâu được, nhưng nếu cô ta đang đứng
trên sàn diễn, hoặc đi trên phố cờ hoa rực rỡ ngoài kia.
Đằng này, cô ta lại xuất hiện ngay chốn già lam tôn nghiêm
thanh tịnh mới gây nên những nỗi bất bình từ những người
chung quanh. Sự phẩn nộ, ghê sợ hiện rõ trên gương mặt
những ai nhìn thấy cô gái, nhưng chưa ai lên tiếng thẳng
thắn góp ý với con người lạ lùng, chỉ mới nghe những
lời chê trách đàm tiếu nho nhỏ phía sau lưng người đẹp.
Một
anh huynh trưởng gia đình Phật tử bước lại bên cô gái
bằng sự nổ lực phi thường, can đảm tột bực, đưa cho
cô ta một chiếc áo tràng màu lam, giọng nhã nhặn:
-
Chào chị, chị vui lòng mặc chiếc áo này vào, nếu cần thì
chị có thể mặc luôn về nhà, tôi rất lấy làm hân hạnh
khi được tặng chị nhân ngày đầu năm mới!
Cô
gái tròn xoe đôi mắt, nhìn anh huynh trưởng, rồi nhìn chiếc
áo tràng với vẻ kinh ngạc, thản nhiên lắc đầu. Anh huynh
trưởng bực bội, giứ chiếc áo tràng tới, nói:
-
Chị làm ơn mặc vào giùm cho. Đừng để mọi người khó
chịu, và đừng để chư tăng nhìn thấy được mà tổn đức
đó!
Cô
gái nhíu cặp chân mày lá liễu, hỏi cộc lốc:
- Vì
sao?
Anh
huynh trưởng không còn tự chủ được, cáu gắt:
- Chị
còn chưa hiểu vì sao ư? Nơi đây là chốn tôn nghiêm, không
phải chỗ chợ búa hay sân khấu kịch trường, cho nên trang
phục trên người chị không phù hợp chút nào, rất chướng
mắt mọi người. Chị thật tình không biết, hay giả bộ
không biết?
Cô
gái phì cười, một nụ cười tươi tắn tuyệt đẹp, lắc
đầu:
-
Biết làm gì để vướng? Ai thấy chướng thì đừng nhìn.
Mấy người đi chùa lễ Phật bái tăng, hay là đến đây để
nhìn ngắm nhau? Ai tu nấy chứng, hãy để cho tôi yên!
Anh
huynh trưởng cứng họng, không biết phải xử sao, trong lúc
nhất thời đành đứng đực ra đó với chiếc áo tràng trên
tay. Thời may, có một vị sư trẻ bước lại đứng trước
cô gái, xá dài một cái, cất giọng từ tốn:
-A
Di Đà Phật! Cửa Từ Bi luôn rộng mở để phổ độ chúng
sanh, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, trẻ già nữ nam…
Nhưng, đừng vì vậy mà xem thường chốn thanh tịnh, tạo
nên phiền toái. Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc
áo giấy, chị ăn mặc như vậy mà vào chùa, có khác nào báng
bổ đạo giáo, xúc phạm Tam Bảo? Mong chị hoan hỷ mặc áo
tràng vào cho…
Cô
gái cười duyên dáng, hỏi:
- Thầy
thấy tôi ăn mặc thế nào?
Vị tăng trẻ lúng túng:
- Ờ…
thì… rất hở hang … không nghiêm túc kín đáo…và…
Cô
gái đưa tay vuốt mái tóc, ưỡn bộ ngực đầy sức sống,
thản nhiên nói:
- Thầy
tu hành mà còn chấp quá! Tâm của thầy còn động lắm. Lục
căn của thầy chưa được tinh tấn, vẫn còn vướng điều
phàm tục. Tốt hơn hết, thầy nên đóng cửa nhập thất để
khỏi nhìn thấy những điều bất thanh bất tịnh ở phụ
nữ đàn bà!
Vị
tăng trẻ xanh mặt, cúi đầu, mắt nhìn chăm chăm xuống đất,
bước đi lẫn vào đám đông Phật tử ngược xuôi ngoài sân…
Cô gái cười nửa miệng, quay sang hỏi anh huynh trưởng:
- Anh
có vui lòng chỉ cho tôi tịnh thất của sư trụ trì không?
Tôi đang rất muốn được vào vấn an ngài, và thỉnh giáo
đôi điều…
Anh
huynh trưởng nhíu mày nghĩ ngợi, tặt lưỡi:
- Dẫn
chị vào tịnh thất của thầy trụ trì thì thật là không
nên chút nào. Nhưng, có lẽ phải làm điều dại dột này,
vì chắc tình huống oái oăm khó xử như bây giờ, chỉ có
thầy mới đủ đạo lực khai tâm điểm đạo cho chị thấy
được phải trái!
Nói
rồi, anh ta mời cô gái đi theo mình, băng qua đám đông, vào
phía dãy nhà sau chánh điện. Anh ta dừng lại trước cửa
một căn phòng, quay sang nói với cô gái:
- Chị
vui lòng đứng chờ ở đây một lát, để tôi vào cáo bạch
với thầy trước, khi nào thầy đồng ý tiếp khách, tôi sẽ
ra mời chị vào. Được chứ?
- Ô-kê!
Anh
huynh trưởng nhún vai ngán ngẫm, đưa tay gõ cửa ba cái. Bên
trong có tiếng vọng ra: “Ai? Cần gì?”. Anh huynh trưởng
cao giọng:
-
Bạch thầy, con là Tâm Tịnh, huynh trưởng gia đình Phật tử,
có việc rất hệ trọng cần cáo bạch với thầy ạ!
Bên
trong phòng vang lên giọng sang sảng:
- Tâm
Tịnh đó ư? Vào đi, cửa không khoá!
Anh
huynh trưởng mở cửa, bước nhanh vào trong và đóng lẹ cánh
cửa lại. Cô gái đứng tủm tỉm cười, chờ đợi với vẻ
háo hức. Chừng mười phút sau, cửa mở, anh huynh trưởng
bước ra, nói:
- Chị
được phép vào. Nhớ giữ ý giữ tứ một chút nhé!
Cô
gái cười khẩy, bước vào phòng. Một vị tăng tuổi độ
lục tuần đang ngồi trên chiếc phản mun đen bóng trong tư
thế kiết già, ánh mắt sáng rực rọi chiếu thẳng vào mặt
vị khách mới vào. Cô gái chấp tay xá ba cái, thưa:
-
Bạch thầy, con có thắc mắc xin thầy điểm giáo…
-
Cứ hỏi. Đây nghe.
- Bạch
thầy, con ăn mặc như thế này, vào chùa lễ Phật bái tăng,
lại bị mọi người chê trách chỉ trích, bị tăng phê bình
bắt lỗi, xin hỏi thầy ai đúng ai sai?
-
Ai cũng đúng. Ai cũng sai.
-
Bạch thầy, người phàm cố chấp đã đành, nhưng người
đã xuất gia tu hành mà vướng mắc những chuyện lễ nghi
giáo điều để đi bắt bẻ con, xin hỏi thầy là đúng hay
sai?
-
Vừa sai, vừa đúng!
-
Sao là sai? Sao là đúng?
-
Sai, vì tu hành mà chấp nhặt những điều nhỏ nhặt. Đúng,
vì giữ gìn thanh tịnh cho chốn già lam tôn nghiêm, đó là
bổn phận, là nhiệm vụ phụng sự Tam Bảo, hoằng dương
Chánh Pháp!
-
Con từng nghe rằng, ngọn cờ phấp phới bay, thậït ra cờ
không bay mà gió bay, nhưng thật ra gió chẳng động mà do Tâm
của con người đang động. Phải vậy chăng?
-
Thật hay! Thật hay!
-
Vậy, theo thầy thì con ăn mặc ra sao?
-
Bình thường.
-
Đáng trách hay đáng khen ạ?
-
Hợp thời trang. Hiện đại. Gọn gàng. Tiết kiệm. Nếu người
mặc không hề thấy ngượng nghịu, không chút gượng gạo,
không phải âu lo, thong dong khứ đáo xuất nhập như rồng
đạp mây, thì thật là đáng khen ngợi. Nếu mặc vào mà luôn
thấy bị gò bó, thấy như bị mang của nợ, mang xích xiềng,
không thoải mái đi đứng nằm ngồi thì thật là đáng thương,
tội nghiệp, chứ không đáng trách!
Cô
gái cười khanh khách ra điều thích thú. Sư trụ trì bật
cười ha hả, tiếng cười tự tại vang động như đã rung
chuyển cả giàn ngói rong rêu của tịnh thất. Rồi im lặng
như tờ. Cô gái cất tiếng:
-
Thầy thật cao thâm, vững như bàn thạch!
-
Có phải đó là mục đích chính của cô khi ghé thăm bổn
tự?
-
…
-
Im lặng, tức đã thú nhận.
-
…
-
Cô mang một chút am hiểu giáo lý nhà Phật, một chút kiến
thức cơ bản về sự Tĩnh Động, cố tâm cố ý vào chùa
để thử thách cái Tâm Đạo của tăng ni giáo đồ. Sự cố
ý làm cho người khác chao đảo tâm ý chính là ác tâm, chính
là động rồi đó!
-
Bạch thầy, quả đúng là con động. Nhưng đâu phải thấy
người động mà mình phải động theo, phải vậy không thầy?
- Phải
nhớ quanh cô đều là những chúng sanh đang tu, còn tu, chứ
chưa có ai đắc đạo, chưa ai giải thoát được mình!
-
Chỉ có thầy là tĩnh thôi sao?
-
Vì đây là tịnh thất. Tâm người phải tĩnh, phải tịnh.
-
Thầy không trách con về chuyện ăn mặc này thật sao?
-
Không trách, mà còn khen. Áo quần chỉ là ngoại vật. Chúng
vô tri vô giác, không tội tình gì. Chúng là vật ngoại thân,
không là một bộ phận của thân thể con người…
-
Và thân thể con người cũng chỉ là giả tạm…
-
Chỉ là đất, nước, gió, lửa hội tụ tạo nên. Thân xác
này còn là thứ bên ngoài, huống chi là quần với áo, xiêm
với y?
-
Chỉ cái Tâm bên trong mới là quan trọng?
-
Tính động đều từ nơi ấy. Cho nên, nếu cô đã có gan ăn
mặc hở hang thiếu thốn vải vóc để vào cửa thiền, thì
hãy phát huy thêm bản lĩnh mà trút bỏ hết xiêm y giả tạm
ra khỏi tấm thân giả tạm ngay nơi đây đi!
-
…
-
Trút bỏ hết đi!
Sư
trụ trì quát lên. Cô gái giật bắn mình, vội quỳ mọp xuống,
đầu dập đất mấy cái. Sư lại quát:
- Trút
hết. Rồi đi ra ngoài, dạo một vòng vãn cảnh mau đi!
-
Bạch thầy… con không dám. Con không dám .Con xin dập đầu
tạ tội. Đội ơn thầy đã khai tâm điểm đạo!
…
Anh huynh trưởng đứng chờ ngoài hành lang với ruột nóng
gan sôi, cứ như đang đứng trên tổ kiến bồ nhọt. Và rồi,
cánh cửa tịnh thất đã mở toang. Cô gái lạ lùng đã bước
ra ngoài với vẻ mặt rạng rỡ tươi vui. Lạ lùng hơn, trên
người cô ta đang mặc một chiếc áo nhật bình của tăng
chúng. Cô gái cười chào anh huynh trưởng, bước thoăn thoắt
hướng về phía chánh điện. Anh huynh trưởng lè lưỡi, bước
nhón chân lại khép cánh cửa tịnh thất thật nhẹ nhàng.
Rồi anh chấp tay xa ba cái về phía bên trong cánh cửa vô tri,
nói:
- Quả
đúng là chỉ có thầy mới trị được quỷ sứ ma vương!
Anh
ta thở phào nhẹ nhõm. Đầu năm vui thật. Thật là vui.
Tàu
vào ga, đỗ lại hơn nửa giờ, rồi lại tiếp tục hụ còi
lăn bánh. Thằng Sấm nhảy xuống tàu, băng đến ghế đá
ngồi đếm tiền vừa bán được thuốc lá, kẹo chewinggum…
Suốt từ sáng tới tối, nó đã bán được nhiều hàng, lời
khoảng ba mươi nghìn đồng, mừng lắm, phải nhanh chân đem
về cho mẹ thôi. Bất chợt, nó giật mình khi nhìn thấy bên
cạnh đường ray phía trước mặt, cách chỗ nó ngồi chừng
mươi thước, có một túi xách bằng da của ai đánh rơi. Nó
quét mắt nhìn quanh, chưa ai nhìn thấy, vội phóng đến nhặt
ngay chiếc túi, cắm đầu bước như chạy về phía dãy tường
nhà ga vắng vẻ. Ngoái đầu nhìn thử, không thấy có ai đuổi
theo hay nhìn thấy nó đứng nơi đây, Sấm mới yên tâm mở
thử túi xách. Một cục tiền. Quá khổng lồ. Chưa bao giờ
thằng Sấm sờ nắn được một cục tiền to khủng khiếp
như vậy. Nó run lên, không dám lục lọi tiếp, ngồi xổm
xuống bần thần và mừng vui.
Tiền
này mà đem về nhà, trao hết cho mẹ, chắn chắn nợ nần
sẽ được trả sạch, và bệnh của mẹ sẽ được chạy
chữa tới nơi. Mẹ đang thèm khát tiền, cần tiền, chờ ngóng
tiền từng phút từng giờ, dù ít mẹ cũng mừng, dù chậm
mẹ cũng vui… Mẹ đã viết hàng chục lá thư cầu cứu bạn
bè, chị em, bà con thân tộc ở khắp xa gần trong nửa tháng
qua, nhưng chẳng hề nhận được hồi âm. Mẹ đi chùa
hằng ngày, lạy Phật lạy Tổ, lạy chư long thần hộ pháp,
lạy tứ phương tám hướng, vậy mà không hề thấy một chút
gì thay đổi. Hỏi mẹ, mẹ cười nói là “do cái nghiệp
của mẹ còn nặng nề lắm”. Nghiệp là cái quái gì vậy
ta? Vậy là mẹ cứ tiếp tục sống với vô vọng và tủi
nhục. Bây giờ, nó phải đem số tiền khổng lồ này về
cho mẹ ngồi bật dậy quên hết ưu phiền, và đuổi cái nghiệp
đi cho khuất để nhẹ nhàng cho rồi…
Thằng
Sấm đứng dậy, rồi đứng im với vầng trán nhăn nhúm. Nó
bần thần khi vừa nhớ đến lời mẹ dạy dỗ: “Đói cho
sạch, rách cho thơm”. Không được tiêu xài của phù vân.
“Của phù vân” có phải là cái cục tiền to khủng khiếp
này không vậy? Nó ôm túi xách vào lòng, xiết chặt với tiếc
nuối. Nếu nghe lời mẹ, ngay bây giờ nó phải đem túi xách
vào đồn công an ga, hoặc đến phòng bảo vệ, để giao trả.
Nhặt được của rơi đem trả, chắc chắn nó sẽ được
khen, được đưa lên báo đài, mẹ sẽ vui, sẽ hãnh diện
tự hào vì có một đứa con ngoan. Nhưng không, lúc khác thì
được, còn trong lúc ngặt nghèo nguy cấp này thì nó không
thể đem trao trả cục tiền Trời ban tặng cho mình. Trời
cho nó, chứ không phải Phật nào, hay thần thánh nào cho, vậy
thì nó cứ việc “thọ hưởng”. Quyết định rồi, thằng
Sấm băng băng về thẳng nhà đến nhà… Chân chạm đến
trước cửa rồi, nó lại rùng mình chùn chân, đứng bất
động suy tư. Rồi bằng những bước chân quả cảm đầy
quyết tâm, nó chạy trở lại nhà ga, vào thẳng đồn công
an, giao nộp chiếc túi xách còn nguyên vẹn từ ngoài vào trong.
Nó tung tăng về nhà với mẹ, lòng nhẹ tênh và sảng khoái.
Không bao giờ ân hận. Thằng Sấm nói thầm như vậy. Biết
đâu, khi nó kể chuyện này, mẹ nó sẽ vui mừng mà khỏi
bệnh. Và biết đâu, ngày mai, hay ngày mốt, công an nhà ga
sẽ tìm đến nhà thưởng nó vài trăm nghìn đồng, rồi người
chủ của chiếc túi xách cũng sẽ thưởng cho nó vài trăm
nghìn, chưa kể đến cái tiếng thơm mà mẹ nó thường cho
là vô giá sẽ còn vương bám theo nó như vầng hào quang rực
rỡ…
Thằng
Sấm bước vào nhà, nhìn thấy mẹ nó đang ôm một người
phụ nữ, hai người đều đang khóc nức nở. Người phụ
nữ quay lại nhìn, nó nhận ra ngay đó là Dì Ba, em ruột của
mẹ, ở thành phố Hồ Chí Minh mới ra. Dì Ba ôm nó vào lòng,
khóc:
–
Cháu ơi… mất hết rồi! Dì ôm tiền ra cứu mẹ cháu… vậy
mà đánh rơi mất ở sân ga rồi…
Thằng
Sấm trố mắt lên, kinh hoàng:
–
Dì… để tiền ở đâu… mà mất?
–
Trong một túi xách… Vì còn xách hai giỏ quần áo với quà…
lúc xuống tàu… đánh rơi lúc nào không hay…
–
Túi xách bằng da, màu… cà phê sữa… bên trong có một cục
tiền… với gương lược…
–
Sao? – Dì Ba thằng Sấm giành hết phần kinh ngạc – Sao cháu
lại biết rõ vậy?
Thằng
Sấm thở phào, sung sướng gào to lên:
–
Cháu nhặt được nó, cháu nộp cho công an nhà ga rồi!
Rồi
nước mắt nó trào ra, trào ra…
Mùa
Xuân lững thững về. Anh cũng lững thững đi ra phố chợ.
Hai bàn tay trơ trọi của anh đút sâu vào hai túi quần rỗng
trống buồn tênh. Anh mỉm cười thong dong bước đi, hòa vào
dòng người nhôn nhao tất tả. “Tôi không phải là kẻ móc
túi!”. Anh muốn nói với mọi người chung quanh điều ấy,
và chắc khi nhìn thấy anh, mọi người cũng nghe được lời
anh nói qua điệu bộ buồn cười của anh. Anh vào chợ chỉ
để đưa mắt ngắm nghía, hít thở không khí của chợ búa
ngày Xuân, cho đến khi mệt mỏi anh mới trở về nằm dài
trên chiếc giường ọp ẹp, tay xoa bụng lép kẹp, mắt nhìn
bâng quơ lên trần mái dột nát của căn gác nhà trọ già
nua, để tưởng tượng, ước mơ một ngày mai tươi sáng.
Tội
nghiệp, cuộc đời anh đã trải qua quá nhiều biến động
chỉ trong vòng mười lăm năm… Khi đang còn mài đủng quần
trên ghế giảng đường Cao đẳng Sư phạm, anh có một tình
yêu thật đẹp, và anh đã nuôi tình yêu đó bằng cả trái
tim mình. Người yêu anh có tên của một loài hoa thân quen
dễ nhớ: Lê Thị Hoa Hồng. Anh và nàng cùng học chung trường,
chung khối, chung cả đường đi lối về, nên những tháng
ngày mà tình yêu mới chớm nở thật lãng mạn dễ thương.
Hai người cùng ra trường, trở thành hai người chèo đò đưa
học trò qua dòng sông tri thức cuồn cuộn, nhưng mỗi người
chèo chống một phương cách xa nhau. Anh lên miền núi. Nàng
ra hải đảo. Những lá thư đôi lứa liên lạc với nhau, hứa
hẹn, thì thầm nhỏ to, kèm theo những nụ hôn gió, đều bò
chậm còn hơn rùa già bò lên đồi dốc thẳng đứng, nhưng
rất quý. Một viễn cảnh tươi đẹp, thơ mộng. Một tương
lai êm đềm. Tất cả đều đã được đôi lứa lên kế hoạch
một cách chi tiết, tính toán chính xác bởi hai giáo viên chuyên
Toán. Chỉ cần vượt được thời gian thử thách là những
gì trên giấy trắng mực đen, trong ý tưởng, hay trong những
giấc mơ sẽ trở thành sự thật…
Đùng
một cái, mẹ anh qua đời. Anh hụt hẩng, trở về chịu tang
trong đau đớn khôn tả. Nàng hay tin chậm, cũng xin phép nghỉ
đột xuất để về thắp nhang khóc lạy. Hai người được
gặp nhau trong hoàn cảnh đau buồn ấy, nên không nói gì được
nhiều, chỉ nắm tay nhau để truyền cho nhau sinh lực mà đứng
vững giữa biến động đầy xót xa. Rồi thôi, lại chia tay
mỗi người một ngã với cái hẹn bâng quơ. Anh xuống tinh
thần từ dạo ấy. Niềm vui, niềm tin có từ những buổi
đứng lớp dạy học, từ những giây phút dạy dỗ đám học
trò ngây ngô ở vùng rừng núi đìu hiu, đã không đủ làm
cho anh khuây khỏa nỗi đau mất mát được mang cái tên phũ
phàng: mồ côi mẹ. Cha anh đã mất trong một tai nạn giao thông
từ khi anh mới lên ba. Người thân còn lại của anh chỉ có
mẹ và người anh trai cộc cằn thô lỗ. Mẹ cũng không còn,
anh có lúc tưởng chừng mình không chịu đựng nổi. Nhưng
anh dần dần được hồi tỉnh, được xoa dịu cho vơi đi
cái rát buốt trong lục phủ ngũ tạng kể từ khi anh tình
cờ gặp được sư Kiến Tâm. Đó là một buổi chiều chủ
nhật rảnh rang, anh tản bộ lang thang khắp cái vùng “chó
ăn đá, gà ăn muối”, chỉ với mục đích duy nhất là đi
cho khuây khỏa qua ngày giờ trống vắng tẻ nhạt. Anh lạc
vào tịnh thất nằm trên lưng chừng núi của sư thầy tu pháp
môn Thiền. Từ ngày được cái duyên gặp gỡ quý báu ấy,
bất cứ khi nào rảnh là anh tìm đến tịnh thất của sư
Kiến Tâm để nghe những lời giáo huấn, để mở mang thêm
kiến thức, và cũng để học và hành những “tuyệt chiêu”
ngăn diệt khổ đau có hiệu quả tức thì. Anh đang có chút
hào hứng khám phá một con đường mới mẻ lạ lẫm, thì
được tin từ lá thư của người anh trai dưới thành phố
gửi lên báo cho biết: căn nhà của cha mẹ để lại cho hai
anh em đã thuộc về quyền sở hữu của người khác. Người
anh trai đã đoản hậu bán nhà để trừ món nợ khổng lồ
do thua độ liên tiếp cả một mùa bóng đá World Cup. Còn được
chừng năm cây vàng, người anh “dễ thương” đã gửi cho
hàng xóm giữ hộ phần chia cho em trai mình là hai cây, rồi
lận túi số còn lại, bỏ nơi chôn nhau cắt rốn dông tuốt
theo một cô bồ đi lưu lạc giang hồ, không hẹn ngày trở
lại… Một lần nữa, trời sập trên đầu, đất lún dưới
chân anh. Anh xin nghỉ phép về thành phố, nhận số tài sản
ít ỏi được chia chác mà khóc rưng rức, rồi trở lên lại
miền núi với một tâm thần bất ổn. Anh suy sụp hoàn toàn,
bắt đầu chui đầu vào quán mà uống rượu giải khuây, dạy
học không còn hứng thú, sống không còn niềm tin, ngại liên
lạc với Hoa Hồng, và tự dưng rất sợ gặp sư Kiến Tâm,
như ma quỷ sợ Bụt vậy! Chuyện gì đến cũng đã đến,
anh bị Ban giám hiệu kỷ luật, quyết định trả anh về cho
Phòng giáo dục xử lý vì cái tội rượu chè be bét mất đạo
đức của người thầy, dạy không ra dạy, phụ huynh học
sinh khiếu nại quá xá. Anh không một lời phân bua, vì biết
mình hoàn toàn đã sai lầm, mình như một đoàn tàu đã chệch
khỏi đường ray, có bị kỷ luật nặng cũng chẳng oan ức
gì. Anh cuốn gói rời khỏi chốn học đường, nhìn về nẻo
trước mịt mờ mà lòng ê chề chán ngắt. Phải về lại
phố thị phù hoa thôi. Nhưng trước khi hạ sơn xuống phố,
thật may, anh lại có đủ can đảm để ghé vào tịnh thất
chào sư Kiến Tâm một tiếng gọi là tạ ơn khai tâm điểm
đạo. Anh được sư giữ lại tịnh thất 3 ngày ăn chay nằm
đất, nghe chuyện dưới đất trên trời, và nghe được cả
một câu chuyện dài về thuật chăn trâu qua cuốn sách đã
nhàu nát cũ mèm mang tên “Thập mục ngưu đồ” (mười bức
tranh chăn trâu) của Thiền tông Phật giáo Đại thừa. Sau
ba ngày ba đêm được nghe giảng giải, lĩnh hội được những
ẩn ý ẩn dụ của mười bức tranh trông rất chân quê mà
lại vô cùng cao siêu thâm thúy, anh có phần nào tỉnh hồn,
vơi đi nhiều buồn bực và nỗi dày vò day dứt, lạy tạ
sư thầy mà trở về với cõi dưới núi. “Mất dạy”, cái
từ mà anh nghe người ta thường dùng để đùa khi nói về
một giáo viên bị mất việc, không ngờ có ngày lại rơi
vào số phận của chính anh. Đó là một điều sỉ nhục khổng
lồ mà anh đã phải còng lưng mang về chốn thị thành. Anh
chấp nhận cõng khiêng vác rinh nó như để tự trừng phạt
mình, nhưng cũng chính vì sự xấu hổ ấy mà anh đã không
dám liên lạc với người mình yêu đang tận tụy với nghề
ở ngoài hải đảo xa xôi. Anh chạy trốn nàng, trốn chạy
để khỏi nói lên sự thật, cay đắng chát chua, thà trốn
chạy còn hơn là nói dối, vì anh chưa bao giờ nói dối với
nàng dù là nói dối cho vui. Anh trốn chạy nàng bắt đầu
bằng một cuộc phiêu lưu tha phương cầu thực, xếp xó trong
ba lô những gì liên quan đến một nhà mô phạm, như che giấu
một tội lỗi không thể tha thứ. Anh trôi dạt qua những công
trường xây dựng, thủy lợi, cao su với đôi tay trắng, vắt
tươm sức lao động ra để đánh đổi miếng cơm manh áo qua
ngày đoạn tháng. Anh trôi theo dòng sống như đám lục bình
trôi trên sông, hết vào Nam lại ra Trung, hết lên Tây Nguyên
lại về Đông Nam Bộ… Đáng nhớ nhất là có thời gian được
hơn một năm, anh đã dừng chân tại một ngôi chùa làng để
đứng trên bục gỗ giảng dạy cho các em học trò nghèo ở
lớp học tình thương. Rồi vì chuyện cơm áo bức bối, anh
lại cuốn gói ra đi vô định, trở lại với cuốc xẻng búa
rựa, dầm mưa dãi nắng trên các con kênh chạy ven theo chân
núi, các trạm bơm nằm bên bờ sông hiền hòa, các ngôi nhà
đồ sộ sừng sửng mọc lên giữa lòng đô thị xôn xao…
Quay đi ngoảnh lại, anh giật mình khi thấy đã trôi qua hơn
mười năm. Mườùi năm hèn nhát chạy trốn, không mảy may
liên lạc với Hoa Hồng, anh cũng đã quen dần với những đêm
nằm vắt tay lên trán suy tư trăn trở chuyện ngày mai, và
trằn trọc hồi tưởng chuyện quá khứ… Anh bỗng dưng không
còn sợ gặïp Hoa Hồng nữa, mà còn khát khao muốn tái ngộ
với nàng, hai người dù đói dù nghèo, dù có thương tật
rách rưới thì anh vẫn muốn được sống với người mình
yêu, có chết cũng nhắm mắt thỏa nguyện. Còn như nàng đã
yên bề gia thất với hạnh phúc tràn trề thì anh mừng cho
nàng, vì nàng xứng đáng được như vậy. Nhưng anh không tìm
được chút manh mối nào về nàng trong quãng thời gian anh
trở về sống nơi chốn cũ. Số là, trong một lần tình cờ,
anh làm quen được với một gia đình nề nếp gia giáo, ở
ngay tại quê nhà xưa mà anh đã bao năm rời bỏ, qua sự giới
thiệu của ông Chủ nhiệm Tổ hợp Xây dựng. Biết “lính”
của mình trước kia từng là một giáo viên, nay có đạo đức
tốt, chăm siêng làm việc, ông Chủ nhiệm đã giới thiệu
anh đến làm gia sư cho hai đứa con của người em gái ruột,
nhà rất giàu có ở khu dân cư đông đúc hỗn tạp. Anh được
gia chủ lo cho một chỗ trọ riêng gần đó, để ngày hai buổi
đến nhà dạy kèm cho hai đứa học trò vừa ngỗ nghịch lại
vừa u tối đầu óc. Thoát được những cây cuốc cây xẻng,
anh cũng mừng thầm, nên ráng gồng mình với việc dạy kèm
được đến hai năm thì… bứt. Anh chịu không nổi hai đứa
học trò bướng lì và hỗn láo, xin nghỉ việc, và ra bến
xe hành nghề bốc vác kiếm tiền độ nhật, và để trả
tiền ở trọ. Làm được vài tháng thì anh đổ bệnh, đã
đau ngực lại tức lưng, lao động nặng là thở gấp gáp
muốn tắt hơi mà chết. Anh nghỉ việc, về nhà trọ nằm
dài chịu cảnh thất nghiệp đáng sợ, và sợ nhất là bị
bà chủ nhà trọ hỏi tiền tháng. Bế tắc tứ phương. Lại
còn Tết đang sắp đến nữa. Có ai còn ham sống nếu như
rơi vào hoàn cảnh như anh không? Nhưng anh vẫn phải sống.
Anh không sợ cuộc sống không có gì để mất này nữa. Chính
những lúc tưởng chừng như bế tắc, anh đều nhớ đến
sư Kiến Tâm, nhớ đến bài học chăn trâu ngộ nghĩnh và
kỳ diệu. Tìm trâu, thấy dấu, thấy trâu, được trâu, chăn
trâu, cưỡi trâu về nhà, quên trâu còn người, người trâu
đều quên, trở về nguồn cội, và thõng tay vào chợ. Anh
chỉ còn nhớ mang máng ý nghĩa của từng bức tranh chăn trâu,
vì lâu quá rồi không ôn không tưởng, nhưng anh vẫn nhớ
rõ ý nghĩa bức tranh cuối cùng “thõng tay vào chợ” mà
sư Kiến Tâm đã giảng giải rất hay, rất lôi cuốn, rất
tuyệt. Vị thiền sư trong bức tranh thứ mười của “Thập
mục ngưu đồ” đã đóng cửa tịnh thất, chống gậy đi
xuống chợ đời bát nháo, tay cầm bầu rượu, tay xách đuôi
con cá chép to đùng để tìm người đời rủ nhậu nhẹt một
trận tưng bừng khói lửa cho vui. An nhiên. Tự tại vô ngại.
Thiền sư đi vào cõi Ma. Vào cõi Ma để độ trì cho Ma, giáo
hóa cho lục tặc cô hồn, chứ không phải cốt để nhậu
nhẹt phá giới. Thiền sư đã giác ngộ rồi, vào cõi Bụt
rồi, mới dám vào cõi Ma một cách ung dung để độ tha cho
đầy đủ công hạnh, nên ông ta có uống rượu cũng được,
cũng chỉ như uống chén trà, ăn thịt ăn cá cũng được,
cũng chỉ như ăn đậu hủ tương chao thôi. Còn người đời
như anh, và nhiều người khác trên cõi hồng trần này, còn
đứng cách hàng rào của cõi Bụt đến thiên lý vạn dặm,
thì thõng tay vào cõi Ma là gan cùng mình, có nước bị Ma nó
nhiếp hóa thành Ma không đầu luôn chớ ích lợi gì! Anh hiểu
điều đó, biết mình không bao giờ hành được như vị thiền
sư, nhưng ít ra anh cũng học được cách thõng tay vào chợ
thong dong, cứ giữ “Phật Tánh” trong mình cho chặt vững,
thì cứ thử bắt chước xem cho biết để đo đong cân đếm
được bản lĩnh của mình. Anh đã thử một lần thõng tay
vào chợ, đi được chừng vài mười bước thì lạnh mình,
chùn chân, mồ hôi toát lạnh cả lưng áo, khi thấy ai cũng
nhìn mình bằng ánh mắt đầy cảnh giác. Hỡi ôi… không
được rồi là không được rồi, phải cho hai bàn tay vào
hai túi quần mau mau! Anh định tâm tỉnh trí, “ngộ” ra mình
chỉ là một thằng phàm phu tục tử, khố rách áo ôm, vậy
thì đừng có bày đặt nhập vai thánh thiện siêu thoát cho
khổ càng thêm khổ. Anh vội cho hai bàn tay vào túi quần ngay
sau đó, mới tìm được sự an nhiên mà tiếp bước vào khu
chợ Tết náo nhiệt. Mấy cái Tết trước anh đều làm như
vậy. Ba ngày vừa qua, hễ buồn chán là anh ra đường, vào
thẳng chợ Tết để ngắm nghía, để hít thở, rồi về nhà
nằm dài…
Bây
giờ, anh lại cứ đi. Anh đi giữa chốn sắc màu rực rỡ
và hương mùi phảng phất của trăm hoa vạn món. Anh đi cho
quên và cho qua những giờ phút vô vị rỗng tuếch của một
kẻ bất đắc chí ăn không ngồi rồi. Anh đứng lại trước
hàng hoa, dòng người ngược xuôi chộn rộn đẩy anh đi. Anh
đứng lại, dòng người lại đẩy anh đi. Đứng lại, đẩy
đi, đứng lại, đẩy đi… rồi anh phì cười khi thấy mình
đã được đứng lại, yên vị trước sạp hàng bánh mứt
của một chị mặt hoa da phấn rạng rỡ tươi vui. “Mua mứt
đi anh!”. Anh cười, một nụ cười mếu máo trông thật thảm
hại, rồi lắc đầu rất khe khẽ. Hai bàn tay anh lúc ấy tự
nhiên cùng bảo nhau rúc chui sâu thêm vào bên trong túi quần.
Anh đưa mắt nhìn chị bán hàng như để muốn phân trần:“Tôi
không bốc mứt của chị để ăn thử đâu, đừng lo!”. Bất
ngờ, anh nhướng mắt lên, chân chôn xuống dất dường như
đã lên đến hai đầu gối. Trước mắt anh, chị bán hàng
cũng đâng trố mắt lên, gương mặt đầy ắp bàng hoàng.
“Anh đó ư? Có phải là anh đó không?”. Anh rùng mình khi
nhận ra giọng nói thân quen ngày nào. Nghẹn ngào giữa tỉnh
tỉnh mơ mơ, anh gật đầu. Cái gật đầu rất dè dặt của
anh cũng đủ làm cho chị bán hàng nhổm cả người lên. Chị,
chính là nàng Hoa Hồng của anh ngày xưa, luýnh quýnh trèo xuống
khỏi sạp, bước lại bên anh, nhìn từ tóc đến ngón chân
anh, rồi nức nở: “Em tìm anh từ đó đến nay, mười lăm
năm hơn rồi… Sao anh không trốn luôn đi? Sao anh không đi
luôn khỏi cuộc đời em đi?”. Anh xúc động, nhún vai nói:
“Anh cũng tìm em suốt mấy năm qua, và đã đi lạc luôn rồi,
nay không còn là anh nữa đâu!”. Chị đặt hai bàn tay lên
hai vai anh, lay liên hồi, hỏi liên tục: “Có vợ con gì chưa?
Vợ con có chưa? Lập gia đình chưa? Gia đình có chưa?”. Anh
cộc lốc: “Độc thân!”. Thay vì chị hỏi “Thật không?”,
nhưng chị sực nhớ là anh chưa bao giờ biết nói dối, nên
chị lại nói: “Em… cũng vậy. Và đã trở thành gái già
cũng vì anh đó!”. Anh rơm rớm nước mắt, không biết nói
gì. Chị khẽ giọng nhưng đầy quyết đoán: “Về sống với
em nhé?”. Anh chưa kịp trả lời, đã thấy có bốn, năm người
khách ghé vào sạp của chị mua mứt bánh. Chị cười đón
khách, mắt nhìn anh, nói: “Phụ bán mứt với em đi, anh!”.
Anh chần chừ giây lát, rồi chợt tỉnh, hốt nhiên tỉnh ngộ
như thiền sư vừa khai phá một công án thiền.
Đã
lâu lắm rồi, đôi bàn tay anh mới rút ra khỏi túi giữa chợ.
Anh rút chúng ra khỏi ngục tù ngột ngạt tăm tối một cách
nhẹ tênh thông suốt. Thõng hai cánh tay xuống. Và, anh bắt
đầu cân mứt cho khách phụ chị bằng đôi bàn tay vừa chộp
bắt lại được một tình yêu thất lạc nhiều mùa Xuân qua…
Chàng
yêu tự do. Đối với chàng thì tự do là trên hết, và đúng
là trên cõi trần gian đầy thơ mộng và bi lụy này không
có thứ gì có thể vượt hơn hay sánh ngang với tự do được.
Vì vậy mà chàng cứ nhất quyết không yêu đương ai cho bận
lòng rối trí, để khỏi phải một đời bị trói buộc bởi
cái gông xiềng hôn nhân mà người đời cho là đại sự.
Không hôn nhân. Không cưới vợ. Chàng thề như vậy với mình,
với đất trời linh thiêng, và với cha mẹ, cho dù song thân
của chàng đã bao lần khuyên bảo thúc hối, thậm chí còn
van xin chàng hãy yêu đi, cứ yêu đương hẹn hò lãng mạn
rồi mới dẫn đến chuyện cưới vợ, còn như không yêu được
thì cứ cặp đại một đứa nào đó về chung sống một mái
nhà, suốt ngày đêm quấn quýt lấy nhau khít rịt mà cười
đùa rúc rích, sau khi có con thì tình yêu sẽ đâm chồi nẩy
lộc, rồi nở bung ra sáng lòa cả cuộc đời u u ám ám…
Nhưng,
chàng đã thề như vậy rồi kể từ khi người yêu đầu đời
của mình bỏ xứ mà đi, theo về một nhà cao sang quyền quý
để nâng khăn sửa túi cho một gã công tử bột vốn là bạn
học cũ của chàng. Chưa hết, hai năm sau ngày người yêu lên
xe hoa về nhà chồng, chàng được tin nhà chồng nàng vốn
toàn là những con người… trọng tài khinh nghĩa, sống theo
kiểu cổ lỗ xỉ nên đã thẳng tay mạnh mồm ngược đãi
nàng dâu út xuất thân từ một gia đình cán bộ nghèo vì
thanh liêm, lại trúng thằng chồng nhu nhược không bảo vệ
được vợ mà còn a dua hùa theo người thân hất hủi khinh
khi nàng. Nàng mang nỗi uất hận đến quẫn trí, và đã lao
đầu vào đoàn tàu vừa rời ga để kết liễu một kiếp
hồng nhan. Chàng đau đớn khôn nguôi. ø Chưa bao giờ chàng
cảm thấy cô đơn đến khủng khiếp như lúc ấy. Nỗi đau
buồn và cô đơn bao phủ và đè chụp xuống cuộc đời chàng
thật ngột ngạt trong một thời gian dài tưởng như vô tận,
biến chàng thành một kẻ lạnh lùng gần như là vô giác vô
tri…
Chàng
khóa chặt những nẻo vào trái tim mình, chỉ biết lấy thơ
văn nhạc họa làm bầu bạn tiêu khiển giải sầu suốt ba
năm liền. Rồi một buổi tối đàn đúm thâu đêm trong một
tiệc mừng một thằng bạn vừa tậu được nhà mới, vui
quá đà, chàng nghe lời mấy thằng bạn nghệ sĩ làm quen với
những luồng khói của cần sa. Thật kỳ lạ, chàng không hiểu
sao nhiều người lại gọi loại lá cần sa phơi khô ấy là
ma dược, trong khi chính nó cho chàng những giây phút sảng
khoái, những cảm giác lâng đâng phiêu hốt tận trời mây
cao cao. Chàng cảm thấy mình như một vì sao nhấp nháy trên
bầu trời đêm đen kịt, như một tiên ông khoan thai lướt
trên mây trên gió thật nhẹ nhàng, Tâm Nhiên vướng bận,
chân không xích xiềng, và hồn thơ lai láng đan chen cùng hồn
nhạc lại tràn trề khiến cho bao nhiêu tinh hoa tinh túy của
nghệ thuật trong chàng dâng trào lên, và tươm rướm ra không
dứt trên giấy mực, trên những phím đàn của cây guitar thùng
với một sức sống mới đầy tự tin …
Chàng
không biết rằng mình đã không còn được tự do như ba năm
qua nữa, vì chính chàng đã tự trói buộc xác hồn mình dính
chặt vào những luồng khói phù dung phập phù huyền ảo. Khói
nhẹ tênh mà trói được chàng bằng sợi dây thừng vô hình,
trói một cách khẽ khàng êm dịu đến nỗi không để lại
dấu xướt vết trầy thì hỏi làm sao chàng biết được là
mình đang bị trói? Chàng lại có ý muốn làm quen với những
viên hồng phiến do đám bạn bè mời chào với đủ lời lẻ
ca tụng nghe thật ngọt tai mát miệng. Nếu chàng không may
mắn gặp được một vị tăng trẻ thì chàng vẫn chưa biết
mình đang bị trói. Trong một lần họp mặt những người
đam mê thư pháp để chuẩn bị thành lập một Câu lạc bộ
thư pháp, chàng đã được làm quen với vị tăng trẻ có một
pháp danh nghe thật là… thiền: Tâm Nhiên. Chỉ qua đôi lần
trò chuyện tâm sự, chàng và tỳ kheo Tâm Nhiên bỗng trở
nên thân thiết với nhau đến lạ lùng, cứ y như đã từng
gặp nhau tám vạn bốn ngàn lần trong kiếp này rồi vậy.
Tỳ kheo Tâm Nhiên mời chàng đến chùa, dẫn lên chánh điện,
bất thần chộp lấy cái dùi gõ chuông vung lên gõ lên đầu
chàng một cái. Chàng lảo đảo, chuệnh choạng sắp té thì
tỳ kheo Tâm Nhiên đã vụt một cái đỡ lấy chàng từ sau
lưng, sau đó kéo tay chàng lôi đi vào một tịnh thất. Trao
cho chàng một bó bút lông và một xấp giấy trắng, tỳ kheo
Tâm Nhiên buông từng tiếng: “Mang về nhà, hễ mỗi khi thèm
nhớ cần sa thì bày giấy mực ra viết đi viết lại chỉ
mỗi một chữ Ma, viết đến khi nào mỏi tay thì thôi!”.
Chàng đang còn phải nghĩ ngợi thì tỳ kheo Tâm Nhiên tiếp:
“Nếu không thắng được con Ma này thì mai mốt sẽ gặp
đến Đại Ma, và rồi sau đó có ngày sẽ sống chung với
Đại Ác Quỷ!”. Chàng ngẩn ngơ ôm bó bút lông và xấp giấy
trắng đi về, và ngay khi bước chân ra khỏi cổng tam quan
của chốn già lam, chàng đã tỉnh ngộ, đứng lại nhìn vào
bên trong chùa vắng lặng, buộc miệng thề độc với long
thần hộ pháp rằng sẽ không bao giờ sờ mó đến thứ ma
dược ghê gớm kia nữa. Chàng cảm thấy thân tâm thanh thoát,
bắt đầu bước những bước ung dung trên đường đất cứng
cáp gồ ghề để trở vềà với chính mình, cho dù cái chính
mình ấy vốn dĩ đang mang đầy những nỗi niềm thương đau
và cô độc… Lần đó, chàng đã tự cởi trói cho mình một
cách dễ dàng, để rồi thật sự được tự do đi đi về
về với cuộc sống vô thường…
Vào
một buổi tối định mệnh ấy, chàng đạp xe dạo một vòng
quanh thành phố, ghé vào một quầy báo, quay lại thì đã thấy
chiếc xe đạp chạy mất tăm biết tích. Chàng thở dài chán
chường. Thôi, cũng được, hết duyên với nhau rồi thì cho
mi được tự do nhé, xe đạp ơi! Chàng lết bộ lang thang vô
định, ghé vào quán cóc trước nhà ga độc ẩm một xị rượu
thuốc, vẫn không thấy nỗi cô đơn buồn phiền tan biến…
Chàng lại lê gót đi cho hết đêm, ngang đến con đường lớn
gần cửa ngõ thành phố thì gặp nhằm lúc hai hàng rào chắn
đã được kéo ngang qua chặn lại. Tàu đang từ từ chạy
vào ga, hụ lên từng hồi còi nghe trầm trầm thống thiết.
Chàng đứng lại bên rào chắn, châm thuốc hút, đảo mắt
nhìn quanh. Bất chợt, chàng rùng mình. Một cô gái đang bước
với dáng liêu xiêu, mặt mày bơ phờ, ánh mắt lạc thần
tiến về phía rào chắn. Chàng vội bước nhanh về phía cô
gái không hề quen biết kia bằng những bước thật dài. Đúng
lúc ấy, cô gái đã trèo thoắt một cái vượt qua rào chắn,
nhảy phịch xuống bên kia, loạng choạng, rồi lồm cồm đứng
dậy đưa mắt nhìn đoàn tàu đang xình xịch băng qua… Nhanh
như cắt, chàng bay qua rào chắn, nhào đến nơi cô gái. Cô
gái lao người đến phía trước. Phía trước là đoàn tàu
đang chuyển bánh. Chàng chụp lấy thân hình nhũn mềm của
cô gái, ôm xiết lại, và vật nàng ngã xuống đường… Những
người ở quanh đó chứng kiến được đều la lên thảng
thốt. Cô gái vùng vẫy, la thét, khóc lóc thật thảm thiết,
vung những móng tay nhọn cào xé vào mặt, vào đôi cánh tay
của người đang ôm mình. Chàng không buông, nghiến răng chịu
đựng chờ cho đến khi đoàn tàu qua hẳn, chạy vào ga an toàn,
hàng rào chắn đã được kéo vào trả lại lưu thông, mới
chịu that lỏng vòng tay, đỡ cô gái đứng dậy, dìu vào lề
đường giữa đám đông hiếu kỳ. Cô gái khóc tỉ tê sướt
mướt, nhìn xoáy vào mặt chàng với ánh mắt đầy vẻ căm
giận, buông từng lời thều thào trách móc hỏi:
- Anh…
cứu em… làm gì? Cứu… làm gì?
Chàng
nghĩ lúc ấy tốt nhất là im lặng. Một lời buông ra chẳng
khác nào khiêu khích khuấy động cho sóng gió thêm dữ tợn,
và mọi lời tuôn ra đều sẽ trở nên vô nghĩa lẫn vô duyên,
nên chàng chỉ đưa mắt nhìn gương mặt thất thần của cô
gái. Không nói, nhưng đôi mắt chàng đang nói những lời động
viên an ủi chân tình nhất, còn đôi bàn tay chàng lại nắm
lấy bàn tay nhỏ nhắn của nàng, rồi day day liên tục như
để truyền sinh lực cho người đang tuyệt vọng. Cô gái nhìn
chăm chăm vào mắt chàng, vẫn thút thít sụt sùi, nhưng có
vẻ đã định thần lại. Hai người ngồi lại bên lề đường
thật lâu, không ai nói với nhau tiếng nào. Sự việc tưởng
như sẽ kinh hoàng thảm khốc đã trôi qua một cách yên ắng
đến kinh ngạc. Những người hiếu kỳ đã không còn gì để
đứng lại mà nghe ngóng nữa, từng người rời khỏi, trả
lại sự bình thường cho dòng đời cuồn cuộn chảy ngược
trôi xuôi…
Chàng
đỡ nàng đứng lên, dìu đi từng bước rời xa khỏi khu vực
rào chắn, và mời cô gái vào ngồi trong một quán cháo gà
bên phố xá nhộn nhịp. Hai người húp từng muỗng cháo nóng,
vẫn không nói với nhau câu nào. Uống hết ly cà phê đá sau
đó ở quán kế bên, cả hai cũng chỉ nhìn nhau bằng ánh mắt
đầy u uẩn. Trời đã về khuya, đường phố đã thưa thớt
người và xe qua lại. Cô gái đã bình tĩnh lại rất nhiều,
còn chàng trở nên tỉnh táo hơn, hai người tản bộ thật
thong dong như chẳng có chuyện gì vừa xảy ra trước đó,
cùng ghé vào ngồi trên ghế đá công viên đang sáng choang
đèn và thoang thoảng mùi hoa lá dìu dịu. Cô gái bắt đầu
kể vắn tắt cho chàng nghe chuyện của mình bằng một giọng
thật cảm xúc. Mồ côi mẹ từ nhỏ, cha tục huyền với một
ả giang hồ hoàn lương, cuộc sống gia đình bình yên đã
trôi qua từng ngày, cho đến khi người mẹ kế sinh liền liền
hai đứa con thì khó khăn nghèo túng bắt đầu ập vào nhà.
Nàng không còn được đi học, phải nghỉ ngang khi đang học
lớp 12, phải cầm xấp vé số dầy cộp trên tay đi bán suốt
ngày trên khắp các nẻo đường. Người mẹ kế đã trút
bỏ vai diễn hiền thục đảm đương, lộ mặt chua ngoa đanh
đá, cứ gầm gừ hục hặc với chồng con và bạn bè lối
xóm, nhưng lại ngã ngớn cợt nhã với đám đàn ông bạn
nhậu mỗi chiều tối của chồng. Cha nàng đã tìm cách làm
vơi dịu cơn ghen bằng những cuộc chè chén be bét thâu đêm,
rồi sinh ra bệnh nặng không còn làm ăn gì được… Người
mẹ kế lạnh nhạt hất hủi chồng, vỗ ngực tuyên bố sẽ
ra tay cứu vớt cả gia đình bằng cách… “chạy hàng trắng”,
bán lẻ những gói bạch phiến cho con nghiện, lại dùng chiếc
gác xép trong nhà làm nơi cho các “tiên ông tiên bà” tha
hồ bay bổng hồn xác. Mỗi khi nàng phản đối, đều liền
lãnh một trận chổi túi búi khắp mình mẩy trước mắt người
cha nhu nhược đến bất lực. Lòng sinh căm hận và chán chường,
nàng bắt đầu làm mặt lạnh mặt lì để làm quen với hoàn
cảnh gia đình, và rồi làm quen với những làn khói thuốc
mê hồn từ các loại dược liệu độc mà hằng ngày người
mẹ kế cung cấp cho bao lượt khách vào ra nhà mình. Nàng đã
bị trói chân, trói cả sinh mệnh vào ma túy lúc nào cũng nhớ
chẳng hay, khi giật mình tỉnh giấc thì những gì quý giá
nhất của đời con gái đã bị một khách hàng “ruột”
của mẹ kế chiếm đoạt mất. Đau đớn, căm thù chất ngất,
nhưng bị khống chế tứ bề, nàng không còn muốn sống trên
cõi đời này nữa…
- Anh
cứu em làm gì?
- Em
không được chết, nên anh phải cứu!
- .Anh
chỉ cứu em được lần này thôi, rồi lần sau em sẽ lập
lại, liệu anh có theo em suốt đời để cứu vớt em không?
Chỉ
vì một câu ấy, vậy mà nàng đã trói buộc được đời
chàng, làm vỡ toang những cánh cửa khóa im ỉm dẫn vào trái
tim bao năm không biết yêu đương của con người nghệ sĩ.
Chàng nắm lấy tay nàng, chân tình buông từng tiếng chắc
nịch:
- Anh
đã từng bị ma túy bắt làm nô lệ, nhưng anh đã thoát khỏi
được nó. Giờ, anh đủ bản lĩnh và khả năng giúp em thoát
khỏi mọi nanh vuốt nguy hiểm trong cuộc sống. Hãy tin anh,
như anh đang tin em!
Họ
đã trở thành vợ chồng ngay sau đêm hội ngộ lạ lùng ấy.
Và, họ sống rất hạnh phúc cho đến nay, đã trải qua mười
năm hơn, trong đó có đến sáu năm nắm tay dắt dìu nhau cùng
gia nhập đạo tràng của chùa Kỳ Viên do thầy Tâm Nhiên trú
trì để tu học giáo lý nhà Phật. Bằng mắt trần mắt thịt
thì thấy rõ là họ trói buộc nhau, nhưng kỳ thực là đôi
uyên ương này đã và đang từng ngày cởi trói cho nhau vậy!
Cả
xóm ai cũng cho là nhà Hai Ra có phước, được Phật độ .
Chuyện có phước lại lan truyền ra các xóm xa xa, loang như
vệt dầu trên mặt nước đi khắp vùng Ba Làng. Mới năm nào,
cách đây chừng vài ba năm chứ chẳng phải xa xưa gì, Hai
Ra còn phải vừa chạy xe ôm rong ruổi suốt ngày, vừa tranh
thủ chở bình gas ở đại lý giao cho khách, để lo cho bầy
con năm đứa đều còn đi học. Vợ Hai Ra bán rau cải ngoài
chợ, kiếm thêm mấy đồng tiền lời lẻ tẻ hằng ngày,
phụ giúp chồng lo chuyện ăn uống của cả gia đình gồm
bảy chiếc tàu há mồm qua loa cho qua ba bữa. Cuộc sống gia
đình thật chật vật, túng thiếu, chẳng ai dám mơ nghĩ đến
chuyện xa xỉ cao sang, mà chỉ cầu mong sao cho cứ được đủ
ăn đủ mặc là sướng đời rồi.
Đùng
một cái, quy hoạch mở đường. Một con đường tráng nhựa
rộng thênh thang chạy ngang qua khu vực Ba Làng để dẫn đến
một khu du lịch thiên nhiên kỳ ảo. Giá đất lên vùn vụt,
cao ngất. Cả xóm xôn xao chộn rộn. Có gia đình phải mất
bớt đất đai, có gia đình bay cả đất lẫn nhà vì lệnh
giải tỏa đền bù, nhưng cũng có gia đình tự nhiên mà hưởng
lợi lộc từ đất nhà vốn xưa nay nằm nơi hiu quạnh chẳng
ai màng ngó ngàng sờ mó đến làm gì. May nhờ rủi chịu,
tất cả đều có cái số, cái thời. Phước đức thay, nhà
Hai Ra nằm ở cái nhóm hên may. Cả khu đất nhà của Hai Ra,
với một mảnh vườn lèo tèo mấy cây ô-ma ra trái vàng vọt
và vài cây mảng cầu trái đẹt vô duyên chẳng ai thèm hái
trộm, bỗng phút chốc hóa thành mảnh đất vàng ròng nhờ
chường cái mặt ra phía trước bên con đường tráng nhựa
mới toanh. Bán bớt mảnh vườn nghèo nàn khô khốc cho dân
kinh doanh xây nhà hàng-khách sạn trong tương lai, nhà Hai Ra
ẵm ngay được một số vàng kếch xù sướng còn hơn trúng
số độc đắc. Đổi đời rồi. Cả nhà đổi đời, thay
da đổi thịt, trút bỏ những bộ áo quần cũ xì nhếch nhác,
vĩnh biệt những bữa ăn đạm bạc chỉ toàn là “mắm đui,
muối đâm” với canh rau lỗng nhạt, rồi sửa nhà, sắm xe
máy xe đạp, trang trí nội thất, mở quán giải khát có nhạc
xập xình vui nhộn… Thật là mơ cũng chưa dám nghỉ đến!
Hai Ra bỏ nghề xe ôm chở hàng, giao hết việc bán quán cho
vợ và mấy đứa con, còn mình thì chỉ biết tìm đến với
những thú an nhàn chim cây cá kiểng, hay “du lịch tâm lịch”
một chút bằng cách vãn chùa lạy Phật, hứng nữa thì đi
đánh cờ tướng, xem bóng đá… để bù lại những tháng
ngày gian khổ đầu tắt mặt tối. Chưa hết, phúc trùng lai,
Hai Lành-đứa con gái đầu tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm,
vừa ra trường đã có ngay việc làm ở nơi như ý, lại gặp
ngay một mối tình đầu chớp nhoáng với một chàng trai bảnh
bao lịch thiệp, sét đánh cái rầm khiến cho hai đứa đòi
cha mẹ hai bên phải ngồi lại với nhau mà bàn cho rốt ráo
hôn nhân đại sự. Những chuyện vui, tin mừng liên tiếp xảy
đến dồn dập như có bàn tay vô hình của ai đó sắp đặt
đùn đẩy, làm cho vợ chồng Hai Ra vừa lo toan vừa mở cờ
trong bụng. Người yêu của Hai Lành là thằng Bích con nhà
nề nếp gia giáo ở trung tâm thành phố, giàu sụ, có thân
nhân ở nước ngoài đến năm, sáu người. Thằng Bích lớn
hơn Hai Lành bốn tuổi, đẹp trai, tính tình hiền lành, tốt
nghiệp Đại học Mỹ thuật, được gia đình đầu tư mua
đất cất nhà tại khu Ba Làng để mở một gallery, phối hợp
với một hiệu ảnh kỷ thuật số để chào đón khách du
lịch qua lại nơi này.Có đứa con gái đầu lấy được chồng
cỡ đó, hỏi sao cả xóm không kháo với nhau là nhà Hai Ra
có phước? Hai Ra nghe được, không giận, không tự ái, mà
cười khề khà coi bộ thỏa mãn đắc chí. “Cờ đến tay
thì cứ phất chứ sao! Tội dại gì mà cứ khúm núm co ro,
e dè ngượng ngập?”, nói vậy, nhưng Hai Ra không hề tỏ
ra kiêu căng ngạo mạn. Những nợ ân tình thuở hàn vi, Hai
Ra đều không quên đền đáp. Những kẻ xưa kia từng khinh
khi, ích kỷ bo bo đối với gia đình mình, Hai Ra không lấy
đó làm hận để bây giờ khi được lên voi sẽ trả thù
cho bỏ ghét. Vợ chồng Hai Ra không phải là hạng người như
vậy. Ân thì đền, nhưng oán thì phủi bỏ lãng quên. Trong
kinh sách nhà Phật có biết bao nhiêu điều khuyên răn dạy
bảo như vậy, đã đọc đã biết thì phải nhớ mà hành,
hành được ít nhiều gì cũng là quý cả, lợi cho mình, sướng
cho mình cả. Như lão Phi chủ quán hớt tóc chẳng hạn, là
bà con gần, cũng là láng giềng sát rạt, trước có trúng
số được cặp năm giải đặc biệt, vậy mà vợ chồng Hai
Ra qua nhà vay ít tiền để góp cho đủ số mua xe máy chạy
kiếm cơm, lão làm mặt lạnh không cho, nói rằng để đầu
tư cho quán hớt tóc. Nay khi nhà Hai Ra lên xe xuống ngựa bảnh
chọe, thì nhà lão Phi tuột dốc không phanh sau nhiều trận
thua số đề, và thua mấy chục kèo cá cược suốt mùa World
Cup. Hai Ra không trả thù, mà còn tự động đem tiền qua giúp
cho nhà lão Phi vượt lúc ngặt nghèo, không đợi lão lên tiếng
vay mượn. Hay chuyện mụ Sáu Quới chuyên cho vay nặng lãi
cắt cổ mổ họng dân nghèo, đã từng cho Hai Ra vay nóng, đến
kỳ hạn trả lãi mẹ lãi con lẫn gốc, không thấy con nợ
đến thanh toán, mụ liền thuê một bọn mặt rô đến tận
nhà Hai Ra, vừa hăm dọa vừa xiết đồ đạc trong nhà, quơ
cả những đồ gia bảo trên bàn thờ tiên tổ, khiến cho vợ
chồng Hai Ra phải quỳ lạy khóc lóc mà xin hẹn trong ba ngày
ráng chạy cho đủ tiền trả nợ. Sau đó, Hai Ra được một
số bà con hàng xóm tốt bụng hùn tiền lại cho vay tạm để
lo mà làm hài lòng hả dạ mụ Sáu Quới. Hai năm trước, mụ
Sáu bị tai biến mạch máu não, bán thân bất toại, nằm liệt
giường, lại lãnh thêm một vố đau điếng bởi thằng con
trai út chích choác, nó ẵm cả hộp nữ trang vàng vòng cùng
mấy chục triệu đồng của mẹ rồi biến đi ngao du sơn thủy
cùng con bồ giang hồ… Hai đứa con gái lớn đã có chồng,
lâu nay hay luân phiên nhau về vuốt ve nủng nịu để ngoáy
tiền mẹ, nay thấy mụ Sáu Quới tiêu bay vốn liếng nên chơi
cái tình lờ không màng đến nhà chăm sóc, lo toan cơm nước
cho mẹ nữa. Mụ Sáu Quới nằm chèo queo một chỗ, khóc ròng
với số phận hẩm hiu cô độc, nếu không có hàng xóm thương
hại xúm nhau giúp đỡ thì mụ chắc đã chết khô trên chiếc
giường gỗ hương đắt giá của mụ từ năm ngoái rồi. Bây
giờ Hai Ra có tiền, không nhớ chuyện cũ mà trả oán cho hả
dạ, lại mang tiền đến biếu mụ Sáu Quới, còn thuê hẳn
một đứa cháu gái của mình mỗi ngày ba buổi, với giá hai
trăm nghìn đồng một tháng, đến chăm sóc cho người đàn
bà bệnh tật sa cơ thất thế. Ai nghe chuyện cũng nghiêng mình
khâm phục Hai Ra, và khen luôn cả người vợ vốn luôn đồng
tâm hợp ý với người bạn đời của mình. Phước đức
hơn, đám cưới của con Hai Lành được bên nhà trai tuyên
bố dự tính sẽ tổ chức linh đình đãi tiệc ba ngày ba đêm,
lớn nhất vùng Ba Làng từ xưa tới nay. Bên nhà trai “bao
sân” từ A đến Z, nhà gái không phải lo toan gì kể
cả việc lo của hồi môn cho cô dâu. Vợ chồng Hai Ra đi tới
đâu cũng được bà con hàng xóm khen mừng chúc phúc, sướng
trân cả người, và cũng phải lâu lâu véo đùi để tin chắc
là mình không phải đang nằm mơ…
Sau
nhiều ngày rộn ràng chuẩn bị, trang hoàng sắm sửa đâu
vào đó, ngày đám cưới của con Hai Lành cũng đã đến. Cả
xóm vui như hội, mọi người đổ ra đứng hai bên đường
để đón đoàn xe hơi bóng loáng nối đuôi nhau dài ngoằng
của nhà trai đến rước dâu. Một cảnh lạ chưa ai từng
thấy, nên ai cũng vui vui mừng mừng trong bụng, có người
rơm rớm nước mắt, có người không kềm được lòng phải
gào thét lên với gương mặt hể hả để mừng cho nhà Hai
Ra … Đến giờ hôn lễ cử hành, thật trang nghiêm và xúc
động. Dâng rượu bàn thờ tiên tổ ông bà. Lạy. Hai họ
phát biểu. Cô dâu chú rể dâng rượu mời cha mẹ hai bên.
Hai Ra trong trang phục áo dài khăn đóng cổ truyền, đại diện
nhà gái trịnh trọng giở những tấm khăn đỏ chói phủ trên
các mâm quả của nhà trai bưng đến đã đặt sẵn trên chiếc
bàn đặt trước bàn thờ. Rượu trà. Bánh mứt. Vàng vòng,
tiền bạc. Trầu cau. Mâm quả nào cũng vun đầy ăm ắp. Bất
chợt, Hai Ra nhăn nhíu mặt mày, rồi miệng mếu máo, nước
mắt lăn dài trên má… Ai cũng sửng sờ, hốt hoảng. Hai Ra
khóc rồi, nhưng lại đang cố kềm lại, nuốt tiếng khóc
xuống cho nó ùng ục nơi cổ họng, đôi mắt đỏ kè đầm
đìa lệ nóng hổi. Vợ Hai Ra đứng kế ben, hoảng quá, đưa
tay ngắt đại một cái vào hông chồng để nhắc nhở. Hai
Ra giật thót người một cái, gật gù hiểu ý, rồi cố ra
vẻ bình thản bước lui ra sau nhường cho bên nhà trai phần
nghi thức tiếp theo. Dâng hương. Lạy. Trao nhẫn cưới. Bà
con hai họ tặng quà cho cô dâu chú rể. Lạy. Hương trầm
nghi ngút. Đèn hoa sặc sỡ. Tất cả đều nhòa đi trước
mắt Hai Ra.Trước khi nghi lễ kết thúc, Hai Ra bước lại bưng
đĩa trầu cau đã têm sẵn, hai tay cung kính dâng lên bàn thờ,
đặt trước linh ảnh của ông bà nội cô dâu. Rồi từ tốn
quay lại nhìn mọi người đang nhướng mắt đổ dồn về
phía mình, cất giọng trầm trầm nói:
-
Thưa cùng bà con hai họ, khi nãy tôi thật có lỗi khi không
kềm chế được lòng mình, mong bà con hãy niệm tình tha thứ.
Chỉ vì nhìn thấy cau thấy trầu mà tôi xúc động, tôi ray
rứt, tôi xấu hổ đến phát khóc giữa nơi này… thật là
không nên…
Im
thin thít… Mọi người chừng như đang nín thở. Bên nhà trai
cứ trố trừng mắt lên. Ai cũng đang chờ ông sui gia bên nhà
gái nói cho hết lời. Hai Ra chậm rãi đưa mắt nhìn về phía
bàn thờ, rồi đưa hai bàn tay run rẩy vuốt ve những trái
cau lá trầu còn nằm trên mâm quả, kể bằng giọng buồn
buồn nhưng rõ ràng từng tiếng:
- Cách
đây năm năm… Ngày mẹ tôi, bà nội con Hai Lành, bệnh nặng
phải nằm dính trên giường, bà có gọi tôi vào giữa khuya
khoắc chỉ để sai tôi đi mua cau trầu. Bà nói là “bỗng
nhiên mẹ thèm lắm”. Lúc đó, chỉ mới 2 giờ sáng, nên
tôi mới nói rằng: “Giờ này không ai bán mua gì đâu, mẹ
ngủ đi, sáng con sai mấy đứa nhỏ mua cho!”. Nhưng mẹ tôi
cứ càu nhàu, càm ràm đòi ăn trầu. Tôi bực mình quá, nên
có to tiếng nặng lời: “Khuya lơ khuya lắc mà thèm bất tử,
mẹ thèm món khác thì con có thể cố tìm ra được, chớ thèm
trầu cau thì phải chờ sáng chợ mới họp, mới có mà mua!”.
Mẹ tôi nói: “Khuya gì mà khuya. Hồi tụi bây còn nhỏ, giờ
này tao gánh củi lội bộ lên chợ Phường Củi, hồi đó
thị xã Nha Trang chỉ có một chợ này thôi, để bán cho kịp
mà đổi gạo mắm về ăn. Còn mày, lúc mười tuổi bị bệnh
tiêu chảy xém chết, nửa khuya, cũng giờ này, mày đòi ăn
mực muối với cháo.Tao phải lội bộ qua Xóm Bóng mới mua
được cái món mày thèm…”. Tôi nghe vậy nên im, không cãi
nữa, chui vào mùng, trùm mền ngủ thấu sáng. Sáng, tôi đích
thân đạp xe đi qua Chợ Đầm mua cau trầu cho mẹ.Tôi mua nhiều
lắm, ăn cả nửa tháng không hết. Nhưng, cau trầu đem về
đến nhà thì… mẹ tôi đã ra đi, ra đi vĩnh viễn. Bà đi
xa luôn rồi, mang theo một nỗi thèm trầu cau…do con cái đã
không làm tròn bổn phận…
Kể
đến đó, Hai Ra bật khóc hu hu như con trẻ. Mọi người sụt
sùi, thút thít khóc theo giữa hương hoa ngào ngạt và đèn
đuốc sáng choang… Hai Ra mặt mày méo xệch, chỉ mâm quả
trầu cau vun đầy xanh um, nói như tự trách mình:
- Mẹ
còn sống, mẹ thèm, không lo cho mẹ ăn. Mẹ chết rồi, có
cúng có dâng cả nghìn mâm quả cau trầu như đây cũng vô
nghĩa, vô ích thôi. Tôi nghĩ vậy mà khóc. Tôi xấu hổ quá…
Tôi ân hận quá…
Rồi
bất thần, Hai Ra quỳ xuống trước bàn thờ mà rống lên
gọi mẹ…Vợ con Hai Ra, kể cả cô dâu Hai Lành cũng vội
vàng quỳ xuống kế bên mà khóc nức nở sụt sùi. Bà con
thân quyến bên họ nhà gái cũng lật đật quỳ theo, khiến
cho họ nhà trai gần hai chục người thấy vậy cũng thúc nhau
mà quỳ xuống… Dường như, qua nước mắt nhập nhòa, ai
cũng thấy bà nội của cô dâu trong linh ảnh đặt trên bàn
thờ đang nhoẻn một nụ cười nhẹ nhàng thanh thoát…
Trong
kho tàng ca dao - tục ngữ Việt Nam có biết bao nhiêu câu ca,
biết bao nhiêu ngôn từ ca ngợi, xưng tụng tán dương công
ơn trời biển của cha mẹ, mà một đời người có học hoài
cũng không hết, không cạn…
Công
cha đức mẹ cao dầy
Cưu
mang trứng nước những ngày ngây thơ
Nuôi
con khó nhọc đến giờ
Trưởng
thành con phải biết thờ song thân!
Hoặc
như câu:
Còn
cha còn mẹ thì hơn
Không
cha không mẹ như đờn đứt dây
Ðờn
đứt dây còn tay lại nối
Cha
mẹ mất rồi con phải mồ côi…
Ơn
cha cao ngút tựa núi Thái như vậy. Nghĩa mẹ rộng lớn như
biển Ðông như vậy. Vậy mà, ở đời lại có nhiều người
làm con không chịu nhìn thấy, hoặc thấy mà không chịu chiêm
bái gẫm suy, cứ muốn làm một người … mù lòa trong đạo
làm con. Hễ nghe ai đó nhắc đến chữ Hiếu thì làm lơ, đánh
trống lãng, hoặc lạnh lùng tay xua miệng thốt: “Xưa rồi!”.
Những người con đó đã cố tình quên đi rằng:
Biển
Ðông có lúc đầy vơi
Chớ
lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng…
Suốt
cả một đời cha mẹ luôn lo lắng, luôn quan tâm, lắm khi
mất ăn mất ngủ vì con mình. Một niềm vui nhỏ bé của con
lại làm cho cha mẹ râm ran sung sướng, và một nỗi đau buồn
cỏn cỏn của con có thể làm cha mẹ rát buốt cả ruột gan.
Người con sẽ thật sự cảm nhận, nhìn thấy rõ “núi Thái
và biển Ðông” hiển hiện sừng sững và mênh mông trong
cuộc đời mình khi:
Lên
non mới biết non cao
Nuôi
con mơi biết công lao mẫu từ…
Hay
là:
Ở
đời ai cũng có lần
Làm
cha mẹ mới biết ơn sinh thành
Người
xưa khó nhọc nuôi mình
Khác
gì mình đã hết tình nuôi con!
Trong
“Cổ học tinh hoa” còn ghi lại câu chuyện nhân vật Dương
Phủ lặn lội đường xa tìm cho được vị đại sư Vô Tích
-vốn được tôn xưng là một vị Bồ Tát tái thế- để cầu
học Phật pháp. Dương Phủ đi được một quãng đường rất
dài, tình cờ gặp một vị sư khác giữ chân lại, nói rằng:
“Ðại sư Vô Tích chính là sư phụ ta, ngài biết ngươi đang
trên đường tìm đến diện kiến ngài, nên sai ta đi tìm ngươi
để khuyên ngươi nên đi tìm gặp một vị Phật sống!”.
Dương Phủ nghe nói đến Phật sống thì mừng lắm, Phật
vẫn hơn Bồ Tát mà, vội hỏi kỹ đường đi nước bước.
Vị sư kia bảo rằng: “Ngươi hãy đi thẳng về hướng Ðông,
khi nào nhìn thấy một người mặc áo trái, mang giầy ngược
mừng rỡ đón ngươi thì đó chính là vị Phật sống!”.
Dương Phủ nghe lời, cắm đầu cắm cổ đi không ngơi nghỉ
về hướng Ðông, tức hướng ngược lại mà mình đã vừa
đi qua, đi cho đến khi về đến… nhà mình. Người mẹ của
Dương Phủ nghe tiếng con gõ cửa, trong lòng mừng rỡ, vội
vội vàng vàng mặc áo không kịp ngay ngắn, xỏ ngược đôi
giầy chạy ra mở cửa. Dương Phủ nhìn thấy hình ảnh mẹ
“mặc áo trái, mang giầy ngược” mới tỉnh ngộ, hiểu
ra rằng mẹ mình chính là một vị Phật sống, và lòng hiếu
thảo của con cái đối với cha mẹ ở trong nhà vẫn quý hơn,
vẫn đẹp hơn là đi tìm một vị Bồ Tát, hay Phật sống
nào đó ở bên ngoài xa xa… Phật có dạy rằng: “Phụ mẫu
tại đường tức chư Phật tại thế” (Cha mẹ ở ngay trong
nhà chính là chư Phật ở trên thế gian) là vậy! Ta cũng thường
nghe câu ca dao:
Tu
đâu cho bằng tu nhà
Thờ
cha kính mẹ mới là chân tu!
Đối
với Phật tử Việt Nam, lễ Vu Lan đã trở thành truyền thống
là một mùa đền ơn đáp nghĩa cho những người con hướng
về cha mẹ bằng tấm lòng hiếu hạnh chân thành: Mùa Báo
Hiếu. Tấm lòng hiếu hạnh đó đâu đòi hỏi phải được
biểu lộ bằng ngọc ngà châu báu chất đầy mâm, sơn hào
hải vị bày tràn bàn, hay tiền vun bạc đống dâng lên cho
cha mẹ vui sướng? Lòng hiếu hạnh chân thành là được, chỉ
cần chân thành là quý rồi, nghĩa là phải tưởng nghĩ đến
công cha nghĩa mẹ bằng trái tim thổn thức và tấm lòng biết
ơn thật sự, không phải bằng sự hào nhoáng lòe loẹt mang
tính hình thức, hay thủ tục. Chỉ một trái quít bé xíu nhận
từ một nhà người thân, nhịn không ăn mà đem giấu trong
tay áo để mang về dâng lên mẹ, cậu bé Lục Tích trong “Nhị
Thập Tứ Hiếu” đã bộc lộ được tấm lòng hiếu hạnh
chân thành của mình. Hay như chuyện Hàn Bá Dũ bị mẹ đánh
không hề đau mà lại khóc rống lên thảm thiết, hỏi ra mới
hay mọi lần bị mẹ đánh đòn rất đau nhưng không khóc vì
biết rằng mẹ còn khỏe, nay bị đòn không thấy đau đớn
gì nên biết sức lực mẹ đã suy kiệt, vì vậy mà mới khóc,
khóc với một tấm lòng hiếu hạnh chân thành. Những tấm
lòng hiếu hạnh đó đâu có giá trị gì về vật chất, nhưng
còn quý hóa gấp nghìn lần vàng bạc gấm lụa cao sang phù
phiếm.Thế nên:
Thờ
cha kính mẹ hết lòng
Ấy
là chữ Hiếu dạy trong luân thường!
Là
Phật tử, chúng ta quanh năm suốt tháng tinh tấn tu học pháp
Phật, quy y đãnh lễ Tam Bảo, siêng chăm lên chùa thắp nhang
và tụng niệm, chúng ta đừng quên một điều:
Lên
chùa lạy Phật muốn tu
Về
nhà thấy mẹ công phu chưa đền!
Chúng
ta hãy luôn nhớ lấy điều đó khi nghĩ về công cha nghĩa
mẹ bằng tấm lòng hiếu hạnh chân thành, thì mới mong con
đường tu học đạo pháp của mình được thông suốt tốt
đẹp, và trọn vẹn …
Tôi
tắm rửa xong, xỏ đại vào người một bộ đồ sạch sẽ,
bước lại đứng trước tấm gương lớn gắn trên cánh cửa
tủ mẹ bồng con vừa soi mặt, nặn mụn, chải đầu, vừa
huýt sáo bản “Biết đâu cội nguồn” của cố nhạc sĩ
Trịnh Công Sơn. Ðó là một giai điệu rộn ràng mà tôi yêu
thích, thường hát lên hoặc huýt sáo miệng mỗi khi cảm thấy
mình đang khỏe khoắn, nhẹ nhàng và sạch sẽ sau một ngày
lao động cật lực ở xưởng vẽ của lão Vũ Dương. Tôi
đã làm ở xưởng vẽ được hai năm rồi, phụ trách công
việc cạo và sơn lại nền những tấm bảng hiệu đủ cỡ
lớn nhỏ để mấy tay thợ vẽ khác kẽ chữ, rồi phụ với
một nhóm thợ đi treo các bảng hiệu, băng-rôn, áp phích,
hộp đèn cho khách trên địa bàn thành phố. Nghe làm ở xưởng
vẽ thì nhiều người cứ tưởng chắc là an nhàn sang trọng,
nhưng công việc rất năïng nhọc, quần mình cả ngày xoay
như chong chóng, nhiều khi muốn đuối. Ðược cái lương cao,
thưởng hậu, và phải quen biết mới được lão Vũ Dương
cho vào làm ở cái xưởng vẽ thập cẩm sắp tiến lên thành
lập thành công ty Trách nhiệm Hữu hạn le lói này, nên tôi
cắn răng cắm cổ mà làm, vừa làm vừa học việc để có
một cái nghề làm ăn với thiên hạ. Người giới thiệu tôi
vào làm ở xưởng vẽ là anh Trần Vô, một họa-thi sĩ, bạn
của lãoVũ Dương.
Tôi
chải đầu xong là sẽ đạp xe bay qua nhà của anh Trần Vô
theo một cái hẹn “chiều xong việc, nếu rãnh thì qua nhà
tao, tao có chút việc cần bàn”. Nhà anh ta ở ngoại vi thành
phố, đạp xe 8 cây số… chớ mấy, chắc là rã giò vì phải
đạp ngược gió qua hai chiếc cầu gió lồng lộng từ biển
ùa vào, nhưng tôi không ngán, vì tôi rất kính nể và yêu
mến người họa sĩ có tâm hồn thơ lai láng sống rất phóng
khoáng tài tử này. Anh ta có bắt tôi đạp xe hay chạy bộ
qua ba đèo bốn núi thì tôi vẫn vui vẻ tuân lệnh, nói chi
chỉ hai chiếc cầu. Qua nhà anh ta, thế nào cũng có sương
sương “ít ly y lít”, và hưởng thụ được những trận
cười bò lăn bò càn cho quên đời khổ lụy mà không tốn
một cắc nào. Thật vậy, anh Trần Vô ngoài cái tài vẽ và
làm thơ, vẽ ký họa thì hết ý mà làm thơ ứng khẩu thì
hết xẩy, còn có biệt tài kể chuyện tiếu lâm cù léc mọi
người. Anh ta nghèo lắm. Tài ba, nhưng nhà ở xa thành phố,
nên công việc làm ăn của anh ta không sao phát triển được,
quanh năm chỉ loay hoay luần quần với những tấm bảng hiệu,
bảng số nhà… kiếm đủ tiền độ nhật, thi thoảng mới
trúng một “sô” vẽ phông trên tường hoặc tân trang lại
những câu đối chữ Hán cho mấy cái đình, chùa miền quê
yên tĩnh. Vừa nuôi thân, vừa gánh một gánh nặng một vợ
ốm yếu cùng năm con èo uột, lại còn phải phụng dưỡng
một người cha già gần đất xa trời, đang có tính tình như
con nít, khi ngang ngược, khi nhỏng nhẻo, khi tỉnh khi điên,
nên lúc nào người ta cũng thấy anh họa-thi sĩ này bơ phờ
hốc hác, tóc tai bờm sờm, áo quần xộc xệch trông thật
tội nghiệp. Nhưng anh ta đâu có thấy tội nghiệp cho mình
bao giờ, lúc nào cũng tươi tỉnh, lúc nào cũng cười được,
và pha trò pha tiếng cho người khác cười, cứ như là cuộc
đời này rất ư thơ mộng đáng yêu vậy!Hễ mỗi lần có
bạn đến nhà thăm, dù đang bận bịu tối mặt tắt đầu
với “đại sự mưu sinh” quan trọng hoặc gấp gáp, anh ta
cũng sẽ gạt công việc qua một bên để cùng bạn bè
sương sương ít ly rượu tâm sự giải khuây.
Anh
Ba của tôi là bạn thâm giao của anh Trần Vô, bạn thơ văn
nhạc họa và … rượu, có thể nói là tri âm tri kỷ. Từ
ngày anh Ba tôi từ giã cõi hồng trần thơ mộng vì căn bệnh
sơ gan, lại thêm viêm loét bao tử, anh Trần Vô ít khi đến
nhà tôi chơi, chỉ khi nào vào thành phố mua vật liệu để
về làm thì anh mới ghé tạt vào thăm hỏi sức khỏe mẹ
tôi vài ba câu, sau đó thắp nhang chào anh Ba tôi trên bàn thờ,
rồi đi. Thấy tôi thất nghiệp, anh ta lôi đầu tôi đến
gặp lão Vũ Dương để xin một chỗ phụ việc. Lão Vũ Dương
nể nang anh Trần Vô lắm nên mới thâu nhận tôi làm học
trò, vì dưới trướng của lão đã có trên dưới hai mươi
thợ thầy lính lác lành nghề. Vì vậy mà tôi rất mang ơn,
thương quý anh ta, xem như một người anh ruột của mình.
Có chuyện gì cần, anh ta “hú” một tiếng là tôi sốt sắng
có mặt ngay. Lần này, anh ghé tạt đến xưởng vẽ trò chuyện
trao đổi với lão Vũ Dương gì đó, rồi trước khi biến
đi đã vỗ một phát vào vai tôi kèm thêm cái hẹn chiều gặp.
Tôi nôn nao muốn biết anh ta cần bàn chuyện gì. Chắc là
phải quan trọng rồi. Nhìn ánh mắt, nghe giọng nói của anh
ta là tôi đoán được …
Soi
gương lần chót kỹ lưỡng trước khi đi, bất chợt tôi nhìn
thấy từ trong gương phía sau lưng mình, mẹ tôi đang nặng
nhọc ngồi dậy trên chiếc đi-văng, rồi nhìn về phía tôi,
cất giọng mệt mỏi:
-
Con định đi đâu đó?
Tôi
quay lại, bước lại bên mẹ:
-
Con đi chơi, thư giãn chút mà…
-
Không đợi ăn cơm đã rồi đi à?
-
Thôi, chờ chị Hai với mấy đứa … lâu lắm. Con đi chơi
chắc tối mới về…
-
Mẹ đang bị đau nhức cả hai cái chân… con xoa dầu nắn
bóp cho mẹ một hồi rồi đi…
-
Thôi, con sợ trễ hẹn. Mẹ để tối về con xoa bóp cho…
-
Làm bây giờ chớ hẹn gì nữa, con? Chừng mười lăm phút
chớ mấy!
-
Năm phút cũng không được! - Tôi vùng vằng - Con đang có cái
hẹn bàn chuyện quan trọng với anh Trần Vô, còn phải đạp
xe gần chục cây số nữa, sợ để ảnh chờ thì kỳ lắm!
-
Hẹn với anh Vô à? Ừ thôi, con đi đi. Mẹ tưởng con đi chơi
với mấy đứa thằng Long thằng Bình, chớ qua chơi với anh
Vô thì đi đi kẻo ảnh chờ, tối về xoa bóp cho mẹ cũng
được…
Tôi
bước lẹ ra sân, nhảy phóc lên xe đạp, vọt đi ào ào như
bị ma đuổi…
…
Ðạp xe vào đến sân, tôi thấy ngay anh Trần Vô đang ngồi
nơi bậc tam cấp trước thềm hiên nhà, cùi chỏ chống đầu
gối, bàn tay chống cằm, mắt đang nhìn ở đâu đó nên không
thấy tôi đến. Có một cái gì đó lạ lạ. Dựng xe, tôi
quay lại nhìn. Anh ta đưa chào tôi, mặt buồn hiu chưa từng
thấy. Tôi hơi chột dạ, không dám vồn vã hớn hở chào anh
như mọi lần. Ngồi xuống bên anh, tôi nhìn kỹ. Trời ạ,
anh ta vừa mới khóc xong, hai mắt còn ướt nhòe. Tôi rúng
động. Có chuyện gì kinh khủng xảy ra? Một biến cố kinh
hoàng? Hay một cú sốc đột ngột? Tôi nín thở, nhìn anh ta.
Anh ta nhìn lại tôi, cười gượng, rồi không đợi tôi hỏi
mà đã nói:
-
Tức quá nên khóc. Khóc cho đỡ tức.
-
Sao anh tức dữ vậy? Ai mà làm cho anh tức đến phát khóc
thì người đó quả là… bậc thành nhân siêu quần rồi.
Ai vậy, anh?
-
Ông già tao chớ ai vô đây!
Tôi thở phào nhẹ nhõm, như vừa trút được một tảng đá
lớn ra khỏi lồng ngực.
-
Bác làm gì mà anh tức?
-
Ðang kẹt tiền muốn chết, may gặp cái mối làm hộp đèn,
bảng hiệu cho tiệm vàng, được người ta ứng cho chút tiền
mua vật dụng.Tính toán v |