THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
.
HÌNH ẢNH LÂM TỲ NI VÀ VOI TRẮNG SÁU NGÀ 
Tâm Không Vĩnh Hữu
Chuyện nghe như thế này: 
       
Có một cư sĩ áo lam hỏi vị cao tăng rằng: “Bạch thầy, theo thầy thì lễ Phật Thành Đạo và lễ Phật Đản, lễ nào quan trọng hơn, lớn hơn?”. Vị cao tăng nói: “Lễ Phật Đản quan trọng hơn, lớn hơn, nên chúng ta thường gọi là Đại lễ Phật Đản!”. Cư sĩ thưa: “ Theo thiển ý của con thì lễ Phật Thành Đạo quan trọng hơn, phải nên tổ chức lớn hơn lễ Phật Đản!”. Vị tăng hỏi: “Vì sao?”. Cư sĩ đáp: “ Vì nếu đức Phật không thành đạo, không thành tựu quả Vô thượng Bồ đề, thì trên thế gian này đâu có bao nhiêu người biết đến một Sa môn họ Cồ Đàm, càng không thể biết đến một Thái tử Tất-Đạt-Đa con của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma-Da ở thành Ca-Tỳ-La-Vệ?”. Vị tăng gật gù khen: “Con nói phải lắm!”. Nghe khen, vị cư sĩ hớn hở tiếp: “Con đã đem một câu hỏi cầu kiến nhiều vị đại đức tăng ni, nhưng không ai giải tỏa được thắc mắc cho con!”. Vị tăng hỏi: “Con hỏi sao, và họ trả lời sao?”. Cư sĩ thưa: “Con hỏi, tại sao lễ Phật Thành Đạo quan trọng hơn, mà hằng năm không tổ chức lớn hơn lễ Phật Đản? Con được trả lời rằng đó có lẽ là theo thông lệ xưa nay, theo truyền thống lưu truyền lại biết bao nhiêu đời rồi, nên cứ như vậy mà làm, con không được thỏa mãn lắm!”. Vị tăng cười khẩy, nói: “Trả lời như vậy, con không được thỏa mãn là phải. Nay nghe ta hỏi, có phải giáo lý của nhà Phật luôn chú trọng đến nhân quả luân hồi không?”. Cư sĩ dạ một tiếng. Vị tăng chậm rãi nói: “Phật Thành Đạo là Quả, Phật Đản Sanh là Nhân, không có Nhân thì làm gì có Quả, vậy thử hỏi Nhân quan trọng hơn hay Quả quan trọng hơn?”. Cư sĩ ngẩn người ra, sáng bừng cả đầu óc, cúi đầu thưa: “Bạch thầy, con không còn bị vướng mắc nữa!”. Vị tăng cười nói: “Mà thật ra, đức Phật Đản Sanh cũng chỉ là một cái Quả, cái Quả này có được là do nhiều cái Nhân từ vô lượng kiếp trước hình thành. Bao kiếp trước, nếu đức Phật không tu thì làm gì kiếp này có chuyện Ngài “vì chúng sinh, Ta thị hiện” để rồi thành đạo mà hóa độ cho chúng sinh? Vì vậy, ta khuyên con không nên đặt vấn đề quả quan trọng hơn nhân, hay nhân quan trọng hơn quả, vì trong quả vốn có nhân, vì trong nhân vốn có quả, chập chùng chập chùng…”. Cư sĩ dập đầu bái vị tăng, ra về với lòng hân hoan và trí óc thảnh thơi thông suốt…
        
Câu chuyện trên chỉ là một câu chuyện nghe kể lại, không rõ xuất xứ từ đâu, nên cũng không dám lạm bàn hay- dở đúng- sai, nay xin kể lại gọi là dẫn nhập trước khi vào câu chuyện nói về hình ảnh Vườn Lâm-Tỳ Ni và Voi Trắng Sáu Ngà nhân mùa Phật Đản 2552.
       
Như chúng ta thường thấy, cứ sắp đến ngày Rằm tháng Tư âm lịch hằng năm là ở khắp các tự viện, tịnh xá đều bắt tay vào việc thiết kế, bài trí một vườn Lâm –Tỳ-Ni tượng trưng cho ngày đại lễ kính mừng Phật Đản. “Giả viên” Lâm-Tỳ-Ni thường được bài trí một bên góc sân của các chùa lớn lẫn chùa nhỏ, với những bức phông lớn bằng tole, ván, hoặc vải được tô vẽ cảnh vật thật đẹp, phối hợp với các tượng nhỏ, trên một nền cỏ xanh mượt chen đá cảnh và hoa tươi. Chúng ta sẽ chiêm bái được những hình ảnh thanh thoát thánh thiện qua các nhân vật quen thuộc như: Đức Phật hài nhi đang bước trên bảy đóa hoa sen hồng bừng nở, một tay chỉ đất, một tay chỉ trời khi bật thốt lên câu nói bất hủ: “Trên trời, dưới trời, chỉ có Chơn Tâm là trên hết!” (Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn); Hoàng hậu Ma-Da đang đưa tay níu lấy một cành cây Vô Ưu, cạnh bên là các cung nữ theo hầu hạ bà; các Chư Thiên xuất hiện trên trời xanh mây trắng, chư Tiên Thần vây quanh để ca tụng và chào mừng một Đấng Giác Ngộ vừa giáng sanh cõi phàm trần, gần đó là hình tượng một con voi trắng sáu ngà… Tùy điều kiện của mỗi chùa, vườn Lâm-Tỳ-Ni có thể là hoành tráng lớn rộng, cũng có thể chỉ mang tính tượng trưng nên diện tích rất khiêm tốn, nhưng dù lớn dù nhỏ thì nơi đức Phật hạ sanh luôn được trang trí đèn màu, cờ phướng, kiểng lạ hoa thơm rất trang nghiêm và thanh khiết. Chỉ có điều, khi đại lễ Phật Đản qua đi, những khu vườn Lâm-Tỳ-Ni cũng biến mất, những phông màn đèn hoa, cờ phướng, tượng ảnh đều được tháo gỡ đem cất vào trong kho để dành sử dụng cho các mùa Phật Đản sau, nếu như bằng chất liệu tốt bền. Thử hỏi, có bao nhiêu ngôi chùa trên khắp đất nước ta đã có thiết lập- bài trí một “giả viên” Lâm-Tỳ-Ni cố định trong khuôn viên? Cố định, có nghĩa là cả mảnh vườn thiêng liêng ấy quanh năm suốt tháng nằm yên nơi được bài trí, không di dời đi đâu nữa, và các hình tượng xuất hiện trong vườn đều được chế tác- cấu tạo bằng đá, hoặc thạch cao để chịu đựng được nắng mưa gió bão. Dường như hỏi là đã trả lời rồi, chúng ta thường chỉ được chiêm bái, ngắm xem những cảnh được tạo dựng cố định trong rất nhiều thiền tự tịnh xá, đã trở thành những thắng cảnh nổi tiếng như: vườn Lộc Uyển với hình tượng đức Phật đang thuyết giảng bài Pháp “Tứ Diệu Đế” cho 5 anh em Kiều Trần Như, hình tượng Thái Tử Tất Đạt Đa xuất gia cắt tóc giao cho Xa-Nặc mang về hoàng cung, hình tượng Phật Nhập Niết Bàn, hay hình tượng Phật Thành Đạo dưới cội bồ đề… Trong số đó, hình tượng Phật Thành Đạo tọa thiền dưới cội bồ đề là hình tượng được rất nhiều chùa tạo dựng trong khuôn viên. Nói thì nói vậy, nhưng sau khi đi vãn cảnh nhiều chốn thiền môn, người viết bài này lại hữu duyên thấy được một ngôi chùa mang tên Phổ Minh (đường Nguyễn Cư Trinh- Thành phố Ban Mê Thuột) có thiết kế bài trí một “giả viên” Lâm-Tỳ-Ni cố định bên sân chùa. Vườn Lâm-Tỳ-Ni này quanh năm hoa cỏ được chăm sóc xanh tươi, có đèn màu giăng khắp nhấp nháy về đêm, có hòn giả sơn, có cây Vô Ưu, có đền đài thành quách dáng dấp của hoàng cung Ca-Tỳ-La-Vệ, có tượng Phật Đản sanh bước qua bảy đóa hồng liên, có hoàng hậu và cung nữ, cũng như chư tiên thần …  Ở thành phố Nha trang, cũng chỉ mới thấy vườn Lâm- Tỳ –Ni “cố định” xuất hiện trong khuôn viên chùa Hang- Hải Ấn của các sư nữ vào dịp Phật Đản 2007- PL:2551. Thật là hiếm hoi, hiếm hoi nên ấn tượng, khi thiết kế tạo dựng cố định một “giả viên” Lâm-Tỳ- Ni trong khuôn viên chùa, và đó cũng là một ý tưởng vượt thoát mọi khuôn mẫu, cần được phổ biến rộng khắp để nhắc nhở cho mọi người rằng đức Phật Đản Sanh là một sự kiện vô cùng trọng đại, vô cùng thiêng liêng, vô cùng phước báu cho chúng sinh cõi Ta Bà!
        
Đây xin chuyển qua chuyện hình tượng Voi Trắng Sáu Ngà trong lịch sử Phật giáo. Là Phật tử, ai cùng biết chuyện Hoàng hậu Ma-Da nằm chiêm bao vào một đêm cuối tháng 7 năm 625 trước Tây lịch, thấy một con voi trắng còn non từ trên không trung hạ xuống hoàng cung, rồi bay xuyên qua hông phải vào thẳng trong lòng, giật mình thức dậy, thấy người khỏe khoắn, hoàng hậu biết mình đã mang thai. Chín tháng sau, tại vườn Lâm Tỳ Ni, cạnh một cây Vô Ưu, Hoàng hậu hạ sanh một Thái tử, đặt tên là Tất-Đạt-Đa, chính là đức Phật Thích Ca sau này… Hình tượng bạch tượng có ba cặp ngà thật thiêng liêng và thánh thiện, bởi con voi trắng này mang xuất xứ từ cõi trời cao, trên ấy ắt hẳn có muôn trùng chư Phật, Bồ Tát, Thánh Chúng, chư Thiên mà cõi trần gian bụi bặm có biết bao nhiêu người mong cầu được đặt chân lên. Chúng ta chắc chắn cũng chẳng lạ gì hình tượng của Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi một con voi trắng có sáu ngà, cùng với Bồ Tát Văn Thù cưỡi con sư tử da màu xanh, thường đứng hai bên làm thị giả (trợ thủ) cho đức Phật Thích Ca, tạo nên bộ Tam Thế Phật trên những đại hùng bảo điện. Lễ mừng Phật Đản 2549, chùa Long Sơn (Nha Trang) có thiết kế và trưng bày một “ngài” Voi Trắng Sáu Ngà cao lớn gần bằng voi thật, tạo thêm cảnh trí trang nghiêm cho ngày đại lễ hoành tráng. Trong “giả viên” Lâm Tỳ-Ni ở chùa Phổ Minh nói phần trên, đặc biệt có tượng một “ông” Voi Trắng Sáu Ngà cao 1,6m- dài 2m tính cả phần vòi vươn ra, quanh năm suốt tháng đứng phơi mình dưới nắng mưa sương gió mà vẫn trắng toát thanh cao, đã trở thành một hình ảnh thân thương quen thuộc của bao Phật tử sớm hôm lui tới vào ra cửa thiền.
       
Voi Trắng Sáu Ngà trong Phật giáo nguyên là Bồ Tát hóa thân để biểu thị uy linh. Theo“Kinh Phổ Diệu” chép rằng: “Từ trên trời Đâu Suất, Bồ Tát liền thả uy linh xuống, hóa thành con voi trắng, miệng có sáu ngà…”. Con voi trắng mà Bồ Tát Phổ Hiền từng cưỡi là để biểu hiện lòng Đại Từ. Sáu ngà voi biểu hiện cho “lục độ”, tức 6 phương pháp đến bờ bên kia để giải thoát sinh tử luân hồi, gồm: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ). Bốn chân voi biểu hiện cho “4 điều như ý”, tức 4 dạng thiền: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền. Theo một số kinh sách khác, sáu chiếc ngà của bạch tượng mà Bồ Tát Phổ Hiền thường cưỡi còn tượng trưng cho 6 thần thông vô lậu của Bồ Tát. 
        
Vườn Lâm-Tỳ-Ni và Voi Trắng Sáu Ngà là hình ảnh, hình tượng thiêng liêng, không thể thiếu vắng trong Mùa Phật Đản hằng năm. Và đó cũng chính là những “Pháp bảo” mà mọi người con Phật phải luôn tôn kính cung bái như bái lạy chư Phật, chư Bồ Tát, Thánh Chúng và chư Tôn Đức tăng ni.

Vườn Lâm Tỳ Ni chùa Giác Hải

Vườn Lâm Tỳ Ni chùa Hải Ấn

Vườn Lâm Tỳ Ni chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa

Vườn Lâm Tỳ Ni chùa Nghĩa Phương

Vườn Lâm Tỳ Ni chùa Phổ Minh

Vườn Lâm Tỳ Ni chùa Phổ Minh Ban Mê Thuột

Vườn Lâm Tỳ Ni chùa Phổ Minh Ban Mê Thuột

                                                                                     
TÂM KHÔNG- VĨNH HỮU
 

07-28-2008 03:12:34

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap