|
.
Chuyện
nghe như thế này:
Có
một cư sĩ áo lam hỏi vị cao tăng rằng: “Bạch thầy, theo
thầy thì lễ Phật Thành Đạo và lễ Phật Đản, lễ nào
quan trọng hơn, lớn hơn?”. Vị cao tăng nói: “Lễ Phật
Đản quan trọng hơn, lớn hơn, nên chúng ta thường gọi là
Đại lễ Phật Đản!”. Cư sĩ thưa: “ Theo thiển ý của
con thì lễ Phật Thành Đạo quan trọng hơn, phải nên tổ
chức lớn hơn lễ Phật Đản!”. Vị tăng hỏi: “Vì sao?”.
Cư sĩ đáp: “ Vì nếu đức Phật không thành đạo, không
thành tựu quả Vô thượng Bồ đề, thì trên thế gian này
đâu có bao nhiêu người biết đến một Sa môn họ Cồ Đàm,
càng không thể biết đến một Thái tử Tất-Đạt-Đa con
của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma-Da ở thành Ca-Tỳ-La-Vệ?”.
Vị tăng gật gù khen: “Con nói phải lắm!”. Nghe khen, vị
cư sĩ hớn hở tiếp: “Con đã đem một câu hỏi cầu kiến
nhiều vị đại đức tăng ni, nhưng không ai giải tỏa được
thắc mắc cho con!”. Vị tăng hỏi: “Con hỏi sao, và họ
trả lời sao?”. Cư sĩ thưa: “Con hỏi, tại sao lễ Phật
Thành Đạo quan trọng hơn, mà hằng năm không tổ chức lớn
hơn lễ Phật Đản? Con được trả lời rằng đó có lẽ
là theo thông lệ xưa nay, theo truyền thống lưu truyền lại
biết bao nhiêu đời rồi, nên cứ như vậy mà làm, con không
được thỏa mãn lắm!”. Vị tăng cười khẩy, nói: “Trả
lời như vậy, con không được thỏa mãn là phải. Nay nghe
ta hỏi, có phải giáo lý của nhà Phật luôn chú trọng đến
nhân quả luân hồi không?”. Cư sĩ dạ một tiếng. Vị tăng
chậm rãi nói: “Phật Thành Đạo là Quả, Phật Đản Sanh
là Nhân, không có Nhân thì làm gì có Quả, vậy thử hỏi
Nhân quan trọng hơn hay Quả quan trọng hơn?”. Cư sĩ ngẩn
người ra, sáng bừng cả đầu óc, cúi đầu thưa: “Bạch
thầy, con không còn bị vướng mắc nữa!”. Vị tăng cười
nói: “Mà thật ra, đức Phật Đản Sanh cũng chỉ là một
cái Quả, cái Quả này có được là do nhiều cái Nhân từ
vô lượng kiếp trước hình thành. Bao kiếp trước, nếu đức
Phật không tu thì làm gì kiếp này có chuyện Ngài “vì chúng
sinh, Ta thị hiện” để rồi thành đạo mà hóa độ cho chúng
sinh? Vì vậy, ta khuyên con không nên đặt vấn đề quả quan
trọng hơn nhân, hay nhân quan trọng hơn quả, vì trong quả
vốn có nhân, vì trong nhân vốn có quả, chập chùng chập
chùng…”. Cư sĩ dập đầu bái vị tăng, ra về với lòng
hân hoan và trí óc thảnh thơi thông suốt…
Câu
chuyện trên chỉ là một câu chuyện nghe kể lại, không rõ
xuất xứ từ đâu, nên cũng không dám lạm bàn hay- dở đúng-
sai, nay xin kể lại gọi là dẫn nhập trước khi vào câu chuyện
nói về hình ảnh Vườn Lâm-Tỳ Ni và Voi Trắng Sáu Ngà nhân
mùa Phật Đản 2552.
Như
chúng ta thường thấy, cứ sắp đến ngày Rằm tháng Tư âm
lịch hằng năm là ở khắp các tự viện, tịnh xá đều bắt
tay vào việc thiết kế, bài trí một vườn Lâm –Tỳ-Ni tượng
trưng cho ngày đại lễ kính mừng Phật Đản. “Giả viên”
Lâm-Tỳ-Ni thường được bài trí một bên góc sân của các
chùa lớn lẫn chùa nhỏ, với những bức phông lớn bằng
tole, ván, hoặc vải được tô vẽ cảnh vật thật đẹp,
phối hợp với các tượng nhỏ, trên một nền cỏ xanh mượt
chen đá cảnh và hoa tươi. Chúng ta sẽ chiêm bái được những
hình ảnh thanh thoát thánh thiện qua các nhân vật quen thuộc
như: Đức Phật hài nhi đang bước trên bảy đóa hoa sen hồng
bừng nở, một tay chỉ đất, một tay chỉ trời khi bật thốt
lên câu nói bất hủ: “Trên trời, dưới trời, chỉ có Chơn
Tâm là trên hết!” (Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc
tôn); Hoàng hậu Ma-Da đang đưa tay níu lấy một cành cây Vô
Ưu, cạnh bên là các cung nữ theo hầu hạ bà; các Chư Thiên
xuất hiện trên trời xanh mây trắng, chư Tiên Thần vây quanh
để ca tụng và chào mừng một Đấng Giác Ngộ vừa giáng
sanh cõi phàm trần, gần đó là hình tượng một con voi trắng
sáu ngà… Tùy điều kiện của mỗi chùa, vườn Lâm-Tỳ-Ni
có thể là hoành tráng lớn rộng, cũng có thể chỉ mang tính
tượng trưng nên diện tích rất khiêm tốn, nhưng dù lớn
dù nhỏ thì nơi đức Phật hạ sanh luôn được trang trí đèn
màu, cờ phướng, kiểng lạ hoa thơm rất trang nghiêm và thanh
khiết. Chỉ có điều, khi đại lễ Phật Đản qua đi, những
khu vườn Lâm-Tỳ-Ni cũng biến mất, những phông màn đèn
hoa, cờ phướng, tượng ảnh đều được tháo gỡ đem cất
vào trong kho để dành sử dụng cho các mùa Phật Đản sau,
nếu như bằng chất liệu tốt bền. Thử hỏi, có bao nhiêu
ngôi chùa trên khắp đất nước ta đã có thiết lập- bài
trí một “giả viên” Lâm-Tỳ-Ni cố định trong khuôn viên?
Cố định, có nghĩa là cả mảnh vườn thiêng liêng ấy quanh
năm suốt tháng nằm yên nơi được bài trí, không di dời
đi đâu nữa, và các hình tượng xuất hiện trong vườn đều
được chế tác- cấu tạo bằng đá, hoặc thạch cao để
chịu đựng được nắng mưa gió bão. Dường như hỏi là
đã trả lời rồi, chúng ta thường chỉ được chiêm bái,
ngắm xem những cảnh được tạo dựng cố định trong rất
nhiều thiền tự tịnh xá, đã trở thành những thắng cảnh
nổi tiếng như: vườn Lộc Uyển với hình tượng đức Phật
đang thuyết giảng bài Pháp “Tứ Diệu Đế” cho 5 anh em
Kiều Trần Như, hình tượng Thái Tử Tất Đạt Đa xuất gia
cắt tóc giao cho Xa-Nặc mang về hoàng cung, hình tượng Phật
Nhập Niết Bàn, hay hình tượng Phật Thành Đạo dưới cội
bồ đề… Trong số đó, hình tượng Phật Thành Đạo tọa
thiền dưới cội bồ đề là hình tượng được rất nhiều
chùa tạo dựng trong khuôn viên. Nói thì nói vậy, nhưng sau
khi đi vãn cảnh nhiều chốn thiền môn, người viết bài này
lại hữu duyên thấy được một ngôi chùa mang tên Phổ Minh
(đường Nguyễn Cư Trinh- Thành phố Ban Mê Thuột) có thiết
kế bài trí một “giả viên” Lâm-Tỳ-Ni cố định bên sân
chùa. Vườn Lâm-Tỳ-Ni này quanh năm hoa cỏ được chăm sóc
xanh tươi, có đèn màu giăng khắp nhấp nháy về đêm, có
hòn giả sơn, có cây Vô Ưu, có đền đài thành quách dáng
dấp của hoàng cung Ca-Tỳ-La-Vệ, có tượng Phật Đản sanh
bước qua bảy đóa hồng liên, có hoàng hậu và cung nữ, cũng
như chư tiên thần … Ở thành phố Nha trang, cũng chỉ
mới thấy vườn Lâm- Tỳ –Ni “cố định” xuất hiện
trong khuôn viên chùa Hang- Hải Ấn của các sư nữ vào dịp
Phật Đản 2007- PL:2551. Thật là hiếm hoi, hiếm hoi nên ấn
tượng, khi thiết kế tạo dựng cố định một “giả viên”
Lâm-Tỳ- Ni trong khuôn viên chùa, và đó cũng là một ý tưởng
vượt thoát mọi khuôn mẫu, cần được phổ biến rộng khắp
để nhắc nhở cho mọi người rằng đức Phật Đản Sanh
là một sự kiện vô cùng trọng đại, vô cùng thiêng liêng,
vô cùng phước báu cho chúng sinh cõi Ta Bà!
Đây
xin chuyển qua chuyện hình tượng Voi Trắng Sáu Ngà trong lịch
sử Phật giáo. Là Phật tử, ai cùng biết chuyện Hoàng hậu
Ma-Da nằm chiêm bao vào một đêm cuối tháng 7 năm 625 trước
Tây lịch, thấy một con voi trắng còn non từ trên không trung
hạ xuống hoàng cung, rồi bay xuyên qua hông phải vào thẳng
trong lòng, giật mình thức dậy, thấy người khỏe khoắn,
hoàng hậu biết mình đã mang thai. Chín tháng sau, tại vườn
Lâm Tỳ Ni, cạnh một cây Vô Ưu, Hoàng hậu hạ sanh một Thái
tử, đặt tên là Tất-Đạt-Đa, chính là đức Phật Thích
Ca sau này… Hình tượng bạch tượng có ba cặp ngà thật
thiêng liêng và thánh thiện, bởi con voi trắng này mang xuất
xứ từ cõi trời cao, trên ấy ắt hẳn có muôn trùng chư
Phật, Bồ Tát, Thánh Chúng, chư Thiên mà cõi trần gian bụi
bặm có biết bao nhiêu người mong cầu được đặt chân lên.
Chúng ta chắc chắn cũng chẳng lạ gì hình tượng của Bồ
Tát Phổ Hiền cưỡi một con voi trắng có sáu ngà, cùng với
Bồ Tát Văn Thù cưỡi con sư tử da màu xanh, thường đứng
hai bên làm thị giả (trợ thủ) cho đức Phật Thích Ca, tạo
nên bộ Tam Thế Phật trên những đại hùng bảo điện. Lễ
mừng Phật Đản 2549, chùa Long Sơn (Nha Trang) có thiết kế
và trưng bày một “ngài” Voi Trắng Sáu Ngà cao lớn gần
bằng voi thật, tạo thêm cảnh trí trang nghiêm cho ngày đại
lễ hoành tráng. Trong “giả viên” Lâm Tỳ-Ni ở chùa Phổ
Minh nói phần trên, đặc biệt có tượng một “ông” Voi
Trắng Sáu Ngà cao 1,6m- dài 2m tính cả phần vòi vươn ra, quanh
năm suốt tháng đứng phơi mình dưới nắng mưa sương gió
mà vẫn trắng toát thanh cao, đã trở thành một hình ảnh
thân thương quen thuộc của bao Phật tử sớm hôm lui tới
vào ra cửa thiền.
Voi
Trắng Sáu Ngà trong Phật giáo nguyên là Bồ Tát hóa thân để
biểu thị uy linh. Theo“Kinh Phổ Diệu” chép rằng: “Từ
trên trời Đâu Suất, Bồ Tát liền thả uy linh xuống, hóa
thành con voi trắng, miệng có sáu ngà…”. Con voi trắng mà
Bồ Tát Phổ Hiền từng cưỡi là để biểu hiện lòng Đại
Từ. Sáu ngà voi biểu hiện cho “lục độ”, tức 6 phương
pháp đến bờ bên kia để giải thoát sinh tử luân hồi, gồm:
bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và
trí tuệ). Bốn chân voi biểu hiện cho “4 điều như ý”,
tức 4 dạng thiền: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ
thiền. Theo một số kinh sách khác, sáu chiếc ngà của bạch
tượng mà Bồ Tát Phổ Hiền thường cưỡi còn tượng trưng
cho 6 thần thông vô lậu của Bồ Tát.
Vườn
Lâm-Tỳ-Ni và Voi Trắng Sáu Ngà là hình ảnh, hình tượng
thiêng liêng, không thể thiếu vắng trong Mùa Phật Đản hằng
năm. Và đó cũng chính là những “Pháp bảo” mà mọi người
con Phật phải luôn tôn kính cung bái như bái lạy chư Phật,
chư Bồ Tát, Thánh Chúng và chư Tôn Đức tăng ni.
Vườn
Lâm Tỳ Ni chùa Giác Hải
Vườn
Lâm Tỳ Ni chùa Hải Ấn
Vườn
Lâm Tỳ Ni chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa
Vườn
Lâm Tỳ Ni chùa Nghĩa Phương
Vườn
Lâm Tỳ Ni chùa Phổ Minh
Vườn
Lâm Tỳ Ni chùa Phổ Minh Ban Mê Thuột
Vườn
Lâm Tỳ Ni chùa Phổ Minh Ban Mê Thuột
TÂM
KHÔNG- VĨNH HỮU
07-28-2008
03:12:34
|