NGỘ
Lòng
hiếu kỳ của dân địa phương về những tu sĩ người Á
Đông đã được giải tỏa phần nào qua sự dọ hỏi những
gia nhân nhà triệu phú Coleman. Dù vậy, câu chuyện vẫn mang
nhiều phần hoang đường đối với họ.
Đại
khái, họ được biết, hơn hai mươi năm trước, cậu Steven
của giòng họ Coleman được gọi đi làm nghĩa vụ công dân
ở chiến trường Việt Nam. Trước đó, không mấy ai trong
gia đình cậu biết đến địa danh của xứ Á Châu đó nằm
ở chỗ nào trên bản đồ thế giới.
Ngày
tiễn cậu đi, bà mẹ khóc ngất như ngày tử biệt. Bà không
bao giờ tưởng tượng được rằng có một ngày con trai bà
phải rời xa gia đình để đến một nơi chốn xa xôi, nguy
hiểm như vậy. Mà bà lo lắng, bi ai cũng phải, vì nơi cậu
Steven đến qủa là nguy hiểm.
Cậu
đồn trú trên miền cao nguyên, cách thủ đô miền Nam Việt
Nam hơn ba trăm dặm. Đơn vị cậu có nhiệm vụ yểm trợ
đơn vị bạn khi có giao tranh trong vùng họ trách nhiệm. Thường,
những vụ đụng độ quanh vùng chỉ được coi như lẻ tẻ.
Cậu thấy chiến tranh ngoài đời, đôi khi không khốc liệt
bằng trên màn ảnh.
Cho
đến mùa hè năm 1972, một tháng, trước khi cậu mãn hạn
nhiệm vụ, cậu mới thực sự nếm mùi máu lửa. Cuộc đột
kích bất thần của địch vào ngay bản doanh đơn vị bạn
đã gây một số thiệt hại đáng kể. Kho đạn dự trữ phát
nổ, kịp thời chặn phe địch định dùng chiến thuật biển
người tràn vào chiếm đồn. Không dạt được mục tiêu chớp
nhoáng, chúng vội rút chạy theo chân núi vì biết lực lượng
tiếp viện sẽ tới.
Qủa
vậy, đơn vị cậu chặn đường rút chạy của địch ngay
bìa rừng. Và trận giao tranh ác liệt, gần như xáp lá cà,
trong đêm tối, là kinh nghiệm xương máu không bao giờ cậu
Steven có thể quên được. Cậu thấy bạn mình gục phía trước,
thấy kẻ địch ngã phía sau, nghe bốn phía những tiếng hò
hét man rợ cho tới khi cậu trúng đạn liên tiếp vào bả
vai. Cậu có cảm tưởng cánh tay phải đã đứt lìa ra, trước
khi cậu ngã lăn xuống một hố sâu, và ngất đi.
Khi
cậu tỉnh lại, tiếng súng đã êm, khu rừng chìm trong màn
đêm mịt mùng. Mùi thuốc súng vẫn còn khét lẹt quanh đây,
chứng tỏ cậu ngất đi không lâu lắm. Cậu gượng lết dậy,
ôm bả vai bị thương, đi miệt mài. Cậu hoàn toàn mất phương
hướng, chỉ đi theo linh tính. Phe địch hẳn còn trà trộn
quanh đây, nếu không ra khỏi rừng trước trời sáng, e rằng
khó sống.
Vết
thương rỉ máu, đau đớn, cậu vẫn gắng bước. Lúc tưởng
đành kiệt lực thì cậu thoáng thấy một căn nhà nhỏ, mái
ngói cong.
Không
còn chọn lựa, cậu liều mạng bò tới, gõ cửa, rồi qụy
ngay xuống bực thềm.
Người
cứu sống cậu là vị sư trụ trì ngôi chùa nhỏ trong thôn
làng hẻo lánh đó.
Nhìn
tình cảnh, sư ông đã hiểu, bèn vội vã cùng hai đệ tử
khiêng cậu Steven vào chùa, lo băng bó vết thương. Nhờ biết
đôi chút tiếng Anh, sư ông đã trấn an cậu, khuyên nên nán
lại chùa đôi ba ngày chờ tình hình lắng dịu. Sau đó, sư
ông sai đệ tử tìm đơn vị cậu báo tin để họ lo phương
tiện an toàn tới đón.
Mấy
ngày ẩn náu trong chùa, cậu Steven đã được nghe tiếng chuông
mõ và những lời tụng kinh trầm bổng. Tuy không hiểu nghĩa
nhưng cậu cảm thấy tâm hồn như chắp cánh mỗi khi tiếng
chuông ngân lên, tan dần vào không gian. Cậu cũng thấy lòng
như mở rộng, thanh thản, bình an, khác hẳn với cảnh khốc
liệt ngoài cánh rừng kia. Đây với đó không bao xa mà như
hai thế giới hoàn toàn khác biệt. Một nơi đầy hận thù
chết chóc, một nơi bàng bạc sự thanh thản, an nhiên. Trong
một lúc xúc động, cậu đã tưởng, cậu có thể ở lại
nơi này, cùng sư ông sớm chiều tụng kinh gõ mõ.
Tất
nhiên, đó chỉ là ý nghĩ nhất thời.
Khi
được đơn vị đến đón, cậu hết lời cám ơn ân nhân
và dốc hết tiền bạc có trong người để đền đáp. Nhưng
sư ông từ chối và điềm đạm nhắc rằng, cậu đã ở đây
mấy ngày, hẳn thấy người tu hành không cần tiền bạc.
Hơn
hai mươi năm sau, vào lúc bất ngờ nhất, ông Steven gặp lại
vị sư cứu mạng, trên đường phố quê hương mình.
Không
tin lại có sự tương ngộ kỳ diệu này, nhưng ông Steven không
thể lầm được. Qủa đúng là vị sư đã cứu mạng ông
năm xưa, vì gương mặt đó, dáng dấp đó, ông không thể
lầm lẫn được.
Vị
sư gìa không chú ý đến gì xung quanh. Trong bộ áo cà-sa bạc
mầu và bình bát trên tay, Người bước những bước chân
trần thong dong, an lạc. Người đang hướng dẫn những sa-môn
trẻ đi vào khu phố có người Á-Đông cư ngụ. Thỉnh thỏang
họ dừng lại khi có người cung kính bỏ vào bình bát nải
chuối, hộp bánh...Khi được cúng dường, họ chỉ khẽ cúi
đầu tỏ ý cám ơn rồi lại tiếp tục chậm rãi bước. Hình
như họ đi chỉ để mà đi, chứ không phải đi để mà tới.
Qúa khứ đã qua, tương lai chưa đến, nên có lẽ, đối với
họ, thời gian chỉ thực sự hiện hữu ở những bước chân
hiện tại này.
Cố
dằn nỗi bồi hồi, ông Steven chạy theo, lắp bắp:
-A
Di Đà Phật ... A Di Đà Phật ...
Ông
Steven đã học thuộc được câu này trong những ngày ẩn trú
tại chùa, hơn hai mươi năm trước. Để nhớ ơn người cứu
mạng, ông tự nguyện niệm danh hiệu đó trước khi đi ngủ.
Vì thế, dù bất ngờ, ông Steven đã thốt lên danh hiệu Phật
A Di Đà dễ dàng như nói tiếng mẹ đẻ.
Giọng
phát âm trọ trẹ câu niệm Phật đã khiến vị sư gìa thoáng
bỡ ngỡ. Linh tính cho Người biết không phải chỉ là lời
chào bình thường của Phật tử. Người dừng lại.
Những
vị sa-môn trẻ đi sau cũng dừng theo.
Ông
Steven nắm lấy tay ân nhân, lại nói:”A Di Đà Phật”, rồi
hỏi luôn một hơi:
-Tôi
là Steven đây ! Tôi đã được ông cứu sống hơn hai mươi
năm trước ở Việt-Nam, ông có nhớ không ? Ông có nhớ không
???
Vị
sư gìa nhìn người bạn cũ, mỉm cười an hòa ...
Bây
giờ thì vị sư khó mà từ chối lòng đãi ngộ của người
thọ ơn.
Ông
Steven vẫn nhớ, người tu hành không cần tiền bạc. Bởi
vậy, ông đâu có đền ơn bằng tiền bạc. Ông chỉ ra lệnh
cho gia nhân dọn sạch căn nhà nhỏ ở cuối vườn trái cây
thuộc gia trang rộng lớn của ông. Căn nhà cuối vườn đó
thật yên tĩnh, biệt lập, thích hợp cho người tu hành hơn
là dưới phố.
Nếu
không vì lòng chân thành qúa đỗi, ông Steven cũng khó mà thuyết
phục được ân nhân.
Từ
khi vị sư gìa và các sa-môn tới trụ trì tại căn nhà cuối
vườn, người ta thấy ông Steven cắp sách đến trường mỗi
sáng.
Ông
đi học tiếng Việt-Nam.
Ông
cũng dành nhiều thì giờ trong thư viện để nghiên cứu về
Đạo Phật. Càng tìm hiểu, ông càng thấy sự mầu nhiệm
mênh mông về một tôn giáo mà trước đây ông không hề quan
tâm đến. Sự mầu nhiệm mỗi ngày mỗi thôi thúc bởi tiếng
chuông huyền diệu vọng lên từ tịnh thất cuối vườn, lúc
mặt trời vừa ló dạng.
Khi
ông Steven ngỏ ý muốn trở thành một sa-môn, vị sư gìa không
tỏ vẻ ngạc nhiên gì. Người chỉ nói:
-Được,
ông cứ xuống đây những giờ tu học, nhưng không cần thay
đổi gì nhiều về đời sống cá nhân, cho đến khi ông thực
sự hiểu đạo.
Ông
Steven chuyên cần tu học, cố gắng hòa nhập với đời sống
thanh thản, bình dị. Tuy chưa được thực tập khất thực
nhưng ông Steven cũng hiểu rằng đi khất thực là một phần
trong việc tu luyện, giữ lòng bình thản, nhẫn nhục giữa
tha nhân. Ông Steven sẽ ngạc nhiên lắm nếu ông chứng kiến
chút bất thường xẩy ra trong buổi xuống phố khất thực
của tăng đoàn vào sáng thứ bẩy vừa qua.
Hình
ảnh các nhà sư đi chân đất, tay ôm bình bát, mắt nhìn thẳng,
bước nhừng bước chậm rãi, đã quen thuộc với dân chúng
trong tỉnh. Nhất là khi họ biết câu chuyện về sự liên
hệ giữa nhà sư và gia đình triệu phú Coleman thì họ đều
có cảm tình với những người tu hành có lối tu ...kỳ cục
như vậy.
Khi
thấy tăng đoàn khất thực, không phải chỉ người Á Đông
mới cúng dường thực phẩm mà đôi khi, người địa phương
cũng hoan hỉ bỏ bánh kẹo vào bình bát.
Giữa
nắng tháng hai, dưới phố nhộn nhịp, không phải chỉ có
các nhà sư áo vàng mà còn có một đoàn thiếu nữ áo xanh,
ôm thùng đi lạc quyên. Đó là những nữ sinh trường trung
học Gío Đông. Họ đi lạc quyên để đóng góp vào buổi
Đại Nhạc Hội cứu trợ trẻ tỵ nạn mồ côi trong các trại
tỵ nạn Đông Nam Á, sẽ bị trả về Việt Nam.
Vị
sa-môn trẻ nhất nghe các thiếu nữ áo xanh nói loáng thoáng
như thế khi các cô gắn bông hồng nhỏ bằng lụa lên áo
khách qua đường và đưa thùng lạc quyên lên, xin cứu trợ.
Lòng
vị sa môn trẻ bỗng giao động mãnh liệt. Bước chân trần
như dán chặt xuống mặt đường, và đôi mắt từ-lâu-không-nhìn-gì,
giờ như bị các thiếu nữ áo xanh thôi miên.
Vị
sa-môn trẻ nhất đã phạm giới !
Trên
đường khất thực, các vị khất sĩ tuyệt đối không được
nói lời nào, không được nhìn gì ngoài con đường thẳng
trước mặt.
Các
vị sa-môn đi sau bối rối trước điềm lạ đó của bạn.
Một vị đánh liều, đi sát bạn, đẩy nhẹ cánh tay vào vị
sa-môn trẻ, ra dấu bước tới, hy vọng cứu vãn kịp trước
khi sư phụ phát giác ra điều bất ổn.
Ngay
lúc đó, một trong những thiếu nữ áo xanh nhận ra đoàn tu
sĩ quen thuộc trong tỉnh. Hẳn cô là người mộ đạo. Cô
trao vội thùng lạc quyên cho bạn, chạy vào tiệm bách hoá
ngay đó. Khi bước ra, cô cung kính đặt phong bánh vào bình
bát của vị sa- môn trẻ nhất, miệng nói: “A Di Đà Phật”.
Như
trong cơn mơ, vị sa-môn đáp lời: “A Di Đà Phật”.
Vị
sa-môn trẻ nhất lại vừa phạm giới nữa !
Lần
này thì tai hại qúa !. Sư phụ hẳn đã nghe thấy. Thay vì
bước tới, Người điềm nhiên xoay người, đi ngược lại.
Sự
kiện một nhà tu hành, nhìn trân trối đoàn thiếu nữ ngoài
đường phố là một hình ảnh không nghiêm túc chút nào. Thay
vì tiếp tục khất thực, Người phất tay ra dấu quay trở
lại tịnh thất.
Thật
là qúa quắt lắm, chân tuy bước mà mắt vị sa-môn phạm
giới như không rời đoàn thiếu nữ ...
Về
tới
tịnh thất, sư phụ bảo các môn đệ ngồi xếp bằng trước
điện thờ. Người cũng ngồi như thế, đối diện với họ.
-Tâm
Như, con giải thích cho thầy và các bạn rõ về sự phạm
giới của con vừa rồi.
Sa-môn
Tâm-Như cúi đầu, nét đau đớn hằn trên gương mặt trẻ.
-Tâm-Như,
có nghe thầy hỏi không ?
-Thưa
thầy ...thưa thầy ...
Các
sa-môn khác nhìn nhau, lo lắng cho bạn.
-Tâm-Như,
con nghĩ gì, cứ nói.
-Thưa
thầy, con không .....tự chủ được.
Sư
phụ cao giọng:
-Không
tự chủ được ? Vì điều gì ?
-Thưa
thầy, vì .....những thiếu nữ áo xanh !
-Vì
nữ giới ?
-Thưa
thầy, không phải !
-Con
vừa nói.
-Vâng,
con nói thế, nhưng ...không phải thế.
-Tâm-Như,
các con tự nguyện tu hành, không do ai ép buộc. Vậy, nếu
tự biết không cưỡng được sự quyến rũ của dục lạc,
các con có quyền trở lại đời sống phàm tục bất cứ lúc
nào. Nhưng lẫn lộn giữa đạo và đời, thầy e rằng các
con khó đạt thành ước nguyện.
-Thưa
thầy, xin cho con cơ hội tu sửa. Theo nghiêm luật, con xin chịu
hình phạt đội hương đêm nay.
-Được,
con mới phạm giới lần đầu, thầy chấp nhận lời xin. Đêm
nay, sau giờ thiền, con sẽ qùy gối trước chánh điện, lưng
giữ thẳng, hai tay nâng lư hương ngang đầu. Qùy như thế
cho đến giờ công phu.
Sa-môn
Tâm-Như cúi đầu nhận lệnh. Các bạn đồng môn ái ngại,
nhưng họ đều biết, nghiêm luật phải được thi hành với
người phạm giới.
Sáng
sớm hôm sau, mặt trời chưa thức, sư phụ bước ra chánh
điện. Trên bàn thờ, chiếc lư hương mà Tâm-Như thọ phạt,
có ba nén nhang còn cháy dở. Trong ánh sáng lờ mờ của ngày
chưa rạng, Người thấy một phong thư nằm ngay ngắn dưới
lư hương. Thở một hơi nhẹ, Người mở thư ra, nghiêng trang
giấy dưới ánh nến và đọc:
Bạch
thầy,
Con
đã thọ phạt như nghiêm luật đã định. Suốt mấy tiếng
đồng hồ qùy gối trong đêm tối, con đã tìm thấy ánh sáng.
Con
đã ngộ.
Bạch
thầy, con đã ngộ, nếu chữ ngộ được hiểu theo nghĩa “Biết
được điều mình đang tìm kiếm. Biết được điều mình
phải làm”
Bạch
thầy,
Bấy
lâu nay theo thầy tu học, con những mong xa lìa khỏi trói buộc
của nhân gian, hướng tới cõi tịnh tịch an lạc. Con những
tưởng đã quên được bao thống khổ của đời này để
dọn tâm thành an nhiên cho niềm vui vĩnh cửu là giải thoát
khỏi luân hồi nghiệp chướng.
Nhưng
bạch thầy, hôm qua, dưới phố, con đã không tự chủ được
khi thấy những thiếu nữ áo xanh ôm thùng lạc quyên cứu
trợ trẻ mồ côi. Con đã nhìn lại bình bát con đang ôm trên
tay. Con cũng đang đi xin tha nhân nhưng chỉ xin cho riêng mình.
Con xuất thế tu học cũng chỉ mong tìm giải thoát cho riêng
mình. Con không quên lời thầy thường ân cần dạy dỗ “Hãy
tự độ trước rồi sau mới mong độ tha”.
Thưa
thầy, con hiểu rằng, vì biết rõ sự non yếu của chúng con
mà thầy nhắc nhở như thế. Nhưng bạch thầy, có cơ duyên
nào mà người tu hành có thể, vừa chuyên cần tu học để
lo tự độ, vừa hành trì Tứ Vô Lượng Tâm để độ tha
hay không ? Bởi, nếu người tu hành chỉ dốc hết định huệ,
tâm lực vào việc tu học, còn bao đau thương ngoài xã hội
kia thì sao ?. Con không thể phủ nhận thực thể của xã hội
mà con vẫn phải nương tựa vào - dù dưới hình thức nào
- cho tới khi hồn lìa khỏi xác. Đã nương tựa vào là có
nợ. Nợ chưa trả, mong gì thanh thản mà tìm an vui cõi lạc
phúc ?
Lòng
hổ thẹn đã khiến con đứng chết lặng giữa đường phố.
Và khi người thiếu nữ tạm trao thùng lạc quyên cho bạn
để chạy mua phong bánh, bỏ vào bình bát của con thì lòng
con chợt rụng rời tan nát vì xấu hổ.
Bạch
thầy,
Xin
thầy tha thứ. Đây chỉ là ý nghĩ của riêng con. Thầy vẫn
dạy, mỗi người có căn duyên riêng, sẽ tự tìm thấy đường
giác ngộ của mình. Con xin hứa cùng thầy, con sẽ vẫn là
một sa-môn giữ giới tu hành, chỉ không nhất thiết phải
quay mặt với tha nhân mà sẽ đem tấm tình nhân thế, hài
hòa giữa đạo và đời, góp phần phụng sự xã hội.
Nếu
phải coi sự chọn lựa này là nhập thế, thì con đã nhập
thế bằng sự giác ngộ diệu kỳ của đạo pháp.
Khải
bạch,
Đệ
tử Tâm-Như