TÂM
HƯƠNG TẢI ĐẠO
Xe
chạy vào đường núi. Nắng đã lên. Tin thời tiết bảo,
hôm nay có mưa. Vậy mà, nắng đã lên kìa. Nhìn quanh quất,
chẳng thấy bóng mây đen mây xám nào. Nhưng dẫu mưa, hôm
nay tôi cũng phải lên núi. Tôi phải gặp Ông Thầy, thiền
sư Tịnh-Mặc. Tôi phải gặp ông, không vì những huyền thoại
quanh ông. Tôi cần gặp ông vì một chuyện riêng của tôi.
Chuyện riêng của tôi mà tôi lại phải tìm gặp một ông
thầy tu tôi chưa từng gặp bao giờ. Tôi cảm thấy hơi lúng
túng. Nhưng sự tình chắc không mấy khó khăn vì mỗi cuối
tuần, rất đông Phật tử quanh vùng lên núi sớm để được
cùng đi thiền hành với ông. Tôi sẽ nhập vào đoàn người
rồi chờ dịp, thưa với ông điều tôi muốn hỏi.
Tôi
nghe nói về ông, cũng như rất nhiều người đã nghe. Thoạt
đầu, đồng bào quanh đó biết, có một ngôi chùa sâu trong
núi, ở đó, chỉ có một thiền sư già và một đệ tử,
nhưng họ chưa được gặp. Rồi một sáng, dăm người tình
cờ thấy hai thầy trò lặng lẽ thiền hành quanh đường núi
nên họ đi theo để biết chùa mà có dịp lễ bái, cúng dường.
Trong khi thiền hành, thiền-sư tuyệt đối không nói gì. Có
lẽ vì vậy, ông có Pháp danh là Tịnh Mặc chăng ?. Chỉ thầy
Tuệ-Đăng, đi sau thiền sư khoảng ba bước, là đành
miễn cưỡng trả lời những câu hỏi của nhóm người đi
theo họ mà thôi. Cũng nhờ thầy Tuệ-Đăng mà nhóm người
đầu tiên lên chùa biết được vài điều, rằng thiền sư
đang giành trọn thì giờ để dịch Kinh, viết sách. Kinh điển,
hoặc còn nhiều bài tiếng Phạn, hoặc một số đã dịch,
nhưng gò bó theo văn tự xưa khiến đa số Phật tử, tụng
mà chẳng hiểu mình đang tụng cái gì. Điều đó sẽ hoàn
toàn vô ích, chẳng giúp người Phật tử thấy nổi một lằn
sáng nào trước cánh cửa vô minh vốn đã từng sừng sững
hiện diện, che mờ Phật tánh và trí tuệ của con người.
Ngoài
dịch Kinh, viết sách, thỉnh thoảng, thiền sư cũng nhận lời
đi thuyết giảng khắp nơi, nhất là ở các Đại-học, với
những đề tài nhằm đem chất dinh dưỡng cho đời sống tâm
linh trước môi trường xã hội ngày càng đảo điên, tan nát.
Nơi nào mời thì cho biết trước thời hạn và lo việc đưa
đón hai thầy trò. Việc đi thuyết giảng đó đây cũng là
nguồn lợi tức chính, giúp hai thầy trò yên ổn lo Phật sự.
Khi
nhóm Phật tử đầu tiên theo lên chùa, thiền sư nói một
bài thuyết pháp ngắn, đề tài “Tình thương và sự hiểu
biết”. Đề tài cũ kỹ nhưng ý niệm thực sự về tình
thương và sự hiểu biết mà thiền sư vạch ra thì hoàn toàn
mới mẻ. Người ta cứ tưởng thương nhau là cho nhau cái nọ
cái kia, mà quên điều tối quan trọng là những thứ đó,
người nhận có thực sự cần thiết, có thật sự mong mỏi
không, hay đó, đôi khi lại chính là điều đau khổ khi phải
nhận. Thành ra, khi cho như vậy, dẫu tặng phẩm là vật chất
hay tinh thần, người cho đã cho chính họ. Bởi vì, cái họ
đem cho chỉ là đẹp, là tốt theo họ nghĩ mà thôi, chứ họ
đâu có quan tâm để hiểu biết gì về nhu cầu của đối
tượng. Người đang đói, cần chén cơm chứ không phải bó
hoa rực rỡ. Người đang đau buồn, cần lời an ủi chứ không
phải tiếng nhã nhạc rộn ràng. Cho nên, tình thương chỉ
thực sự đẹp đẽ khi tình thương đi đôi với hiểu biết.
Sau
buổi thuyết pháp bất ngờ đó, đồng bào quanh vùng biết
đến chùa, gọi nhau cuối tuần lên núi lễ Phật mỗi ngày
mỗi đông khiến thiền sư phải thu xếp thì giờ dịch
Kinh để mở những buổi Pháp thoại cho đồng bào.
Khi
thấy người bản xứ tò mò theo Phật tử lên chùa, thiền
sư mỉm cười. Buổi đó, ông thuyết giảng bằng tiếng Anh.
Sau mỗi câu, thầy Tuệ-Đăng phiên dịch liền ra tiếng
Việt. Buổi Pháp thoại đó làm mọi người sửng sốt về
kiến thức uyên thâm của hai thầy trò.
Từ
đấy, mỗi cuối tuần, đường lên núi thật vui vẻ, náo
nhiệt. Người ta gặp nhau, cúi đầu chắp tay, miệng nói:
A Di Đà Phật. Người bản xứ cũng nói thuần nhuyễn bốn
tiếng mầu nhiệm ấy. Họ rỉ tai nhau cũng nhanh lắm. Cái
tin, một ông thầy tu già, người Việt Nam, có thể thuyết
pháp bằng tiếng Anh với những đề tài rất thực tế và
mới lạ, lan truyền khắp vùng. Và họ lên chùa, chờ nghe
Pháp thoại mỗi tuần mỗi đông. Thiền sư lại phải dung
hoà, một tuần giảng tiếng Anh, một tuần giảng tiếng Việt.
Dĩ nhiên, thầy Tuệ-Đăng vẫn là thông dịch viên xuất sắc
dù Thiền sư giảng Pháp bằng ngôn ngữ nào.
Do
nhu cầu, Phật tử tự động phân công tác dọn dẹp, nấu
nướng. Họ còn góp công, đào một hồ nhỏ, thả hoa sen.
Người bản xứ thì gọi nhau, quyên góp, cất một thiền đường
khá tươm tất để mọi người có nơi ngồi nghe Pháp. Đã
có mấy người bản xứ xin theo thiền sư tu học nhưng ông
bảo, chưa thuận tiện, chỉ mới chấp nhận làm lễ qui y
cho họ.
Ngay
sau lễ quy y, họ quỳ trước thiền sư, cúi đầu, chắp tay,
và đồng loạt nói lên ba tiếng Việt-Nam:
-Tạ
ơn Thầy.
Không
biết họ học ở đâu. Phật tử Việt-Nam cảm động, sụt
sịt khóc, xin được như họ, gọi thiền sư là Thầy vì tiếng
Thầy nghe đầm ấm, gần gũi biết bao !. Từ đấy, ít ai nhắc
tới Pháp danh của thiền-sư, mà chỉ gọi ông bằng tiếng
<Thầy> thân thương. Và để không lẫn lộn danh từ Thầy,
họ đã gọi thầy Tuệ Đăng là Sư Chú. Từ đấy, cũng không
mấy ai nhắc đến Pháp danh Tuệ-Đăng nữa.
Mới
đây, người ta ghi nhận hiện tượng, không chỉ người bản
xứ nam giới tới xin quy y mà số nữ giới cũng đang gia tăng
đáng kể. Nhìn những người nữ tóc vàng mắt xanh, thành
khẩn qùy mọp trước bệ Phật, chăm chú nghe Thầy tuyên đọc
giới luật trước khi được Thầy cho Pháp danh, Phật tử
Việt Nam hoan hỷ lắm. Họ nói, Thầy đang mang Đạo Phật
chinh phục phương Tây. Và niềm yêu kính của họ đối với
Thầy ngày càng tăng.
Vậy
mà, ở cách tỉnh chỉ hơn mười dặm, tôi đã thờ ơ đến
mức chưa bao giờ lên chùa. Nay có việc riêng cần hỏi mới
đi tìm Thầy. Tôi tự bào chữa, mình chưa phải là Phật tử,
mình chỉ theo Đạo Ông Bà. À, không ổn, bào chữa thế
này chỉ đáng xấu hổ hơn, vì những người bản xứ kia,
họ đâu chỉ chưa phải là Phật tử. Họ còn không phải
là người Việt-Nam nữa !. Vậy mà tiếng chuông chùa mầu
nhiệm đã dẫn dắt họ đi tìm Thầy, tìm Đạo. Cái mặc
cảm <đáng xấu hổ> khiến con đường lên núi như cam go
hơn, mệt nhọc hơn. Khi thấy được bóng chùa, tôi thở giốc,
tưởng sắp đứt hơi. Nhưng lạ, sao quanh chùa không một bóng
người ?. Lẽ ra giờ này phải đông lắm rồi chứ ?.
Còn
đang ngơ ngác thì từ triền núi bên trái, một đoàn người
đang đi lên. À, thì ra tôi đã tới trễ qúa !. Mọi người
đi thiền hành vòng quanh núi với Thầy từ sáng sớm, đang
trên đường về lại chùa. Đoàn người đi thành hàng ngang,
ít nhất khoảng mười người mỗi hàng. Mắt tôi như dán
vào hàng đầu tiên mà người đi giữa, tôi chắc đó là Thầy.
Trong bộ y mầu nâu, Thầy nhỏ bé, nhu hòa, bước chậm rãi
mà tỏa sáng bao an nhiên tự tại. Thầy nắm tay hai em bé đi
hai bên. Hình như Thầy mỉm cười, cái mỉm cười tôi thường
thấy phảng phất trên môi các tượng Phật.
Đoàn
thiền hành từ triền núi tiếp tục đi lên. Đông qúa. Tới
hàng mấy trăm người. Vậy mà không có những tiếng động
thường có của đám đông. Bước chân của mấy trăm người
đó cũng chậm rãi, an nhiên tự tại như Thầy, và nụ cười
thầm lặng trên môi họ phải là sự tỏ bầy niềm hạnh
phúc chan hòa trong lòng.
Trong
phút giây, tôi cảm thấy như cả một không gian đầy hoan
lạc, tinh khôi và thơm ngát dịu dàng trùm phủ quanh mình.
Tôi đứng lặng, bất động bên khóm trúc, tận hưởng niềm
hạnh phúc thanh thoát với lòng biết ơn sâu sa. Tôi chưa từng
được diện kiến Thầy, chưa từng được nói với Thầy
một lời mà tôi đã mang ơn Thầy rồi. Niềm hạnh phúc bất
ngờ tôi đang có đây chẳng phải từ Thầy ư ?.
Tới
bên hồ sen, Thầy dừng lại, chờ mọi người lên đủ. Có
lẽ đây là điểm kết thúc buổi thiền hành. Thầy và Sư
chú đi chậm về bên trái hồ sen. Mọi người tan hàng, nhưng
hình như họ đang đi vào thiền đường, ở bên phải.
Không
biết lịch trình thế nào nhưng tôi sực tỉnh, nhớ tới mục
đích mình lên chùa hôm nay, bèn vội vã chạy theo hướng Thầy
và Sư chú. Mới chạy vài bước, tôi đã ý thức ngay sự
náo động của mình. Mấy trăm người vừa theo Thầy thiền
hành kia, không ai hấp tấp, ồn ào cả. Dù không có Thầy,
họ cũng đang đi vào thiền đường bằng những bước chân
rất thong dong, thoải mái. Tôi thở vào một hơi thật dài
để trấn tĩnh, và tuy không chạy nữa nhưng tôi vẫn phải
bước nhanh để kịp gặp Thầy trước khi Thầy bước qua
cổng tịnh thất. Chắp hai tay trước ngực, tôi cung kính:
-Thưa
Thầỵ
Sư
chú đang đi sau Thầy, bỗng bước mấy bước dài, đứng giữa
tôi và Thầy như ý ngăn tôi lại. Thầy mỉm cười, nói với
Sư chú:
-Không
sao.
Bất
giác, tôi qùy xuống, thổn thức:
-Thưa
Thầy, đây là lần đầu tiên con được gặp Thầy ...
Thầy
đưa tay ra, ý muốn bảo tôi hãy đứng lên. Nhưng lòng đã
tràn ngập kính yêu, tôi vẫn qùy trên nền đất ẩm.
-Con
có chắc không ?
-Thưa
Thầy ...
Có
lẽ, đoán tôi không hiểu, Thầy nói rõ hơn:
-Con
có chắc con mới gặp Thầy lần đầu không ?.
Tiếng
chuông từ đâu bỗng ngân lên. Sư chú nói:
-Thí
chủ có muốn nghe Thầy thuyết pháp thì hãy tới thiền đường.
Chuông báo để chuẩn bị rồi đó. Thầy cần nghỉ ngơi dăm
phút trước khi Pháp thoại.
Thầy
bước qua chiếc cổng tre. Sư chú theo sau. Bóng hai chiếc áo
nâu khuất sau cửa tịnh thất...
Suốt
buổi Pháp thoại của Thầy, tôi không nắm vững được gì
!. Ở một góc, cuối thiền đường, tôi ngồi thu người lại
như con chim trốn tuyết. Tôi chưa hòa nhập được với mấy
trăm người quanh tôi. Ngồi đó, tôi đã dùng thị giác nhiều
hơn thính giác. Tôi chỉ chăm chú nhìn Thầy, thế ngồi kiết
gìa trầm tĩnh, cử chỉ khoan thai, nụ cười nhân ái ...
Buổi
Pháp thoại hơn hai tiếng đồng hồ mà không một ai bỏ dở,
không một động tác nào làm xao động không khí thanh khiết
trong thiền đường. Buổi Pháp thoại chấm dứt rồi mà tôi
còn ngồi yên trong góc.
-Mời
thí chủ theo tôi.
Ngước
nhìn Sư chú, tôi ngạc nhiên, nhưng cũng quơ vội chiếc cặp
da, đứng lên.
Trên
lối về tịnh thất, Sư chú hỏi:
-Thí
chủ muốn gặp Thầy phải không ?
Tôi
lại hấp tấp:
-Dạ
phải ...Dạ phải ... Thầy biết tôi muốn xin gặp Thầy, hả
Sư chú ?
Sư
chú mỉm cười hòa nhã khi bước qua chiếc cổng tre. Tôi tự
dặn lòng phải từ tốn, khoan thai.
Mở
rộng cánh cửa tịnh thất, Sư chú cúi đầu, chắp tay:
-Thưa
Thầỵ
Rồi
lui qua một bên, ra dấu cho tôi bước vào.
Thầy
ngồi sau một chiếc bàn gỗ đơn sơ, bên cửa sổ. Trên bàn
chỉ có một tách nước.
-Thưa
Thầy ...
-Con
ngồi xuống đây.
Tôi
khép nép ngồi xuống chiếc ghế đối diện, và nghe nhịp
tim mình đập loạn...
-Con
tìm Thầy vì điều chi ?
Ánh
mắt dịu dàng như đang nhìn suốt tâm can tôi. Hình như Thầy
hỏi chỉ để mà hỏi. Hình như Thầy đã biết hết tấm
lòng của thế gian này, tôi còn quanh co làm chi nữa !.Nghĩ
thế, tôi nói ngay:
-Thưa
Thầy, con thật mong ước được biết đôi chút về Cư-sĩ
Nhất Tâm ở chùa Phổ Đà, Bình Dương.
Tay
Thầy đang nâng tách trà, chưa kịp đưa lên môi, lại chậm
rãi đặt xuống. Trong khoảnh khắc lặng lẽ, hình như chỉ
còn âm thanh hai tiếng <Nhất Tâm> thoảng trong gío núi. Một
lát, giọng Thầy thật nhẹ:
-Sao
lại tìm Thầy mà hỏi ?.
Thật
là tệ hại !. Điều đáng nói trước thì không nói, lại
nói điều sau cùng...Lỡ đảo ngược rồi, bây giờ biết
bắt đầu từ đâu ?. Mà thật ra, việc đi tìm gia thế một
cư-sĩ không có liên hệ xa gần gì với mình, chưa từng gặp,
chưa từng biết, lại đang ở cách xa nửa trái địa cầu
thì, tự sự việc đã qúa ư mơ hồ rồi. Chỉ vì cuốn sổ
điện thoại nhỏ của mẹ, ở vần T, có mấy giòng “Cư
sĩ Nhất Tâm, chùa Phổ Đà Bình Dương, con trai TT Trần Phú
???”.
Mẹ
không còn nữa, tôi biết hỏi ai ?. Mà dẫu còn, chắc mẹ
cũng chẳng biết, vì chính mẹ vẫn để ba dấu hỏi lớn
sau hàng chữ đó.
Tuần
trước, tình cờ gặp một Phật tử hay lên chùa. Bà ta nói
dăm câu chuyện về Thầy, san sẻ lòng ngưỡng mộ với những
người nghe. Trong dăm câu chuyện đó, có câu “Thầy xuất
gia từ nhỏ, tại một ngôi chùa cổ ở Bình Dương. Nay Thầy
vẫn thường gửi tiền về chùa cũ để chùa mở lớp học,
dạy trẻ con nhà nghèo ...”.
Bình
Dương có bao nhiêu ngôi chùa ? Thầy đi tu từ nhỏ, nếu chẳng
phải chùa Phổ Đà thì chắc Thầy cũng biết chùa ở đâu.
Và nếu biết chùa Phổ Đà, liệu Thầy có biết cư sĩ Nhất
Tâm, cậu bé bẩy tuổi, được người bác họ mang tới chùa
Phổ Đà, gửi gấm sư cụ vào cuối năm 1975, ngay sau khi mẹ
cậu vừa được họ hàng chôn cất ? Nhưng nếu Thầy rời
quê hương vào đúng thời điểm đó thì chắc Thầy cũng chẳng
có cơ duyên biết về cậu bé mồ côi, mà nay là cư sĩ Nhất
Tâm...
Tất
cả mọi sự đều mơ hồ đến thế, mà tôi dám lên đây,
tìm Thầy để hỏi !. Bao nhiêu niềm tự tin, cứng cỏi, bỗng
chốc tiêu tan và nước mắt bắt đầu rơi trên tà áo dài
lụa trắng ...
Sư
chú bước vào phòng với một tách trà cho tôi rồi lại lui
ra. Thầy bảo:
-Hãy
uống trà đi, hãy uống trong chánh niệm, cả thân và ý chỉ
tiếp xúc với vị trà, không gì khác nữa. Nào !.
Thầy
nâng tách trà lên bằng hai tay, từ tốn đưa lên môi, nhấp
một ngụm nhỏ. Đặt tách xuống, Thầy thở nhẹ, và nhắm
mắt. Tôi ngoan ngoãn làm theo. Thân và ý chỉ tiếp xúc với
vị trà, không gì khác nữa... Tâm hồn tôi như đang lướt
trên mặt hồ sen thơm ngát, ở đấy, những bông sen đầu
mùa đang hé cánh hồng đào, ngào ngạt hương. Hương sen đó,
giờ đang quyện trong trà này, thành thần dược, lặng lẽ
đẩy lui những thổn thức, u uẩn trong lòng tôi. Ôi, bài học
đầu tiên Thầy cho tôi thật nhẹ nhàng mà mầu nhiệm qúa
!. Tôi đã bình tĩnh và nhất là, đã biết bắt đầu từ
đâu, để thưa với Thầy về câu chuyện của mình. Câu chuyện
chưa một lần hai mẹ con tôi nói ra với ai. Đó là cái chết
của cha tôi.
Tuần
lễ cuối tháng ba năm 1975, sư đoàn 22 Bộ Binh thuộc Quân
Đoàn II của quân lực VNCH được lệnh rút lui về Qui Nhơn.
Lúc đó, cả ba Trung đoàn 41, 42 và 47 đều đang còn giao tranh
với Cộng quân trên mặt trận Quốc lộ 19 và phía Bắc Bình
Định, cách Qui Nhơn hơn 30 cây số. Rút lui trong khi đang giao
tranh ngang ngửa là một cái lệnh bất thường. Và phải chăng,
vì bất thường nên đây là cuộc rút quân đẫm máu và tàn
khốc nhất. Rút quân qua ổ phục kích của địch !!!.
Suốt
hơn 20 tiếng đồng hồ, những chiến sĩ can trường của ba
Trung đoàn 41, 42 và 47 đã chiến đấu trong tình trạng không
có yểm trợ, không tiếp tế, không tản thương, không cả
liên lạc được với các đơn vị bạn. Với kinh nghiệm chiến
trường, họ đều biết, họ đang ở trong những phút cuối
của đời binh nghiệp.
Nhưng
không một ai đầu hàng.
Khi
đó, hậu phương đã tan rã, trước mặt, sau lưng là địch.
Họ chỉ còn một con đường duy nhất, con đường mang lời
thề Vị Quốc Vong Thân.
Trên
tử lộ ngổn ngang xương máu đó, một vị chỉ huy của Trung
đoàn 47 đã trúng thương ở chân, lại chợt thấy một thuộc
cấp của mình đang hấp hối bên bờ ruộng. Ông qùy
xuống bên đứa em thân yêu. Người chiến sĩ chỉ còn thoi
thóp, gương mặt hằn bao nét đau đớn mà ngón tay vẫn để
trên cò súng như sẵn sàng tiếp tục nhiệm vụ bảo vệ quê
hương. Vị chỉ huy đứng lên, rồi lại ngồi xuống. Làm
sao ông có thể đành lòng bước đi, dù đằng trước mặt
cũng chỉ là sự chết !. Thế nên, ông đã qùy xuống, bình
tĩnh rút khẩu súng bên mình, giúp người thương binh chấm
dứt sự đau đớn. Xong, ông kê súng vào màng tang mình, bấm
cò !...
Tất
cả cảnh tượng bi hùng chớp nhoáng đó đã tình cờ xẩy
ra trước mắt một phóng viên chiến trường. Anh nhận diện
được cả hai người vì đã một lần hành quân chung. Và
lần cuối cùng này, nhờ chưa bị thương, anh thoát khỏi con
đường máu đó trong đường tơ kẽ tóc và mang được tin
tức về ...
Nắng
qua khóm trúc, lung linh từng sợi vàng trên khung cửa sổ. Tách
trà đã vơi, lòng tôi đã nhẹ. Tôi chắp tay:
-Thưa
Thầy, trong câu chuyện năm xưa đó, người chiến binh đau
đớn trong cơn hấp hối là cha của con, và người giải thoát
cho cha con, rồi cũng tự sát để bảo toàn khí tiết, có lẽ
là cha của cư sĩ Nhất Tâm. Ngày đó con mới ba tuổi, chưa
biết gì cả, nhưng mẹ của con thì không ngớt đi tìm tông
tích gia đình của ân nhân. Vâng, thưa Thầy, đối với mẹ
con, quyết định can trường của vị chỉ huy lúc đó, ngoài
sự bảo vệ danh dự cho chính ông, còn là một ân huệ cho
cha con, vì trong trạng huống khốc liệt đó, ai đã bị thương
thì chắc chắn sẽ chết. Cha con đã được ông chấm dứt
sự đau đớn, tuyệt vọng. Mẹ con còn tin chắc rằng sự
ràng buộc chưa kết thúc ở tình huynh đệ chi binh giữa hai
người cha mà có thể còn tiếp nối giữa hai người mẹ và
giữa những người con ....Biết bao công lao dọ hỏi, khi vừa
tìm đến nơi thì cậu bé mồ côi đã được người bác họ
đem đến chùa gửi, vì không nuôi nổi.
Đó
cũng chính là thời gian hai mẹ con của con phải trốn tránh,
sống lây lất ở Vũng Tầu, chờ chuyến ra khơi.
Qua
tới đây rồi, mẹ con vẫn nhờ người tìm cách xác định
về cậu bé mồ côi đó, nhưng giữa bao tang thương biến đổi,
việc này không phải dễ. Trong nhiều năm, gom góp hết những
tin tức nhỏ giọt, đứt quãng, mẹ con chỉ biết được bấy
nhiêu và chỉ mới chia sẻ điều đó với con trong mấy tháng
lâm trọng bệnh.
Thưa
Thầy, con tìm Thầy hôm nay cũng chỉ là tiếp nối việc làm
của mẹ, một việc làm hoàn toàn mơ hồ nhưng lại được
thúc đẩy mãnh liệt từ Tình Người...
Thầy
bỗng đứng lên, đi về tủ sách ở góc phòng. Mở một ngăn
tủ, Thầy cầm ra một phong bì mầu vàng. Trở lại ghế ngồi,
Thầy chậm rãi rút từ phong bì ra một tấm hình cỡ lòng
bàn tay, đưa cho tôi. Trong hình là một cậu bé, tóc để chỏm
như chú tiểu, đứng giữa hai nhà sư, một gìa một trẻ.
Nhà sư trẻ là Thầy đây, vị sư già chắc là sư cụ trụ
trì chùa Phổ Đà. Còn chú tiểu ....Trời ơi !... Hẳn là thế
!... Hẳn là đây !...
Không
thể cầm lòng, tôi ôm mặt, khóc nấc lên. Trong phút giây,
tôi như thấy rõ lại cha tôi, người đã ra đi từ năm tôi
ba tuổi. Chưa bao giờ tôi thấy được cha, rõ như phút giây
này. Và thấy mẹ. Chưa bao giờ tôi thấy được mẹ có nét
vui tươi như phút giây này. Và thấy Nhất Tâm. Chưa bao giờ
sự tưởng tượng của tôi về cư sĩ Nhất Tâm rõ nét như
phút giây này. Mô Phật, tất cả bao sự mầu nhiệm này từ
đâu chợt đến ?...Lời Kinh mẹ tụng hằng đêm bỗng thoảng
lên như tiếng chuông ngân “Vô thượng thẩm thâm vi diệu
pháp. Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ. Ngã kim kiến văn đắc
thọ trì. Nguyện giải Như-Lai chơn thiệt nghĩa”...
-Thầy
biết sẽ có ngày nay vì Thầy đã thấy con rồi. Thầy đã
thấy con qua Nhất Tâm. Đừng ngạc nhiên.
Không
có gì là thần bí cả. Khi hiểu Đạo hơn, con sẽ biết về
hiện tượng Tha Tâm Minh, và sẽ hiểu điều Thầy vừa nói.
Bây giờ Thầy cho con biết việc con muốn biết. Đúng, Nhất
Tâm đúng là chú bé mà mẹ con đã tìm kiếm bao năm. Chú tới
chùa từ cuối năm 75. Giữa tháng bẩy năm 80, sư cụ sai Thầy
đi cúng vong ở một nhà ven biển. Tay nải đựng kinh và chuông
mõ do sư cụ soạn sẵn, đeo vào vai Thầy. Nhất Tâm theo Thầy
ra tới cổng. Khi đó chú đã mười hai tuổi, thông minh đĩnh
ngộ và rất chuyên cần công phu. Chú nắm tay Thầy mà nói:
-Sư
huynh cứ đi đi, đệ sẽ trông nom sư cụ cẩn thận như Sư
huynh vậy.
Ngờ
đâu, buổi cầu vong đó là do sư cụ sắp đặt cho Thầy.
Đó chính là chuyến ra khơi của một số Phật tử thân tín
với chùa. Lên tầu, mở tay nải ra, chuông mõ không thấy,
chỉ là vật dụng cá nhân, thuốc men, tấm hình này và thư
của sư cụ giải thích. Sư cụ đã biết chắc, nếu hỏi
ý, sẽ không bao giờ Thầy chịu bỏ sư cụ và Nhất Tâm mà
ra đi. Nhưng không đi thì chết cả. Dẫu Đạo hay Đời cũng
phải nương theo thời mà tồn tại.
Thầy
đột ngột hỏi:
-Con
học sử, nhớ chúng ta có vua Trần Nhân Tông chứ ?
-Thưa
vâng. Vua Trần Nhân Tông đã hai lần cùng toàn dân đứng lên
đánh đuổi quân Nguyên, giữ vững cõi bờ.
-Thế
con có biết Thiền sư Hương Vân không ?
-Dạ
...không.
-Thiền
sư Hương Vân chính là vua Trần Nhân Tông đấy. Từ nhỏ Ngài
đã trốn khỏi hoàng thành để đi tu nhưng phụ hoàng sai quân
triệu về, rồi sau đó, lên ngôi. Trong thời gian trị vì,
quân Nguyên hai lần tràn sang muốn thôn tính nước ta. Ngàiđã
thân chinh đánh giặc, bảo vệ đất nước, con dân. Khi nước
nhà đã yên, trăm họ đã no ấm, Ngài bèn truyền ngôi cho
Thái tử, khoác áo cà-sa, một mình chống gậy trúc lên núi
Yên Tử, lập am Ngọa Vân, tu đời khổ hạnh cho tới ngày
nhập diệt.
Thầy
lại chợt hỏi:
-Con
hiểu câu “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát”
là nghĩa gì ?
-Thưa
Thầy ....
-Người
tu hành, lánh xa trần tục không có nghĩa là lánh xa cả việc
cứu vớt những khổ nạn trong đời. Phật đâu có dạy chúng
sinh, chờ tới đắc Đạo mới cứu khổ cứu nạn, mà ngay
ở hiện hữu này đây, thấy khổ phải cứu, thấy nạn phải
vớt. Nếu không, hóa ra Đạo Phật chỉ là mớ lý thuyết
Kinh điển lồng vào những hình thức tụng niệm vô hồn,
chẳng giúp gì cho đời sao ? Giữ giới không sát sinh đâu
có nghĩa là thấy con rắn độc đang trườn tới trẻ thơ
mà không ngăn. Cho nên, phải nhìn Đạo Phật bằng một nhãn
quan sâu sắc và tích cực hơn mới mong giúp mình, giúp đời.
Thầy
khoan thai nhấp một ngụm trà rồi nói tiếp:
-Gần
đây, chắc con có biết tin một nhà báo ngoại quốc, bất
ngờ xông vào chùa Giác Minh với ý định gặp được Thượng
Tọa trụ trì đang bị nhà nước quản thúc tại đó ?
-Vâng,
thưa Thầy, ông ta bị công an chặn lại ở bậc tam cấp, bèn
ngồi ngay xuống đấy, chân xếp bằng như tọa thiền, nhất
mực không chịu rời chùa nếu chưa được diện kiến Thượng
Tọa trụ trì hoặc gặp giới cao cấp của nhà nước để
trình bầy ý muốn. Bức hình độc đáo đó, không biết ai
chụp, ai gửi, mà đã xuất hiện trên báo chí khắp thế giới.
Thưa Thầy, sự việc này đã đưa được một thông điệp
mạnh mẽ ra ngoài, là ở Việt Nam, không có tự do tôn giáo
dưới chế độ Cộng Sản như lời họ vẫn rêu rao.
Giọng
Thầy bỗng khác lạ:
-Con
có nghĩ rằng, một nhà báo nước ngoài, chân ướt chân ráo
nơi xứ lạ có thể thực hiện được điều đó một mình
không ?
Tôi
sửng sốt nhìn Thầy.
Thầy
mỉm cười.
Lần
này, nụ cười tôi thường thấy phảng phất trên môi các
tượng Phật, không còn chỉ như trên hình tượng nữa.
Nụ-Cười-Thích-Ca
đang nở trên môi Người-Cứu-Khổ-Cứu-Nạn.
Và
tôi đã hiểu.
Mô
Phật, tôi đã hiểu việc Thầy, việc cư sĩ Nhất Tâm, việc
bao Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni, đang mang Cõi Tâm Hương
thanh khiết mà tải Đạo, giúp đời.
Tin
khí tượng loan báo cho hôm nay, bây giờ mới đúng.
Mặt
trời đã ở trong mây và mưa bắt đầu rơi. Cửa sổ phòng
Thầy không đóng. Gío núi đang hắt từng làn bụi nước mỏng
vào chỗ tôi ngồi. Tôi ngửa cả hai bàn tay ra. Đây không
phải chỉ là mưa. Đây là nước Cam Lồ đang từ nguồn Bồ
Tát chảy xuống giòng đời tôi khô cằn. Những lời mẹ giảng
về Đạo Pháp, tôi chưa từng quan tâm, nay hiện ra như trang
Kinh mở rộng. Muốn thấy Phật, hãy nhìn chúng sinh. Nhìn cho
rõ chúng sinh sẽ thấy Bồ Tát, vì Phật tánh hiển lộ nơi
chúng sinh nào, vị đó sẽ hành trì hạnh nguyện Bồ Tát.
Nơi nào có khổ nạn, nơi đó có Bồ Tát, nên Bồ Tát ở
ngay đời này chứ chẳng phải chỉ ở qúa khứ, vị lai ...
Chắp
hai bàn tay ướt đẫm Cam-Lồ-thủy, tôi qùy xuống trước
Thầy, lạy một lạy.
Ngày
mai đây, tôi đã biết tôi phải sống cuộc đời thế nào.
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Linh
Linh Ngọc