TĨNH
SƠN THI ỀN TỰ
Hai
thầy trò tới thị xã Pleiku thì nắng chiều đã nhạt. Vị
sư gìa bảo chú tiểu:
-Chắc
ta phải tìm chỗ trọ đêm nay, mai mới lên núi kịp.
Chú
tiểu vòng tay thưa:
-Bạch
thầy, chắc phải vậy.
Quanh
co phố chợ, hai thầy trò mua được hai gói xôi, mấy củ
khoai luộc và một lọ tương chao. Nơi nghỉ đêm là khu chợ
lồng. Sau khi dẹp chợ, chủ xạp sẽ căng ghế bố cho những
khách nghèo, lỡ đường, tạm nghỉ chân. Chính tại khách
sạn tập thể này mọi người đều cảm thấy thoải mái,
an toàn vì những người đã phải tới đây trọ là chẳng
còn gì để lo bị cướp bóc. Những chàng đạo chích cũng
biết rõ như thế.
Dùng
xong bữa tối đạm bạc, chú tiểu mở tay nải, lấy ra một
chiếc mền cũ trải lên ghế bố cho thầy. Còn chú, có chiếc
aó dạ rộng thùng thình và tấm khăn lông cuộn lại làm gối
là đã đủ tươm tất. Hai thầy trò ngồi xếp bằng, chắp
tay, lầm rầm niệm Phật. Những khách trọ xung quanh đang ba
hoa chuyện vãn, bỗng bị lôi cuốn bởi sự trang nghiêm của
hai thầy trò. Họ im lặng. Và tiếng niệm Phật nghe được
loáng thoáng: “ ...Nguyện đem công đức này. Hướng về khắp
tất cả. Đệ tử và chúng sanh. Đều trọn thành Phật đạo
...”.
Đợi
dứt tiếng tụng niệm, một người hỏi:
-Bạch
thầy, thầy hành hương ở đâu mà tới nơi này ?
-Mô
Phật, chúng tôi muốn tìm thăm sư cụ trên núi Chu Pao. Đường
còn xa, sợ không tới kịp trước khi trời tối nên phải
nghỉ tạm đây đêm nay.
Nghe
thế, một người khác aí ngại:
-Nếu
là Sư cụ Tuệ-Không thì Ngài đã viên tịch năm ngoái rồi,
hình như chẳng còn ai trên chùa nữa.
-Mô
Phật, thế là không kịp rồi. Chúng tôi nghe tin Ngài lâm bệnh,
mà đường xá xa xôi, phương tiện eo hẹp qúa, nay mới lặn
lội tới được thì đã muộn ...
Chú
tiểu nâng vạt aó chậm nước mắt ...
Có
người góp chuyện:
-Thời
buổi này chùa miếu cũng hoang lạnh thôi. Phật tử có còn
lòng mộ đạo cũng chả mấy ai có khả năng cúng dường.
Qúi tăng ni vẫn dốc lòng thờ Phật phải là can đảm lắm
!.
Vị
sư gìa nói với chú tiểu, nhưng chắc là cũng muốn dăm người
nghe thấy:
-Chúng
ta đã tới được đây rồi, dù sư cụ không còn, mai ta cũng
phải lên núi tìm mộ Người mà thắp nhang khấn lậy.
-Bạch
thầy, đành phải thế.
Núi
Chu-Pao nằm giữa Pleiku và Kontum.
Sáng
hôm sau, khi đã ra khỏi thị xã, hai thầy trò bỗng thân mật
hơn.
-Tin
tức anh em cho, chắc đúng đó con. Sư cụ Tĩnh-Sơn thiền tự
đã viên tịch, chuà bỏ hoang, đồng bào chạy ăn từng bữa,
ai còn nghĩ đến chuyện trùng tu, hương khói nữa.
-Vâng,
thưa cha, chúng ta sẽ theo đúng kế hoạch.
-Cha
chỉ e cực nhọc qúa cho con.
-Cha
ơi, chúng ta còn gì nữa đâu ngoài thù nhà nợ nước. Cha
đã quyết, con một lòng theo. Cha con ta đã hẹn gặp mẹ và
anh con bằng con đường phục hận này. Chúng ta may mắn còn
có anh em trong tổ chức, một lòng một dạ với nhau. Những
tin tức và mọi sắp xếp của anh em trong công tác này đỡ
nhiều vất vả cho cha con ta lắm. Chúng ta nhất định phải
hoàn thành tốt đẹp.
-Được,
chúng ta đi cho mau. Khi gặp được anh chàng A Khan sẽ tùy cơ
ứng biến.
Mặt
trời chưa qua khỏi ngọn sao, hai thầy trò đã thấy bóng núi
Chu Pao sừng sững. Từ đây, họ ít gặp người Kinh, ít phải
chắp tay đáp lễ “mô Phật”. Con đường đất ghồ ghề
càng lúc càng thu nhỏ lại thành đường đá lởm chởm. Đôi
lúc, chú tiểu mất thăng bằng, suýt ngã chúi. Nhưng chú cười
tươi ngay, dậm dậm đôi dép da trâu mà nói: “Đường đi
khó, không khó vì ngăn sông cách núi ...”.
Những
người Thượng vác gùi, từ những buôn Mường Bang, Mường
Lát đi vào những cánh rừng hai bên. Họ đi đào bắp, kiếm
nấm và củi khô. Họ nhìn hai thầy trò, cái nhìn hiền lành
nhưng dửng dưng ...
Như
đã biết rõ điểm tới, hai thầy trò cứ đi, không hỏi han
ai cả.
Qua
bãi Nứa, tới dốc Vọi, cả hai cùng dừng lại. Qủa như
lời dặn, nhìn lên con dốc thẳm, họ đã thấy căn nhà sàn
lợp lá gồi nằm cheo leo giữa những ngạc tre. Đó là nhà
A Khan,người tộc trưởng khu tam giác cao nguyên mà hai thầy
trò sẽ tới gặp.
Một
già, một trẻ nhìn nhau, cùng khẽ gật đầu rồi tiến vào
lối dốc. Mới tới nửa con dốc, nghe chừng, hai người đã
mệt lắm, thì chợt nghe tiếng nói sau lưng:
-Ông
thầy đi tìm ai ?
Cả
hai quay lại nhìn. Dưới ánh nắng rực rỡ, một người đàn
ông miền núi, da nâu sậm, dáng khỏe mạnh, vạm vỡ, tay cầm
chiếc rựa sáng loáng, chăm chú nhìn hai thầy trò. Thay vì
trả lời, vị sư già mừng rỡ:
-Ông
nói được tiếng Kinh, thật là may quá, may quá !
Chú
tiểu đỡ lời:
-Chúng
tôi muốn hỏi thăm ông tộc trưởng.
Người
đàn ông chăm chăm nhìn hai thầy trò, ý dò xét. Biết thế,
vị sư già vội nói:
-Chúng
tôi từ dưới đồng bằng lên đây tìm thăm sư cụ trên núi
Chu Pao, nhưng mới tới phố chợ đã nghe nói sư cụ viên tịch
năm ngoái rồi. Chúng tôi muốn gặp ông tộc trưởng để
hỏi xem có còn ai trên chùa không.
Người
đàn ông nhìn vẻ nghèo nàn nhưng lương thiện của hai thầy
trò, dáng chừng đã tin. Ông ta nói:
-Không
còn ai cả đâu. Từ ngày ông thầy trên núi chết, không thấy
có người Kinh đi ngang đây để lên chùa nữa. Chùa bỏ hoang
rồi.
Vị
sư già bỗng ngồi bệt xuống , dáng vẻ đầy buồn rầu,
thất vọng. Chú tiểu ngồi xuống theo, cầm lấy tay thầy:
-Thầy
trò ta chắc là cùng đường rồi. Ở thành phố thì bị đuổi
khỏi chùa, lặn lội lên đây nương nhờ thì sư cụ không
còn nữa ...
-Sao
ông thầy lại bị đuổi khỏi chùa ?
-Nhà
nước nói,cần chỗ ở cho cán bộ nên chia chùa thành nhiều
hộ. Nhà chùa được chia một diện tích vừa đủ kê một
giường, một tủ thì tụng niệm cúng bái làm sao được.
Đó chỉ là cách nói để họ chiếm chùa mà thôi.
Trong
khi vị sư nói, chú tiểu kín đáo quan sát người đàn ông
miền núi mà chú biết chắc đó là A Khan. Điều thật bất
ngờ mà chú đang cố kìm giữ là chính người đàn ông này,
mười năm trước đây đã giúp mẹ con chú trên đường đi
tìm xác anh của chú, đã chết trong trại tù Cộng Sản. Sự
can đảm của người lính Thượng đã làm chú cảm phục.
Anh đã dám lén lút dẫn mẹ con chú đến bìa rừng Gia Lai,
nơi những nấm mồ được vùi nông không bia mộ. Anh ta nói,
biết nơi chôn anh Tân vì anh ta chính là một, trong hai người
đồng tù mà bọn quản giáo Cộng Sản đã chỉ định, mang
xác anh Tân đi chôn. Ngày đó, tuy mới mười tuổi nhưng chú
vẫn nhớ những nét khắc khổ trên gương mặt người lính
Thượng. Đặc biệt là chiếc thẹo dài trên tay phải bên
vết xâm hình đầu rồng còn rõ kia.
Chú
tiểu cố dấu xúc động, nói ngay vào kế hoạch đã vạch:
-Chúng
tôi chẳng còn đâu nương tựa nữa. Nếu chùa trên núi bỏ
hoang, chúng tôi có thể lên đó tu hành hay không ?. Làm sao
gặp được ông tộc trưởng để hỏi ?
-Ở
thì được, nhưng làm sao sống ? Ông thầy ngày xưa còn có
Phật tử nuôi. Nay, ai cũng đói cả.
Vị
sư vội nói:
-Ban
ngày chúng tôi cũng vào rừng kiếm củi, đổi lấy gạo muối,
tối về mới tụng Kinh niệm Phật. Thế, chúng tôi có phải
trình báo công an phường dưới phố hoặc là ...gặp ông tộc
trưởng để xin phép không ?.
Người
đàn ông nhìn hai thầy trò đăm đăm rồi nói chậm:
-Tôi
là tộc trưởng đây. Ông thầy cứ lên đó mà tu. Công an
nhà nước chỉ cần chiếm đất đai mầu mỡ ngoài kia chứ
chẳng vào tận trong buôn mà làm gì.
Chú
tiểu làm vẻ ngạc nhiên:
-Mô
Phật, ông là tộc trưởng ư ?. Thế thì may qúa, cám ơn ông.
Ông vừa nói, họ chiếm đất. Thế đồng bào miền núi trồng
trọt ở đâu ?.
-Làm
gì có đất nữa mà trồng trọt. Cà phê đang xanh, bắp đã
gieo hạt, họ ào tới, nói, lệnh trung ương phải giải tỏa
trong kế hoạch chỉnh trang. Thế là họ đuổi dân thiểu số
vào tận chân núi. Hết đất, hết ruộng vườn, chỉ còn
đi kiếm củi, làm sao đủ ăn !.
-Mô
Phật, thế ..ông tộc trưởng ...tính sao ?.
Câu
trả lời, ngoài sự chờ đợi của hai thầy trò:
-Phải
đòi lại chứ sao !. Đất đai là sự sống, ai cướp đất
là cướp đi sự sống của mình. Không đòi lại là mình đành
chịu chết hả ?.
-Nhưng
...nhà nước ra lệnh thì công an thi hành, làm sao đòi được
hả ông tộc trưởng?.
-Cũng
phải tìm cách chứ. Mà ông thầy biết đường lên chùa không
? Đi theo chân núi này mươi phút sẽ thấy lối mòn, cứ đó
mà leo lên.
A
Khan vừa nói, vừa dợm bước đi, như không muốn bàn thêm
chuyện đất đai. Bóng anh nghiêng nghiêng theo triền dốc lấp
lánh nắng vàng ...
Đường
lên Tĩnh Sơn thiền tự quanh co, khúc khuỷu. Chú tiểu vừa
bước theo vị sư, vừa nói trong nước mắt:
-Cha
ơi, A Khan chính là người ơn mà mẹ đã kể với cha khi cha
đi tù về. Không có sự giúp đỡ của A Khan, chắc chẳng
bao giờ tìm được mộ anh Tân con.
Vị
sư sửng sốt:
-Thật
vậy sao con ?. Chính A Khan là người lính Thượng tốt bụng,
can đảm mà mẹ và con vẫn nói đó ư ?. Vậy chắc là mẹ
và anh con khôn thiêng đã run rủi cha con ta nhận lãnh công
tác này để có dịp trả ơn đây.
Chú
tiểu không nói gì nữa, vừa leo dốc, vừa thút thít khóc.
Vị sư nắm lấy tay chú, thúc giục đi mau, như để khỏa
lấp những đau đớn cũng chỉ trực trào ra thành lệ nóng
...
Chùa
đây rồi. Điêu tàn, xiêu vẹo qúa, nhưng may mắn, vẫn còn
mái che, còn vách dựng, còn tượng Phật bằng xi măng đặt
trên bệ gạch thô. Chùa chỉ có hai gian, một gian thờ Phật,
một gian ngăn đôi, phía trước là bếp núc, phía sau là chỗ
ngủ. Đơn sơ quá !. Nhưng đối với hai cha con thì nơi này
thật lý tưởng để lo nhiệm vụ.
Hai
cha con ?.
Đúng
vậy. Họ là hai cha con trong tổ chức kháng chiến phục quốc.
Họ phải ngụy trang làm người tu hành tới đây để nắm
vững tình hình cao nguyên rồi tùy cơ ứng biến mà tiếp tay
sắc tộc thiểu số đòi lại đất đai mà bạo quyền Cộng
Sản đã chiếm đoạt dần dần từ nhiều năm qua.
Nay,
theo sự điều tra của tổ chức thì sự uất hận của đồng
bào thiểu số đã lên đến cao điểm. Củi và nấm trong rừng
cũng đã khan hiếm, không còn kiếm đủ để sống lây lất
qua ngày nữa. Cùng tất biến. Khi con người không còn gì để
mất chính là lúc họ không còn gì để sợ. Và, khi không
còn gì để sợ là lúc họ sẽ vùng dậy, đòi lại những
gì bị cướp đoạt.
Hai
cha con được tổ chức chỉ định tới đây vì ngày trước,
người cha - Thượng sỹ Nguyễn văn Nam - thuộc Trung đoàn
53 Bộ Binh, là đơn vị đã chiến đấu anh dũng, can trường
thêm suốt một tuần lễ sau khi Ban Mê thuộc thất thủ. Vì
từng ở nơi này nên ông Nam rất rành địa đạo khu tam giác
cao nguyên. Nơi đây, đối với ông cũng thiêng liêng như nơi
ra đời, vì chính nơi đất đỏ này, ông đã thực sự đóng
góp máu xương để bảo vệ Tự Do. Làm sao ông có thể quên
được cái ngày dài nhất của Trung đoàn 53 Bộ binh, ngày
17 tháng 3 năm 1975 tại mặt trận phi trường Phụng Dực, cách
Ban Mê Thuột 8 cây số về phía đông. Ở chiến trường khốc
liệt đó, mỗi người lính đã phải tự biến mình thành
một pháo đài và chiến đấu trong hoàn cảnh khắc nghiệt
nhất trong lịch sử quân đội thế giới !. Họ đã chiến
đấu ngày đêm, không tiếp viện, không tải thương, không
đủ lương thực !. Vậy mà họ không đầu hàng !
Họ
đã chọn lựa rồi.
Và
điều đó đã tới lúc 11 giờ 30 sáng ngày 17-3-75.
Sau
trận mưa bom và pháo của Cộng Sản Việt Nam, thân xác những
chiến sỹ anh dũng của Trung Đoàn 53 Bộ Binh đã tan ra từng
mảnh, hoà vào đất đỏ Cao nguyên, tan vào đất Mẹ Việt
Nam !!!...
Thượng
sỹ Nam sống sót sau trận mưa bom đó, như một sự huyền
bí không thể hiểu nổi. Với thân thể đầy thương tích,
ông tỉnh dậy khi cơn mưa chợt rào rạt đổ xuống rừng
đêm. Ngay khi tỉnh dậy, ông đã hiểu rằng, ông sống sót
là để chờ ngày hoàn tất trách nhiệm mà bao đồng đội
của ông đã ngậm ngùi bỏ dở .....
Bao
nhiêu hình ảnh cũ chập chờn trong ký ức khiến ông Nam không
thể ngủ. Ông nằm chờ sáng, chờ bóng trăng rừng chếch
trên sườn núi, chờ tiếng chim quyên gọi bạn tìm mồi, chờ
nắng, chờ gío, chờ sự sống trên miền đất chết ...
Trời
còn mờ sương, ông Nam đã ra khỏi chùa.
Ông
đã tìm thấy những lá đạm trúc diệp mà ông biết rằng
hái đọt và lá mang luộc, có thể ăn được. Loại này tựa
như rau dệu ở đồng bằng.Lưng chừng núi, ông Nam còn tìm
thấy những cây nhỏ, lá có 3 khía rất giống cỏ chân vịt
mà dân quê nghèo, hái luộc, rắc muối lên, ăn như rau lang.
Thế
này là Phật độ đây, hai cha con đã có ít chất tươi rồi...
-Ông
thầy hái gì đó ?
Từ
dưới chân núi, A Khan đeo gùi, vác rựa đi lên.
-Chào
ông tộc trưởng. Tôi thức sớm, dạo quanh thì tìm thấy những
loại rau này, có phải luộc lên, ăn được không ?.
A Khan
lên tới. Anh lấy trong gùi một bọc to, vừa đưa cho ông Nam,
vừa nói:
-Rau
này lành, ăn được, nhưng khi đói lắm mới phải ăn vì chẳng
ngon gì đâu. Còn đây, tôi biếu ông thầy mấy củ khoai và
ít đọt măng. Nhân thể, tôi lên xem chùa có bị hư dột chỗ
nào thì tôi sửa cho.
Vừa
nói, A Khan vừa xăm xăm đi lên.
Hốt
hoảng, ông Nam buột miệng, ngăn:
-Ấy,
ấy ...đừng lên !.
A Khan
quay lại, ngạc nhiên:
-Sao
vậy ?.
-Là
vì ...chúng tôi mới tới, không dám làm phiền ông tộc trưởng.
A Khan
quay lưng, đi tiếp, cười lớn:
-Mới
tới tôi mới phải giúp, ở lâu rồi thì ông thầy lo liệu
lấy.
Không
ngăn được, ông Nam nói lớn khi hai người lên tới cổng
chùa, như thể muốn báo cho chú tiểu biết:
-Có
ông tộc trưởng lên chơi.
Nhưng
không kịp nữa !.
Bên
hiên chùa, một thiếu nữ xinh tươi trong bộ áo lụa mềm
mầu hoa cà, đang đứng hong tóc. Nàng như vừa tắm dưới
suối lên, toàn thân toát ra vẻ tươi mát tinh khôi, những
ngón tay mềm mại lùa trong mái tóc buông dài, long lanh ướt.
Cả
ba người cùng sửng sốt, đứng lặng, nhìn nhau.
Ông
Nam lên tiếng trước:
-Ông
tộc trưởng ...
A Khan
ngắt lời:
-Chuyện
của ông thầy, tôi không cần biết, nhưng sao ông thầy phải
nói dối ?. Lên núi ở với gái sao nói lên chùa tu ?
Lúc
này, thiếu nữ là người bình tĩnh hơn cả. Sự bí mật lộ
ra hơi sớm nhưng nàng như biết rằng không thể trì hoãn.
Đưa mắt nhìn ông Nam và nhận được sự đồng thuận. Nàng
chậm rãi tiến đến trước mặt A Khan. Hai tay khoanh trước
ngực, nàng nhìn A Khan:
-Anh
không nhận ra tôi ư ?
A Khan
lùi một bước, nhíu mày, rồi lắc đầu.
Tinh
quái, thiếu nữ tiến thêm một bước:
-Anh
nhìn kỹ chút nữa xem, anh thực không nhận ra tôi ư ?
A Khan
có vẻ không mấy thích trò đùa này. Anh dợm bước đi, miệng
nói:
-Không,
tôi không biết mấy người.
-Người
làm ơn thường ít nhớ người chịu ơn nhưng người chịu
ơn thì thường khó quên người đã làm ơn cho mình. Mười
năm trước anh đã giúp hai mẹ con tôi tìm được mộ anh tôi
là thiếu úy Nguyễn văn Tân.
Giọng
người thiếu nữ trầm buồn nhưng có sức mạnh như cơn lốc
khiến cả thân hình lực lưỡng của người đàn ông miền
núi bị chao đảo, tưởng như sắp ngã. Anh ta quay phắt lại,
mở lớn mắt, hết nhìn ông Nam, lại nhìn thiếu nữ.
Ông
Nam biết, đã đến lúc phải nói rõ hơn:
-Tôi
là Thượng sỹ Nguyễn Văn Nam, cha của thiếu úy Nguyễn văn
Tân. Còn đây là Lan Anh, con gái tôi. Ngày tôi còn ở tù, nó
và mẹ nó đi tìm xác Tân thì được tộc trưởng giúp đỡ,
bây giờ mới nói được lời cám ơn ...
Ông
Nam nghẹn lời. Lan Anh nấc nhẹ.
A Khan
vừa kinh ngạc, vừa cảm động, ấp úng mãi:
-Tôi
cùng đơn vị với thiếu úy, lại ở tù cùng trại, thương
nhau như anh em. Ông thầy, à,...ông bác và cô em lên đây làm
gì, sao phải gỉa dạng thầy tu, chú tiểu vậy ?.
-Chúng
ta còn nhiều chuyện quan trọng phải bàn. Con vừa nấu được
ấm nước vối, cha mời tộc trưởng vào chùa. Sẵn khoai ông
tộc trưởng cho đây con đem luộc làm tiệc nhé !.
-Cô
đừng gọi tôi là tộc trưởng nữa, tôi như ...anh Tân của
cô thôi. Ông bác đây cũng như ...cha tôi vì ...tôi cũng chẳng
còn ai cả ...
Bữa
tiệc khoai lang nước vối, kết chặt ba người trong thâm tình
đồng chí. Há chi phải chích máu, uống rượu ăn thề ở
Vườn Đào !.
Mỗi
tuần một lần, hai cha con ông Nam lại xuống phố chợ, chờ
nhận tin tức anh em trong tổ chức, cũng như báo cáo những
diễn biến về tình trạng của đồng bào thiểu số. Hôm
nay ông xuống chợ để nhận vải và sơn mà ông đã xin tổ
chức lo cho từ lần trước. Cuộc biểu tình sắp tới phải
có một số biểu ngữ rõ ràng viết bằng tiếng Anh và tiếng
Việt. Trẻ em bán thuốc lá, đánh giầy, trong các thành phố
đã nhận chỉ thị. Chúng thường la cà trước các quán ăn,
các khách sạn, bám theo khách ngoại quốc, mời hàng. Đó là
những sinh hoạt hàng ngày, chẳng có chi bất thường. Bằng
thứ ngôn ngữ pha trộn nửa Việt, nửa Mỹ, những phóng viên
ngoại quốc sục sạo săn tin đó đây đã qúa quen với chúng
và hiểu được chúng dễ dàng. Họ cũng đầy kinh nghiệm
để biết rằng “ngày N, giờ G, địa điểm XYZ” không phải
sẽ xẩy ra ngay. Họ biết lượng định, nghe ngóng và chờ
đợi.
Nhưng
công an thành phố thì không có được kinh nghiệm đó !.
Khi
nơi chợ búa có tiếng xì xào về cuộc biểu tình vĩ đại
của sắc dân thiểu số sẽ cùng nổi dậy trên khắp miền
cao nguyên thì bọn công an cũng mở mắt, vểnh tai. Nhưng chúng
chẳng thấy gì ngoài những người Thượng gìa nua, thất thểu
đeo gùi vào rừng kiếm củi, lầm lũi như những người câm
điếc. Đám người ấy mà dám biểu tình thì qủa là điều
khôi hài lớn !.
A Khan
rất khâm phục tổ chức kháng chiến đã sắp đặt kế hoạch
rõ ràng từng bước như thế. Qủa là họ đã đánh lừa được
bọn công an. Chúng chẳng thấy gì để báo cáo lên cấp trên.
Những người dân thiểu số mà chúng nhìn thấy hàng ngày
là những người mà A Khan chỉ định, có nhiệm vụ phải
để bọn công an nhìn thấy sự nhu nhược, sợ sệt, yếu
đuối. Đám dân đói khổ, bần cùng đó cũng chính là những
liên lạc viên, mượn cớ lang thang kiếm lương thực để
đưa tin tức tới các buôn, làng.
Lâu
nay, một số dân đeo gùi vào rừng không phải để kiếm củi,
kiếm măng nữa. Họ chăm chỉ tìm những lá tre, lá chuối
không rách, lau sạch sẽ rồi mang lên Tĩnh Sơn thiền tự.
Ở đó, hai cha con ông Nam cùng một số anh em trong tổ chức
kháng chiến, ngày đêm cặm cụi biến những lá tre lá chuối
đó thành những biểu ngữ cầm tay. Thanh niên thì được A
Khan chỉ định đi chặt trúc, cột vào lá làm cán. Mỗi đồng
bào hiện diện phải có ít nhất một biểu ngữ cầm tay vì
mỗi biểu ngữ là một lời tố cáo tội ác Cộng Sản, mỗi
biểu ngữ là một lời đòi hỏi nhân quyền.
Sức
mạnh của cuộc biểu tình là số đông người tham dự và
biểu ngữ.
Hai
điều đó họ đã có.
Hai
điều đó, trước ống kính các phóng viên ngoại quốc sẽ
biến thành những viên đạn tầm xa mà sức mạnh thì khôn
lường.
Mọi
diễn biến đều diễn ra đúng như kế hoạch. Những sinh hoạt
linh động trên Tĩnh Sơn thiền tự được bảo mật an toàn
nhờ toán canh phòng của A Khan dưới chân núi. Đêm nay, họ
cùng duyệt lại từng chi tiết trước khi chính thức phát
lệnh tổng khởi động.
Củi
khô được gom lại rồi đốt lên cho ấm.
Dưới
ánh lửa bập bùng, họ nhìn nhau mà như nhìn thấy khí thế
cuộc biểu dương sức mạnh của người dân bị áp bức.
Trùng trùng điệp điệp những thân trúc giơ cao, vang dội
tiếng gào thét của lá. Muôn ống kính rọi vào. Trúc và lá
biến thành muôn giòng phún thạch hừng hực đổ xuống từ
miệng núi lửa bị đè kín bao năm.
Khi
lòng dân đã đầy, không gì ngăn được.
Riêng
A Khan, anh không chỉ nhìn thấy lửa cách mạng bừng bừng
đó. Anh còn nghe thấy tiếng suối róc rách, tiếng bước nhẩy
xạc xào trên lá của bầy hoẵng hoang. Và mơ màng thấy người
thiếu nữ áo lụa mầu hoa cà, hóa thân thành cô sơn nữ diễm
lệ, đeo gùi, thơ thẩn tìm những gìo lan hiếm qúi trong cánh
rừng xanh rộn rã chim muông ....
Linh
Linh Ngọc