1.-
QUY-SƠN
ĐẠI-VIÊN THIỀN-SƯ CẢNH-SÁCH
Phù,
nghiệp hệ thụ thân, vị miễn hình lụy. Bẩm phụ mẫu chi
di thể, giả chúng duyên nhi cộng thành. Tuy nãi, tứ đại
phù trì, thường tương vi bội. Vô thường, lão, bệnh, bất
dữ nhân kỳ, triêu tồn tịch vong, sát na dị thế. Thí như,
xuân sương hiểu lộ, thúc hốt tức vô, ngạn thụ tỉnh đằng,
khởi năng trường cửu. Niệm niệm tấn tốc, nhất sát-na
gian. Chuyển tức tức thị lai sinh, hà nãi yến nhiên không
quá?
VĂN
CẢNH SÁCH
Của
Thiền-Sư Đại-Viên, núi Quy-Sơn (1)
Ôi,
nghiệp ràng buộc, phải nhận thân này, nên chưa thoát khỏi
sự vướng bận về hình-hài. Thân này do bẩm-thụ di-thể
của cha mẹ và nhờ mọi duyên mà thành. Tuy thân này được
bốn đại (2) nâng đỡ, giữ gìn, nhưng, chúng thường chống
trái lẫn nhau. Vô thường, lão, bệnh không hẹn cùng ai. Buổi
sớm còn, buổi chiều mất, trong giây phút đã chuyển sang
đời khác. Ví như, giọt sương mùa xuân, hạt móc ban mai,
chốc lát thành không. Ví như, cây mọc trên bờ nước, giây
leo trên miệng giếng, đâu được dài lâu! Niệm niệm nhanh
chóng, trong một sát-na. Hơi thở chuyển, thành đời sau, sao
cứ an nhiên qua ngày một cách rỗng không như vậy?
Phụ
mẫu bất cung cam chỉ, lục thân cố dĩ khí ly. Bất năng an
quốc an quốc trị bang, gia-nghiệp đốn quyên kế tự. Miến
ly hương đảng, thế phát bẩm sư. Nội cần khắc niệm chi
công, ngoại hoằng bất tranh chi đức. Quýnh thoát trần thế,
ký kỳ xuất ly!
Đối
với cha mẹ không cung cấp được những vị ngon ngọt. Đối
với sáu bề thân (3) quyết phải bỏ lìa. Đối với đất
nước, không giúp giữ việc trị an. Đối với gia-nghiệp,
dứt bỏ việc kế-tự. Xa rời làng xóm, cắt tóc theo thầy.
Trong tâm, siêng năng về công phu khắc-phục vọng-niệm. Ngoài
cảnh, mở rộng về đức-tính không tranh đua. Thoát hẳn trần
thế, mong khỏi luân hồi!
Hà
nãi, tài đăng giới phẩm, tiện ngôn ngã thị Tỷ-Khưu. Đàn
việt sở tu, khiết dụng thường trụ. Bất giải thổn tư
lai xứ, vị ngôn pháp nhĩ hợp cung. Khiết liễu tụ đầu
huyên huyên, đãn thuyết nhân gian tạp thoại. Nhiên tắc, nhất
kỳ sấn lạc, bất tri lạc thị khổ nhân. Nẵng kiếp tuẫn
trần, vị thường phản tỉnh. Thời quang yểm một, tuế nguyệt
tha-đà. Thụ dụng ân phiền, thí lợi nung hậu. Động kinh
niên tải, bất nghĩ khí ly, tích tụ tư đa, bảo-trì huyễn-chất.
Đạo-sư hữu sắc, giới húc Tỷ-Khưu: tiến đạo nghiêm thân,
tam thường bất túc. Nhân đa ư thử, đam vị bất hưu, nhật
vãng nguyệt lai, táp nhiên bạch thủ. Hậu học vị văn chỉ
thú, ưng tu bác vấn tiên tri. Tương vị xuất gia, quý cầu
y thực!
Tại
sao, vừa lên giới-phẩm đã cho ta là bậc Tỷ-Khưu! Dùng của
đàn-việt, ăn của thường-trụ, không biết suy nghĩ những
phẩm vật ấy từ nơi nào đem lại, lại cho rằng, đó là
hợp pháp cúng-dường! Khi ăn uống xong, chụm đầu nói chuyện
huyên thuyên thuần nói những chuyện nhảm nhí của thế-gian.
Như thế, đeo đuổi một kỳ vui sướng, nhưng không biết
rằng, vui sướng ấy là nhân khổ cho mai sau. Nhiều kiếp hùa
theo trần-cảnh, nay chưa lúc nào tỉnh lại. Thời-quang (4)
chìm lặn, năm tháng lần lữa. Thụ dụng quá nhiều, thí lợi
đầy dẫy. Trải qua, năm này năm khác, không nghĩ đến việc
vứt bỏ, lại còn, chứa góp thêm nhiều, để bảo-trì cái
thể-chất giả dối này vậy! Đức Đạo-sư có chỉ thị,
răn dạy các vị Tỳ-Khưu rằng: “Tiến đạo, nghiêm thân,
ba việc thường dùng hàng ngày (5) không cần đầy đủ”!
Người đời, đối với vấn đề ấy, phần nhiều là ham
đắm không ngừng. Ngày qua tháng lại, vụt vậy, bạc đầu.
Các vị hậu-học chưa nghe được những chỉ-thú của Phật-pháp,
cần nên hỏi rộng nơi các bậc tiên-tri. Chả lẽ, cho rằng,
người đi xuất-gia, quý cầu việc ăn mặc ư!
Phật
tiên chế luật, khải sáng phát mông. Quỹ tắc, uy nghi tịnh
như băng tuyết. Chỉ, trì, tác, phạm, thúc liễm sơ tâm, vi
tế điều chương, cách chư ổi tệ. Tỳ-ni pháp tịch tằng
vị thao bồi, liễu nghĩa thượng thừa, khởi năng yên biệt.
Khả tích, nhất sinh không quá, hậu hối nan truy. Giáo lý vị
thường thố hoài, huyền đạo vô nhân khế ngộ.
Đầu
tiên, đức Phật chế ra luật, để mở tỏ cho con người
còn mờ tối. Khuôn phép, uy nghi, làm cho trong sạch như băng
tuyết. Những pháp: chỉ (ngưng), trì (giữ), tác (làm), và
phạm, để giữ gìn (bó buộc) cho kẻ sơ-tâm. Những điều,
những chương vi-tế, làm thay đổi những sự xấu xa, hèn
kém. Chưa từng tham-dự, gần gũi những nơi giảng pháp, giảng
luật, làm sao phân biệt được liễu nghĩa của kinh-giáo thượng-thừa?
Đáng tiếc, để cho một đời luống qua, sau ăn năn khó kịp!
Giáo-lý chưa từng để dạ, đạo nhiệm mầu, nhân đâu mà
khế-ngộ được!
Cập
chí niên cao lạp trưởng, không phúc cao tâm, bất khẳng thân
phụ lương bằng, duy tri cứ ngạo. Vị am pháp luật, tập
liễm toàn vô. Hoặc đại ngữ cao thanh, xuất ngôn vô độ.
Bất kính thượng, trung, hạ tọa, Bà-la-môn tụ hội vô thù.
Uyển bát tác thanh, thực tất tiên khởi. Khứ tựu quai dác,
tăng-thể toàn vô. Khởi tọa chung chư, động tha tâm niệm.
Bất tồn ta ta quỹ tắc, tiểu tiểu uy nghi. Tương hà thúc
liễm hậu côn, tân học vô nhân phỏng hiệu. Tài tương giác
sát, tiện ngôn ngã thị sơn tăng. Vị văn Phật giáo hành
trì, nhất hướng tình tồn thô tháo. Như tư tri kiến, cái
vị sở tâm dung nọa, thao thiết nhân tuần. Nhẫm nhiễm nhân
gian, toại thành sơ dã. Bất giác, lung chung lão hủ, xúc sự
diện tường. Hậu học tư tuân, vô ngôn tiếp dẫn. Túng hữu
đàm thuyết, bất thiệp điển chương. Hoặc bị khinh ngôn,
tiện trách hậu sinh vô lễ. Sân tâm phẫn khởi, ngôn ngữ
cai nhân!
Đến
lúc, tuổi cao, hạ nhiều, bụng rỗng, lòng cao, không chịu
gần gũi bạn lành, chỉ biết ngông nghênh, cao ngạo. Chưa
quen pháp-luật, không chút ràng buộc. Hoặc cao tiếng, nói
to, nói không chừng mực. Không kính bậc thượng, trung, hạ-tọa,
không khác gì những người Bà-la-môn tụ họp. Khi ăn, chén
bát chạm nhau thành tiếng. Ăn xong, dậy trước. Lui tới trái
phép, không còn chi là thể-thống của vị Tăng. Ngồi, dậy
lăng xăng, động tâm niệm người khác. Không còn chút síu
khuôn phép, không giữ chút síu uy-nghi, đem gì để thúc-liễm
cho kẻ hậu-côn và, kẻ tân-học nhân đâu mà bắt chước!
Vừa có người định đem lời thức tỉnh, liền nói ngay,
ta là bậc sơn-tăng. Chưa nghe biết được sự hành-trì của
Phật dạy, một chiều, giữ theo tính tình thô-tháo. Tri kiến
như thế, hẳn vì sự lười biếng lúc sơ tâm, ham muốn đủ
thứ, nhân đó dần tăng. Lẫn lữa theo đời, trở thành quê-kệch.
Không hay, già yếu lẫm-chẫm vụt đến, chạm tới việc như
quay mặt vào tường. Kẻ hậu-học thưa hỏi gì, không có
lời nào tiếp dẫn. Dù có nói bàn gì, không dính đến sách
vở. Hoặc bị những lời khinh chê, liền trách hậu-sinh vô
lễ. Tâm sân bốc lên, nói năng trùm người!
Nhất
triêu ngọa tật tại sàng, chúng khổ oanh triền bức bách.
Hiểu tịch tư thổn, tâm lý hồi hoàng. Tiền lộ mang mang,
vị tri hà vãng. Tòng tư thủy tri hối quá, lâm khát quật
tỉnh hề vi! Tự hận tảo bất dự tu, niên vãng đa chư quá
cữu. Lâm hành huy hoắc, phạ bố chương hoàng. Hộc xuyên
tước phi, thức tâm tùy nghiệp. Như nhân phụ trái, cường
giả tiên khiên. Tâm tự đa đoan, trọng xứ thiên trụy! Vô
thường sát quỷ, niệm niệm bất đình. Mệnh bất khả diên,
thời bất khả đãi. Nhân thiên tam hữu, ưng vị miễn chi.
Như thị thụ thân, phi luận kiếp số.
Một
mai, đau nằm trên giường, mọi khổ buộc ràng, bức bách.
Sớm chiều suy nghĩ, lòng dạ hồi hộp. Đường trước mờ
mịt, chưa biết đi đâu. Từ đây, mới biết hối lỗi, khát
rồi, đào giếng làm chi! Tự hận, sớm chẳng dự tu, tuổi
chiều, lắm điều tội lỗi! Khi sắp đi sang thế giới khác,
tâm hồn tan tác, lo sợ hãi hùng. Lụa thủng, sẻ bay, thức-tâm
theo nghiệp. Như người mang nợ, ai mạnh kéo trước. Tơ lòng
nhiều mối, chỗ nặng đổ xuống. Vô thường, con quỷ giết
người, niệm niệm không ngừng. Mệnh không thể dài, thời
không thể đợi. Trời hay người ở trong ba cõi hữu lậu
(6) này, chưa ai tránh khỏi việc ấy. Cứ như thế, nhận lấy
tấm thân khác, mà kiếp số không thể bàn tính được!
Cảm
thương thán nhã. Ai tai thiết tâm. Khởi khả giam ngôn, đệ
tương cảnh sách! Sở hận đồng sinh tượng quý, khứ Thánh
thời dao. Phật-pháp sinh sơ, nhân đa giải đãi! Lược thân
quản kiến, dĩ hiểu hậu lai. Nhược bất quyên căng, thành
nan luân hoán!
Cảm
thương, than thở. Thảm thay, tâm đau như cắt. Nỡ nào buộc
miệng, không nói ra những lời cảnh sách cùng nhau! Tủi hận,
cùng sinh vào thời tượng-quý, cách Phật đã xa. Phật-pháp
lưa thưa, người nhiều lười biếng! Bởi vậy, tôi xin trình
bày sự thấy biết sơ lược của tôi, như lấy ống dòm trời,
để răn tỉnh kẻ hậu-lai. Nếu ai không loại bỏ được
tính kiêu-căng, thực khó đem lại sự thay đổi cho nhau được!
Phù
xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục. Thiệu
long Phật-chủng, chấn nhiếp ma quân. Dụng báo tứ ân, bạt
tế tam hữu. Nhược bất như thử, lạm xí Tăng luân. Ngôn
hành hoang sơ, hư triêm tín thí. Tích niên hành xử, thốn bộ
bất di. Hoảng hốt nhất sinh, tương hà bằng thị. Huống
nãi, đường đường Tăng tướng, dung mạo khả quan. Giai thị
túc thực thiện căn, cảm tư dị báo. Tiện nghĩ, đoan nhiên
củng thủ, bất quý thốn âm. Sự nghiệp bất cần, công quả
vô nhân khắc tựu. Khởi khả nhất sinh không quá, ức diệc
lai nghiệp vô tỳ!
Ôi,
người xuất-gia, cất bước chân đi phải có ý-niệm siêu
việt phương sở, tâm hình khác tục. Nối tiếp Phật-chủng
một cách rạng rỡ, làm cho ma-quân rúng động, khuất phục.
Báo đáp bốn ơn (7) , cứu vớt ba cõi. Nếu không được như
thế. Chỉ là lạm dự hàng Tăng! Nói, làm hời hợt, dùng
của tín-thí một cách uổng phí! Chỗ hành-xử của những
năm xưa, một tấc, một bước không dời đổi. Một đời
hoảng hốt, lấy gì nương cậy! Huống là, đường đường
Tăng-tướng, dung mạo khả quan, đều do căn lành trồng trước,
cảm được quả báo tốt lạ ấy. Thế mà, chỉ nghĩ đến
việc ngồi thẳng, khoanh tay, không quý tấc bóng thời-gian.
Sự-nghiệp không siêng, công quả nhân đâu thành-tựu. Há
để một đời luống qua, cũng không ích gì cho nghiệp ngày
sau này vậy!
Từ
thân quyết chí phi truy, ý dục đẳng siêu hà sở? Hiểu tịch
tư thổn, khởi khả thiên diên quá thờí! Tâm kỳ Phật pháp
đống lương, dụng tác hậu lai quy kính. Thường dĩ như thử,
vị năng thiểu phận tương ứng. Xuất ngôn tu thiệp ư điển
chương, đàm thuyết nãi bàng ư kê cổ. Hình nghi đĩnh đặc,
ý khí cao nhàn. Viễn hành yếu giả lương bằng, sác sác thanh
ư nhĩ mục. Trụ chỉ tất tu trạch bạn, thời thời văn ư
vị văn. Cố vân: “Sinh ngã giả phụ mẫu, thành ngã giả
bằng hữu”. Thân phụ thiện giả, như vộ trung hành, tuy
bất thấp y, thời thời hữu nhuận. Hiệp tập ác giả, trưởng
ác tri kiến. Hiểu tịch tạo ác, tức mục giao báo, một hậu
trầm luân. Nhất thất nhân thân, vạn kiếp bất phục! Trung
ngôn nghịch nhĩ, khả bất minh tâm giả tai! Tiệm năng tảo
tâm dục đức, hối tích thao danh, uẩn tố tinh thần, huyên
hiêu chỉ tuyệt!
Quyết
chí, từ người thân, mặc áo thâm (hoại sắc), ý muốn vượt
lên nơi nào? Sớm chiều suy nghĩ, đừng để rỗi rãi qua thời!
Tâm mong làm rường cột cho Phật-pháp, tác-dụng làm quy-kính
cho hậu lai. Thường mong như thế, chưa hẳn đã có thể ứng-hợp
phần nhỏ nào trong ý nghĩa xuất-gia! Khi nói ra điều gì phải
hợp với sách vở. Khi bàn bạc điều gì, phải dựa vào chỗ
nghiên-cứu của người xưa. Là vị Tăng, hình nghi đĩnh-đặc,
ý khí cao nhàn! Đi xa cần nhờ bạn lành, luôn luôn làm cho
tai, mắt mình trong sạch. Ở đâu cũng cần chọn bạn, thời
thời được nghe những điều chưa nghe. Cho nên có chỗ nói
rằng: “Sinh ra ta là cha mẹ, tác thành ta là bầu bạn”.
Thân người thiện, như người đi trong sương, tuy không ướt
áo, nhưng dần dần có thấm. Gần gũi và tập nhiễm người
ác, tri kiến ác càng lớn. Sớm chiều tạo ác, bị quả báo
ngay trước mắt và, sau khi mất phải bị trầm luân. Một
khi mất thân này rồi. Muôn kiếp không trở lại được!
Nói
thẳng trái tai, há không ghi khắc vào tâm vậy thay! Sớm nên
rửa tâm, nuôi đức, mờ dấu vết, dấu tên tuổi, chứa góp
tinh thần, dứt tuyệt nhộn nhịp!
Như
dục tham thiền học đạo, đốn siêu phương tiện chi môn,
tâm khế huyền tân, nghiên cơ tinh yếu, quyết trạch thâm
áo, khải ngộ chân-nguyên, bác vấn tiên tri, thân cận thiện
hữu. Thử tông nan đắc kỳ diệu, thiết tu tử tế dụng
tâm. Khả trung đốn ngộ chính nhân, tiện thị xuất trần
giai tiệm. Thử tắc, phá tam giới, nhị thập ngũ hữu. Nội,
ngoại chư pháp, tận tri bất thực, tòng tâm biến khởi, tất
thị giả danh. Bất dụng tương tâm tấu bạc! Đãn tình bất
phụ vật, vật khởi ngại nhân. Nhậm tha pháp tính chu lưu,
mạc đoạn, mạc tục. Văn thanh kiến sắc, cái thị tầm thường;
giá biên, ná biên, ứng dụng bất khuyết. Như tư hành chỉ,
thực bất uổng phi pháp phục, diệc nãi thù báo tứ ân, bạt
tế tam hữu. Sinh sinh nhược năng bất thoái, Phật giai quyết
định khả kỳ. Vãng lai tam giới chi tân, xuất một vị tha
tác tắc. Thử chi nhất học, tối diệu tối huyền. Đãn biện
khẳng tâm, tất bất tương trám!
Như
muốn tham thiền, học đạo, sớm vượt qua cửa ngõ phương
tiện, tâm hợp bờ bến huyền-diệu, xét kỹ cơ duyên tinh-yếu,
quyết chọn lý sâu nhiệm để tỏ ngộ nguồn chân, cần phải
rộng hỏi bậc biết trước, gần gũi những bạn lành. Nếu
còn khó thấy được lý vi-diệu của tông chỉ này, cần phải
dụng tâm kỹ càng hơn. Khi trong ấy, khả dĩ, đốn ngộ được
chính-nhân, thì đó là thềm bậc xuất trần. Thế là, phá
được hai mươi lăm hữu (8) trong ba cõi. Và biết, các pháp
trong, ngoài, đều là không thực. Chúng biến khởi từ tâm,
đều là giả-danh. Biết vậy, không nên dụng tâm ghé đỗ
vào bến nào! Tình không dựa vào vật, vật há ngại người.
Pháp-tính tha hồ chu lưu, không dứt, không nối. Nghe tiếng,
thấy sắc là việc tầm thường, bên này bên kia, ứng-dụng
không thiếu! Hành chỉ như thế, thực không uổng mặc áo
pháp, lại còn, đền trả bốn ơn, cứu giúp ba cõi. Đời
đời nếu không thoái chuyển, ngôi Phật quyết đạt kỳ vọng.
Khi đó, là khách đi lại trong ba cõi, ẩn hiện làm khuôn phép
cho người. Đó làmột môn học rất diệu, rất huyền. Chỉ
cần quyết tâm, quyết không bị lừa gạt!
Nhược
hữu trung lưu chi sĩ, vị năng đốn siêu, thả ư giáo pháp
lưu tâm, ôn tầm bối điệp. Tinh sưu nghĩa lý, truyền xướng
phu dương. Tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức. Thời quang
diệc bất hư khí, tất tu dĩ thử phù trì. Trụ chỉ uy nghi,
tiện thị Tăng trung pháp-khí.
Khởi
bất kiến ỷ tùng chi cát, thượng tủng thiên tầm. Phụ thác
thắng nhân, phương năng quảng ích. Khẩn tu trai giới, mạc
mạn khuy du. Thế thế sinh sinh, thù diệu nhân quả.
Bất
khả đẳng nhàn quá nhật, ngột ngột độ thời. Khả tích
quang âm, bất cầu thăng tiến! Đồ tiêu thập phương tín
thí, diệc nãi cô phụ tứ ân. Tích lũy chuyển thâm, tâm trần
dị úng. Xúc đồ thành trệ, nhân sở khinh khi. Cố vân: “Bỉ
ký trượng phu ngã diệc nhĩ, bất ưng tự khinh khi thoái khuất”!
Nhược
bất như thử, đồ tại truy môn, nhẩm nhiễm nhất sinh, thù
vô sở ích!
Nếu
có vị nào còn thuộc vào bậc trung-lưu, chưa thể siêu việt
một cách nhanh chóng được, nên lưu tâm vào giáo pháp, ôn
tìm kinh sách. Tìm tòi nghĩa lý tinh-vi, truyền xướng Phật
pháp rộng rãi. Tiếp dẫn người sau, báo ơn đức Phật. Thời-quang
không nên bỏ trống, quyết nên dùng thời-gian ấy làm việc
phù trì chính-pháp. Khi trụ, khi chỉ giữ trọn uy-nghi, mới
là bậc pháp-khí trong Tăng-đoàn.
Các
vị, há chẳng thấy, giây sắn nương vào cây tùng, leo cao
đến nghìn tầm. Nương tựa vào thắng-nhân, mới có thể
đem lại sự lợi ích rộng lớn. Phải gấp tu trai giới, chớ
có kiêu-mạn, chớ có thiếu sót và vượt bậc. Đời đời
kiếp kiếp sẽ được những nhân quả thù-diệu.
Không
nên để rỗi rãi qua ngày, trơ trơ qua thời. Nên tiếc bóng
sáng, không cầu tiến lên sao! Tiêu uổng của tín thí mười
phương và cũng là cô phụ công ơn của bốn bậc có ơn. Lỗi
lầm chứa mãi thành sâu, lòng trần dễ bị ngăn lấp. Chạm
tới đường nào cũng thành ngưng đọng và bị người đời
khinh khi. Cổ-nhân nói: “Người ta là bậc trượng-phu, ta
cũng như thế, không nên tự khinh mà lùi khuất!” Nếu không
được như thế, tạm ở chốn truy-môn, lần lữa một đời,
thực không ích gì!
Phục
vọng, hưng quyết liệt chi chí, khai đặc đạt chi hoài. Cử
thổ khán tha thượng lưu, mạc thiện tùy ư dung bỉ. Kim sinh
tiện tu quyết đoán, tưởng liệu bất do biệt nhân. Tức
ý vong duyên, bất dữ chư trần tác đối, tâm không cảm tịch,
chỉ vị cửu trệ bất thông.
Thục
lãm tư văn, thời thời cảnh sách. Cưỡng tác chủ tể, mạc
tuẫn nhân tình. Nghiệp quả sở khiên, thành nan đào tỵ.
Thanh hòa hưởng thuận, hình trực ảnh đoan. Nhân quả lịch
nhiên, khởi vô ưu cụ.
Cố
kinh vân: “Giả sử bách thiên kiếp, sở tác nghiệp bất
vong. Nhân duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự thụ”.
Cố tri, tam giới hình phạt, oanh bạn sát nhân. Nỗ lực cần
tu, mạc không quá nhật!
Thậm
tri quá hoạn, phương nãi tương khuyến hành trì. Nguyện bách
kiếp thiên sinh, xứ xứ đồng vi pháp-lữ!
Cúi
mong các vị làm nổi bật chí khí quyết-liệt, mở rộng lòng
dạ hướng thượng. Làm việc gì phải xem bậc thượng-lưu,
đừng chuyên theo người tầm thường thô tục. Đời nay mình
phải quyết đoán, định liệu không do người khác. Dứt ý
quên duyên, không đối đãi với các cảnh trần. Tâm không
cảnh lặng, chỉ vì đọng lâu không thông.
Các
vị, xem kỹ văn này, luôn luôn cảnh sách. Gượng làm chủ-tể,
đừng theo tình người. Nghiệp quả kéo lôi, thực khó trốn
tránh. Tiếng hòa vang thuận, hình thẳng bóng ngay. Nhân quả
rõ ràng, há không lo sợ!
Cho
nên trong kinh có nói: “Giả sử, trăm nghìn kiếp, nghiệp
tạo ra không mất. Khi nhân duyên hội-ngộ, quả báo mình tự
chịu”. Nên biết, hình phạt trong ba cõi, ràng buộc, giết
người. Gắng sức siêng tu, đừng để qua ngày một cách rỗng
không vô ích!
Biết
rõ lỗi lầm, nên mới khuyên nhau hành trì. Nguyện trăm kiếp
nghìn đời, nơi nơi cùng làm bạn pháp!
Nãi
vi minh viết:
Huyễn
thân mộng trạch,
Không
trung vật sắc.
Tiền
tế vô cùng,
Hậu
tế ninh khắc.
Xuất
thử một bỉ,
Thăng
trầm bì cực.
Vị
miễn tam luân,
Hà
thời hưu tức.
Tham
luyến thế gian,
Ấm
duyên thành chất.
Tòng
sinh chí lão,
Nhất
vô sở đắc.
Căn
bản vô minh,
Nhân
tư bị hoặc.
Quang
âm khả tích,
Sát
na bất trắc.
Kim
sinh không quá,
Lai
thế chất tắc.
Tòng
mê chí mê,
Giai
nhân lục tặc.
Lục
đạo vãng hoàn,
Tam
giới bồ bặc.
Tảo
phỏng minh sư,
Thân
cận cao đức.
Quyết
trạch thân tâm,
Khử
kỳ kinh cức.
Thế
tự phù hư,
Chúng
duyên khởi bức.
Nghiên
cùng pháp lý,
Dĩ
ngộ vi tắc.
Tâm
cảnh câu quyên,
Mạc
ký mạc ức.
Lục
căn di nhiên,
Hành
trụ tịch mặc.
Nhất
tâm bất sinh,
Vạn
pháp câu tức.
Liền
làm bài minh rằng:
Thân
huyễn, nhà mộng,
Vật
sắc giữa không.
Thuở
trước không cùng,
Thuở
sau sao cản.
Sinh
đây chết kia,
Lên
xuống nhọc mệt.
Chưa
khỏi ba vòng (9),
Thời
nào ngừng nghỉ?
Tham
luyến thế gian,
Ấm,
duyên thành chất.
Từ
sinh đến già,
Một
chút không được.
Căn
bản vô minh,
Do
đây lầm lạc.
Quang
âm đáng tiếc,
Sát
na (10) không lường.
Đời
nay qua không,
Đời
sau ngăn lấp.
Từ
mê đến mê,
Đều
do sáu giặc (11) .
Sáu
đạo (12) đi về,
Ba
cõi lê lết.
Sớm
theo minh-sư,
Gần
bậc cao đức.
Quyết
chọn thân tâm,
Vứt
bỏ gai góc.
Đời
tự phù hư (13) ,
Duyên
sao ép được.
Xét
cùng pháp-lý,
Ngộ
làm quy tắc.
Tâm
cảnh đều quên,
Không
ghi, không nhớ.
Sáu
căn thảnh thơi,
Đi,
đứng vẳng lặng.
Nhất
tâm không sinh,
Muôn
pháp đều dứt.
Ghi
chú: Trích trong Truy Môn Cảnh Huấn do Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu
dịch.
Chú
thích:
(1)
Đại-Viên Thiền-Sư ở núi Quy-Sơn, tên là Linh-Hựu, sinh ở
Trường-Khê, Phúc-Châu. Ngài xuất gia năm 15 tuổi, nghiên-cứu
giáo-lý tại chùa Hưng-Long, Hàng-Châu. Năm 25 tuổi, ngài tham
học nơi ngài Bách-Trượng. Sau về dựng chùa tại núi Quy-Sơn.
Ngài mất năm 83 tuổi, nhà vua sắc phong cho tên thụy là Đại-Viên
Thiền-Sư.
(2)
Bốn đại: Đất, nước, lửa, gió.
(3)
6 bề thân tức là cha, mẹ, anh, em, vợ, con…
(4)
Thời quang là chỉ cho ánh sáng sủa thời gian.
(5)
Ba việc thường dùng tức là cơm ăn, áo mặc, nơi ở.
(6)
Ba cõi hữu lậu (tam hữu) tức là dục hữu, sắc hữu và
vô sắc hữu.
(7)
Bốn ơn: ơn cha mẹ, sư trưởng, ơn quốc gia, ơn xã hội và
ơn Tam Bảo.
(8)
25 hữu tức là 25 cảnh hữu tình. “Hữu” nghĩa là có nhân,
có quả. Nơi ấy chúnh sinh sinh ra do quả báo của mình. 25
hữu trong ba cõi (dục giới, sắc giới, vô sắc giới): địa
ngục, ngã quỷ, súc sinh, a tu la, Đông thắng thần châu, Tây
ngưu hóa châu, Bắc câu lư châu, Nam thiệm bộ châu, Tứ thiên
vương thiên, Đao lợi thiên, Diệm ma thiên, Đâu suất thiên,
Hóa lạc thiên, Tha hóa tự tại thiên, Sơ thiền thiên, Đại
phạm thiên, Nhị thiền thiên, Tam thiền thiên, Tứ thiền thiên,
Vô tưởng thiên, Tịnh cư (A na hàm) thiên, Không vô biên xứ,
Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng
xứ.
(9)
Ba vòng (tam luân) tức là vòng quanh trong ba cõi: dục giới
sắc giới, vô sắc giới. Tam luân còn chỉ cho hoặc, nghiệp,
khổ.
(10)
Sát na: chỉ cho thời gian rất nhanh.
(11)
Sáu giặc (lục tặc) chỉ cho 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý) dính líu với 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp) cướp đoạt mất những cống đức pháp tài.
(12)
Sáu đạo (lục đạo): Trời, người, a tu la, địa ngục, ngã
quỷ, súc sinh.
(13)
Đời tự phù hư: có nghĩa là đời đã có tính chất trôi
nổi, giả dối không thực.
WP:
Chân Thiền