-Hiện-thực
chủ-nghĩa
-Bình-đẳng
chủ-nghĩa
-Tiến-hóa
chủ-nghĩa
-Tự-do
chủ-nghĩa
Trần
thuyết
...
Đi tìm hiểu, để đạt tới mục-đích của sự tìm hiểu,
chắc các bạn muốn tìm hiểu, đã sẵn có bản-lĩnh bền-vững,
năng-lực dồi dào, tâm-hồn chịu đựng, thực-nghiệm sâu-dầy
và giác-quan xa rộng trên sự thực. – Vì, sự thực là sự
thực, con người là con người. Con người không đánh giá
sự thực, tất nhiên sự thực không thực.
Nhìn
sang Phật-Pháp. Phật-Pháp, bản-lai là bản-thân pháp-giới
không sinh, diệt, không trước, sau, không nhơ, sạch... Nên
các bạn muốn tìm hiểu nó, các bạn phải có một minh-thức
nào? – Hẳn các bạn đồng quan-niệm: không nhìn vào hình-tướng
sai biệt của nó, do chủ-quan, tư-kiến và hạn lượng của
cá-nhân, của phương sở, mà các bạn tìm hiểu nó trong tinh-thần
đại bình đẳng, phóng tầm mắt trí-quang, giác chiếu cùng
khắp và dơ hai tay ôm vũ trụ vào lòng.
Loay-hoay
trong địa-hạt tôn-giáo, triết-học, khoa-học, chủ-nghĩa,
chính-trị, quân-sự... để tìm hiểu và đem lại một giải
pháp CHÂN, THIỆN, MỸ cho xã-hội con người, thời hình như
bị ngừng trệ bởi thực-trạng của thế-giới nhân-sinh hiện
tại.
Muốn
sáng lại ánh sáng sẵn có, muốn sống lại lẽ sống như
thực, Thái-Hư Đại-Sư (Trung-quốc) thâu tóm tinh-hoa Phật-học
thành cuốn sách nhỏ nầy, giúp thêm vào sự thành- công của
các bạn, nếu các bạn muốn thành-công.
Tôi
vinh-hạnh được gặp các bạn trên con đường lý-tưởng.
Viết
tại Sài-thành, đầu Thu năm Ất-Mùi (1955)
Thích-Tâm-Châu
PHẬT
HỌC CHÍNH CƯƠNG
“Hễ
có tâm-linh hiểu biết đều có
khả-năng-tính
thành Phật”(1)
Bình
thường người ta hay nói đến chữ Phật, là nói tắt hai
chữ PHẬT-ĐÀ của tiếng Phạm, mà nó có ý-nghĩa là GIÁC
GIẢ (Người giác ngộ), cũng như người có học-vấn ở đời,
người ta thường gọi là Học-giả.
Sở
dĩ có sự hiểu biết rốt-ráo, cùng khắp mà gọi là GIÁC-GIẢ,
là vì người giác- ngộ là người biểu hiện được nhân-cách
tối cao của nhân-loại – con người là tiểu vũ-trụ cùng
dung-hợp một mối với đại vũ-trụ, lấy toàn vũ-trụ làm
tự-thể, là giá-trị tối cao của nhân-sinh và đạt được
mục-đích ấy là ý nghĩa tối cao của nhân-sinh; vì vậy,
thế-giới nhân-loại không thể không tìm tòi để thực-hiện
được nhân-cách tối cao -, nhân-loại đạt tới chỗ giác-ngộ
tối cao ấy là PHẬT.
PHẬT
là bậc mô-phạm tối cao của nhân-loại, chỉ dẫn cho chúng
ta phương pháp làm người, phương-pháp tiến đến địa vị
siêu nhân và đến chỗ giác ngộ hoàn toàn như thế nào. Do
đó, tin PHẬT không phải là mê-tín, mà là triệt-để phá
tan mê muội, là xu- hướng đến chỗ giác-ngộ hoàn toàn.
Vả
chăng, đức PHẬT chưa từng nói: “Chỉ có ta là PHẬT, mọi
người nên tín-kính, ngưỡng-vọng ta” trái lại, Ngài thường
nói: “Hễ có tâm-linh hiểu-biết, đều có khả-năng-tính
thành Phật.”
Đức
Phật chủ-trương BÌNH-ĐẲNG, là chủ-trương ai ai cũng đều
khả dĩ thành Phật, tức là mục-đích Phật học vậy.
- Có
người nói: “Phật-pháp không phải là tôn-giáo, không phải
là triết-học”. Thực thế, đứng trên lập-trường căn-bản
mà nói, Phật-pháp chính không phải là tôn-giáo cũng không
phải là triết-học, Phật-pháp tuy có thể bao-quát cả tôn-giáo
lẫn triết-học, nhưng nó vượt trên hết thảy tôn-giáo và
triết-học. Phật-pháp không phải như tôn-giáo khác, đã là
người tín-ngưỡng không thể bình-đẳng với bậc được
tín-ngưỡng. Vì thế, Phật-giáo chỉ gọi chung là Phật-pháp,
chứ không phải là tôn-giáo cũng không phải là triết-học.
NGUYÊN-LÝ
HIỆN-THỰC
CHỦ-NGHĨA
(tức
Pháp nhĩ như thị: sự sự, vật vật như thế)
“Hết
thảy sự thực tồn tại, hình bóng
thuở
xa xưa thế nào đều rõ ràng thế ấy,
và
sự thật thế nào lại hoàn như thế”
Nguyên-lý
Phật-học dùng một thứ danh-từ để biểu-thị cho nó là
HIỆN-THỰC CHỦ-NGHĨA.
Hết
thảy sự sự, vật vật tồn-tại trong vũ-trụ, đều có thể
gọi là “HIỆN” và sự thực của hết thảy sự tồn-tại
ấy gọi là “HIỆN-THỰC”.
Y vào
đạo-lý Phật-học mà giảng, HIỆN-THỰC CHỦ-NGHĨA là hết
thảy sự thực tồn-tại, hình bóng thuở xa xưa thế nào đều
rõ ràng thế ấy và sự thực thế nào lại hoàn như thế.
Ví như bình hoa là bình hoa, không thể gọi là cái chi khác
được.
- Dưới
tiêu đề HIỆN-THỰC CHỦ-NGHĨA tại sao lại ghi câu: “PHÁP
NHĨ NHƯ THỊ” (sự sự, vật vật như thế).
- Đức
PHẬT đối với vấn-đề vũ-trụ NGÀI đã giác-ngộ hoàn
toàn , NGÀI đem toàn vũ-trụ giác-chiếu ra bằng cách rành-rẽ,
cho nên Khế kinh mới nói: “Thấy suốt được thực tướng
của mọi pháp” là thấy suốt được cái tướng mạo từ
thuở xa xưa (bản lai diện mục) của toàn vũ-trụ. Cái tướng
mạo từ thuở xa xưa của toàn vũ-trụ ấy trong Phật- pháp
gọi là “PHÁP NHĨ NHƯ THỊ”; là nói hết thảy sự thực
tồn-tại trong toàn vũ-trụ từ thuở xa xưa tới nay như thế.
- Lại
duyên cớ gì, hiện- thực chủ-nghĩa trong Phật-học có thể
nói là chủ-nghĩa VÔ CHỦ-NGHĨA.
- Tất
cả chủ-nghĩa trên thế-gian đều là chủ-quan và tư-kiến
của cá-nhân tham gia, chẳng phải là công-bình, vô tư và bản-lai
như thị (xưa, nay như thế) của toàn vũ-trụ; hiện-thực
chủ-nghĩa của Phật là chủ-nghĩa chân-thực của toàn vũ-trụ
từ thuở xưa tới nay như thế, tức là không phải chủ-quan
cũng không phải ý kiến riêng, nên gọi là chủ-nghĩa VÔ CHỦ-NGHĨA.
Tóm
lại, Đức PHẬT tạm dùng ngôn ngữ, văn tự khéo léo, nhiệm
mầu nói ra sự hiện thực từ thuở xa xưa tới nay như thế,
gọi là hiện-thực chủ-nghĩa, tức là căn cứ vào giáo-nghĩa
PHẬT-ĐÀ, để thuyết-minh chân-tướng hết thảy sự thực
tồn-tại trong vũ-trụ,
Trên
đây đã thuyết-minh đầu mối, cái tên của HIỆN-THỰC CHỦ-NGHĨA,
nay xin phân-tích và giảng-giải thêm như sau:
1)
HIỆN-HÀNH THỰC SỰ
“Hết
thảy sự vật hiển hiện, sinh, diệt,
nhô,
lặn, lưu-hành, biến-hóa như dòng
nước
chảy”
Hiện
là hiển hiện là cái có thực, trong hiện tại -. Như có thế
giới hiện tại, có nhân loại hiện tại, có vạn vật hiện
tại... Sự vật hiện có nơi trước mắt chúng ta, không lúc
nào nó không ở trong sự biến hóa, lưu-hành, nghĩa là nó
không phải thứ cố định. Hết thảy sự sự, vật vật trong
vũ-trụ, lớn như thế-giới, nhỏ như vi-trần đều nằm trong
sự biến-hóa, lưu-hành ấy nên gọi là HIỆN-HÀNH THỰC SỰ.
Như: một đời con người, năm, tháng, ngày nào mới sinh, năm,
tháng ngày nào đã chết; các thứ đồ vật, giờ phút nào
mới thành, giờ phút nào đã hỏng; quả địa cầu, bao năm
thành hình, bao năm sẽ tan hoại và ngay đến vầng thái dương
cũng có khi thành, lại cũng có khi hoại, cho nên thế sự đều
có hạn lượng nhất định trong sự thành, hoại, sinh, tử.
Vậy,
thấy được hình tướng của sự, vật như thế chưa phải
là thấy được chân-tướng của nó, bởi vì muôn sư, muôn
vật trong vũ-trụ không những nó biến-hóa từng giờ, từng
phút mà thôi. Hết thảy sự vật hiển hiện, sinh, diệt, nhô,
lặn, lưu-hành, biến-hóa như dòng nước nhảy ròng. Dòng biến-hóa
ấy có thể gọi là dòng sinh-mệnh. Vì, hết thảy sự thực
tồn tại trong vũ trụ, lớn, nhỏ dung thông với nhau, trước,
sau, duyên sinh với nhau, cho đến tích tắc sinh diệt đều
nối tiếp với nhau.
Nghiên-cứu
theo khoa-học cận đại, lý-thuyết, lưu-hành, biến-hóa ấy,
không những không trái với khoa-học, lại chứng minh là lý-thuyết
rất chân thực.
Khoa-học
phân-tích sự vật làm phần-tử, nguyên-tử, điện-tử...
Điện-tử có tính nóng, lạnh (âm, dương) là từng giờ, từng
phút đã có sự biến-hóa, do đó, thấy rõ muôn sự, muôn
vật lưu-hành không ngừng.
- Khoa-học
đối với Phật-học tuy có chỗ chứng-minh, nhưng khoa-học
căn cứ vào sự cảm-giác của ngũ quan; mà Phật-học lại
cho là giác-tri bằng trực-tiếp - . Thế là thấy chân tướng
của vũ-trụ, tức là thấy cái thực sự hiện hành trong vũ-trụ
vậy.
Hơn
nữa sinh-mệnh của nhân-loại, trải qua từ vô thỉ (không
lúc bắt đầu) không phải năm nào sinh, rồi sau mới có vì
một đời con người chỉ là một đoạn của dòng sinh mệnh
hiện ra, chứ chẳng phải là toàn thể, ví như một khúc sông
trong con sông dài dặc. Một lần sống, một lần chết chẳng
qua là một thứ giả tướng biến-hóa của dòng sinh mệnh.
Hết thảy sự vật đều như thế, nghĩa là nó biến-hóa từng
giờ từng phút mà lại nối tiếp nhau mãi mãi không dứt.
Hiểu rõ đạo lý ấy là khả dĩ phá trừ được rất nhiều
mê- hoặc.
- Người
ta thường hiểu rằng: nhân-sinh là không hư, không có ý nghĩa,
không có giá trị, ngoài việc ăn uống, trai gái... ra, việc
gì cũng đều là không cả. Đøó là phần kết- quả của
sự mê-hoặc, phương tự-sát của tư-tưởng cao xa nhầm lẫn,
họ cho mục-đích của nhân-sinh chỉ được sự thỏa-mãn
về cơm ăn, áo mặc, nơi ở... là đủ, nên họ đã phó thác
tất cả tinh thần của họ vào việc tìm tòi sinh-hoạt cho
sự hưởng thụ mỹ-mãn. Bởi thế người này kẻ kia tranh
nhau, khiến thế-giới nhiễu-loạn không ngừng, sự tình khốn
khổ của tranh đấu trông tới đâu cũng đều như thế, kết-quả
dẫn thế-giới đến thời kiếp rất bi- thảm. Thế là, đối
với chân-tướng lưu-hành, biến-hóa của vũ-trụ không hiểu
được minh bạch, là không hiểu được đầu mối của HIỆN
HÀNH THỰC SỰ, thời chưa phải là người giác-ngộ.
- Có
những người suy xét rằng: trên thế giới này nhất định
có một bậc chủ-tể, sáng-tạo – Sáng-tạo và làm chủ-tể
muôn vật trong thế-giới, do đó, sinh ra sự mê-tín của tôn-giáo,
làm ngăn che cái tính khả-năng giác-ngộ của thuở xa xưa,
không thể hiển thị ra được.
VÔ
THỈ, VÔ CHUNG, vòng quanh không đầu, là cái chân-tướng sẵn
có của sự sự, vật vật. Người ta không rõ đạo-lý ấy,
chỉ nhận thấy một đoạn đời của dòng sinh- mệnh, cho
nên mới gọi ra cái tên là “tạo-vật-chủ”.
- Thử
hỏi, tạo-vật-chủ là một vật thế nào? Giả như không
phải là một vật, chắc không có tự thân, thời lấy chi
mà có thể tạo vật khác. - Và, nếu là một vật, thời ai
tạo ra tạo-vật-chủ ấy? Như thế thuyết “tạo-vật-chủ”
không thể thành lập được.
Vậy,
cần biết: muôn vật trong thế-giới, đều không phải dùng
đến vật nào khác tạo ra nó, nó do sự sinh diệt, tiếp nối
nhau, lưu-hành chẳng dứt từ thuở xa xưa như thế.
Nếu
hiểu rõ chân-tướng của nhân-sinh, thế-giới là VÔ THỈ,
VÔ CHUNG, sinh, diệt, thành, hoại; là sự lưu-hành không ngừng,
vòng quanh chẳng dứt, thời có thể đem tâm lượng phóng đại
đến vô lượng, vô biên, tâm phóng đại tức là không còn
chấp trước, là khế-hợp với chân-tướng của-vũ trụ.
Hiện-hành
thực-sự là vô thỉ, vô chung, thời nhân-sinh, thế-giới cũng
đều như thế, đều thực hiện cái sinh-mệnh, vô thỉ, vô
chung. Hết thảy hành vi quá-khứ là nhân, hiện-tại là quả,
hết thảy hành-vi hiện-tại lại phát-sinh cái kết-quả tương-lai,
nhân quả trùng trùng, nối tiếp không hết, cho nên kiếp nhân-sinh
mới có giá trị bất hủ.
Với
những đạo lý ấy, không những học Phật cốt biết đạo
thành Phật, mà cốt biết làm người có nhân cách, có đạo-đức,
đều nên hiểu nó bằng cách rõ-ràng, không thời nó sẽ sinh
ra những phiền não. Chiếu theo đạo-lý Đại-thừa mà nói,
trước nhất cần làm một con người hoàn thiện, nhiên hậu
tiến đến bậc Bồ-tát siêu-nhân và sẽ tiến đến bậc
siêu- siêu-nhân là Phật.
Đối
với vấn-đề hiện-hành thực-sự, người mong tưởng làm
một người hoàn thiện, trước tiên không phải không hiểu
biết rõ-ràng; hiểu biết rõ-ràng lẽ Vô thỉ, Vô chung, là
biết hành-vi của nhân-sinh vĩnh-cửu, nối tiếp bất diệt;
làm hành-vi gì đều có ý nghĩa bất hủ và giá trị bất
hủ.
2)
HIỆN-SỰ THỰC-TÍNH
“Muôn
sự, muôn vật đều do nhiều
nhân
duyên tạo thành, không có tính
cố-định
và không có tính độc-lập”
Hiện-sự
tức là sự-thực của hiện-hành,
Khảo-sát
tỷ-mỷ: một con người hoặc một cái nhà đều có cá-thể
của nó, kỳ thực cá-thể ấy, không có tính cố-định cũng
không có tính độc-lập; song, giảng theo Phật- pháp, thì đó
là “Nhân-duyên-sinh”. Như: phấn viết là do đất, (thứ
đất dùng làm phấn) nước, nhân công, khuôn, mọi duyên hợp
lại mới thành; như thành một thân cây là do hạt giống,
nước, đất, ánh mặt trời... nghĩa là nhân phải có duyên
mới được. Lại như nhân-sinh là do dòng sinh-mệnh, thêm cơ
duyên hòa hợp của cha mẹ và quan-hệ đến đất, nước,
ánh sáng mặt trời, không-khí v.v... Nói rộng hơn nữa, sự
thành-công của thế-giới cũng là do nhân-duyên mà có.
- Nhân
là bốn đại(2) chủng tử(3) duyên là hết thảy nghiệp lực(4)
của chúng sinh - . Vì thế, suy luận ra, muôn sự muôn vật,
đều do rất nhiều nhân-duyên tạo thành, không có tính cố-định
và không có tính độc-lập.
Như
trên đã nói sự thành-công của con người là do phần tụ
họp của hết thảy... trong vũ-trụ, cho nên con người là
xã-hội-tính và vũ-trụ-tính con người thành-công là vũ-trụ
thành-công.
Cổ
nhân nói: “Một lời nói làm hưng thịnh cho nước, một lời
nói làm mất nước”. Vì mọi hành-động của con người
đều có sự quan-hệ, ràng buộc và ảnh hưởng lẫn nhau.
Sự
thành-công của thế-giới, đều do nghiệp lực của nhân-loại,
là một chân-lý xác-thực, không huyễn tưởng. - Một địa-phương
có đạo-đức, có phúc-khí, tự nhiên khả dĩ tạo thành một
địa-phương tốt, trái lại, chỉ tạo thành một địa-phương
xấu mà thôi. Vậy nên con người thuộc xã-hội-tính, vũ-trụ-tính,
chứ không có một cái “TA” thực thể nào – Tự-ngã-tính
(tính của tự cái TA riêng biệt).
Bậc
Đại-thánh, Đại-hiền phát-huy lực-lượng, nhằm vào sự
quan-hệ của toàn xã- hội, phổ biến cho toàn nhân-loại,
toàn thế-giới hiểu rõ con người có thể chuyển di được
hết thảy; nên hết thảy hành-động của con người đối
với xã-hội không thể không xét nét cẩn thận. Hành-vi, nghiệp-lực
của con người không những ảnh hưởng đến nhân-loại, lại
còn ảnh hưởng đến cả thế-giới. (- thế-giới thành là
do nghiệp-lực làm duyên).
Con
người không có ngã tính, chỉ là xã hội tính, nên một lời
nói, một việc làm của con người có thể ảnh hưởng đến
toàn xã-hội, toàn thế-giới. Đã thế, những người hiểu
con người là không có tự-ngã-tính, cần y vào đạo lý ấy
mà làm việc, thời tự có tính công-bình, tức thành tính
đại công vô ngã (tính rất công-bình không có bản ngã riêng
biệt); đại công vô ngã là thực-tính của vũ-trụ.
Người
bình thường nhận-định có tự ngã, tự lợi đấu tranh không
ngừng, đến nỗi thế-giới, nhân-sinh không ngày nào yên ổn.
Kỳ thực, nhân-loại chỉ nên hỗ trợ, không nên đấu tranh.
Tôn-Trung-Sơn giảng về “TAM DÂN CHỦ-NGHĨA” cũng có giảng
tới chỗ đó. Ông nói: “Đấu-tranh là bệnh thái của xã-hội,
thái-độ chân-chính của nhân-sinh phải là hỗ tương điều
hòa”.
Rõ-ràng
chân-thực-tính của hiện-thực là xã-hội-tính, vũ-trụ-tính,
là đại công vô ngã, do đó, phát tâm làm việc, tự nhiên
là hòa bình, an lạc. Cái ấy không miễn cưỡng tạo-thành,
mà chỉ là cái tính chân-thực của muôn sự, muôn vật trong
vũ-trụ từ thuở xa xưa như thế.
Nguyên-lý
Phật-học ở chỗ “Mọi duyên họp thành, bản không vô ngã”.
Hiểu rõ chân-tướng của nhân-sinh vũ-trụ như thế thời
về phương-diện trí-thức sẽ thêm trí tuệ, về phương-diện
hành-vi, sẽ là phương-pháp dẫn dắt con người đến chỗ
làm người bằng cách thỏa đáng vậy.
3)
HIỆN-LƯỢNG THỰC-TƯỚNG
“Thực-tướng
của hiện-lượng là chân-
thực-tướng
của nhân-sinh, vũ-trụ, vạn
hữu,
tức là cảnh giới vô phân-biệt trí
tối
cao giác ngộ của Phật-Đà”
LƯỢNG
là suy-xét, đo-lường. Năng-lượng là tri-thức; dùng tri-thức
để đo lường vũ-trụ, vạn-vật, nên vũ-trụ vạn-vật là
bị lượng.
Có
hai thứ:
1)
Hiện-lượng.
2)
Tỷ-lượng.
Hiện-lượng
là trí-thức bằng cách trực-tiếp, như trông thấy nhan sắc,
nghe thấy giọng tiếng là hiện-tại hiển-hiện.
Tỷ-lượng
là y vào trực-tiếp giác-tri mà suy-xét mới biết, như trông
thấy trà, biết là thứ để uống khỏi khát.
Vậy
“Lượng” là sự trí-thức chân-chính, xác-đáng không một
chút sai lầm. HIỆN-LƯỢNG là trực-tiếp giác-tri trên sự
thực, TỶ-LƯỢNG là sự suy biết trên lý- luận. Còn một
thứ đạc lượng sai lầm, thường gọi là PHI-LƯỢNG, là
cái tri-thức không chân-chính, xác-đáng.
Tri-thức
y cứ vào khoa-học là tri-thức bình thường, rất nhiều sự
sai lầm. HIỆN- LƯỢNG của thế-gian là kinh-nghiệm từng bộ-phận
lẻ tẻ, không phải là phổ-biến và hoàn-toàn, nên sự thiếu
sót của nó phải do TỶ-LƯỢNG bổ-túc. TỶ-LƯỢNG có tính-
cách phổ-biến, nhưng lại thiếu sót về tính-cách xác-thực.
Do hai sự thiếu sót ấy, nên thời thường hay phát-sinh sự
sai lầm. Ví như chính trị đời xưa, là thích-dụng với hoàn-
cảnh đương thời; người đương thời tuy nhiên nhận là
thiên-kinh, địa-nghĩa. (đạo thường của trời, lẽ phải
của đất xưa nay không bao giờ thay đổi được), lại không
thích-dụng với hiện-tại. Cho nên biết rằng: TỶ-LƯỢNG
xa cách tính xác-thực, thời sẽ sinh ra lưu- tệ và do sự
sai lầm mà sinh ra đau khổ.
HIỆN-LƯỢNG
chân-chính là trực-tiếp tri-thức, hoàn toàn và phổ-biến,
không cần suy-luận cũng đủ để bồi-bổ vào sự thiếu
sót của tri-thức bình thường. Chuẩn-nhận thực-tướng HIỆN-LƯỢNG,
là chân-thực-tướng của nhân-sinh vũ-trụ vạn-hữu, tức
là cảnh-giới vô-phân-biệt trí tối cao giác-ngộ của PHẬT-ĐÀ.
Về
tri-thức tương-đối là tri-thức có sự phân biệt, không
được hoàn toàn, không được phổ-biến mà lại là trong
vòng tương-đối, ví như sự tri-thức về mầu đen và mầu
trắng chẳng hạn. Phật-học với sự cần-yếu thành-công
phải ở nơi “trí-tuệ”, nghĩa là cần đem cái tri-thức
tương-đối, không hoàn toàn ấy vượt lên thành cái tri-thức
tương-đối, không hoàn toàn ấy vượt lên thành cái tri-thức
hoàn toàn và phổ-biến – Nhất-thiết-trí (hiểu biết tất
cả sự sự, vật vật). Thành-công trong trí-tuệ ấy, tức
là mục-đích của Phật- pháp vậy.
Học
Phật là phương-pháp để đạt được trí-tuệ hoàn toàn.
Đạt được trí-tuệ hoàn toàn ấy, là thân chứng được
thực-tướng của vũ-trụ nhân-sinh, có thể biết được sự
phát- huy của tính giác-ngộ hoàn toàn. Ấy là lý-do học Phật.
Nhân-sinh
đau khổ đều do sự sai-lầm không hiểu rõ cái HIỆN-LƯỢNG
chân- chính mà ra, nếu chứng được “NHẤT-THIẾT-TRÍ”
thời hết thảy mê-vọng phải lui, hết thảy đau-khổ đều
không. Song, đến được Phật-trí ấy phải làm thế nào mới
được, tất nhiên phải dầy công-phu tu-trì. Vậy, hai lớp
trên (hiện-lượng, tỷ-lượng) có thể dùng lý luận giải-thích,
nhưng lớp thứ ba (chứng Nhất-thiết-trí) cần phải y theo
phương-pháp thực-hành mới được. Ai ai cũng có thể thành,
cần nhất phải có phương-pháp thích-đáng. Tu-tích thành-công,
đạt tới mục-đích thành Phật, là chỗ tinh-yếu của Phật-học.
4)
HIỆN-BIẾN THỰC-LỰC
“Muôn
sự, muôn vật đều biến
hóa.
Lực-lượng biến-hóa chân-
thực
là tâm của con người và
tâm
của tất cả chúng-sinh”
Hết
thảy sự sự vật vật, hiển-nhiên, tồn-tại trong toàn vũ
trụ, đều là tùy thời biến-hóa, mà trong sự biến-hóa ấy
có một thứ lực lượng”NĂNG- BIẾN” đó là HIỆN-BIẾN
THỰC-LỰC.
Người
bình thường cho NĂNG-BIẾN-LỰC là “Thần”, hoặc “Tạo-vật-chủ”,
nhưng, y theo Phật-học mà nói, thời những sự đó đều sai
lầm.
Lực-lượng
năng-biến theo như kinh Phật nói: “TAM GIỚI DUY TÂM, VẠN
PHÁP DUY THỨC” (Ba cõi(5) chỉ do tâm, muôn sự, muôn vật,
chỉ do thức), thời là lực-lượng của TÂM THỨC.
Muôn
sự, muôn vật đều biến-hóa. Lực-lượng biến-hóa chân-thực
là tâm của con người và tâm của chúng-sinh. Ai ai cũng có
tâm, nên ai ai cũng có cái năng-biến-hóa nơi tự-kỷ, đều
được tự-do, tự-chủ, song chỉ cần tự-kỷ đối với chân-tướng
vũ-trụ có sự nhận thức tương đương, lập chí, gắng làm
là sẽ đạt tới mục-đích. Bậc đại-thánh, đại- hiền,
anh-hùng, hào-kiệt cho đến người phát đại-nguyện thành
Phật, đều có thể tự-do, tự-tại, nhưng chẳng qua chỉ
hiểu biết đến địa-vị nào thôi. Như Duy-vật sử-quan chỉ
nhìn thấy một phương-diện đạo-lý duy-vật chứ chẳng biết
nó là duyên-cớ của dục-vọng tri- thức tiến-bộ, phát-kiến,
phát-minh dần lên.
Do
tâm-thức biến-hóa, mà hành-vi của nhân-sinh biến-hóa, dĩ
chí phương-pháp sinh sản cũng từ đó biến-hóa, cho đến
tâm-lý dân-tộc, tri-thức nhân-loại, đều là nguyên- nhân
của thế-giới chuyển-biến. Cho nên có sự, vật, đều là
theo tâm-lý tri-thức mà biến-hóa.
Xa
hơn một chút, nhà Thiên-văn-học khảo-cứu về toàn vũ-trụ
cũng xác-thực là theo sự biến-hóa của tâm-lý chúng-sinh
mà hiển-hiện. Thử coi người tu-dưỡng tương-đương trong
Phật-học, họ có thể trông thấy những cái gì không thể
trông thấy, nghe thấy những cái gì không thể nghe thấy, vì
lực-lượng tâm-lý của họ có thể xung qua cái duyên-cớ
và cái lực-lượng của tự-nhiên-giới.
Tóm
lại, lực-lượng năng-biến ở tâm. Chúng ta đều có tâm,
nên chúng ta đều được tự- do, tự-chủ, hướng-thượng,
đạt tới địa-vị tối cao thành Phật.
Như
thế, Phật-học không phải là tiêu-cực, chán đời hoặc
mê-tín, mà là sự tiến-bộ mở-mang cho nhân-sinh đạt tới
địa-vị tối-cao, tối-viên-mãn. Dùng cái mô-phạm tối-cao
thành Phật ấy, để dẫn dắt con người đem lại bản-tính
thực-hiện và từ nhân-sinh thể-hiện được chân-tướng
của toàn vũ-trụ, là hoàn thành được ý-nghĩa của con người.
II.
ĐỘNG CƠ
BÌNH-ĐẲNG
CHỦ-NGHĨA
(Tức
Đại-từ-bi tính)
“Thực
sự, thực tính hoàn toàn bình đẳng,
nhỏ
từ một vi-trần, lớn đến một thế-giới,
gần
từ nhân-loại, xa đến hết thảy chúng
sinh
đều là cái dòng sinh mệnh lưu hành
không
ngừng.”
Theo
nguyên-lý Phật-học đã nói trên, thời biết rằng ai ai cũng
đều có thể thành Phật, đức Phật không những chỉ bị
người ta tín-ngưỡng mà lại là làm người mô-phạm. Chỉ
cần hiểu rõ đức Phật là người phát-tâm thế nào, tu-hành
thế nào và thành-công thế nào, soi đó mà đi, thời khả
dĩ thành Phật.
PHÁT
TÂM là động cơ. Động cơ chính đáng, nhất định sau sẽ
sinh ra hành-vi, kết-quả viên mãn; động cơ lệch-lạc, sai
lầm, nhất định kết-quả cũng không được hoàn thiện.
Động cơ Phật-học, thành Phật là BÌNH-ĐẲNG CHỦ-NGHĨA,
như trong Kinh đã nói: “Hết thảy chúng-sinh đều bình-đẳng”.
Tức là, gần từ nhân-loại, rộng đến vũ-trụ, hết thảy
hình hình, sắc sắc đều bình-đẳng. Song, nhìn vào thế pháp,
thấy không được như thế, vì còn phân biệt mỗi loại,
mỗi loại tức là không được bình-đẳng. Ví như: phân biệt
loài đất, đá là vô-sinh-cơ, loài cỏ cây là hữu-sinh-cơ,
loài động-vật là có cảm tình, tri--giác; cho đến loài người
lại có tư tưởng, lý tính đạo-đức, như thế có thể nói
tựa hồ không được bình-đẳng.
Đã
cho hết thảy chúng-sinh loại đều cùng bìn-đẳng, vậy đến
chỗ nào là chỗ rốt ráo của nó?
Đức
Phật từng nói: “Thực sự, thực tính, hoàn toàn bình-đẳng,
nhỏ từ một vi trần, lớn đến một thế-giới, gần từ
nhân-loại, xa đến hết thảy chúng-sinh, đều có cái dòng
sinh- mệnh lưu-hành không ngừng”. Thế là, đều cùng bình-đẳng
ở điểm đó.
Hết
thảy chúng-sinh đều có tâm, đều có hiện biến, thực lực,
đều có khả-năng- tính có thể đạt tới chỗ tối-cao giác-ngộ,
là Phật-tính. Y vào điểm ấy mà giảng, là hết thảy bình-đẳng.
Chúng-sinh đều có thể đạt tới địa-vị tối-cao-thượng,
tối-viên-mãn, thời địa-vị Phật đâu phải vượt ra ngoài
hết thảy nhân-loại. Với tư tưởng ấy có thể tương hợp
với đạo-lý Quốc-gia Dân-chủ, vì người nước Dân-chủ
có khả-năng-tính làm một vị Nguyên-thủ trong nước.
Chủ-nghĩa
bình-đẳng của Phật là chủ-nghĩa bình-đẳng của toàn vũ-trụ-giới,
toàn chúng-sinh-giới. Động cơ của Phật căn cứ ở nơi địa-phương
phát tâm cho toàn vũ-trụ đều cùng bình-đẳng, nghĩa là phát
tâm thành Phật vì hết thảy chúng-sinh trong toàn vũ -trụ
chẳng phải thành Phật vì một người, một thời đại hay
một địa-vực, đó là cái nguyện tâm bình-đẳng rất phổ-biến
và cũng là tâm Từ-Bi rộng lớn vậy.
Tâm
Phật vẫn có sẵn cái trí-tuệ đại quang-minh phổ-biến toàn
vũ-trụ và hết thảy năng lực đạo-đức hoàn toàn. Hết
thảy chúng-sinh đều đầy đủ trí-tuệ, đức tướng NHƯ-LAI,
song, từ trước tới nay mê muội không biết, cứ nắm giữ
cái tự-kỷ nhỏ-nhen, đem một điểm giả tướng trên dòng
sinh-mệnh làm tự-kỷ, để hướng ngoại suy cầu; ai ai cũng
đều như thế, tức là ngăn cách, tranh đấu lẫn nhau, thời
tất cả khổ não cũng theo đó mà phát minh. Kỳ thực, đều
là oan-uổng, hoàn toàn do ở tự tính bất giác, tự mang lấy
đau khổ. Cũng đều chẳng phải là ngoại vật cấp cho chúng
ta, chẳng phải là sự tuyệt đối không thể biến đổi,
chẳng qua, đối với chân-tướng của vũ-trụ, tự tính không
giác- ngộ được, nên khởi ra mọi thứ suy cầu, tranh đấu
mà sinh ra mọi thứ khổ não.
Ai
cũng đều là Phật, nghĩa là đều có khả-năng-tính thành
Phật, song, đều mê muội không biết, thực đáng thương sót.
Biết rằng hết thảy chúng-sinh trong toàn vũ-trụ, đều đáng
thương sót, vì đều có thể thành Phật, lại phải oan-uổng
chịu khổ não luân-hồi sinh-tử, nên cần phải phát khởi
tâm Đại-từ-bi. Bởi thế tâm tự-kỷ không thể thành Phật,
vĩnh-viễn không thể thoát khỏi nỗi đau khổ, thời hết
thảy chúng-sinh cũng đều thế. Phàm chưa đến địa-vị thành
Phật, chưa được viên mãn, thời hướng ngoại không thể
còn có chỗ suy cầu, biến hóa, mà trong chỗ biến hóa lưu
chuyển ấy, có chỗ không được tự chủ, nên có ra mọi
thứ khổ não. Nhưng, bản tính chúng-sinh cũng như nước chảy
trong khe núi, nghìn vòng trăm đoạn đến biển là ngừng. Bản
năng giác-tính của hết thảy chúng-sinh cũng nhất định chảy
qua sông vào biển, tức là đi trên con đường thành Phật.
Có con đường ấy thời hết thảy chúng-sinh đều có khả-năng-tính
thành Phật. Hiểu rõ nghĩa “Hết thảy bình-đẳng” phát
tâm từ trên lý-tính ấy, tức là đi trên con đường thành
Phật vậy. “Nguyện cho chúng-sinh khỏi mọi khổ não, bằng
cách rốt ráo được mọi sự an vui” đó là động cơ thành
Phật. Nếu chỉ vì tự-kỷ cá nhân, hoặc cho việc thành Phật
là không thể tới được, tưởng ỷ lại Phật để cầu
phúc, tránh họa, thời chẳng phải là người học Phật.
Người
bình thường cho Phật và quỷ-thần như nhau, tin Phật có thể
khỏi họa được phúc, thứ động cơ ấy ở trong Phật Pháp
là mê chứ không phải là tín.
Người
học Phật cần phát tâm vì hết thảy chúng-sinh cần hướng
tâm trên sự thực-hành; hướng tâm trên sự thực-hành nên
có thể tạm dùng những phương-pháp bất đồng. Như nước
chúng ta, hiện-tại chịu bao nỗi áp-bức, khổ-thống người
dân phải làm sự-nghiệp cứu quốc, cứu dân, là động-cơ
chính-đáng. Song, là thực-hành, hẳn phải từ chỗ có thể
thực-hành trước tiến đi, nhưng, trên động-cơ cần phải
hoàn-toàn bình-đẳng mới được. Vì, có phát tâm trên chủ
nghĩa Đại-Bình-Đẳng, mới có thể làm được cái sự-nghiệp
cứu quốc, cứu nhân-loại. Sự phát tâm ấy giảng theo Phật
Pháp tức gọi là: “Phát tâm Bồ-đề, tu hạnh Bồ-tát”.
Phát-động từ trên Phật-tính: vì xã-hội-tính, vũ-trụ-tính
mà phát tâm, thời tự nhiên là thiện, không còn có ác, ấy
là động-cơ của người học Phật như thế.
Thế
nhân đối với việc học Phật, thường lầm tưởng cho là
tự-tư, tự-lợi, người đọc sách thuở xưa cũng cho là học
Phật, để sau khi chết được an-lạc. Kỳ thực, cái ý-nghĩa
cá- nhân giải-thoát ấy vẫn có nơi bộ-phận Tiểu-thừa
song, đều chẳng phải là căn bản Phật-Pháp. Căn bản của
Phật-Pháp, ở chỗ phát tâm vì hết thảy chúng-sinh nghĩa
là “Chúng-sinh vô biên thệ-nguyện độ”.
Động-cơ
phát tâm xuất-gia, tu đạo, độ thế của đức PHẬT THÍCH-CA
MƯU-NI, do ở sự quán-sát đối với tự-nhiên-giới. Tự-nhiên-giới
tuy sinh sinh không ngừng, chủng-loại đông đảo, nhưng, thiên
địa bất nhân, cho muôn vật là thứ sô-cẩu, để cắn-xé
nhau, tàn-sát nhau, muốn sinh-tồn không được sinh-tồn, muốn
an-lạc không được an-lạc thế mà không thấy thiên địa
hỏi han gì?
Hết
thảy sinh loại tranh nhau, giết nhau để sống lấy một ngày,
biết rằng quá ư tàn khốc, thực rất thương hại; vì thế
Ngài đi tìm phương-pháp gì, trừ khỏi được hết thảy sự
buồn thảm đau khổ cho chúng-sinh, ấy là tâm Đại-từ-bi.
Như động cơ “dân-sinh chủ- nghĩa” của TÔN-TRUNG-SƠN, cũng
phát xuất ở tư tưởng: muốn cho nhân-loại khỏi đau khổ,
được hòa-bình, an-lạc, đó cũng là sự phát xuất ở một
điểm của tâm Bồ-tát.
Tâm
Đại-từ-bi của Phật, vì hết thảy chúng-sinh, song, muốn
khỏi sự sinh hoạt bi thảm của chúng-sinh, đầu tiên cần
tự-kỷ giác-ngộ được chân-tướng của vũ-trụ nhân- sinh
mới đầy đủ công-năng cứu-tế chúng-sinh được. Đức
PHẬT THÍCH-CA khi đương thời niên thiếu có một lần Ngài
đi quán sát nơi làng mạc, Ngài trông thấy người nông phu
cày đất, loài trùng từ trong đất bò ra, chim chóc theo sau
mổ ăn Ngài ta thán: sự sinh-hoạt tàn khốc của tự-nhiên-giới
thực đáng thương hại, lòng dạ buồn rầu, từ đó Ngài
phát tâm khảo-sát chân-tướng của vũ-trụ, nhân-sinh thế
nào, phương-pháp thoát đau khổ thế nào, mới cần cầu đại
đạo vô thượng chính-giác. Thế là phát tâm thành Phật không
phải là tiêu-cực mà là kết-quả được sự sinh-hoạt hòa
thiện, an vui tức là Đại- Niết-Bàn vậy.
Động-cơ
tu đạo của đức Phật THÍCH-CA ở chỗ là một vị Phật
thành vô thượng chính-giác, nên sau khi Ngài thành Phật, Ngài
không ở yên chỗ nào, luôn luôn đi thuyết Pháp độ nhân,
do đó, biết rằng Ngài phát tâm là vì hết thảy chúng-sinh,
chẳng phải là “tự tư, tự lợi”, cũng chẳng phải là
“không tưởng làm không tới đích”, mà là một biện pháp
thỏa đáng thiết thực tiến hành đến chỗ thực hiện.
Người
bình thường cho Phật-pháp là: “Phi nhân sinh, chán đời,
phi luân lý” đều là nhận xét sai lầm cả. Dòng sinh-mệnh
không tự giác-ngộ được, nên mới có trạng-thái bất an
ninh; cầu cho sự sinh-hoạt của thế-giới nhân-loại được
hoàn toàn bình-đẳng, lại tiến bước nữa cầu cho hết thảy
chúng-sinh đều được bình-đẳng an-lạc, tức là động-cơ
thành Phật. Cho nên Phật-pháp không phải là Phi nhân-sinh mà
là phát-đạt nhân-sinh; lại chẳng phải chuyên phát-đạt
về sinh-hoạt vật-chất; cũng chẳng phải chuyên phát-đạt
về tinh-thần mà phát-đạt về sinh-hoạt sinh-mệnh được
hoàn toàn mỹ-mãn. Ấy là bản- nghĩa của Phật-pháp Đại-thừa,
là động-cơ học Phật, nên biện-biệt rõ-ràng.
Học
Phật có phân ra Tiểu-thừa và Đại-thừa. Động-cơ của
Tiểu-thừa chỉ cầu giải-thoát cho tự-kỷ. Người bình thường
cho Tiểu-thừa là Phật-pháp chân-chính; lại còn đối với
chân-lý Phật-pháp, họ không hiểu được rõ ràng, họ cho
Phật là quỷ-thần, như thế đều là sai lầm và lại sinh
ra nhiều bình-luận sai lầm nữa. Cho nên phải phân-biệt rõ-ràng
về động-cơ học Phật có thể tóm tắt làm bốn nghĩa:
a)
Đều có Phật-tính.
b)
Đều thành Phật được.
c)
Thương mình, thương người.
d)
Cùng thành chính-giác.
Tức
là nói: chúng-sinh đều có khả-năng-tính thành Phật đều
có thực-tính và khả-năng-tính học Phật bình-đẳng, nên
đều có thể thành Phật.
Hơn
nữa, với những nghĩa trên, có thể chia giảng làm từng thứ
như sau:
- Từng
thứ nhất: cùng tin rằng vũ-trụ, vạn-hữu có một thứ chân-lý
phổ-biến hoàn toàn.
-Từng
thứ hai: cùng tin rằng trong chân-lý ấy có cái nhận thức
hoàn toàn tối-cao vô thượng đại-giác-ngộ (vô thượng Bồ-đề).
-
Từng thứ ba: cùng tin rằng cái vô thượng chính-giác ấy
có thể đạt tới được như đức PHẬT THÍCH-CA.
-
Từng thứ tư: cùng tin rằng ai cũng đạt tới được.
Tín-ngưỡng
căn-bản của Phật-học không ngoài bốn từng thứ ấy.
Song,
nhân-loại hiện-tại trên tri-thức, hành-vi, năng-lực, sinh-hoạt
vật-chất, sinh-hoạt tinh-thần, đều không được viên mãn,
sinh ra mọi thứ dục vọng, dĩ chí sinh ra mọi thứ đau khổ,
tuy nói đều có thể thành Phật, mà thực là ở vào địa-vị
đáng thương xót. Đem so sánh sự đau khổ của thế-giới,
nhân-loại, chúng-sinh này, đều cùng như sự đau khổ nơi
tự thân ta, phát tâm thương mình, thương người ấy là động
cơ của Đại-thừa Phật-pháp. Cùng cách thức ấy, phát khởi
đại tâm, vì hết thảy chúng sinh, cầu được vô thượng
chính-giác, có chân-giác-ngộ mới phá được mê và hết thảy
hành-vi mới được hợp lý.
Duy
Phật-Pháp mới hiểu rõ ràng được cái nguyên-khởi của
hết thảy sự đau khổ ở mê-hoặc, đào-nhổ đến cỗi rễ,
mới có thể nói là cách-mạng đến triệt-để. Mà động-cơ
thành Phật, mới có thể nói là cải-tạo thành sự sinh-hoạt
an-toàn cho toàn vũ-trụ, toàn nhân-loại được.
III.
BIỆN-PHÁP
TIẾN-HÓA
CHỦ-NGHĨA
(Do
nhân-sinh thành Phật)
“Từ
địa-vị chúng-sinh, dùng
phương
tiện tu chứng, đi
tới
địa-vị Phật, mới gọi là
tiến-hóa”
Có
động-cơ, không có biện-pháp thích-đáng, không thể thực-hiện
được; biện-pháp bất đối, kết-quả hẳn trái với sự
thích-đáng của nó. Ví như chủ-nghĩa xã-hội, mục-đích
của nó cũng muốn cho sự sinh-hoạt của nhân-loại được
phong-phú, an-lạc, nhưng, nó không có phương-pháp thích đáng,
nó lợi dụng phương-pháp thiên-vị, hiềm-khích, để cổ
động cái tâm bất-bình, ghen-ghét, bực-tức của nhân-loại
đến nỗi nhân-loại không những không thể đạt tới chỗ
an-ninh, lại khiến xã-hội hiện-tại không được an vui sung
sướng. Vậy nên biết rằng lý-tưởng tuy hay, nhưng không
có biện-pháp tương-đương, lại thành cái kết-quả không
tốt. Học Phật cũng thế, bắt đầu giảng xong nguyên-lý,
giảng xong động-cơ, nếu không có biện-pháp, thời thành
Phật thế nào được? Ví như khách lữ-hành cần có một
đường đi mới có thể tiền-tiến, con đường Phật-pháp,
là một thứ tiến-hóa chủ-nghĩa.
Chủ-nghĩa
tiến-hóa của Phật-pháp, bất đồng với chủ-nghĩa tiến-hóa
bình thường. Giảng theo Phật-pháp, thời hết thảy chúng-sinh
trong tự-nhiên-giới là tuần- hoàn, lưu-chuyển (luân-hồi)
không phải là tiến-hóa, vì tăng-tiến đến một hạn-độ
nhất định liền lại thoái-hồi. Như con người khi còn là
trẻ con ít kinh-nghiêm, lúc thiếu-niên cầu trí-thức học-vấn,
lúc khôn lớn ra làm việc, đến khi sự-nghiệp thành-công
đã xong, tiến dần đến thời-kỳ già yếu, kết-quả không
khỏi một lần chết. Một đời nối tiếp trong sự tiến-hóa
đến lúc chết là tiêu-hủy hoàn-toàn. Như quả địa cầu,
có sự biến-hóa trong thành, trụ, hoại, không, cũng là tuần-hoàn
chứ không phải là tiến-hóa. Nhân-loại và thế-giới chẳng
qua là cái cũ mất đi, cái mới sinh ra mà thôi. Hiện-tượng
tự-nhiên của bình thường, không ngoài sự tuần-hoàn của
sinh-tử luân-hồi trong Phật-pháp, đến khi hạn-độ đầy
đủ liền thoái lui không thể thành tiến-hóa được. Vì,
chủ-nghĩa tiến-hóa hiện-tại là giả tiến-hóa, không phải
là tiến-hóa cứu-cánh.
Sự
lưu-chuyển tuần-hoàn trong luân-hồi sinh-tử, là việc rất
không may, rất đáng thương, phải có phương-pháp để đả
phá sự bó buộc của luân-hồi sinh-tử, mới hay đạt tới
tiến-hóa chân-chính được. Giả như, hiểu rõ ràng được
dòng sinh-mệnh, lớn, nhỏ quan-hệ và giao-thông lẫn nhau, thời
y vào đó sẽ thấy chân-sinh-mệnh không có hạn- độ, không
bị ngăn-ngại, không bị chấp-trước, mà chỉ thấy tăng-tiến,
không thấy thoái lui.
Trên
kia đã nói, không cứ vật gì đều là sự quan-hệ của toàn
vũ-trụ tạo-thành, một vật tức tất cả mọi vật, một
là ở trong tất cả. Nghĩa là, trong chân-tướng ấy, cá-thể
của mỗi mỗi sự vật, không có thực-tự-ngã, là cái giả-tướng
của mọi thứ quan-hệ tập- hợp của toàn vũ-trụ tạo-thành;
mà chân-tướng là phổ-biến toàn vũ-trụ.
Hơn
nữa, nhân-sinh và thế-giới, là không trước, không sau, không
bờ cõi, không hạn-độ; đã biết rằng không hạn-độ, tức
là thấy cái không lượng của vũ-trụ nhân-sinh là hoàn toàn
khế-hợp cùng chân-tướng, đem tư tưởng, hành-vi cải-thiện
nhân-sinh, dần dần tiến-bộ thành tiến-hóa, ấy là khởi-điểm
vượt khỏi sinh-tử luân-hồi.
Đại-thừa
Phật-pháp, do phát tâm Bồ-đề, tu hạnh Bồ-tát (Bồ-tát
không phải là đại-danh-từ của thần-tượng, là chúng-sinh
có giác-ngộ hoàn toàn), đả-phá sự lưu chuyển tuần-hoàn,
đi lên đại lộ tiến-hóa. Nghĩa là từ địa-vị chúng-sinh,
dùng mọi phương-pháp tu-chứng đi tới địa-vị Phật, mới
gọi là tiến-hóa. Và cũng là con người tu đến địa vị
Thập-tín(6) của Bồ-tát, qua Thập-trụ(7), Thập-hạnh(8),
Thập-hồi-hướng(9), Tứ-gia -hạnh(10) và Thập-địa(11) trải
qua mọi bậc tiến-hóa ấy, đến địa-vị Phật mới là viên-mãn.
Thế nên biết rằng: vũ trụ là tiến hóa, con người chưa
phải là cái kết-quả của tối-hậu tiến-hóa, lại còn có
địa vị siêu-nhân nữa.
Con
người hoàn thành địa-vị Thập-tín tương đương như bậc
Đại-thánh, Đại-hiền ở thế-gian; Thập-trụ là địa vị
siêu-nhân; Thập-trụ trở lên là địa-vị siêu-việt nhân.
Phật lấy toàn vũ-trụ làm sinh-mệnh, toàn vũ-trụ vô hạn
lượng, Phật thân cũng vô hạn lượng, ấy mới là sự kết-quả
của tối hậu tiến-hóa.
Phật
tuy
nhiên phổ-độ hết thảy chúng-sinh, hết thảy chúng-sinh có
khả-năng- tính thành Phật, song, chỉ có nhân-loại là rất
hợp với sự tu học trong Phật-pháp. Nhân- loại trở xuống,
những chúng-sinh như loài súc-sinh, vì sự đau khổ bức bách,
vì sự trí- thức không phát đạt, nên tuy rằng có Phật thuyết
pháp họ cũng không thể lĩnh hội được.
Nhân-loại
trở lên, thời ở vào cảnh-giới rất đẹp, rất vui, tâm
bị cảnh-giới đương tiền làm say mê, nên không tưởng học
Phật, cho nên nhân-loại là một đạo rất có tâm đoan chính,
xu-hướng Bồ-đề ở trong sáu đạo(12) chỉ có nhân-loại
là rất giàu khả-năng- tính thành Phật(13). Vì thế đức
Phật thị-hiện ở trong nhân-loại, nói hết thảy pháp, mà
sự giảng Phật-pháp trong hiện-tại tức là lưu-hành Phật-pháp
trong nhân-loại vậy.
Từ
khi Đức THÍCH-CA thành Phật đến nay, đã hơn 2000 năm lưu-hành
bao quốc-độ đều có sự tốt đẹp, nhưng sự kinh-quá do
thời-đại bất đồng, dân-tộc bất đồng, nên Phật-giáo-sử,
có sự duyên-cách, biến-hóa lẫn nhau theo địa-phương. Nhìn
trên sự giáo-hóa của Phật, thứ nhất là phải hợp chân-lý.
Chân-lý là đại-trí-tuệ viên-mãn của Phật, chứng được
chân-tướng của vũ-trụ, nhân-sinh, thứ hai là cần hợp thời-cơ
tức là phù hợp thời-đại, trào-lưu và tâm-lý quần chúng;
nếu không hợp thời-cơ, là không được thông hành. Phật-pháp
lưu-hành hơn vài ngàn năm, trải qua bao nhiêu nước như thế,
đương nhiên là phải phù hợp với tâm-lý quần chúng. Cho
nên chân-lý Phật-pháp tuy nhiên thông suốt xưa nay không rời
đổi, nhưng vì phù hợp với sự bất đồng của các thời-
đại, các tư-tưởng, dân-tộc, nên pháp môn của Phật-pháp
cũng tùy theo sự bất đồng ấy mà làm việc lợi-ích.
Tới
đây, xin đem lại một thuyết nói về sự biến thiên của
lịch-sử Phật-giáo: Khi Đức THÍCH-CA xuất thế tại Ấn-Độ,
quốc-gia an-tĩnh, dân thịnh, vật nhiều nhưng, nhân dân chỉ
sợ về sinh, già, ốm, chết. Vì lo sợ chết đến cực độ,
nên họ liền tìm phương-pháp giải-thoát cá-nhân. Do đó Ngài
muốn thích hợp với tâm-lý cầu giải-thoát cá-nhân của
quần-chúng Ấn-Độ đương thời, nên Ngài mới nói ra pháp
Tiểu-thừa trước nhất. Nói khác hơn, đương thời rất nhiều
người cầu giải-thoát, nhưng đều không biết rằng: đương
thể của nhân-sinh, thế-giới là vô thỉ, vô chung, vô hạn-lượng
và không có sinh-tử để giải-thoát, cho nên Phật-pháp không
thể không dùng phương-pháp vòng quanh khúc- chiết, để thích
hợp với tâm-lý cầu giải-thoát của quần-chúng đương thời,
mà nói ra pháp “Vô ngã giải-thoát”.
Cá-nhân
coi như không, cái “TA” lại không có, thời không chi là
sinh-tử lưu chuyển? Trên vô ngã phủ nhận tự ngã, thời
không phải ý-nghĩa chân-chính của Phật- pháp, song chẳng
qua để thích hợp với tâm-lý quần-chúng đương thời mà
thôi. Vì vậy, nói ra pháp giải-thoát Tiểu-thừa, là vòng
quanh, khúc-chiết, khiến do nơi Tiểu-thừa đạt tới nơi Đại-thừa,
như trong kinh Đại-thừa Diệu-Pháp Liên-Hoa kinh đã nói: “Tiểu-thừa
là phương-tiện nhất thời, nếu không dùng phương-tiện như
thế, thời quần-chúng không sinh lòng tin, không thể vào trong
Phật-pháp được”. Đức Phật, xưa nay chỉ do một nhân
duyên đại sự, mới xuất hiện ra đời, để cho hết thảy
chúng-sinh, nhận sự khai thị của Phật chứng ngộ Phật-trí,
được sự vui vẻ, an-ninh không chướng-ngại.
Đương
thời có một đoàn người chỉ lưu truyền về Tiểu-thừa;
sau bốn, năm trăm năm. Ngài Long-Thụ mới xương-minh Đại-thừa,
song vẫn là hình-thức Tiểu-thừa. Đến khi Bà-la-môn giáo
phục-hưng, Phật-giáo suy tàn, vì tư-tưởng Đại-thừa với
dân-tộc Ấn- Độ không được thập phần tương hợp. Mãi
về sau Đại-thừa mới từ Bắc Ấn-Độ truyền sang Trung-Hoa.
Tư-tưởng người Trung Hoa là thuận tự nhiên, trọng nhân-sinh
nên tư- tưởng Tiểu-thừa không hợp, mà lưu-hành tư-tưởng
Đại-thừa. Song, sự lưu-hành phổ- thông trên xã-hội, lại
không phải là Phật-giáo thuần-chính, mà là Phật-giáo thiết-giáo
trên thần-đạo sàn-tạp. Tư-tưởng Đại-thừa đối với
tư-tưởng Nho-gia họ cho như là ngoài chính-trị, xã-hội,
chỉ có thể lui ở núi rừng, không làm được sự-nghiệp
xã-hội và không xã-hội-hóa được, nên tuy rằng xương-minh
tư-tưởng Đại-thừa cũng chưa thành xã-hội, dân-tộc giáo-hóa.
Cận-lai phật-giáo lại có cái xu-thế tiệm-suy vì không thể
theo với sự biến thiên của dân-tộc mà tiến-bộ được.
Hiện-tại
giảng về Phật-pháp cần phải quan-sát đặc-điểm tâm-lý
dân-tộc ở chỗ nào, tâm-lý nhân-loại thế-giới thế nào,
nắm được hai thứ ấy mà xem xét, mới có thể nắm được
lẽ sống còn cho Phật-giáo hiển-dương, lưu-hành giữa lòng
người.
Nhân
tâm thế-giới hiện tại chú trọng về vấn đề nhân-sinh,
mong cầu sự sinh- hoạt của nhân-loại làm sao tới được
chỗ hòa-bình ưu-mỹ. Công-cụ ứng-dụng là khoa- học, phương-pháp
thực-hành là xã-hội và có tổ-chức sinh-hoạt quần-chúng.
Tiểu-thừa
Phật-pháp; ly khai thế-giới, phủ định nhân-sinh, là không
thích hợp. Đại-thừa đốn-giáo(15) cũng có chỗ không hợp
với tư-tưởng hiện-đại. Song có thể hợp với nhân-loại
thế-giới hiện-tại, cần dùng Đại-thừa Tiệm-giáo(16) hơn
cả. Đại-thừa Tiệm-giáo lấy nhân-loại làm cơ-sở, tiến
một bước có sự thực chứng của một bước, tức là phương-
pháp khoa-học-hóa, tổ-chức-hóa, dần dần được hoàn thiện.
Cho nên hiển-dương Phật- pháp trong thời đại này, cần phải
đề-xướng về Đại-thừa Tiệm-giáo.
Nói
rõ hơn, bước thứ nhất của Phật-học ở chỗ hoàn thành
nhân cách làm đầu, nghĩa là làm một cá-nhân ở chỗ sinh-địa
tốt đẹp. Phương-diện sinh-hoạt vật-chất như cơm ăn, áo
mặc, nơi ở... cần được giải quyết tương đương, thì
phương-diện hành-vi trên đạo-đức, trí-thức, trên lý-tính
cũng cần hợp với nhân-loại để làm thành con người có
nhân cách tương hợp với người quân-tử thuở xưa, nhiên
hậu mới đem sự hiểu biết minh bạch về nguyên-lý của
vũ-trụ, nhân-sinh áp dụng vào thực-hành. Nghĩa là trước
nhất làm cho con người hoàn toàn, an-toàn sinh-hoạt vật-chất,
tăng cao sinh-hoạt trí-thức, hoàn thiện sinh-hoạt đạo-đức
lại dùng những cái đó mà hoàn thành gia-đình ưu-mỹ, xã-
hội lương-thiện quốc-gia hòa-lạc, thế-giới an-ninh, như
thế tức là Nho-giáo nói: “Con người đã đạt đến địa-bộ
hy-vọng của kẻ sĩ thành người hiền, người hiền thành
bậc Thánh, bậc Thánh-nhân thành công trong loài người. Nhân
cách hoàn thành, hoàn thiện rồi, lại phát đại tâm Vô thượng
viên-giác, khởi đại nguyện phổ-độ chúng-sinh, như thế
tức là Nho-giáo nói: “Con người đã đạt tới địa-vị
hy-vọng của bậc Thánh thành Trời”, thế là cầu tiến-hóa
trên nhân-sinh chứ quyết không phải là sinh-hoạt độc-thiện,
xa cách thế-gian. Cũng thế, tiến-hóa cao thượng kể từ địa-vị
Bồ-Tát Thập-tín-tâm đã là địa-vị đạt tới nhân cách
ưu-mỹ cao-thượng khiến thế-gian có thể lĩnh-thụ sự giáo-hóa,
Cổ lai Thánh-hiền đều như thế. Đó là bước thực-hành
thứ nhất của Đại-thừa Phật-pháp. Vì sơ bộ của Đại-thừa
Phật-pháp là hướng về hết thảy sự thực-hành đạo-đức
của con người trên thế-gian.
Bước
thứ hai là “Thập-trụ” cũng trải qua mười giai đoạn.
Vì có hoàn thành công-năng đức-dụng của Thập-tín-tâm mới
kết hợp thành Sơ Phát tâm trụ; thành-công được trụ tâm
ấy rồi, mới là con đường chân-chính đi lên sự tiến-hóa.
Đến thời-gian ấy dòng sinh-mệnh không phải như theo gió
trôi dạt và cũng không phải luân-hồi lưu- chuyển nữa. Đã
phát khởi tâm quyết định đời đời phổ-độ chúng-sinh
đều cũng thành Phật, cho nên cần học rộng hết thảy học-vấn
thế-gian mới có thể so sánh kịp. Và cũng do tâm Bồ-đề
kiên cố ấy, từ đó chỉ có sự tiến-hóa chứ không có
sự thoái-hóa. Vì từ Sơ Phát Tâm trụ trở lên, còn có chín
trụ tâm nữa mỗi trụ tâm đều theo một giai-đoạn của
con đường ấy, mà mỗi giai-đoạn là đều hướng về sự
tiến-hóa.
Bước
thứ ba là Thập-hạnh, tu Thập-trụ-tâm tiến thêm một bước
vào địa vị Thập- hạnh. Thập-trụ-tâm là do dụng tâm trên
lý quan-sát đến khi tu hành viên-mãn đối với lý-tính của
chân-lý đã trải qua và phù hợp thành một mối. Có năng-lực
cơ-bản ấy hay làm những việc hy-sinh lợi tha, tu những hạnh
rốt-ráo (Ba-la-mật Tàu dịch là đáo bỉ ngạn) như: tu hạnh
bố-thí, cũng gọi là hạnh hoan-hỉ, nghĩa là lấy hết thảy
sự vui mừng của chúng-sinh trên thế-gian làm sự vui mừng
của mình, sinh-mệnh tài-sản đều đem bố-thí, cho đến hy-sinh
một mình để cứu người, cứu đời, cứu nước. Đó là
tài-thí. Lại còn pháp-thí. Pháp-thí là dùng tất cả sự
phát-minh của chân-lý cùng những phương- pháp hay, bố-thí
cho hết thảy mọi người. Sau cùng là trừ khỏi khủng-bố
nguy-hiểm cho chúng-sinh, giúp người, cứu đời gọi là vô-úy-thí.
Như thế trải qua được mười giai-vị, thời sự tu-hành
cũng từ một bước tiến lên một bước. Trong Phật-pháp
thường nói về sự “thần-thông chứng-nghiệm”, không phải
là thần-bí, đều do sự thực-hiện của những bước đã
kinh-quá trên đây mà ra.
Bước
thứ tư là Thập-hướng. Hướng là ý-tứ hồi-hướng. Trên
đây đã nói về Thập- trụ, Thập-hạnh, nhưng Thập-trụ
còn thiên về lý, Thập-hạnh thiên về sự, đến Thập- hướng
sự, lý mới hợp về một mối (quay về sự hướng về lý
quay về lý hướng về sự đến chỗ sự, lý không hai), đó
là từng thứ nhất của hồi-hướng. Hơn nữa, quay tâm chúng-sinh
hướng về Phật, quay tâm Phật hướng về chúng-sinh, quay
hết thảy công-đức tự-kỷ hướng về chúng-sinh và quay
hết thảy chúng-sinh hướng về tự-kỷ. Hồi tự hướng tha,
hồi tha hướng tự , tự, tha là một, ấy là từng thứ hai
của hồi-hướng.
Thứ
bực trải qua trên đường tiến-hóa, do con người đi từ
Tín, Trụ, Hạnh, Hướng và đi được một phần ba, tức như
trong sách phật-học gọi là vô số kiếp đầu tiên (sơ A
tăng kỳ kiếp). Lại khởi công Gia-hạnh tức là tập trung
những hạnh đã tu-hành từ trước tới nay tăng thêm cái hạnh
về công-dụng. Do Gia-hạnh đến được nơi sơ-địa Hoan-hỉ-
địa thời khi ấy đã đến địa vị kiến-đạo, thể-nghiệm
tới chỗ thực-tướng của vũ-trụ nhân- sinh, vô thỉ chung,
vô phương thể, xa hết thảy ngôn thuyết, không thể nào nghĩ
bàn được (bất đồng với giả tứ lý-tưởng trên tư-tưởng).
Thân tâm cải-biến, trình-độ vượt cao lực-lượng vượt
lớn, là sự hiếm có nơi tư-tưởng người bình thường.
Lực-lượng tâm-lý dần cao, sinh-lý vật-lý đều biến hóa,
hiện-thực thế-giới tùy tâm-lý cải-biến, nên vũ-trụ duy
tâm, vạn hữu duy thức, đến đó đều có thể thực-hiện
được. . Những cái có thể thấy được trên thế-giới hiện-thực
thời cũng như loài côn trùng chỉ biết được cảnh-giới
của loài côn trùng, vì nó chỉ có thể tùy theo sinh-lý sinh-hoạt
của thiên-nhiên, chứ không thể bằng vào tâm-lý mà tạo
tác được. Sinh-hoạt của cao-đẳng động-vật, thời có
lực-lượng tâm-lý. Tâm-lý mạnh ảnh hưởng sinh-lý, sinh-lý
ảnh hưởng vật-lý, đến khi thiền-định thành công ngũ-căn
(tức ngũ-quan) biến-hóa, tự nhiên hết thảy vật-chất cũng
đều biến-hóa, thời dầu rằng vào nơi nước lửa vẫn không
thấy nóng, không thấy chìm. kết-quả cải-tạo tiến-bộ
là trí-tuệ quang-minh của tâm tràn đầy toàn vũ-trụ tức
là trong toàn vũ-trụ không có cái gì, nơi nào là không thông
suốt được hết thảy.
Phát
tâm từ sơ-địa, chân-tướng vũ-trụ đã chứng-minh được
hoàn toàn, trí-tuệ lại có chỗ khả dĩ sung thực. Một từng,
một từng tiến-bộ đến Pháp-vân-địa thứ mười thời
hiểu biết hoàn toàn được hết thảy sự thuyết-pháp của
chư Phật trong thập phương thế- giới và một tích tắc trong
tâm, là tới địa-vị tối-cao của Bồ-tát. Như Ngài Quán-Âm
Bồ- Tát, rất gần Phật-vị, nghĩa là thập-địa viên-mãn
là tới được địa-vị Phật. Phật không phải là tương-đối
cũng không phải là đơn-độc mà là không thể nghĩ bàn được.
Đã không phải là một cũng không phải là nhiều, không phải
là dị, cũng không phải là đồng, thời không kể là xuất
hiện ra tự thể gì, tự thể ấy đều tràn đầy khắp vũ-trụ,
lấy toàn vũ trụ làm Phật; mà Phật toàn vũ trụ, là ánh
sáng trong sạch cứu cánh, an-lạc hoàn thiện. Cho nên Phật-pháp
là biện-pháp cải-tạo nhân-loại, cải-tạo toàn vũ-trụ
đều thành tối thiện viên-mãn, thực-hiện lý-tưởng Phật.
Đó là thực sự, nên thực-hành và năng thực- hành, thời
khả dĩ do nơi con người tiến-hóa tới chỗ Phật-vị.
IV.
HIỆU-QUẢ
TỰ-DO
CHỦ-NGHĨA
(Có
nghĩa là vô-chướng-ngại)
“...
Tự tha là một, viên-dung vô
-ngại,
được đại-tự-do”
TỰ-DO
CHỦ-NGHĨA không phải là phóng-túng tự-ngã, tha-hồ làm càn.
Không một Phật-thân nào không phải không biến-mãn toàn vũ-trụ,
tức là PHÁP-GIỚI VÔ-CHƯỚNG-NGẠI và cũng gọi là PHÁP-THÂN
VÔ- CHƯỚNG-NGẠI. Vô-chướng-ngại cùng vô-ngã, lý rất hợp
nhau, vì vô-ngã nên vô- chướng-ngại, vô-chướng-ngại nên
được tự-do. Thế là, đem lực-lượng quan-hệ của toàn
vũ-trụ, hợp-thành một vật ấy (Pháp-thân) thường làm chủ,
làm bạn lẫn nhau, tức là Pháp-giới vô-chướng-ngại, chủ,
bạn trùng-trùng vô tận, không thể nghĩ bàn được (tư- tưởng
bình thường là tư-tưởng phân-biệt tương-đối, chẳng phải
là tư-tưởng bỉ, thử hỗ- tương đối-đãi). Tới cảnh-giới
ấy tức là không thể nói được; nhưng, chẳng phải không
nói mà là cực tận thuyết cái năng-sự vô-sở bất thuyết
(ngôn-thuyết chẳng qua là lối chỉ- đạo phương-hướng trên
sự tiến-hành, như lấy ngón tay chỉ mặt trăng mà thôi).
Mục-đích học Phật, là thành-công “Pháp-thân vô-chướng-ngại”.
Ở trong vũ-trụ vô-chướng- ngại ấy, tự tha là một, viên-dung
vô-ngại, được đại-tự-do:
1.
CẢNH-TRÍ TỰ-DO
Cảnh
là hết thảy sự vật bị trí-tuệ nhận-thức. Chân-tướng
của hết thảy sự sự vật vật trong vũ-trụ hoàn-toàn vô-ngại,
cảnh vô-ngại nên hiển thị trí-tuệ quang-minh vô- ngại,
trí vô-ngại nên cảnh cũng vô-ngại; không có cảnh ở ngoài
trí, không có trí ở ngoài cảnh, cảnh, trí nhất như, không
thể nhận thấy được hai tướng, mà lại biết rõ-ràng hết
thảy cảnh, hết thảy cảnh là cái bị biết rõ (sở liễu)
của trí biết rõ hết thảy (nhất thiết liễu-tri trí). Đó
tức là Vô thượng chính-biến giác-tri, biết rõ chân-tướng
của vũ-trụ chư pháp bằng cách viên-minh, không bị thời-gian,
không-gian câu-thúc. Trí-thức bình thường là tương-đối,
còn bị thời-gian, không-gian câu-thúc; vì sự quan-hệ của
tâm-lý, sinh-lý bất đồng đều cho tâm-lý cảnh-giới là
phải, nên đều có sự chướng, ngại. Phật thời hoàn toàn
vô-chướng-ngại. Bậc Bồ-tát thấy chân-lý phổ-biến, không
thấy sai-biệt; không thấy sai-biệt nên trong đó trí-tuệ
đã có sự khu-biệt, có sự cách-ngại. Trái lại, trí- tuệ
Phật là chính-biến giác-tri, là trí-tuệ bình-đẳng phổ-biến
– hết thảy thời-gian, hết thảy không-gian hết thảy chủng-loại,
đồng thời không gì là không biết rõ bằng cách chu-biến;
năng-tri-trí (trí hiểu biết) sở-tri-cảnh (cảnh bị biết)
viên-dung vô-ngại. Đó là cảnh, trí tự-do, mà trong sách Phật
thường gọi là TRÍ-ĐỨC.
2.
NGHIỆP-QUẢ TỰ-DO
Nghiệp-quả
là do nghiệp-lực trước làm nhân, tất nhiên sẽ có kết-quả,
mà nghiệp-lực tức là những hành-vi tiền-thời của nó.
Hành-vi tiền-thời kết hợp thành hiện- tại sinh-mệnh, kết-quả
là sự thúc-phọc của lực-lượng hành-vi trong tiền-thế
và hiện- sinh, nên chịu sự tân trần đại tạ (cái cũ mất
đi, cái mới sinh ra), sinh-tử luân-hồi. Bậc vô-sinh (A-la-hán)
chỉ tự do từng bộ phận và đến Phật-vị mới là đại-tự-do
– bỏ hết thảy nghiệp bất thiện hữu-lậu, viên-mãn nghiệp
nhân vô-lậu thanh-tịnh từ vô lượng kiếp, thành-tựu quả
Niết-bàn vô-chướng thanh-tịnh. Hết thảy sự bất hảo đều
không có, hết thảy sự diệu-hảo đều viên-mãn (viên-tịch)
là đoạn trừ được hết thảy nghiệp nhân bất lương, thành-tựu
công-đức Niết-bàn. Đó là nghiệp-quả tự-do mà sách Phật
thường gọi là ĐOẠN-ĐỨC.
3.
HOÀN TOÀN TỰ-DO
Hoàn
toàn tự-do là PHÁP-THÂN, tức là bản thân pháp-giới vô-chướng-ngại
cũng là toàn thể vũ-trụ. Hết thảy chúng-sinh sinh-tử trong
Pháp-thân mà Pháp-thân hoàn toàn tự-do trong toàn thế-giới,
hết thảy sinh. Vũ-trụ pháp-thân, tự tha không hai, thường
hay giúp đỡ chúng-sinh và làm lợi-ích cho chúng-sinh. Chúng-sinh
ở trong chỗ bất tri, bất giác, nhận sự cảm-hóa của PHẬT,
giải-thoát hết thảy khổ-não, được hết thảy sự an-vui
– đối với chúng-sinh có ân-đức lớn lao, nên trong sách
Phật thường gọi là ÂN-ĐỨC.
Ba
thứ tự-do trên đây, tức là ba đức của PHẬT-QUẢ, là
người học Phật hy-vọng sẽ đạt tới mục-đích ấy.
Chú
Thích:
1 Những
hàng chữ nhỏ dưới đề-mục trong cuốn sách này là do ý-nguyện
chúng tôi muốn nêu lên những câu toát-yếu toàn mục, để
bạn đọc tiện bề nghiên-cứu và ức-ký (lời Dịch-giả).
2 Bốn
Đại tức là: đất, nước, gió, lửa thuộc về sắc pháp.
3 Chủng
tử là hạt giống, nhưng gọi theo khoa học là nguyên-tử điện-tử.
4 Nghiệp
lực là cái năng lực của hành vi.
5 Ba
cõi: cõi dục, cõi sắc, và cõi vô sắc.
6 Thập-tín:
1) Tín-tâm. 2) Tinh-tiến-tâm. 3) Niệm-tâm. 4) Định-tâm. 5)
Tuệ-tâm. 6) Thí-tâm. 7) Giới-tâm. 8) Hộ-tâm. 9) Nguyện-tâm.
10) Hồi-hướng-tâm. Mười bậc này đều lấy đức “Tín”
làm gốc, cho nên gọi là “Thập-tín”.
7 Thập-trụ:
1) Phát-tâm-trụ. 2) Trị-địa-trụ. 3) Tu-hành-trụ. 4) Sinh-quý-trụ.
5) Phương-tiện-trụ. 6) Chính-tâm-trụ. 7) Bất-thoái-trụ.
8) Đồng-chân-trụ. 9) Pháp-Vương-tử-trụ. 10) Quán-đính-trụ.
Mười bậc này đều gọi là “Trụ”, nghĩa là chỗ ở của
các vị Bồ-tát an-trụ-tâm, đối với sự tu hành về lục-độ
(a) chưa được rốt-ráo mầu nhiệm, cho nên chỉ gọi là “Trụ”.
8 Thập-hạnh:
1) Hoan-hỷ-hạnh. 2) Nhiêu-ích-hạnh. 3) Vô-khuể-hạnh. 4) Vô-tận-hạnh.
5) Ly-si-loạn-hạnh. 6) Thiện-hiện-hạnh. 7) Vô-trước-hạnh.
8) Tôn-trọng-hạnh. 9) Thiện-pháp-hạnh. 10) Chân-thực-hạnh.
Mười bậc này chú-trọng tu-hành về phép lục-độ hơn các
hạnh tu khác, cho nên gọi là “Hạnh”.
9 Thập-hồi-hướng:
1) Cứu-hộ chúng-sinh ly chúng-sinh tướng hồi-hướng (cứu
giúp chúng-sinh mà không chấp-trước về sự cứu giúp). 2)
Bất hoại hồi-hướng (không bao giờ thoái lui lòng cứu giúp
chúng-sinh). 3) Đẳng chư Phật hồi-hướng (lòng Từ-bi cứu
giúp chúng-sinh đã bằng chư Phật). 4) Chí nhất thiết xứ
hồi-hướng (lòng cứu giúp chúng-sinh mỗi việc đều chu đáo).
5) Vô tận công-đức-tạng hồi-hướng (tích chứa công-đức
vô tận). 6) Tùy thuận nhất thiết kiên cố thiện căn hồi-hướng
(thuận theo hết thảy căn lành bền chặt). 7) Đẳng tâm tùy
thuận nhất thiết chúng-sinh hồi-hướng (đem tâm bình-đẳng
tùy thuận hết thảy chúng-sinh). 8) Như tướng hồi-hướng
(làm các công-đức đều hồi-hướng về tự-tính chân-như).
9) Vô trước vô phược giải thoát tâm hồi-hướng (không
chấp trước, không ràng buộc một lòng giải thoát). 10) Pháp-giới
vô lượng hồi-hướng (hồi-hướng về vô lượng pháp-giới).
Mười bậc này đều gọi là hồi-hướng, vì những sự tu-hành
của các vị Bồ-tát về bậc ấy, đều đem công-đức mà
hồi-hướng vậy.
10
Tứ-gia-hạnh: 1) Noãn-pháp (đây là lời ví dụ, như cưa cây
lấy lửa, lửa tuy chưa ra, nhưng đã có nóng; người tu hành
tuy chưa được trí-tuệ viên-mãn, nhưng đã có tướng trí-tuệ
phát-hiện). 2) Đỉnh-pháp (các căn lành còn bị sao động,
bậc này còn ở trong thời-kỳ tiến thoái, như đỉnh núi
có thể lên xuống). 3) Nhẫn pháp (có ý-nghĩa là ấn khả
và quyết định tiến). 4) Thế đệ nhất pháp (bậc này tuy
chưa chứng được chính đạo nhưng, đã được phần tôn
trọng thứ nhất của thế gian). Bốn bậc này đã gần kiến-đạo,
một mực gia công tu-hành nên gọi là “Gia-hạnh”.
11
Thập-địa: 1) Hoan-hỷ-địa. 2) Ly khổ địa. 3) Phát quang
địa. 4) Diêm tuệ địa. 5) Nan thắng địa. 6) Hiện tiền
địa. 7) Viễn hành địa. 8) Bất động địa. 9) Thiện tuệt
địa. 10) Pháp vân địa. Mười bậc này đều gọi là “Địa”,
vì tóm thâu các công đức hữu vi và vô vi dùng làm tự tính,
cùng làm chỗ nương tựa chắc chắn hơn cả cho sự tu hành
khiến hay sin trưởng cho nên gọi là “Địa”.
(a)
Lục độ: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền
định và trí tuệ.
12
Sáu đạo: Thiên, nhân, a-tu-la, địa-ngục, ngã quỷ, súc sinh.
13
Muốn rõ hơn, cần xem cuốn “Đạo Phật với con người”
.
14
Đốn-giáo: Giáo-lý dạy bảo lối tu chứng đốn ngộ, một
niệm không sinh tức là Phật, không cần lập ra từng bậc
trong khi đoạn hoặc chứng lý.
15
Tiệm-giáo: Giáo-lý dạy bảo lối tu chứng dần dần, để
đạt tới chỗ cứu cánh
WP:
Chân Thiền