Sai-biệt
thập nhị chi,
Năng-Nhân
thuyết duyên sinh.
Ư
phiền-não, nghiệp, khổ,
Tam
trung câu nhiếp tận,
Sơ,
bát, cửu: Phiền-não,
Nhị
cập thập thị Nghiệp,
Dư
thất tập thị Khổ,
Thập
nhị duy tam nhiếp.
Tòng
tam sinh ư nhị,
Tòng
nhị sinh ư thất,
Thất
phục sinh ư tam.
Thử
hữu luân sác chuyển.
Chư
thú duy nhân quả,
Thử
trung vô chúng-sinh.
Duy
tòng ư Không-pháp,
Hoàn
sinh ư không-pháp.
Tụng,
đăng, kính cập ấn,
Hỏa,
tinh-chủng, mai, thanh.
Chư
uẩn tương-tục kết,
Bất
di, trí ưng sát.
Ư
thậm vi-tế sự,
Nhược
hữu kiến đoạn giả.
Bỉ
bất thiện nhân-duyên,
Vị
kiến duyên sinh nghĩa.
Thử
trung vô khả khiển,
Diệc
vô thiểu an-lập.
Ư
chân dĩ quán chân,
Kiến
chân nhi giải-thoát.
BÀI
TỤNG VỀ NHÂN-DUYÊN-TÂM
Tác-giả:
Bồ-Tát Long-Mãnh (2)
Việt-dịch:
Thích-Tâm-Châu
Mười
hai chi sai-biệt,
Năng-Nhân
nói duyên sinh.
Một,
Tám, Chín: Phiền-não,
Hai
và Mười là Nghiệp.
Bảy
tập khác là Khổ,
Mười
Hai chỉ thuộc Ba.
Từ
Ba sinh ra Hai,
Từ
Hai sinh ra Bảy.
Bảy
sinh lại nơi Ba,
Vòng
HỮU (3) này thường chuyển.
Mọi
thú do nhân-quả,
Trong
đây không chúng-sinh.
Từ
ở nơi pháp Không,
Lại
sinh về pháp Không.
Như
tụng, đèn, gương, ấn,
Lửa,
tinh và mơ, tiếng.
Các
uẩn kết nối nhau,
Không
rời, trí nên xét.
Với
sự rất vi-tế,
Còn
tà-kiến: thường, đoạn,
Nhân-duyên
bất-thiện kia,
Chưa
thấy nghĩa duyên sinh.
Trong
đây không thể trừ,
Cũng
không an-lập được.
Dùng
Chân để quán Chân,
Thấy
Chân được giải-thoát.
MƯỜI
HAI NHÂN DUYÊN
01)
Vô-minh
02)
Hành {Phiền-não (3 chi): vô-minh, ái, thủ.}
03)
Thức
04)
Danh-sắc
05)
Lục-nhập
06)
Xúc {Nghiệp (2 chi): hành, hữu.}
07)
Thụ
08)
Ái
09)
Thủ {Khổ (7 chi): thức, danh-sắc, lục-nhập, xúc, thụ, sinh,
lão tử.}
10)
Hữu
11)
Sinh
12)
Lão tử
GIẢI-THÍCH
LUẬN NHÂN-DUYÊN-TÂM
Tác-giả:
Bồ-Tát Long-Mãnh
Việt-dịch:
Thích-Tâm-Châu
Nơi
đây có vị Sa-Môn ham nghe, nhớ kỹ, hiểu thấu, biết quán-sát
và biết tóm gọn những nghĩa chính-yếu. Một hôm, vị ấy
lại nơi vị Đại-Sư, y trong giáo-pháp của Như-Lai, đặt
ra câu hỏi: “Đức thế-Tôn có nói về mười hai chi nhân-duyên
sai-biệt nhau và bậc Năng-Nhân cũng nói về Duyên-Sinh, vậy
mười hai chi kia, chúng nhiếp-thuộc vào đâu?” Nay tôi muốn
được nghe về ý-nghĩa ấy, xin Đại-Sư giải -thích cho.
Biết
vị kia hỏi đúng chân-nghĩa của Phật, vị Đại-Sư liền
gọi vị Sa-Môn kia lại mà bảo rằng: “Đối với lời ông
hỏi, trong ba thứ: Phiền-não, Nghiệp và Khổ, thu nhiếp hết
cả mười hai chi”.
Trong
sách có nói về sự phân-biệt của mười hai nhân-duyên hay
mười hai chi. Trong ấy có Mười chi và Hai chi, nên gọi là
“Mười Hai Chi”. Vì chúng có sự sai-biệt nên gọi là “Sai-Biệt”.
Như bộ-phận của xe có nhiều bộ-phận khác nhau, nên gọi
là “Chi”. Thường giữ thân, khẩu tịch-lặng, nên gọi
là “Năng-Nhân”. Nói về Năng -Nhân thuyết, tức là chỉ
về vị tuyên sướng và giải-thích giáo-nghĩa ấy. Song, đây
chỉ là cái tên khác của sự “Nói”, chẳng phải là tự-tính,
quyết-định là sĩ-phu. Nương chân-tướng tự-tại, thời-cơ,
tự-nhiên theo với nhân-duyên mong muốn. Mong muốn gặp vị
Hóa-chủ, nhân duyên gặp gỡ sẽ phát sinh. Đó là nhân -duyên
sở sinh.
Trong
mười hai chi-pháp sai-biệt này, phiền-não, nghiệp và khổ,
chúng nương-tựa lẫn nhau, như bó cây lau, ba loại kia, đều
thu-nhiếp hết trong ấy. Nói về chữ “Tận” (hết), có
nghĩa là không còn gì bên ngoài nữa.
HỎI:
Phiền-não là gì? Nghiệp là gì? Khổ là gì? Những pháp sai-biệt
này sẽ nhiếp -thuộc vào đâu?
ĐÁP:
Chi phiền-não bắt đầu (hay là chi số Một), cùng với chi
số Tám, chi số Chín, đối với sự sai-biệt trong mười hai
chi-pháp, thì chi-pháp bắt đầu (chi số Một) là Vô minh, chi
số Tám là Ái, chi số Chín là Thủ. Ba chi ấy nhiếp-thuộc
vào phiền-não. Nghiệp là gì? Chi số hai và chi số Mười
là Nghiệp. Chi số Hai là Hành, chi số Mười là Hữu. Hai chi-pháp
này nhiếp-thuộc vào Nghiệp. Còn bảy chi -pháp khác đều
nhiếp-thuộc vào Khổ. Nghĩa là, ngoài những chi-pháp nhiếp-thuộc
vào Phiền-não, vào Nghiệp rồi, còn bảy chi-pháp khác đều
nhiếp-thuộc vào Khổ. Đó là: Thức, Danh-sắc, Lục-nhập,
Xúc, Thụ, Sinh, Lão tử. Nói chữ “Đều” là lời nói bao
gồm tổng-quát, trong đó bao-nhiếp tất cả: “ái-biệt-ly
khổ, oán -tăng-hội khổ và cầu bất đắc khổ”. Cho nên,
trong mười hai chi-pháp này, phiền-não, nghiệp và khổ, đều
thu-nhiếp hết. Nói về chữ “Duy” (chỉ thuộc), nó có nghĩa
hạn-chế. Các chi-pháp trong kinh nói, chỉ trong ba loại này
thu-nhiếp hết, không còn sót chi-pháp nà o.
HỎI:
Các nghĩa trên đây tôi đã hiểu, còn sự tương-sinh của
phiền-não, nghiệp và khổ như thế nào? Xin Đại-Sư giải-thuyết
cho.
ĐÁP:
Từ Ba sinh ra Hai, có nghĩa là từ ba phiền-não sinh ra hai nghiệp.
Từ Hai sinh ra Bảy, có nghĩa là từ nơi hai nghiệp sinh ra bảy
chi-pháp của khổ, như đã dẫn ở trên. Bảy sinh trở lại
nơi Ba, có nghĩa là các phiền-não lại từ ba phiền-não sinh
ra, rồi sinh ra hai nghiệp v.v... “Vòng Hữu này thường chuyển”,
có nghĩa là: “Hữu” (hữu-lậu) có ba loại là Dục-hữu,
Sắc-hữu và Vô-sắc-hữu. Nhân-duyên trong ba Hữu này, chúng
lưu-chuyển không ngừng. Do lưu-chuyển, chúng trở thành những
chúng-sinh khác nhau, rồi tự chúng lại lưu-lãng. Trong câu
này có chữ “thử” (này), nó hiển bày cho nghĩa bất-định,
không phải hiển bày cho nghĩa luân -chuyển, vì trong ấy, chúng
lần-lượt sinh ra các Hữu. Đó là nghĩa bất-định.
HỎI:
“Vậy, thân tự-tại của chúng-sinh là gì? Tác-dụng của
chúng như thế nào?
ĐÁP:
“Các thú (cõi) chỉ do nhân-quả, chỉ trừ các sự giả-danh.
Trong này không có chúng-sinh. Đó là thực-nghĩa. Không phải
giả-lập mà có. Cảnh tướng giả-lập, không thành vật thực.
HỎI:
“Nếu như thế, cái gì chuyển từ đời này đến đời khác?
ĐÁP:
“không có những pháp cực-vi nào chuyển từ đời này đến
đời khác. Tuy nhiên, từ nơi pháp Không, lại trở lại nơi
pháp Không. Từ nơi vô ngã, ngã-sở, phiền -não, nghiệp, năm
loại không-nhân (4) lại sinh không vô ngã, ngã-sở, và bảy
loại khổ-quả (5) của pháp (sự vật) cũng vô ngã, ngã-sở.
Tuy nhiên, từ nơi tự-tính vô ngã của pháp, lại sinh ra tự-tính
vô ngã của pháp. Ông nên biết như thế và nên nói như thế.
HỎI:
“Từ nơi tự-tính vô ngã của pháp lại sinh ra tự-tính vô
ngã của pháp, có gì làm thí -dụ?”
ĐÁP:
“Như tụng, đèn, gương, ấn, lửa, tinh và mơ (trái mơ),
tiếng”. Đó là những thí-dụ. Giả-dụ, lập thành tự-tính
vô ngã và thành-tựu các pháp thế-gian, thì cũng nên biết
chúng đều như thế. Ví như ông thày tụng một bài nào đó,
nếu chuyển đến đệ -tử tụng, thì sau lời tụng của ông
thày, không còn lời tụng của ông thày ấy nữa. Thế nên,
lời tụng của ông thày không nhập với lời tụng của người
đệ-tử kia. Nhưng, nó cũng không phải từ chỗ khác mà có
lời tụng ấy. Vì nó không có nhân -quả. Như lời mà ông
thày tụng, tới khi tâm-thức không còn tác-động nữa, thời
nó cũng lại như thế. Vì nó xong rồi thường qua đi, không
ảnh-hưởng đến đời khác. Và, đời khác kia cũng không
từ đâu mà có được. Vì nó không có nhân-quả. Như lời
ông thày tụng cùng đệ-tử tụng, bài tụng ấy, tức là
lời ông thày kia, nhưng khác với lời ông thày kia. Thực,
không thể đặt để nó một cách dễ-dàng được. Y vào sự
việc khi tâm-thức không còn tác-động trong lời tụng của
ông thày kia mà phân-biệt, thì sinh rasự chia-xẻ tâm-thức.
Sự sinh ra ấy cũng lại như thế. Nghĩa là, tức là cái kia,
nhưng lại khác cái kia, không thể đặt để nó một cách
dễ -dàng được. Như thế, từ đèn sinh ra ánh đèn, và nương
vào đó mà thành ảnh-tượng. Từ gương hiện ra các ảnh-tượng.
Từ các dấu ấn mà thành chữ. Từ tinh -chủng của khí có
ra lửa. Từ hạt giống sinh ra mầm. Từ trái mơ tiết ra nước
miếng. Từ tiếng sinh ra âm vang của tiếng. Có nghĩa là, sự
vật tức là nó mà khác nó, không thể đặt để nó một
cách dễ-dàng được. “Các Uẩn kết nối nhau, không rời,
trí nên xét”, Uẩn tức là năm uẩn: sắc, thụ, tưởng,
hành và thức. Kết nối nhau, có nghĩa là nó từ nhân nào
đo ù mà sinh ra cái khác. Không có những pháp cực-vi nào,
từ ở nơi đời này di-chuyển đến đời khác. Cho nên, lưu-chuyển
là do từ nơi tập-khí hư-vọng phân-biệt sinh ra. Phần sau
câu này có chữ “ưng” là “nên”, có nghĩa là nên quán-sát
ngược lại, để biết rõ thực-chất các pháp ra sao. Quán
-sát các pháp, thấy chúng thuộc vô thường, khổ, không, vô
ngã. Quán-sát được như vậy, đối với các sự việc không
bị mê-lầm. Không mê-lầm thời không có Tham. Không có Tham
thời Sân không sinh ra. Không có sân thời không có Nghiệp.
Không có Nghiệp thời không có Thủ. Không có Thủ thời không
tạo ra cái Hữu sau này. Không có Hữu thời không có Sinh.
Không có Sinh thời những đau khổ nơi thân-tâm không phát
sinh. Như thế, đối với các chi-phần khác, không kết-tập
năm loại nhân, thời quả khổ không sinh. Quả khổ không sinh,
đó là quả giả -thoát. Cho nên, cần phải dứt trừ tất
cả, dứt trừ cả những ác-kiến về đoạn, thường v.v...
Đoạn
giải-thích trên, thuộc trong hai bài tụng sau này:
Với
sự rất vi-tế,
Còn
tà-kiến: thường, đoạn.
Nhân-duyên
bất-thiện kia,
Chưa
thấy nghĩa duyên sinh.
Trong
đây không thể trừ,
Cũng
không an-lập được.
Dùng
Chân để quán Chân,
Thấy
Chân được giải-thoát.
Chú
thích:
(1)
Bộ Nhân-Duyên-Tâm Luận này thuộc số 1654 trong Đại-Chính
Đại-Tạng Kinh. Bộ luận này do Bồ-Tát Long-Thọ tức Long-Mãnh
viết, nhưng thất-lạc tên người dịch từ chữ Phạm sang
chữ Hán.
(2)
Long-Mãnh tức là Long-Thọ (Nàgàrjuna). Theo bộ Phật-Học Đại-Từ-Điển
(Hán- văn), y theo bộ Tây-Vực-Ký quyển thứ 8 thì đời Đường
dịch là Long-Mãnh, xưa kia dịch là Long-Thọ. Tên của Ngài,
Trung-Hoa dịch thành 3 tên: Long-Mãnh, Long-Thắng và Long-Thọ.
Nhưng, danh- hiệu Long-Thọ, thường được người đời xưng-tụng
nhiều hơn. Ngài sinh tại miền Nam Ấn- Độ, sau đức phật
nhập Niết-bàn vào khoảng bảy trăm năm.
(3)
HỮU chỉ cho pháp hữu-lậu, còn có sự tạo-tác, còn phiền-não,
còn bị luân- hồi trong ba cõi: cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô-sắc.
(4)
Nhân-tố do tứ-đại-chủng (đất, nước, lửa, gió) tạo
ra nên gọi là “Nhân”. Nhân có 5 loại: 1) Sinh- nhân: tứ-đại-chủng
sinh ra sắc-pháp. 2) Y-nhân: sắc-pháp nương theo tứ-đại-chủng.
3) Lập- nhân: sắc-pháp gắn bó theo tứ-đại-chủng để tạo-lập.
4) Trì-nhân: sắc-pháp cố gìn giữ cho tương- tục không gián-đoạn.
5) Dưỡng-nhân: làm tăng-trưởng sắc-pháp. Nơi đây, đạt
tới lý Không, nên gọi là 5 loại Không nhân.
(5)
Có nhân phải có quả. Có tâm thân được kết- hợp bằng
5-uẩn, nên có 7 thứ khổ: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly,
oán tăng hội, và cầu bất đắc. Nơi đây đã đạt tới
lý Không, nên không chịu các quả khổ trên.
Phật
lịch 2540
Tổ-Đình
Từ-Quang
2176
Ontario East
Montreal,
Quebec H2K 1V6
Canada.
Tel: (514) 525- 8122
1996
WP:
Chân Thiền