NGHI
THỨC TỤNG KINH DI LẶC
MẬT
NIỆM
(thắp
đèn đốt hương, toàn thể đúng ngay ngắn, chắp tay để
ngang ngực, mật niệm)
Tịnh
pháp giới chân ngôn
Úm
lam sa ha (3 lần)
Lục
tự đại minh chân ngôn
Úm
ma ni bát mê hồng (3 lần)
(vị
chủ lể quỳ thẳng, cầm 3 cây hương, dâng ngang trán, đọc
bài nguyện hương)
NGUYỆN
HƯƠNG
Nguyện
đem lòng thành kính,
Gởi
theo đám mây hương.
Phảng
phất khắp mười phương’
Cúng
dường ngôi Tam bảo.
Thề
trọn đời giữ đạo,
Theo
tự tánh làm lành.
Cùng
pháp giới chúng sinh,
Cầu
Phật từ gia hộ:
Tâm
Bồ đề kiên cố,
Xa
bể khổ nguồn mê,
Chóng
quay về bờ giác.
KỲ
NGUYỆN
Nay
ngày khánh hỷ, đệ tử chúng con, đứng trước Phật đài,
chí thành đỉnh lễ, trì tụng kinh chú, xưng tán Từ tôn,
kính mong mười phương Tam bảo, Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật,
Long Hoa giáo chủ Di Lặc Tôn Phật, Cực Lạc Giáo Chủ A Di
Đà Phật, Đông Phương Giáo Chủ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương
Phật, Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát , Chư Tôn Bồ tát , Chư
Hiền Thánh Tăng, từ bi gia hộ: Đệ tử chúng con thân tâm
thanh thái, nghiệp chướng tiêu trừ , thường được an lành,
xa lìa khổ ách. Tâm bồ đề kiên cố, chí tu học vững vàng.
Tự giác, giác tha, giác hành viên mãn. Phật pháp trường tồn,
tuệ đăng thường chiếu, thế giới thanh bình chúng sinh an
lạc. Bốn sinh đều lợi, ba cõi cùng nhờ. Pháp giới chúng
sinh, cùng thành Phật đạo.
TÁN
PHẬT
Đấng
Pháp Vương vô thượng,
Ba
cõi chẵng ai bằng.
Thầy
dạy khắp trời người,
Cha
lành chung bốn loại.
Quy
y trọn một niệm,
Dứt
sạch nghiệp ba kỳ.
Xưng
dương cùng tán thán
Ức
kiếp không cùng tận.
QUÁN
TƯỞNG
Phật
chúng sinh tánh thường rỗng lặng,
Đạo
cảm thông không thể nghĩ bàn,
Lưới
đế châu ví đạo tràng,
Mười
phương Phật bảo hào quang sáng ngời,
Trước
bảo tọa thân con ảnh hiện,
Cúi
đầu xin thệ nguyện quy y.
ĐẢNH
LỄ
Chí
tâm đảnh lễ : Nam mô tận hư không, biến pháp giới, quá
hiện, vị lai thập phương chư Phật, tôn pháp, hiền thánh
tăng, thường trụ Tam Bảo. (1 lạy)
Chí
tâm đảnh lễ : Nam mô Sa bà Giáo chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu
Ni Phật, Long Hoa giáo chủ, đương lai hạ sanh Di Lặc tôn Phật
, Đại Trí Văn Thù Sư Lỵ Bồ tát, Đại Hạnh Phổ Hiền
Bồ tát , Hộ Pháp chư tôn Bồ tát, Đạo tràng hội thượng
Phật Bồ tát. (1 lạy)
Chí
tâm đảnh lễ : Nam Mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại
từ đại bi A Di Đà Phật, Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát, Đại
Thế Chí Bồ tát, Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ tát,
Thanh Tịnh đại hải chúng Bồ tát. (1 lạy)
TRÌ
TỤNG
Cành
dương nước tịnh,
Rưới
khắp tam thiên.
Tính
không tám đức,
Lợi
lạc nhân thiên.
Thấm
nhuần pháp giới,
Tịnh
nghiệp tăng diên.
Phúc
sinh tội diệt,
Lửa
hóa hồng liên.
Nam
mô Thanh Lương Địa Bồ tát ma ha tát (3 lần)
CHÚ
ĐẠI BI
Nam
Mô Đại Bi Hội thượng Phật Bồ tát (3 lần)
Thiên
Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni:
1.
Nam mô hát ra đát na đá ra dạ gia.
2.
Nam mô A rị gia bà lô kiết đế thước bát ra gia. Bồ đề
tát đỏa bà gia. Ma ha tát đõa bà gia.
3.
Ma ha ca rô ni ca gia.
4.
Úm tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tả.
5.
Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị gia, bà lô kiết đế
thất Phật ra lăng đà bà.
6.
Nam mô na ra cẩn trì, hệ rị ma ha bàn đa sa mế .
7.
Tát bà a tha đậu du bằng, a thệ đựng, tát bà tát đá na
ma bà già ma phạt đặt đậu.
8.
Đát điệt tha. Úm a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế .
9.
Di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma la ma
la.
10.
Ma hê ma hê, rị đà đựng, cu ru cu ru kiết mông.
11.
Cu ru cu ru, phạt xà gia đế. Ma ha phạt xà gia đế.
12.
Đà ra đà ra địa rị ni, thất Phật ra gia.
13.
Giá la giá la, mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ .
14.
Y hê, y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lị.
15.
Phạt sa phạt sâm, Phật ra xá gia. Hu lu hu lu ma la.
16.
Hu lu hu lu hê lị, sa ra sa ra, si ri si ri , su ru su ru.
17.
Bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ.
18.
Di đế rị gia, na la cẩn trì, địa rị sắt ni na.
19.
Ba dạ ma na sa bà ha. tất đà dạ sa bà ha. Ma ha tất đà dạ
sa bà ha.
20.
Tất đà dủ nghệ thất bàn ra dạ sa bà ha. Na la cẩn trì
, sa bà ha.
21.
Ma ra na ra sa bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, sa bà ha.
22.
Sa bà ma ha, a tất đà dạ, sa bà ha. Giả kiết ra a tất đà
dạ, sa bà ha.
23.
Ba đà ma kiết tất đá dạ, sa bà ha. Na la cẩn trì bàn già
ra gia, sa bà ha.
24.
Ma bà rị thắng kiết ra dạ, sa bà ha.
25.
Nam mô hát ra đát na đá ra dạ gia.
26.
Nam mô a rị gia bà lô kiết đế , thước bàn ra dạ, sa bà
ha.
27.
Úm tất điện đô mạn đá ra bạt đà gia, sa bà ha. ( 3 lần
)
SÁM
NGUYỆN
Đệ
tử kính lạy,
Đức
Phật Thích Ca,
Phật
A Di Đà.
Thập
phương chư Phật,
Vô
lượng Phật Pháp,
Cùng
thánh hiền Tăng.
Đệ
tử lâu đời lâu kiếp,
Nghiệp
chướng nặng nề,
Tham
giận kiêu căng,
Si
mê lầm lạc.
Ngày
nay nhờ Phật,
Biết
sự lỗi lầm,
Thành
tâm sám hối,
Thề
tránh điều dữ,
Nguyện
làm điều lành.
Ngữa
trông ơn Phật ,
Từ
bi gia hộ,
Thân
không tật bệnh,
Tâm
không phiền não.
Hằng
ngày an vui tu tập,
Pháp
Phật nhiệm mầu.
Để
mau ra khỏi luân hồi,
Minh
tâm kiến tánh,
Trí
tuệ sáng suốt,
Thần
thông tự tại.
Đặng
cứu độ các bậc tôn trưởng,
Cha
mẹ anh em,
Thân
bằng quyến thuộc,
Cùng
tất cả chúng sinh,
Đồng
thành Phật đạo.
TÁN
HƯƠNG
Lò
hương vừa đốt
Cõi
Phật thơm lây
Chư
Phật bốn biển đều xa hay.
Thấu
tâm thành này,
Chư
Phật hiện thân ngay.
Nam
mô Hương Vân Cái Bồ tát ma ha tát ( 3 lần)
Chân
ngôn sạch nghiệp khẩu
Tu
rị, tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị, sa bà ha ( 3 lần)
Chân
ngôn sạch nghiệp thân
Tu
đa rị, tu đa rị, tu ma rị, sa bà ha ( 3 lần)
Chân
ngôn sạch ba nghiệp
Úm
sa phạt bà phạ, truật đà sa phạ, đạt ma sa phạ, bà phạ
truật độ hám. ( 3 lần)
Chân
ngôn an thổ địa
Nam
mô tam mãn đá một đà nẫm, úm độ rô độ rô địa vĩ,
sa bà ha. ( 3 lần)
Chân
ngôn phổ cúng dường
Úm
nga nga nẵng tam bà phạt phiệt nhật la hộc. ( 3 lần)
TỤNG
KINH PHÁT NGUYỆN
Kính
lạy tam giới tôn,
Quy
mệnh mười phương Phật,
Con
nay phát nguyện rộng,
Trì
tụng kinh Di Lặc.
Trên
đền bốn ơn nặng,
Dưới
cứu khổ ba đường.
Nếu
ai thấy, nghe được,
Đều
phát lòng Bồ đề.
Khi
hết báo thân này,
Dự
vào Long Hoa hội.
Nam
mô Long Hoa Giáo Chủ Đương Lai Hạ Sanh DI Lặc Tôn Phật (3
lần)
KỆ
KHAI KINH
Pháp
Phật cao siêu rất nhiệm mầu,
Nghìn
muôn ức kiếp dễ hay đâu.
Con
nay nghe thấy xin vâng giữ,
Chân
nghĩa Như Lai hiểu thật sâu.
Nam
mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. ( 3 lần)
Nam
mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ tát . ( 3 lần)
PHẬT
NÓI KINH DI LẶC HẠ SINH THÀNH PHẬT.(1)
Hán
dịch: Tam Tạng Pháp Sư Nghĩa Tịnh
Việt
dịch: Thích Tâm Châu
1.
Chính tôi được nghe, vào một thời kia, Thế tôn an trụ trên
núi Linh Thứu, thuộc thành Vương Xá. Ngài và một số chúng
Đại Bật Sô cùng ở nơi này (2).
2.
Và, khi bấy giờ có bậc đại trí là Xá Lỵ tử, là bậc
pháp tướng, tối cao trong chúng vì thương thế gian, liền
từ tòa ngồi, khoan thai đứng dậy, trễ áo vai hữu, gối
hữu quỳ đất, chấp tay cung kính, bạch Thế Tôn rằng:“
Kính bạch Thế Tôn Kính mong Thế Tôn, rũ lòng chấp thuận.”
3.
Đức Phật kiến bảo ông Xá Lỵ Tử :“ Tùy ông hỏi gì,
Ta sẽ giãng giải.”
4.
Ngay lúc bấy giờ, ông Xá Lỵ Tử, thỉnh vấn Thế Tôn bằng
lời kệ tụng:
“
Như kinh đã nói, Đại Sư thụ ký vị Phật sau này là ngài
Từ Thị. Kính mong Thế Tôn, trùng tụng kinh ấy, và phân biệt
rõ uy đức thần thông của ngài Từ Thị. Chúng con muốn nghe
về vấn đề ấy.”
5.
Đức Phật từ ái, bảo Xá Lỵ Tử :“ Ông nên chí tâm, lắng
nghe cho rõ, Ta sẽ vì ông nói rộng về việc Thế Tôn Từ
Thị, trong đời sau này.”
6.
Với thế gian ấy, nước nơi biển cả, dần dần cạn đi,
xuống đến hai nghìn ba trăm do tuần (3) để lộ đất đai
của Chuyễn Luân Vương. Nam thiện bộ châu, đất đai ngang
dọc, hàng vạn do tuần, và khắp mọi nơi đã có chúng sinh
an trụ trong đó, đều được sung mãn. Đất nước giàu thịnh,
không có hình phạt, không có tai ách. Nam nữ nơi đây, do thiện
nghiệp sinh. Đất không có gai, thuần cỏ xanh mềm. Chân bước
lên trên, như trên bông mịn. Đất nước tự nhiên mọc lên
lúa hương, mùi vị thơm ngon, thảy đều đầy đủ. Tự nhiên
các cây, hóa ra y phục, đủ để trang nghiêm. Mỗi cây cao
độ ba vạn câu xa (4), hoa quả đầy dẫy.
7.
Người trong nước ấy sống tám vạn tuổi, không có tật
khổ, không có phiền não, thường an vui. Đức tướng trang
nghiêm, sắc lực viên mãn. Nhưng người ta lo chỉ về ba việc,
là lo thức ăn, lo sự suy yếu, lo sự tiện lợi. Về phần
nữ giới, mãi năm trăm tuổi, mới kết hôn nhân. Khi người
nào đó, muốn di tiện lợi, đất tự nứt ra, tiện lợi vào
đó, đất liền khép lại. Khi sắp mệnh chung, tự mình đi
đến ngay nơi nghĩa trang thân hóa tại đó. Đô thàng Luân
Vương là diệu Chàng tướng. Bề dọc đô thành mười hai
do tuần. Bề rộng cùa nó là bảy do tuần. Dân cư trong thành,
đều là những người đã trồng nhân tốt. Thành có thắng
đức, ai ở đều vui. Lâu đài, các sở ngăn ngừa kẻ địch,
tất cả xây nên, đều bằng thất bảo (6). Khóa cùng các
cửa, cũng dát châu báu. Hòa rãnh quanh thành , làm bằng ngọc
quý. Hoa thơm lừng lẩy, chim đẹp liệng bay. Bảy hàng đa
la (2) trồng quang tất cả. Và, đều trang nghiêm bằng các
châu báu. Trên mổi cây ấy đều treo chuông khánh. Gió hiu
hiu thổi vào các cây báu, diễn ra những tiếng, êm dịu nhiệm
mầu, như tấu bát âm (8) người nghe hoan hỷ. Nơi nào cũng
có ao hồ đẹp mắt, trong đó đầy dẫy những hoa tạp sắc.
Vườn, rừng thơm đẹp, thành quách trang nghiêm.
8.
Đất nước nầy có một vị thánh chủ tên là Hướng Khư,
là Kim luân Vương, cai trị bốn châu, uy lực, giầu thịnh.
Phúc nghiệp nhà vua, mạnh mẽ vô song. Lại còn cả bốn loại
hùng binh. Mọi thứ thành tựu, đều bằng thất bảo. Nhà
vua còn có một nghìn người con. Bốn biển thanh bình, không
có chiến tranh. Chính pháp dạy dân, khuyên đều bình đẵng.
Đất nước còn có bốn kho tàng lớn. Trong mổi kho tàng có
trăm vạn ức những thứ trân bảo. Ở Yết Lăng Già , có
một kho báu là Băng Kiệt La. Ở Mật Hy LA, có một kho báu
là Bát Trục Ca. Ở nơi Kiền Đà, , có một kho báu Y La bát
La. Ở Bà La Tư, có một kho báu tên là Hướng Khư. Bốn kho
báu ấy, thuộc vua Hướng Khư. Do nương nhờ vào bao phúc nghiệp
trước, cho nên ngày nay, quả báo thành tựu.
9.
Nhà vua lại có phụ quốc đại thần, dòng Bà La Môn, tên
là Thiện Tịnh. Ông làm Quốc Sư, là bậc đa văn, hiểu suốt
“ Tứ Minh” (9) thông các tạp luận, ham nghe, ham học, khéo
léo hành trì, lại khéo giáo hóa, và đến những môn huấn
giải, thanh minh (10) ” đều nghiên cứu cả. Và bà Tịnh Diệu
là vợ Thiện Tịnh, vóc dáng đoan nghiêm, ai trông thấy bà
cũng đều hoan hỹ.
10.
Nay đức Từ Thị, từ trời Đâu Suất (11) mượn nơi Tịnh
Diệu, mang bào thai người, cho thân sau cùng. Mang thai đại
thánh, đầy đủ mười tháng. Một hôm tôn mẫu của đức
Từ thị, thăm vườn Diệu Hoa. Khi đến vườn này, bà không
ngồi, nằm, đứng vịn cây hoa, bổng nhiên đản sinh ra đức
Từ Thị.
11.
Khi Từ Thị sinh từ nơi nách phải thân mẫu Ngài, như ánh
mặt trời, vượt khỏi mây mờ, phóng ra ánh sáng, chiếu khắp
tất cả. Tuy mượn bào thai, nhưng không nhiễm xúc những cảnh
trần tục. Như hoa sen thơm, từ nước mọc lên.
12.
Khi ánh sáng chiếu tràn lan ba cõi (12) , tất cả mọi nơi,
nơi nào cũng đều kính ngưỡng ánh sáng của đức Từ Thị.
Và trong khi sinh, Đế Thích Thiên Chủ (13) , tự nâng Bồ tát
và rất vui mừng, gặp Lưỡng Túc Tôn (14) . Trong thời gian
ấy, tự nhiên Bồ tát kinh hành bảy bước, trong mổi bước
đi, nở hoa sen báu.
13.
Khi ấy Từ Thị quan sát mười phương tuyên cáo chư thiên
và nhân chúng rằng; “ Đây thân tối hậu, đạt tới vô
sinh, chứng nhập Niết bàn”. (15)
14.
Sau giờ phút ấy, rồng phun thanh thủy, tắm thân Đại Bi,
chư thiên rải hoa, rợp khắp hư không, chư thiên cầm lọng,
che Đại Từ Tôn. Ai ai cũng đều sinh tâm hy hữu, và đều
thủ hộ thân của Bồ tát.
15.
Vú nuôi nâng niu, ẵm thân Bồ Tát. Thấy thân hiện rõ 32 tướng
tốt, đủ mọi ánh sáng. Bà liền trao Ngài cho thân mẫu Ngài.
Người trong hoàng cung đem se đến rước. Xe này trạm trổ,
trang nghiêm châu báu. Mẹ con lên xe chư thiên nâng đỡ. Nghìn
thứ âm nhạc, trỗi khúc vui mừng, dẫn đạo về cung.
16.
Từ Thị vào thành, hoa trời tung rãi. Ngày Ngài đản sinh.,
thể nữ mang thai, thân được an ổn, đều sinh con trai, thông
minh trí tuệ. Tôn phụ thiện tịnh nhìn dung nhan con, đủ 32
tướng, tâm sinh hoan hỷ. Rồi ông xem tướng, biết con hai
tướng: nếu ở thế gian, làm chuyễn luân vương, và nếu
xuất gia, thành bậc Chính Giác.
17.
Bồ Tát khôn lớn, thương xót chúng sinh. Chúng sinh ở trong
đau khổ, hiểm nạn, và bị luân hồi, không lúc ngừng nghỉ.
Thân Ngài sắc vàng, sáng tõa rực rỡ. Âm thanh của Ngài,
như tiếng phạm âm. Mắt Ngài ánh xanh, như hoa sen xanh. Chi
thể của Ngài, tám mươi khủy tay. và tướng đoan nghiêm,
như mặt trăng tròn.
18.
Đối với Bồ tát, mọi nghề đều giỏi,. Lại khéo dạy
bảo những người theo học. Ngay đến trẻ nhỏ xin theo học
Ngài, số người dến cả tám vạn bốn nghìn.
19.
Vào thế gian ấy Luân Vương Hướng Khư dụng cờ bảy báu
(17) , cờ cao vào cỡ khoảng bảy mươi tầm (18) , và rộng
vào khoảng, độ sáu mươi tầm. Dựng cờ xong rồi, vua phát
xả tâm, cho Bà La Môn, lập hội vô già (19) , làm việc bố
thí, một cách bình đẵng.
20.
Trong thế gian nầy, các hàng Phạm Chí (20), có đến nghìn
người, được cờ báu nầy, tích tắc hư bể. Bồ tát thấy
thế, Ngài tự niệm rằng, sự việc thế tục, đều như thế
cả. Đều bị sinh tử khổ đau ràng buộc. Do đó, Ngài liền
nghĩ đến xuất ly. Mong đạo tịch diệt, bỏ tục xuất gia.
Xuất gia chứng đạo, cứu vớt chúng sinh, ra khỏi luân hồi,
sinh, già , bệnh, chết.
21.
Ngày đức Từ Tôn, hưng khởi đại nguyện, đã có số người
tám vạn bốn ngàn, sinh tâm yếm ly, tu theo phạm hạnh. Đêm
mới phát tâm, xả tục xuất gia, Ngài đã chứng được ngôi
đẵng giác địa. Có cây Bồ đề, tên là Long Hoa, cao bốn
do tuần, tươi tốt sum sê. Cành lá che rợp, tỏa ra bốn bên,
sáu câu lô xá. Từ Thị đại bi, thành ngôi cháng giác, dưới
gốc cây nầy.
22.
Đối với loài người, Từ Thị đại bi là bậc tối thắng,
Ngài đủ tám thứ âm thanh cõi Phạm (21). Thuyết pháp độ
sinh, bỏ các phiền não. Khổ, nơi sinh khổ, tất cả trừ
diệt. Tu tám chính đạo (22) , lên bờ Niết Bàn. Ngài vì các
hàng thanh tín nam nữ, nói bốn chân đế (23). Được nghe pháp
rối, dốc lòng vâng giữ.
23.
Trong vườn Diệu Hoa, chúng họp đông đảo. Đấy đủ quyến
thuộc, hàng trăn do tuần. Hướng Khư Luân Vương, nghe pháp
thâm diệu, bỏ hết trần lao, tâm thích xuất gia. Không tiếc
thứ gì, trong nơi hoàng cung. Chỉ dốc một lòng, mong cầu
xuất ly. Và cả quần chúng, tám vạn bốn nghìn, cũng đều
theo vua, xuất gia tu đạo. Lại cả trẻ nhỏ, dòng Bà la môn,
số đông ắt có, tám vạn bốn nghìn, nghe vua bỏ tục, cũng
cầu xuất gia. Cả quan Chủ Tạng, tên là Thiện Tài, và nghìn
quyến thuộc, cũng cầu xuất gia. Nàng Tỳ Xá Khư, bảo nữ
trong cung, cùng những tùy tùng, tám vạn bốn nghìn, đều cấu
xuất gia. Cho đến con số, trên trăm nghìn người thiện nam,
thiện nữ, nghe Phật nói pháp cũng cầu xuất gia.
24.
Ngài là một bực Thánh chủ từ bi, được người và trời,
cung kính tôn trọng. Quán tất cả tâm chúng sinh rồi, tuyên
diễn pháp yếu. Ngài bảo đại chúng, các vị nên biết, với
lòng từ bi của Phật Thích Ca, đã dạy các vị, tu theo chính
đạo, do đó các vị sinh trong pháp tôi. Với nhân duyên trước,
hoặc dùng hương hoa, tràng phan lọng tán, trang nghiêm đẹp
đẽ, cúng dường Mâu Ni, nên được sinh vào pháp hội của
Tôi. Hoặc dùng các thứ uất kim trầm thủy, các loại đất
bùn, thơm tho sạch sẻ, dùng để xây cất và để tô trát,
cúng dường vào ngôi tháp Phật Mâu Ni. Do nhân duyên ấy, sinh
trong pháp Tôi. Quy y Phật , Pháp. Tăng, cung kính thân cận,
tu mọi thiện hạnh, sẽ được sinh vào pháp hội của Tôi.
Hoặc trong Phật pháp, thọ trì học xứ, khéo giữ không phạm,
sẽ được sinh vào pháp hội của Tôi. Với tứ phương tăng,
cúng áo, món ăn, cùng những thuốc tốt, sẽ được sinh vào
pháp hội của Tôi. Trong bốn kỳ chay, hoặc tháng thần thông
(24) , thụ trì tám giới (25), sẽ được sinh vào pháp hội
của Tôi. Hoặc dùng ba thông như thần cảnh ký và giới giáo
thụ (26) , giáo đạo Thanh Văn, diệt trừ phiền não, để
được dự vào pháp hội Long Hoa.
25.
Hội đầu thuyết pháp, độ các Thanh Văn, khỏi phiền não
chướng. Số người được độ, chín mươi sáu ức. Hội
hai, thuyết pháp, độ các Thanh Văn, qua biển vô minh. Số người
được đọ, chín mươi bốn ức. Hội ba, thuyết pháp, độ
các Thanh Văn, điều phục thiện tâm. Số người được đọ,
chín mươi hai ức.
26.
Ba lần chuyễn pháp, nhân thiên thuần tịnh, đem chúng đệ
tử, vào thành khuất thực. Vào Diệu Trành thành, đường
xá nghiêm sạch. Trời cúng dường Phật, rải hoa mạn đà,
các thiên chúng khác: Tứ vương, Phạm vương . . . , cúng dường
hương hoa, quanh thân đại bi. Chư Thiên đức lớn, dâng y phục
đẹp. Các vật cúng dường của các chư thiên, phất phới
thành ấp, tràn ngập đường xá. Mục dích các vị, cung kính
chiêm ngưỡng bậc đại y vương, ra đời hóa độ. Hương
hoa diệu bảo khắp chốn, khắp nơi, ai bước chân lên, như
bước lên nệm bông đâu-la-miên (27) . Tràng phan âm nhạc,
la liệt bên đường.
27.
Vua trời Đế Thích, cùng chúng nhân thiên, tán thán công đức,
bậc đại Từ Tôn: Nhất tâm kính lễ bậc Thiên Thượng Tôn.
Nhất tâm kính lễ bậc Sĩ Trung Thắng. Lành thay Thế Tôn,
thương xót thế gian. Có uy đức lớn, làm cho chúng ma, quy
tâm đỉnh lễ, tán ngưỡng Đạo Sư. Thiên chúng Phạm vương,
quyến thuộc vây quanh, dùng tiếng Phạm Âm, xiễn dương diệu
pháp.
28.
Trong thế giới này, nhiều A la hán, trừ bỏ lậu nghiệp,
lìa hẳn phiền não. Nhân, Thiên, Long Thần, Càn Thát, Tu la,
La sát, Dược Xoa. . . hoan hỷ cúng dường.
29.
Đại chúng khi ấy, dứt chướng, trừ hoặc, siêu việt sinh
tử, tu hạnh thanh tịnh, đại chúng khi ấy, không ham của
báu, vô ngã, ngã sở, tu hạnh thanh tịnh. Đại chúng khi ấy,
xé lưới tham ái, tĩnh lự hoàn toàn, tu hạnh thanh tịnh. Đại
chúng khi ấy, xé lưới tham ái, tĩnh lự hoàn toàn, tu hạnh
thanh tịnh.
30.
Thế Tôn Từ Thị, thương xót hữu tình, thuyết pháp độ
sinh, trong sáu vạn năm, hóa trăm vạn ức, qua biện phiền
não.
31.
Có duyên đều độ, rồi nhập Niết Bàn. Thế Tôn Từ Thị,
sau nhập Niết Bàn, chính pháp còn lại được sáu vạn năm.
32.
Ở trong pháp ta, thâm tâm tín thụ, trong ngày sau này, được
gặp Từ Thị. Nếu người thông tuệ, nghe nói việc này, ai
không vui mừng, mong gặp Từ Thị. Người cầu giải thoát,
gặp hội Long Hoa, cúng dường Tam bảo. Đừng nên phóng dật.
33.
Bấy giờ Thế Tôn vì Xá Lỵ Tử và cả đại chúng, nói và
ghi nhận sự việc sau này của đức Từ Thị. sau đó, lại
bảo ngài Xá Lỵ Tử, nếu có thiện nam và thiện nữ nào
nghe được pháp này, thụ trì đọc tụng, và vì người khác,
diễn nói chính pháp, như nói, tu hành, cúng dường hương hoa,
viết chép kinh quyễn. . ., thì những người ấy, về đời
sau này, quyết định sẽ được gặp đức Từ Thị, và trong
ba hội, nhờ ơn cứu độ.
34.
Khi đức Thế Tôn nói bài tụng rồi, ngài Xá Lỵ Tử và cả
đại chúng, hoan hỷ tín thụ, đỉnh lể vâng làm.
PHẬT
NÓI KINH QUÁN DI LẶC BỒ TÁT THƯỢNG SINH ĐÂU SUẤT THIÊN (1).
Hán
dịch: Cư sĩ Cừ Kinh Thanh đời Tống.
Việt
dịch: Thích Tâm Châu.
1.
Chính tôi được nghe, vào một thời kia, đức Phật trụ tại
vườn Cấp Cô Độc, rặng cây Kỳ Đà, thuộc nước Xá vệ.
2.
Bấy giờ Thế Tôn cử động thân thể, phóng ra hào quang.
Hào quang sắc vàng, quanh vườn Kỳ Đà. Quanh suốt bảy vòng,
rồi chiếu vào nhà ông Tu Đạt (2) ở. Hào quang chiếu này
cũng bằng sắc vàng. Hào quang vàng này, như từng đám mây
lan tỏa cùng khắp cả nước Xá Vệ . Lan tới chổ nào , nơi
ấy đều mưa.
3.
Sau đó, Ngài lại hóa hoa sen vàng. Trong mổi hào quang hóa hoa
sen vàng, trong đó có đến vô lượng trăm nghìn chư đại
hóa Phật , và mổi hóa Phật, đều xướng lên rằng: “ Nay
ở trong này có nghìn bồ tát, sẽ thành Phật đạo. Đầu
tiên thành Phật, Ngài Câu Lưu Tôn. Và thời sau cùng , vị
được thành Phật là ngài Lâu Chí ”.
4.
Các vị hóa Phật, nói lời ấy rồi, ông Kiều Trần Như,
từ thiền định dậy, cùng với hai trăm năm mươi quyến thuộc
cùng đến nơi Phật . Ngài Đại Ca Diếp cũng cùng hai trăm
năm mươi quyến thuộc, cùng đến nơi Phật. Đại Mục Kiền
Liên cũng cùng hai trăm năm mươi quyến thuộc, cùng đến nơi
Phật. Tôn giả Xá Lỵ cũng cùng hai trăm năm mươi quyến thuộc,
cùng đến nơi Phật. Tu Đạt trưởng giả cũng cùng ba nghìn
vị Ưu bà Tắc (3), cùng đến nơi Phật. Tỳ Xá Khư Mẩu cũng
cùng hai nghìn vị Ưu bà Di (4) , cùng đến nơi Phật. Chúng
đại Bồ tát gồm mười sáu vị như là Bồ tát Bạt Đà
Bà La ..., cũng đến nơi Phật. Ngài pháp vương tử (5) Văn
Thù Sư Lỵ cũng cùng năm trăm vị Bồ tát khác cùng đến
nơi Phật. Cả đến các vị Thiên, Long, Dạ Xoa, cùng Càn Thát
Ba..., hết thảy đại chúng, thấy hào quang Phật , đều cùng
vân tập đến nơi Phật trụ.
5.
Bấy giờ Thế Tôn lại phóng thêm ra hàng nghìn hào quang tướng
quảng trường thiệt. Trong mổi hào quang, có nghìn màu sắc,
có nhiều hóa Phật. Các hóa Phật ấy, tuy rằng khác miệng,
nhưng đồng âm thanh, đều nói lên rằng: “ Các đại Bồ
tát đều thanh tịnh nầy, có Đà ra ni (6) rất sâu vi diệu
không thể nghĩ bàn như : đà ra ni mục khư, đà ra ni không
tuệ, đà ra ni vô ngại tính, đà ra ni đại giải thoát vô
tướng”.
6.
Khi ấy Thế Tôn dùng một âm thanh nói ra trăm ức môn đà
ra ni. Lúc Thế Tôn nói đà ra ni song, ở trong pháp hội có
một Bồ tát tên là Di Lặc, nghe lời Phật nói tức thời
chứng được hàng trăm vạn ức môn đà ra ni, và ngay sau đó,
Bồ tát Di Lặc, liền từ tòa ngồi, nghiêm chỉnh y phục,
xoa tay. chắp tay, đứng ngay trước Phật.
7.
Và, cùng khi ấy, ông Ưu Bà Ly, từ tòa đứng dậy, đầu diện
tác lễ, bạch đức Phật rằng:“ Kính bạch Thế Tôn, xưa
kia khi Thế Tôn nói trong kinh luật rằng, A Dật Đa sẽ được
thành Phật, ở đời sau nầy. Nay con thấy rằng ông A Dật
Đa vẫn còn đầy đủ tấm thân phàm phu và chưa dứt hết
được các lậu hoặc. Khi Di Lặc mất sẽ sinh nơi nào ? Bản
thân Di Lặc, con người hiện nay, tuy là xuất gia, không tu
thiền định, không dứt phiền não. Thế Tôn thụ ký (7) cho
ông Di Lặc con không dám nghi. Nhưng, con muốn biết, khi ông
mất rối, sinh vào nước nào ?
8.
Thế Tôn liền bảo ông Ưu Bà Ly :“ Ông hãy nghe kỹ, nghe
cho thật kỹ và khéo nhớ nghĩ, nay Như Lai đây, bậc Chánh
biến tri, ở trong chúng này, nói về Di Lặc bậc đại bồ
tát, thụ ký vô thượng chính đẵng chánh giác”.
9.
Sau mười hai năm, Di Lặc mệnh chung, quyết được sinh lên
cõi trời Đâu Suất. Trên trời Đâu Suất có năm trăm ức
các vị Thiên tử. Mỗi vị Thiên tử đều tu về pháp thí
Ba la mật. Các vị Thiên tử vì sự cúng dường một vị Bồ
tát “ Nhất sinh bổ sứ ” (8) nhờ phúc lực ấy, xây cất
cung điện. Các vị trút bỏ cả các mũ báu chiên đàn ma ni,
quỳ thẳng, chắp tay, phát lời nguyện rằng :“ Ngày nay chúng
con đem các bảo châu và mũ thiên quan, thực vô giá này, chỉ
với mục đích cúng dường cho bậc “ Đại tâm Chúng Sinh”
Vì, rằng bậc này, không bao lâu nữa, ở trong đời sau, thành
bậc vô thượng chính đẵng chính giác. Chúng con chỉ mong,
trong đời sau này, chúng con sẽ được trang nghiêm quốc giới
củ a đức Phật ấy, và được thụ ký. Nếu được như
thế , mũ báu của chúng con, hóa thành dồ cúng”. Rồi cứ
như thế, các vị thiên tử lấn lượt quỳ thẳng cũng lại
phát nguyện, nguyện lớn như trên.
10.
Khi các Thiên tử phát nguyện xong rồi, các mũ báu ấy hóa
thành năm trăm vạn ức cung báu. Mỗi một cung báu có một
trùng tường. Mỗi một trùng tường, xây bàng bảy báu. Và,
mỗi thứ báu phóng ra hàng năm trăm ức ánh sáng. Trong mỗi
ánh sáng, có năm trăm ức bông hoa sen lớn. Mỗi một hoa sen,
lại biến hóa ra thành năm trăm ức hàng cây bảy báu. Mổi
một lá cây, lại có hàng năm trăm ức sắc báu. Mỗi một
sắc báu, có năm trăm ức ánh sáng vàng ròng cõi Diêm phù
đàn (9). Mỗi một ánh sáng như ánh vàng ròng cõi Diêm phù
đàn, hiện năm trăm ức chư thiên bảo nữ. Mỗi nàng bảo
nữ, đứng dưới cây báu, cầm hàng trăm ức vô số anh lạc
(10). Và, trong khi ấy, tự nhiên trổi lên âm nhạc vi diệu.
Trong âm nhạc ấy, diễn thuyết ra những pháp luân bất thoái.
Các cây báu ấy, sinh ra các quả, màu như pha lê. Các ánh sáng
ấy, chiếu theo chiều phải, uyển chuyển phát ra nhiều thứ
âm thanh. Những âm thanh ấy, nói ra những pháp đại từ, đại
bi.
11.
Về mỗi trùng tường, cao độ vào khoảng, sáu hai do tuần.
Tường dầy vào khoảng mười bốn do tuần. trong trùng tường
ấy, có năm trăm ức các vị Long vương vây quanh gìn giữ.
Mỗi vị Long vương, hóa hàng trăm ức hàng cây bảy báu, để
trang nghiêm thêm các trùng tường ấy. Rồi tự nhiên có gió
hiu hiu thổi động các câu ấy. Các cành cây ấy va chạm vào
nhau, diễn ra những pháp: khổ, không, vô thường, vô ngã,
và cả pháp ba la mật.
12.
Trong cung điện này, có vị đại thần, danh hiệu gọi là
Lao Độ Bạt Đề, liền từ tòa ngồi đứng dậy đỉnh lễ
tất cả chư Phật ở khắp mười phương, vá phát ra lời
thệ nguyện rộng lớn:“ Nay tôi muốm xây ngôi thiện pháp
đường, chí thành cúng dường Bồ tát Di Lặc. Nếu có phúc
ấy, nơi trán của tôi, tự nhiên xuất ra nhiều thứ bảo
châu, để tôi được làm theo như sở nguyện”. Đại thần
nguyện rồi, tự nhiên trên trán xuất ra trăm thứ bảo châu,
lưu ly, và ngọc pha lê, tất cả màu sắc ấy như ngọc ma
ni này, chiếu tõa hư không, liền hóa hiện ra bốn mươi chín
trùng bảo cung ấy, được hợp thành lại, kể như vạn ức
viên ngọc ma ni, màu sắc tía biếc, thấu suốt trong ngoài.
Ánh ma ni nầy, chiếu tõa hư không, liền hóa hiện ra bốn
mươi chín trùng bảo cung vi diệu. Mỗi hàng lan can cũa bảo
cung ấy, được hợp thành lại, kể như vạn ức viên ngọc
ma ni, ở dưới bảo sở của cõi Phạm thiên. Các lan can ấy,
tự nhiên hóa sanh chín ức thiên tử, và năm trăm ức các
nàng thiên nữ . Tay mỗi thiên nữ lại hóa sinh ra vô lượng
ức vạn hoa sen bảy báu. Trên mỗi hoa sen, có đến vô lượng
số ức hòa quang. Trong hào quang ấy đủ các nhạc khí. Các
nhạc khí ấy, không đánh tự kêu. Khi tiếng nhạc khí tự
nhiên phóng ra, các nàng thiên nữ cũng cầm nhạc khí, ganh
đua ca vũ. Những ca vũ ấy chỉ ca diễn nói về mười điều
thiện, bốn nguyện rộng lớn. Chư Thiên nghe rồi, phát vô
thượng tâm.
13.
Trong các vườn hoa, có những mương nước, tạo bằng lưu
ly, tám màu xen lẫn. Trong mỗi mương nước, được hợp thành
bởi hàng năm trăm ức các thứ bảo châu. Trong mỗi mương
nước, nước có tám vị, tám sắc đầy đủ. Khi nước phun
ra, phun vòng hành cột, ra ngoài bốn cửa, lại hóa sinh ra bốn
loại hoa quý. Nước trong hóa ra, như hoa báu tỏa. Trên mỗi
bông hoa, hăm bốn thiên nữ, sắc thân vi diệu, như sự trang
nghiêm, thân các Bồ tát. Trong tay thiên nữ, tự nhiên hóa
sinh, hàng năm trăm ức các loại bảo khí. Trong mỗi bảo khí,
tự nhiên cam lộ, tràn đầy trong ấy. Các nàng thiên nữ,
vai tã mang đầy những vòng anh lạc, vai hữu lại mang vô lượng
nhạc khí. Âm thanh nhạc khí, như mây trên không, từ hơi nước
tụ. Âm thanh lưu lượng, chỉ tán thán về sáu ba la mật của
các Bồ tát. Nếu ai sinh lên cõi trời Đâu Suất, tự nhiên
cũng được các thiên nữ ấy, hầu hạ săn sóc.
14.
Có các tòa ngồi, hình sư tử lớn, tạo bằng bảy báu, cao
bốn do tuần. Tòa sư tử ấy, được trang nghiêm bằng vàng
Diêm phù đàn, và cùng rất nhiều các châu bảo khác. Bốn
góc tòa nầy, trạm bốn hoa sen. Mỗi một hoa sen, được tạo
ra bằng hàng trăm thứ báu. Mỗi thứ báu ấy, luôn luôn phóng
ra trăm ánh sáng. Trong ánh sáng ấy, rất là vi diệu, chúng
biến hóa ra các tạp hoa khác, bằng các châu báu, hằng trăm
ức bông, để trang nghiêm cho các cờ (11) bảy báu.
15.
Và, khi bấy giờ trăm nghìn Phạm vương mỗi vị đều mang
một thứ diệu bảo cũa cõi Phạm thiên, làm thành chuông báu,
treo trên ngọn cờ. Các Tiểu Phạm vương, cũng mang các thứ
châu báu cõi mình, làm thành màn lưới, giăng phủ lên trên
các lá cờ báu. Trăm nghìn quyến thuộc thiên tử, thiên nữ,
cũng đem hoa báu, đặt trên các tòa và, các hoa ấy, tự nhiên
hiện ra hàng năm trăm ức các nàng bảo nữ, tay cầm bạch
phất (12) , đứng hầu dưới cờ.
16.
Nâng đỡ cung diện, bốn góc điện có bốn cây cột báu.
Mỗi cột báu ấy, lại hóa hiện ra trăm nghìn lâu các, có
hàng trăm nghìn các nàng thiên nữ, sắc đẹp vô cùng, tay
cầm nhạc khí. Trong nhạc khí ấy, phát ra âm thanh, diễn nói
các pháp: khổ, không, vô thường, vô ngã và cùng các ba la
mật.
17.
Như thế thiên cung, có trăm ức vô lượng bảo sắc. Cho đến
hết thảy các nàng thiên nữ cũng bằng bảo sắc. Do đó,
vô lượng chư thiên ở khắp mười phương. khi sắp mệnh
chung, đều nguyện sinh lên cung trời Đâu Suất .
18.
Cung trời Đâu Suất , có năm đại thần : Đệ nhất đại
thần tên là Bảo Chàng. Thân vị thần này biến ra bảy báu,
trải khắp quanh tường ở trong cung điện. Mổi thứ báu ấy,
lại hóa ra thành rất nhiều nhạc khí, treo trong chổ trống.
Rồi nhạc khí ấy, trổi lên tiếng nhạc. Những tiếng nhạc
ấy, hợp ý chúng sinh. Đệ nhị đại thần, tên là Hoa Đức.
Thân vị thần này, biến ra các hoa, rải khắp quanh tường
ở trong cung điện. Các loại hoa ấy, biến thành lọng hoa.
Mổi một lọng hoa, có hàng trăm nghìn đủ loại tràng phan,
đi trước dẩn đạo. Đệ tam đại thần, tên là Hương Âm.
Trong lổ chân lông của vị thần này, phóng ra các loại mùi
hương chiên đàn, ngát thơm vi diệu. Các mùi hương này, tõa
lên như mây, tạo thành trăm thứ màu sắc châu báu, bay vòng
bảy lần trong cung điện này. Đệ tứ đại thần, tên là
Hỷ Lạc. Thân vị thần này, phóng ra các ngọc như ý bảo
châu. Mổi một bảo châu, gắn trên tràng phan, tự nhiên nói
ra: nguyện quy y Phật, nguyện quy y pháp, nguyện quy y Tăng.
Lại cũng nói ra gìn giử năm giới, vô lượng thiện pháp,
các Ba La Mật. Và, lời lợi ích, khuyên gắng hộ trợ về
tâm bồ đề. Đệ ngũ đại thần, tên là Chính Âm Thanh. Thân
vị thần nầy, các lổ chân lông, phóng ra loại nước. Trên
mồi loại nước, có năm trăm ức các loại tạp hoa. Trên
mỗi bông hoa, lại hóa hiện ra, hăm lăm ngọc nữ. Mỗi nàng
ngọc nữ, nơi lổ chơn lông, lại phóng âm thanh. Những âm
thanh ấy, tiếng hay thanh thoát, hơn cả âm nhạc, trong cung
hoàng hậu, của các Thiên Ma.
19.
Sau khi diễn tả cảnh trời Đâu Suất, đức Phật liền bảo,
Ông Ưu bà Ly: “ Cõi Đâu Suất này, là nơi phúc đức, báo
ứng thắng diệu của mười điều thiện. Nếu ta ở đời,
khoảng nữa tiểu kiếp nói về trụ xứ của vị Bồ tát
“ Nhất Sinh Bổ Xứ”, kết quả báo ứng của mười điều
thiện cũng không hết được. Nay vì các vị, Ta nói sơ lược
như thế mà thôi.
20.
Đức Phật lại bảo ngài Ưu Bà Ly: “ Nếu các Tỳ Khưu hay
đại chúng nào, không chán sinh tử, muốn sinh cõi trời, nhưng
tâm ưu kính vô thượng bồ đề, và muốn được làm đệ
tử Di Lặc, nên quán tưởng về cõi trời Đâu Suất. Nhưng
khi quán tưởng, nên giữ năm giới, bát quan trai giới, thân
tâm tinh tiến. Tuy chưa mong cầu dứt hết kết sử, nhưng cần
phải tu, làm mười pháp lành. Mỗi sự suy nghĩ, về sự khoái
lạc vô cùng vi diệu, cõi trời Đâu Suất, cần phải phát
tâm. Quán tưởng như thế, gọi là chính quán. Nếu quán khác
đi , đó là tà quán”.
21.
Đức Phật dạy xong, ông Ưu Bà Ly, từ tòa đứng dậy, nghiêm
chỉnh y phục, đầu diện lễ Phật, và bạch Phật rằng:
" Kính bạch Thế Tôn, trên trời Đâu Suất có những sự vui
rất mực như thế, nay ông Di Lặc, vào thế gian nào, ông sẽ
viên tịch tại Diêm phù đàn, và sẽ sinh lên cõi trời Đâu
Suất ?".
22.
Đức Phật liền bảo ông Ưu Bà Ly: “ Di Lặc sinh trong dòng
Ba bà Lợi thuộc dòng Bà la môn, thôn Kiếp ba lợi, nước
Ba la Nại. Sau mười hai năm, vào ngày mười lăm tháng hai nông
lịch, trở về nơi sinh, ông ngồi kiết già, như vào diệt
định. Thân ông sắc vàng, màu sáng tía biếc. Và, ánh sáng
ấy, chói lói như là ánh sáng của hàng trăm nghìn mặt trời.
Cũng ánh sáng ấy, soi suốt lên đến cõi trời Đâu Suất.
Xá lợi thân ông, như tượng vàng đúc, không lay, không động.
Viên quang thên ông, hiện rõ chữ nghĩa của Thủ Lăng Nghiêm
tam muội, bát nhã ba la mật đa”.
23.
Khi ấy mọi người cùng các thiên chúng dõi theo ánh sáng,
tìm đến nơi này, xây cất bảo tháp, cúng dường xá lợi.
Và, cùng khi ấy, trên trời Đâu Suất, ông tự hóa sinh, ngồi
kiết già phu, trong hoa sen bàu, trên tòa sư tử, ở điện ma
ni, trong đài thất bảo. Thân ông sắc vàng, như là vàng ròng
ở Diêm phù đàn. Thân ông cao đến mười sáu do tuần. Đủ
băm hai tướng, tám mươi vẻ đẹp. Nhục kế đầu ông, màu
tóc xanh biếc như ngọc lưu ly. Cái mũ thiên quan được trang
nghiêm bằng ngọc thích ca tỳ lăng già ma ni, trăm nghìn vạn
ức ngọc yên thúc ca. Mũ thiên quan ấy, có nhiều màu sắc,
trăm vạn ức sắc. Trong mỗi một sắc, có đến vô lượng
trăm nghìn hóa Phật, các hóa Bồ tát, đứng bên thị giả.
Các đại Bồ tát ở phương khác đến, hiện ra mười tám
thần thông biến hóa (13) , tùy ý tự tại. Tất cả đều
hiện trong mũ thiên quan. Khoảng giữa chặn mày của ông Di
Lặc, có hào quang trắng, phóng ra hàng trăm ánh sáng châu báu.
Ba mươi hai tướng, trong mổi một tướng, có năm trăm ức
màu sắc châu báu. Mổi một vẻ đẹp cũng có đến cả hàng
năm trăm ức màu sắc châu báu. Mổi một tướng tốt, lại
ánh hiện ra tám vạn bốn nghìn đám mây quang minh.
24.
Bồ tát Di Lặc cùng các thiên tử, ngồi tòa hoa sen. Ngày đêm
sáu thời (14) , thường nói diệu pháp. Nói những pháp hạnh
về “ Bất thoái chuyễn ”. Trong một thời gian, ông thành
tựu cho hàng năm trăm ức các vị thiên tử , không thoái chuyễn
được đạo pháp vô thượng chính đẵng chính giác. Cứ thế
ngày đêm, trên trời Đâu Suất, thường nói pháp ấy, để
hóa độ cho các vị thiên tử. Vào khoảng năm mươi sáu ức
vạn năm của cõi Diêm phù, ông sẽ giáng sinh trở lại cõi
này, như Ta đã nói ở trong quyển kinh Di Lặc Hạ Sinh”.
25.
Đức Phật lại bảo ông Ưu Ba Ly :“ Thế là nhân duyên Bồ
tát Di Lặc mất ở Diêm phù, sinh lên Đâu Suất”.
26.
“Sau Ta diệt độ, các đệ tử Ta., nếu ai siêng năng, tu
các công đức, uy nghi không thiếu, quét tháp, lau đất, cúng
dường các thứ hương thơm, hoa quý, tu các môn định, thâm
nhập chính định, đọc tụng kinh sách, những người như
thế , cần nên chí tâm. Tuy chưa dứt hết tất cả kết sử,
cùng chưa chứng được sáu phép thần thông, nhưng cần hệ
niệm (15) . Niệm hình tượng Phật, xưng tán hồng danh của
ông Di Lặc. Những người như hế, chỉ trong một niệm, thụ
tám trai giới, tu các tịnh nghiệp, phát thệ nguyện rộng,
sau khi mệnh chung, ví như tráng sĩ co duỗi cánh tay, liền được
sinh lên cung trời Đâu Suất, ngồi kiết già phu ở trên hoa
sen, trăm nghìn thiên tử, tấu nhạc cõi trời, và rãi các
hoa, trên đầu người ấy, như hoa mạn đà, hoa đại mạn
đà, và khen ngợi rằng:" Lành thay, lành thay, này thiện nam
tử, khi ông ở cõi Nam Diên phù đề , tu nhiều phúc nghiệp,
mới sinh lên đây. Nơi đây gọi là cõi trời Đâu Suất. Thiên
chủ ngày nay là ngài Di Lặc. Ông nên quy y, xưng tán hồng
danh và lám lễ Ngài. Lễ rồi nhìn kỹ tướng hào quang trắng
ở giũa chặng mày, sẽ khỏi các tội sinh tử luân hồi, chín
mươi ức kiếp”.
27.
“Và, ngay khi ấy, tùy theo duyên trước Bồ tát Di Lặc, liền
nói diệu pháp. Nói các diệu pháp, làm người ấy, giữ gìn
vững vàng, không thoái chuyển được đạo tâm vô thượng
.
28.
Các chúng sinh ấy, sạch được các nghiệp, làm được sáu
sự (16) , quyết được sinh lên cõi trời Đâu Suất, gặp
được Di Lặc, xuồng cõi Diêm phù, cùng được nghe pháp trong
hội thứ nhất. Trong đời vị lai, thuộc thời Hiền kiếp,
gặp được tất cả chư Phật thuyết pháp. Trong kiếp Tinh
tú, cũng lại gặp được chư Phật , Thế Tôn. Và , trước
chư Phật, được thụ ký đạo vô thượng bồ đề ”.
29.
Đức Phật lại bảo ông Ưu Ba Ly :“Sau Ta diệt độ, các
vị Tỳ khưu, các Tỳ khưu ni, cùng ưu bà tắc và Ưu bà di,
thiên Long, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la,
Ma hầu la già ..., nghĩa là tất cả các đại chúng ấy, nếu
ai được nghe hồng danh chủa ông Di Lặc Bồ tát. Nghe rồi
hoan hỷ, cung kính, lễ bái, người ấy mệnh chung, chỉ trong
giây lát, như khảy móng tay, liền được sinh lên cõi trời
Đâu Suất, như trên không khác. Và, ngay cả đến chỉ nghe
được tên Bồ tát Di Lặc, sau khi mệnh chung, không phải đọa
vào những nơi hắc ám, biên địa, tà kiến và ác luật nghi.
Thường được sinh vào gia đình chính kiến, họ hàng nề
nếp, tin tưởng Tam bảo”.
30.
Đức Phật lại bảo ông Ưu Ba Ly :“Nếu thiện nam tử , thiện
nữ nhân nào, phạm các giới cấm, tạo nhiều nghiệp ác,
nghe được hồng danh Di Lặc Bồ tát, ngũ thể đầu địa
(17) , thành tâm sám hối, các nghiệp ác ấy, chóng được
thanh tịnh. Trong đời vị lai, nếu chúng sinh nào nghe được
hồng danh Bồ tát Di Lặc, tạo lập hình tượng, cúng dường
hương hoa, y phục, phướn lọng chí thành lễ bái, nhất tâm
hệ niệm, đến khi sắp mất, sẽ được Bồ tát phóng hào
quang trắng giữa chặng mày, cùng các thiên tử, rải hoa mạn
đà, lại đón người ấy. Chỉ trong giây lát, người ấy
liền sinh lên cõi Đâu Suất, gặp được Bồ tát , đầu diện
kính lễ dưới chân Bồ tát. Và, khi người ấy chưa ngững
đầu lên, đã được nghe pháp. Được nghe pháp rồi, với
đạo vô thượng, không bị thoái chuyển. Trong đời vị lai,
được gặp chư Phật. Chư Phật rất nhiều như cát sông Hằng”.
31.
Đức Phật lại bảo ông Ưu Ba Ly :“ Ông nên nghe kỹ ! Trong
đời sau nầy, Bồ tát Di Lặc, làm chổ quy y cho các chúng
sinh. Nếu được quy y Bồ tát Di Lặc, người ấy nhất định,
không bị thoái chuyển trong đạo vô thượng. Và, khi Bồ tát
thành bậc Như Lai Ứng, Chính Biến Tri, người thực hành ấy,
thấy hào quang Phật liền được thụ ký”.
32.
Đức Phật lại bảo ông Ưu Ba Ly :“Sau khi diệt độ, trong
hàng bốn chúng đệ tử của Ta, hay các bộ chúng Thiên, Long,
quỷ thần ..., nếu ai muốn sinh lên trời Đâu Suất, cần
nên quán tưởng, hệ niệm tư duy về trời Đâu Suất. Cần
giữ giới cấm của Phật đã dạy. Kể từ một ngày cho đến
bảy ngày, suy nghĩ niệm vững về mười điều lành, siêng
năng thực hành mười thiện nghiệp đạo (18) , đem công đức
ấy, hồi hướng tất cả, mong được sinh lên cõi trời Đâu
Suất, và được tới trước Bồ tát Di Lặc”.
33.
Nên quán như thế! Quán tưởng như thế, thấy được một
người, một bông hoa sen trên cõi trời ấy; hoặc trong một
niệm, xưng tán hồng danh Bồ tát Di Lặc, người ấy khỏi
được tội lỗi sinh tử nghìn hai trăm kiếp. Chỉ nghe danh
hiệu Bồ tát Di Lặc, chắp tay cung kính, người ấy khỏi
được tội lỗi sinh tử hàng năm mươi kiếp. Nếu ai kính
lễ Bồ tát Di Lặc, khỏi tội sinh tử hàng trăm ức kiếp.
Ví dù không muốn sinh lên Đâu Suất, trong đời vị lai, dưới
cây Long Hoa sẽ cũng gặp được Bồ tát Di Lặc, phát tâm
vô thượng”.
34.
Khi đức Thế Tôn nói lời ấy rồi, vô lượng đại chúng,
từ tòa đứng dậy, lễ xuống chân Phật, và lễ dưới chân
Bồ tát Di Lặc. Lễ rồi đi nhiễu, vòng quanh quanh đức Phật,
Bồ tát Di Lặc hàng trăm nghìn vòng. Người chưa đắc đạo,
phát lời nguyện ràng: "Tất cả chúng con thiên, nhân tám bộ
..., nay trước đức Phật, thành thực thệ nguyện, nguyện
đời vị lai, mong mõi được gặp Bồ tát Di Lặc. Trong đời
hiện tại, chúng con mong mỏi, xả báo thân này, đều được
sinh lên cõi trời Đâu Suất”.
35.
Khi ấy Thế Tôn lại thụ ký rằng: “ Tất cả các ông cùng
những chúng sinh trong đời vị lai, tu phúc, trì giới, đều
được tới trước Bồ tát Di Lặc, và được Bồ tát nhiếp
thụ cho cả ”.
36.
Đức Phật lại bảo ông Ưu Ba Ly :“ Quán tưởng như thế
gọi là chính quán. nếu quán khác đi, gọi là tà quán”.
37.
Sau khi Phật sạy, tôn giả A Nan, từ tòa đứng dậy, chắp
tay, quỳ thẳng, bạch đức Phật rằng:“ Kính bạch Thế
Tôn. Lành thay Thế Tôn, Thế Tôn nói rõ về công đức của
Bồ tát Di Lặc. Thế Tôn lại còn hoan hỷ thụ ký cho các
chúng sinh trong đời vị lai, thực tâm tu phúc, sẽ được
quả báo. Con xin tùy hỷ những công đức ấy. Kính xin Thế
Tôn cho con được biết về sự quan yếu của giáo pháp này,
thụ trì thế nào ? Và, kinh pháp này đặt tên là gì?”
38.
Đức Phật liền bảo ông A Nan rằng : “ Ông nên nhớ đúng
lời Phật đã dạy, và nên cẩn thận, chớ có lãng quên !
Ông cần vì các chúng sinh đời sau, mở ra cho họ con đường
sinh thiên, và chỉ cho họ tướng của bồ đề, khiến cho
Phật chủng không bị dứt mất. Kinh này được gọi là kinh
Di Lặc Bồ Tát Niết Bàn. Cũng là kinh Quán Di Lặc Bồ Tát
Sinh Đâu Suất Thiên. Ông khuyên mọi người phát tâm bồ đề,
thụ trì như thế ”.
39.
Khi Phật nói rồi, mười vạn Bồ tát từ phương xa lại,
các vị liền chứng Lăng Nghiêm Tam Muội. Tám vạn ức vị
trên các cõi trời phát tâm bồ đề, đều nguyện tùy tùng
Di Lặc hạ sinh.
40.
Khi đức Phật nói kinh này xong rồi, bốn chúng đệ tử, Thiên,
Long ... tám bộ, nghe lời Phật nói, đều rất hoan hỷ, lễ
Phật rồi lui.
Tâm
Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa
Khi
ngài Quán Tự Tại Bồ tát thực hành sâu xa pháp Bát nhã ba
la mật đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy
khổ ách.
Này
ông Xá lỵ Tử ! Sắc chẵng khác Không, Không chẵng khác Sắc,
Sắc tức là Không, Không tức là Sắc. Thụ, Tưỡng, Hành,
Thức cũng đều như thế.
Này
ông Xá lỵ Tử ! Tướng Không của mọi pháp, không sinh, không
diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt.
Cho
nên trong “Chân Không ” không có Sắc, không có Thụ, Tưởng,
Hành , Thức; không có mắt tai, mũi, lưỡi, thân , ý; không
có sắc, thanh, hương, vị , xúc, pháp; không có nhãn giới,
cho đến không có ý thức giới; không có vô minh, cũng không
có cái hết vô minh; cho đến không có già chết, cũng không
có cái hết già chết; không có khổ, tập, diệt, đạo, không
có trí tuệ, cũng không có chứng đắc.
Vì
không có chỗ chứng đắc, nên Bồ tát y theo Bát nhã ba la
mật đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không
sợ hãi, xa hẳn mộng tưởng điên đảo, đạt tới cứu cánh
Niết bàn.
Chư
Phật trong ba đời cũng y vào Bát nhã ba la mật đa, được
đạo quả vô thượng chánh đẵng chánh giác.
Cho
nên biết Bát nhã ba la mật đa là đại thần chú , là đại
minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, trừ
được hết thảy khổ, chân thực không hư.
Vì
vậy nói ra bài chú Bát nhã ba la mật đa, liền nói bài chú
ấy rằng:
“Yết
đế, yết đế , Ba la yết đế . Ba la tăng yết đế . Bồ
đề tát bà ha”.
NIỆM
PHẬT
Thân
Phật thanh tịnh tựu lưu ly.
Trí
Phật sáng ngời như trăng sáng
Phật
ở thế gian thường cứu khổ.
Tâm
Phật không đâu không từ bi.
Nam
mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật (10 lần)
Nam
mô Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật (10 lần)
Nam
mô Cực Lạc Giáo Chủ A Di Đà Phật (10 lần)
Nam
mô Đông Phương Giáo Chủ Dược Sư Lưu Ly Quang Phật (10 lần)
Nam
mô Quán Thế Âm Bồ tát (3 lần)
Nam
mô Đại Thế Chí Bồ tát (3 lần)
Nam
mô Địa Tạng Vương Bồ tát (3 lần)
Nam
mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát (3 lần)
TIÊU
TAI CÁT TƯỜNG THẦN CHÚ
Nam
mô tam mãn đá mẫu đà nẫm , a bát ra để, hạ đa xá, sa
nãng nẫm, đát điệt tha. Úm khư khư, khư hê, khư hê, hồng
hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát
ra nhập phạ ra, để sắt sá, để sắt sá, sắc trí rị,
sắc trí rị, sa phấn tra, sa phấn tra, phiến để ca, thất
ri duệ sa phạ ha. (3 lần)
CHÚC
NGUYỆN
Nguyện
ngày an lành, đêm an lành,
Đêm
ngày sáu thời thường an lành,
Tất
cả các thời đều an lành,
Xin
nguyện Từ bi thường gia hộ.
HỒI
HƯỚNG
Công
đức tụng kinh khó nghĩ lường,
Vô
biên thắng phước đều hồi hướng.
Khắp
nguyện chúng sinh trong pháp giới,
Đều
được vãng sinh về cực lạc.
Nguyện
tiêu ba chướng trừ phiền não,
Nguyện
chân trí tuệ thường sáng tỏ,
Nguyện
bao tội chướng thảy tiêu trừ,
Kiếp
kiếp thường tu Bồ tát đạo.
Nguyện
sinh Cực lạc cảnh phương Tây,
Chín
phẩm hoa sen là cha mẹ.
Hoa
nở thấy Phật chứng vô sinh,
Bồ
tát bất thoái là bạn hữu.
PHỤC
NGUYỆN
Kính
mong:
Phật
nhật tỏ thêm, pháp luân quay mãi,
Mây
từ rợp khắp, nguổn đạo dài lâu,
Quốc
gia hưng vượng, dân chúng an hòa,
Thế
giới thanh bình, chúng sinh hoan lạc.
Cúi
xin:
Công
đức trì chú, niệm Phật, tụng kinh hồi hướng Tây Phương,
trang nghiêm Tịnh độ. Báo bốn trọng ân , giúp ba đường
khổ. Hiện tiền tứ chúng, tăng trưởng thắng nhân. Quá vãng
chân linh, siêu sinh lạc quốc. Âm dương đều lợi, ba cõi
cùng nhờ, pháp giới chúng sinh đồng thành Phật đạo.
đại
chúng cùng đọc:
NAM
MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Tự
quy y Phật , xin nguyện chúng sinh, thể theo đạo cả, phát
lòng vô thượng. (1 lạy)
Tự
quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh, thấu rõ kinh tạng, trí tuệ
như biển. (1 lạy)
Tự
quy y Tăng , xin nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, hết
thảy không ngại. (1 lạy)
Nguyện
đem công đức này
Hướng
về khắp tất cả.
Đệ
tử và chúng sinh,
Đều
trọn thành Phật đạo.
xá
3 xá rồi lui ra
Chú
thích Kinh Di Lặc thành Phật
(1)
Kinh Di Lặc hạ Sinh Thành Phật là quyễn kinh số 455, trong
Đại Chính Tân Tu Đại tạng Kinh, Kinh này do ngài Nghĩa Tịnh
dịch từ chữ Phạm ra chữ Hán.
Theo
Đại tạng, kinh Di Lặc có 6 quyển:
-
Phật thuyết Quán Di Lặc Bồ tát thượng sinh Đâu Suất thiên
kinh,
-
Phật thuyết Di Lặc Hạ Sinh kinh,
-
Phật thuyết Di Lặc Hạ Sinh thành Phật kinh, do ngài Cưu Ma
La thập dịch.
-
Phật thuyết Di Lặc Hạ Sinh thành Phật kinh, do ngài Nghĩa
Tịnh dịch.
-
Phật thuyết Di Lặc đại thành Phật kinh,
-
Phật thuyết Di Lặc lai thời kinh.
Nay
tôi dịch quyển kinh do ngài Nghĩa Tịnh dịch từ chữ Hán
sang Việt nhưng theo lối văn tụng, để chư Phật tử dễ
trì tụng.
Đại
ý kinh này đức Phật nói về sự giáng sinh và thành Phật
tại cõi Sa Bà sau này của đức Phật Di Lặc, Di Lặc (Maitreya)
tiếng phạm phiêm âm là Mai đế Lệ v.v.. Đây là tên họ
của Ngài, Trung Hoa dịch nghĩa là Từ Thị, Ngài tên là A Dật
Đa, Trung Hoa dịch nghĩa là “ Vô Năng Thắng”.
(2)
Đoạn văn trên nói về phần tựa, nói rõ 6 yếu tố chứng
tín là : xác tính, người nghe, thời gian, chủ trì, nơi chốn
và đại chúng nghe pháp. Còn doạn văn từ số (2) trở xuống
thuộc phần chính tông trong kinh.
(3)
Do tuần (yojana), còn phiên âm là Du Tuần, du xà na, du thiện
na. Đây là thước đo của Ấn Độ xưa. Theo bộ Tây Vực
Ký quyển 2, một do tuần là 40 dậm (lý), có chỗ nói là 30
dậm. Theo Tự điển Đoàn Trung Còn thì một dậm là 576 mét.
Một Do tuần bằng 8 Câu lô xá (hay câu xá). Một câu xá là
500 cung. Một cung là 4 trửu ( trửu, chứ không phài chẩu).
Trửu là khuỷu tay. Một trửu (khuỷu tay) là 24 đốt ngón
tay.
(4)
xem nơi số 3.
(5)
Nghĩa trang: trong kinh này, chữ Hán là Thi Lâm ( có nơi in lầm
là Thị Lâm) “Thi” là xác chết, “Lâm” là rừng, tức
nơi để xác người chết. Do đó tôi dịch là “ nghĩa trang”
cho tiện.
(6)
Thất bảo: 7 thứ ngọc báu tức là kim, ngân, lưu ly, pha lê,
xà cừ, xích châu, mã não.
(7)
Da La (Tàrà) Đây là một loại cây ở Đông Ấn Độ. Theo
bộ Tây Vực Ký thì cây này cao 780 thước (không rõ thước
tây hay thước Trung Hoa xưa) , quả chín đỏ ăn được.
(8)
Bát âm : tám thứ âm thanh . Bộ Từ Hải cho biết bát âm là
: Kim (vàng) , thạch (đá), thổ (đất) , cách (da thuộc), ty
(tơ tằm), mộc (gỗ cây), bào (cây bàu), trúc (tre).
(9)
Tứ Minh: gọi chung 4 bộ sách Veda của Ấn Độ 1- Thọ minh
(Rig Veda) 2- Tự minh (yajur-veda) 3- Bình minh (Sama-Veda) 4- Thuật
minh ( Artharva-Veda).
(10)
Huấn giải, Thanh minh: Đây nói về sự dạy dỗ, giảng giải
(huấn giải). Còn thanh Minh tức ngôn ngữ, văn tự học, là
một trong 5 môn học của Ấn Độ xưa gọi là ngũ minh.
(11)
Đâu Suất (Tushita): Một trong cõi trời thuộc Dục giới, Đâu
Suất trung Hoa dịch nghĩa là :“ Tri túc, Hỷ túc, Diệu túc,
Thượng túc”. Nội viện là nơi tu thanh tịnh của các bậc
đã chứng thánh quả. Bồ tát Di Lặc đang thuyết pháp trên
cung trời này. Sau này Ngài giáng sinh xuống nhân gian. Ngoại
viện là nơi dành cho chư thiên được phúc báo, hưởng thụ,
dục lạc.
(12)
Ba cõi: Cõi Dục, Cõi Sắc, Cõi Vô Sắc
(13)
Đế Thích: Tiếng phạm, phiên âm đủ là Thích Ca Đề Hoàn
Nhân Đà La (Sakra Devanam Indra). Thích Ca là tên họ, dịch nghĩa
là “Năng” Đề Hoàn dịch nghĩa là “Thiên” trời. Nhân
Đà La dịch nghĩa là Đế “Vua”. Tức là vị vua ở trên
trời , dòng họ Thích Ca. Vua Đế Thích làm chủ cõi trời
Dục giới thứ hai, là cõi trời Đao Lợi, Trung Hoa gọi là
cõi trời thứ 33.
(14)
Lưỡng túc tôn: Chỉ cho đức Phật , là bậc tôn kính, đầy
đủ phước đức và trí tuệ.
(15)
Niết bàn: (nirvana): Trung Hoa dịch nghĩa là “ Diệt, Tịch
diệt, Diệt độ, Vô vi, An Lạc, Giải thoát”. có nghĩa là
vị tu hành đã diệt trừ hết những phiền não, ra khỏi cảnh
rừng vô minh tăm tối
(16)
Xem nơi số 3.
(17)
Xem nơi số 6.
(18)
Tầm : thứ thước đo, trong thời cổ Trung Hoa, theo bộ Từ
Hải thì tám thước (xích) là một tầm.
(19)
Vô già : nghĩa là không bị che mờ, ngăn cách, phân biệt.
Đây là nói về tổ chức bố thí mốt cách bình đẳng, không
phân biệt giai cấp hay thiên vị....
(20)
Phạm Chí tức là Bà la môn.
(21)
Phạm Âm : Âm thanh của cõi trời Phạm thiên thanh tịnh, nên
ví âm thanh của Phật như phạm âm. Phật có 8 loại âm thanh
: 1- Cực hảo âm: đức của Phật rộng lớn, nói lên khiến
người nghe vào đạo. 2- Nhu nhuyễn âm: đúc của Phật từ
bi, nói lên người nghe vui vẻ 3- Hòa thích âm: đức Phật
dùng lý trung đạo, nói lên, đem lại sự điều hòa, thích
hợp cho người nghe. 4- Tôn tuệ âm: đức của Phật là bậc
tôn kính, người nghe tôn trọng, trí tuệ mở tỏ. 5- Bất
nữ âm: đức của Phật ra khỏi thế dục, âm thanh của Phật
nói lên, thiên ma ngoại đạo đều quy phục. 6- Bất ngộ âm:
trí của Phật viên minh, soi tỏ không lầm, nói lên, người
nghe bỏ tà kiến. 7- Thâm viễn âm: đức Phật chứng ngộ
và đạt tới ngôi vị cao, Ngài nói lên, dù xa hay gần, lớn
nhỏ, nghe được sẽ chứng được lý luận thâm. 8- Bất kiệt
âm: đức Phật là bậc đã chứng được cực quả, hành nguyện
của Ngài vô tận, nên âm thanh của Ngài nói ra thao thao vô
tận, người nghe hiểu được chân nghĩa của lời nói và
sẽ chứng được quả vị thường trụ vô tận.
(22)
Tám chính đạo: 8 con đường chân chính; chính kiến, chính
tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến,
chính niệm, chính định.
(23)
Bốn chân đế: tức là Tứ đế; Khổ, Tập, Diệt , Đạo.
(24)
Tháng thần thông: Đây chỉ về ba tháng trai giới, tức tháng
giêng, tháng 5, tháng 9. Trong 3 tháng ấy, chư thiên dùng thần
túc thông, xem xét các nơi, nên chữ Hán gọi là “ Thần thông
nguyệt, thần túc nguyệt, hay Thần biến nguyệt” .
(25)
Tám giới: Tức là bát quan trai giới: không sát sinh, không
trộm cắp, không dâm dục, không nói dối, không uống rượu,
không trang sức, không nghe hát, không ngồi giường cao, rộng
đẹp, và không ăn phi thời.
(26)
Ba thông: trong kinh Phật hay nói về "Tam minh" và "lục thông",
Tam minh : Túc mệnh minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh, Lục
thông: Thần túc thông, Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha
tâm thông, Túc mệnh thông, Lậu tận thông. Chính văn của
bài kệ này viết: “ Hoặc dĩ tam chủng thông, thần cảnh,
ký giáo thụ”. Văn kệ này quá thu gọn và coi như có hàm
nghĩa khó luận bàn. Theo thiển kiến của chúng tôi, phỏng
luận “thần cảnh” tức là thần túc thông, ký là nghi nhớ,
có lẽ ám chỉ cho “ túc mệnh thông” chăng. Còn chữ “
giáo thụ” có nghĩa là dạy, trao, có lẽ là “thiên nhĩ
thông” chăng ? (xin các bậc cao minh chỉ giáo).
(27)
Đâu la miên (Tùla): Một loại cây có bông, khi nở ra những
lọn bông rất mềm.
(28)
Sĩ trung thắng: Đây là lời tôn xưng đức Phật là một bậc
hay là một người hơn tất cả trong loài người.
Chú
thích Kinh Quán Di Lặc thượng sinh Đâu Suất thiên.
(1)
Kinh Quán Di Lặc Bồ tát Thượng Sinh Đâu Suất thiên là một
quyễn kinh số 452 trong Đại Chính Tân Tu Đại Tạng kinh.
(2)
Tu Đạt (Sudatta): Còn gọi là Tu Đạt Đa, chính tên ông Cấp
Cô Độc. Ông là bậc trường giả, giầu có, hay làm việc
bố thí. Ông là người kiến tạo tinh xá Kỳ Viên, cúng dường
đúc Phật và chúng Tăng. “Tu Đạt” , Trung Hoa dịch nghĩa
là thiện Chí, thiện cấp v.v..
(3)
Ưu Bà tắc (Upàsaka): Trung Hoa dịch nghĩa là “ Cận sự nam,
thanh tín sĩ ” nghĩa là người nam , quy y Tam bảo, thụ trì
ngũ giới, luôn luôn thân cận và phụng sự Tam bảo.
(4)
Ưu Bà Di (Upàsika): Trung Hoa dịch nghĩa là “ Cận sự nữ
, thanh tín nữ ” nghĩa là người nữ, quy y Tam Bảo, thụ
trì ngũ giới, luôn luôn thân cận và phụng sự Tam Bảo.
(5)
Pháp vương tử: Con đấng pháp vương. Bồ tát được sinh
dục trong gia đình đấng pháp vương (Phật), nên gọi là Pháp
vương tử. Phật địa luận viết: “ Từ miệng Thế Tôn
sinh ra chính pháp. Người kế thừa và làm long thịnh chính
pháp ấy, khiến cho Phật chủng không đoạn tuyệt, gọi là
Pháp vương tử.
(6)
Đà ra ni (Dhàrani): Trung Hoa dịch nghĩa là “ Tác trì, Tổng
trì”, nghĩa là đà ra ni này có lực dụng, giữ cho thiện
pháp không mất, ác pháp không khởi. Đà ra ni có bốn loại
là: pháp, nghĩa, chú, và nhẫn đà ra ni.
(7)
Thụ ký (Vyakarana): Một trong mười hai bộ phận trong kinh.
Đức Phật đối với chúng sinh phát tâm. Ngài dự ghi cho biết
là sau này sẽ thành Phật.
(8)
Nhất sinh bổ xứ (Eka-jàti-Pratibuddha): Vị đại Bồ tát tu
chứng đạo quả, gần quả vị Phật , còn một đời nữa
sẽ thành vô thượng chính đẵng chính giác, như Bồ tát Di
Lặc sẽ giáng sinh xuống cõi Diêm phù Đề một lần nữa,
tu chứng thành Phật.
(9)
Diêm phù Đàn (Jambudvipa): Có chổ phiên âm là “Diêm phù Đề,
Diêm phù, Thiệm bộ châu”. Tên gọi của một châu thuộc
phía nam trong bốn châu quanh núi Tu Di, nên có chổ gọi là
Nam thiệm bộ châu hay Nam Diêm phù Đề. Theo Phật học thì
châu nầy thuộc trái đất chúng ta ở.
(10)
Anh Lạc: (Kevura): Xâu chuổi bằng châu báu. Đồ trang sức
của hàng quý phái Ấn Độ hay đeo nơi cổ, nơi ngực, nơi
đầu. Chư Bồ tát , chư thiên nữ cũng hay đeo chuỗi anh lạc.
(11)
Cờ: Dịch nghĩa từ chữ “Chàng”. Trong Phật giáo hay dùng
chữ “ Chàng phan” Chàng, tiếng phạm là Đà phạ nhã (Dhvaja)
, còn gọi là “Kế đô” (Ketu). Phan, tiếng phạm là Ba tra
ca (Patàka). Là một vật được kết hay được thêu, may bằng
vải nhiều màu, dát thêm các loại châu báu, treo trên một
cây cao biểu trưng cho oai nghi, cho sự triệu thỉnh, hay cho
sự chế phục những sự bất thiện của những loài có tâm
niệm phá hoại.
(12)
Phất : cây gỗ nhỏ ngắn hình tròn, đầu kết những sợi
tơ, những lông chim, hay lông đuôi ngựa, để phủi các bụi
trên bàn v.v.. Cùng hình thức ấy đối với vương quyền thuở
xưa, có những viên chức cầm cây phất trần ấy đừng hầu,
biểu tượng cho sự uy nghiêm, quyền lực. Đối với Phật
giáo có nơi tùng lâm, nơi tổ đình hay trai đàn, vị chủ
của những nơi ấy, đôi khi cũng dùng tới cây Phất ấy ,
những kết bằng những sợi tơ nõn chẵng hạn. “Bạch phất”
là cây phất màu trắng.
(13)
18 thần biến : 18 thứ thần thông biến hóa, Năng lực của
Phật, Bồ tát, A la hán nương vào thiền định tự tại, thị
hiện ra 18 thứ thần thông biến hóa:
A.
Theo Du Già Sư Địa quyển 37 : 1) Chấn động (Kampana): Rung
chuyển thế giới 2) Xí nhiên (Jvalana): Trên thân bốc lửa
, dưới thân tuôn nước. 3) Lưu bố (Spharana): Tỏa ánh sáng
cùng khắp. 4) Thị hiện (Vidarsana): Tùy theo sở thích của
đại chúng hiện ra các ảnh tượng 5) Chuyển biến (Anyatibhàvakarana):
Chuyển lửa thành nước, nước thành lửa v.v . . 6) Vãng lai
(gamanàganana): tự do tự tại không chướng ngại 7) Quyển
(Samksepa) Cuộn vật lớn thành vật nhỏ. 8) Thư (Prathana): Biến
nhỏ hành lớn. 9) Chúng tướng nhập thân (Sarvarùpakàrya-pravesana);
Thu tất cả sự vật gì hiện tiền vào trong thân mình. 10)
Đồng loại vãng thú (Sabhàgatopasamkrànti): Đi tới mọi sắc
loại, hiện ra đồng chủng loại âm thanh để thuyết pháp.
11) Hiển (Àvir-bhàva): hiển hiện thân hình trăm ngàn nghìn
lần trước đại chúng. 12) Ẩn (Tirobháva): Thân mình có thể
ẩn khuất hằng trăm nghìn lần. 13) Sở tác tự tại (Vsaitva-karana):
Đi lại trong mọi giới hữu tình, tự tại vô ngại. 14) Chế
tha thần thông (Pararddhyabhi-bhavana): Chế phục thần thông của
người khác. 15) Năng thí biện tài (Pratibhadàna): Khi biện
tài của chúng sinh cùng tận, vị ấy có năng lực cấp cho
biện tài. 16) Năng thí ức niệm (Smrti-dàna): Khi chúng sinh
quên, vị ấy có năng lực làm cho sự nhớ nghĩ lại. 17) Năng
thí an lạc (Sukha-dàna): Cung cấp sự khinh an về thân tâm cho
những người nghe pháp, và diệt trừ những chướng nạn ở
các giới. 18) Phóng đại quang minh (Rasmipramoksana); Dùng thần
lực, phóng ra rất nhiều ánh sáng, làm Phật sự và làm lợi
ích chúng sinh.
B.
Theo phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bản Sự trong kinh Pháp Hoa:
1) Nách bên hữu ra nước 2) Nách bên tả ra lửa. 3) Nách bên
tả ra nước. 4) Nách bên hữu ra lửa. 5) Trên thân ra nước.
6) Trên thân ra lửa. 7) Dưới thân ra nước. 8) Trên thân ra
lửa. 9) Đi dưới nước như trên đất. 10) Đi trên đất như
trên nước. 11) Ẩn trên không bổng nhiên hiện xuống đất.
12) Ẩn dưới đất bỗng hiện trên không. 13) Đi trên hư không.
14) Ở trên không trung. 15) Ngồi trên không trung. 16) Nằm trên
không trung. 17) Hiện thân lớn đầy hư không. 18) Hiện lớn
thành nhỏ.
(14)
Sáu thời: Thuở xưa chia ngày đêm, làm sáu thời : sáng, trưa,
chiều, chập tối, nửa đêm, gần sáng (tức sơ dạ, trung
dạ, hậu dạ).
(15)
Hệ niệm: "Hệ" là trói buộc hay hệ thuộc với nhau. "Niệm"
là nhớ nghĩ hay chú ý đến sự việc gì. “Hệ niệm” nghĩa
là giữ chặt và chú ý đến sự vật gì đó một cách liên
tục, không dời đổi. Như, tu thiền phải chánh niệm, niệm
Phật phải nhất tâm bất loạn v.v...
(16)
Sáu sự : Bồ tát muốn thành tựu 6 độ, cần làm 6 việc:
1) Cúng dường bố thí 2) Học giới (trì giới). 3) Tu tâm bi
( thương chúng sinh. Nhẫn nhục). 4) Chăm làm việc thiện (tinh
tiến). 5) Tránh luận nghị (thiền định). 6) Ham thích giáo
pháp (tăng trưởng trí tuệ).
(17)
Ngũ thể đầu địa: Khi lễ bái, 5 chi thể nơi thân mình,
đặt sát mặt đất. Năm chi thể của thân mình tức là đầu,
hai tay, và hai đầu gối.
(18)
Mười thiện nghiệp đạo: Nói về nhân quả của mười điều
thiện: a) Thân không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm;
b) Miệng: không nói dối, không nói lưỡi đôi chiều, không
nói thêu dệt, không nói thô ác; Ý: không tham, không sân, không
tà kiến (si).
WP:
Chân Thiền