II.-
HIỂU BIẾT NGHĨA VỤ
" Trong
người anh có một tiếng nói, nó thường nhắc nhở anh những
việc cần làm. Tiếng nói ấy, tức là tiếng nói của lương
tâm anh... "
Victor
Pauchet
" Có
hề gì, nó đã sống..."
Một
người hiểu biết nghĩa vụ, làm tròn nghĩa vụ là người
xứng đáng làm người, khả dĩ làm tấm gương sáng cho đời.
Sinh
trưởng trên trái đất loài người, con người là nguyên động
lực chi phối tất cả. Con người là hiện thân của tất
cả nên con người phải hiểu biết và thực hành tất cả
trong mọi trường hợp và mọi thời gian.
Một
gia đình sống ấm cúng trong sự hòa thuận, tin yêu vui vẻ
không thể không đòi hỏi nhiều ở nghĩa vụ con người. Một
quốc gia được vinh dự trên trường quốc tế được yên
ổn sống trong khung cảnh hưng thịnh, phú cường là nhờ ở
những người công dân có lương tâm, có hiểu biết và thành
thực với nghĩa vụ mình. Cho nên một xã hội có đủ bằng
cứ bảo đảm là một xã hội có tổ chức và tiến bộ trên
nghĩa sống như thực, một lý tưởng hằng ôm ấp trong lòng
sẽ tạo nên những hành vi hợp với lý tưởng, đem lại sự
thực chân chính và lợi ích chung cùng, đều không phải ngoài
nơi bản thân con người, con người sẳn có quan năng " tri,
thành hợp nhất ".
Đối
với chúng ta là một phần tử trong gia đình, quốc gia, xã
hội, một địa vị trong tất cả hoàn cảnh để duy trì và
kiến tạo, lẽ nào chúng ta lại không thể không thừa nhận
chân giá trị, chân nghĩa vụ của con người chúng ta.
Khi
chúng ta đã thừa nhận tất nhiên chúng ta phải tìm hiểu,
phải vui vẻ gánh vác và phải thực hiện cho thích ứng với
hoàn cảnh chúng ta.
1.-
NGHĨA VỤ CHA MẸ ĐỐI VỚI CON CÁI.
" Đã
là cha mẹ, ai cũng muốn đem lại sự lợi ích cho con cái,
cho nên cha mẹ hay làm những việc khó làm, hay nhẫn những
điều khó nhẫn ".
Kinh
Bảo Tích
Nổi
lòng cha mẹ
Cha
mẹ con cái là một mối dây hòa đồng trong linh hồn gia tộc,
nên cha mẹ sẵn có một nguồn thông cảm rạt rào không bờ
bến trước sự sinh trưởng và tác thành của con cái. Dầu
cho phải nhẫn nhục trước bao sự vất vả, khổ sở, ô uế
hay khinh bỉ, trong khi thơ ấu cũng như trong lúc trưởng thành
cha mẹ cũng chỉ biết dốc hết cả vào nơi con cái một lòng
thương yêu chân thật và một sự cố gắng lo toan, gây dựng,
nếu là cha mẹ biết làm đúng với nghĩa vụ của mình.
Để
xứng đáng với nghĩa vụ ấy, Kinh Trường A Hàm đã dạy
: " Người làm cha mẹ phải biết lấy năm việc thân thiết
đối với con cái :
a/
Phải hạn chế không cho con làm điều ác
Con
người trước khi cấu thành chỉ là một tổ hợp chung cùng
của thiện và ác. Đã là chung cùng của " thiện " và " ác
" khi sinh trưởng tất nhiên nó sẽ tương ứng với cảnh đời
và nó sẽ tăng trưởng theo sự tương ứng ấy trong cảnh
hay hay dở. Phàm làm cha mẹ phải biết nhận thức rành rẽ
những hành vi của con cái. Hành vi ác, cha mẹ phải triệt
để ngăn cấm, không cho nó sinh khởi và phải cố gắng diệt
trừ khi nó đã sinh khởi để khỏi hư hỏng thân người,
khỏi liên lụy đến mình và khỏi mất thanh thế gia phong.
Nói cách khác, là cha mẹ phải chế ngự những cái gì làm
ngưng trệ, suy đồi hay hủy hoại sự sống của con người
và xã hội do con cái gây nên.
b/
Cần chỉ bảo cho con biết chổ thiện
" Thiện
là những gì làm tăng trưởng hay duy trì sự sống của con
người và của xã hội. Thiện là hết thảy những gì ứng
hợp với khuynh hướng căn bản của bản chất, của sự cấu
tạo con người và xã hội. Thiện là những gì ứng hợp với
lề luật của sự sống ". Nghĩa là những gì thích hợp, bảo
tồn được sự sống thực, đem lại lợi ích cho mình và
cho người trên sự thật chân chính. Đã là sự thật chân
chính tất nhiên nó là một phương châm hướng dẫn con người
đạt đến chỗ chân, thiện, mỹ. Là cha mẹ không bao giờ
muốn cho con lạc ngoài phương châm ấy mà phải cố gắng
uốn nắn cho con theo đúng khuôn khổ của nó trong sự tìm
hiểu và thực hành.
Năm
điều răn, mười điều thiện hay cách xử thế v.v... đều
là chỗ mà cha mẹ cần nên chỉ bảo cho con cái.
c/
Phải thương yêu con cái thật thắm thía.
Thương
yêu là thường tình của người đời. Nhưng thương yêu cũng
có mặt phải và mặt trái. Thương yêu như chàng Sở- Khang
thương yêu nàng Thúy Kiều, như cô gái quạt mồ và đập
săng trong truyện Trang Chu ... đâu phải là thương yêu chân
thật. Thương yêu ấy phải được như bà Mạnh Mẫu thương
con, như ông Trịnh Kiểm thương mẹ mới là tình thương yêu
chân thật, mặc dầu sự thương yêu đó mới chỉ là một
phương tiện. Thì đây, tình thương yêu của cha mẹ đối
với con cái phải thương yêu trong chia ngọt xẻ bùi, thương
yêu trong rét, bức, đói, no, thương yêu trong ốm đau, tàn
tật, thương yêu trong sinh tồn, yểu uổng... Nghĩa là không
phút nào, không hoàn cảnh nào cha mẹ lãng quên con cái mới
là cha mẹ biết làm trọn nghĩa vụ của mình.
d/
Nên vì con cái mà tìm chỗ kết hôn cho xứng đáng
Sinh
tồn là truyền thống đương nhiên của con người. Con cái
khi tuổi xuân đến độ, tất nhiên phải đòi hỏi ở nơi
cha mẹ về vấn đề thành lập gia thất, trừ những người
muốn thoát ly nó. Trong trường hợp ấy cha mẹ không thể
yên nhiên phó mặc cho đời son trẻ. Cha mẹ phải ra công dò
xét tâm lý con cái, phải tìm hiểu hoàn cảnh và cá tính của
trai, gái nào có thể xứng đáng sánh đôi, đem lại hạnh
phúc lâu dài cho chúng. Và sau khi bên đã ý hợp tâm đầu
bằng sự hiểu biết chân thật chứ không phải là sự cám
dỗ, mù quáng, áp bức, cha mẹ mới tùy theo hoàn cảnh, phong
tục mà thành lập hôn lễ.
đ/
Nên tùy thời cung cấp cho những sự cần dùng
Trong
khi con còn thơ ấu hay lúc hoàn cảnh và sức lực của cha
mẹ còn có thể cung cấp được cha mẹ không nên tiếc con
cái về những món ăn, áo mặc, thuốc men, giấy bút, vật
dụng, chi tiêu. Nghĩa là tất cả những thứ gì, những vật
gì đem lại sự sống còn, sự hiểu biết của con cái thì
cha mẹ cần phải bố thí cho chúng để chúng có điều kiện
lớn khôn và tiến tới.
Như
thế không những cha mẹ có công sinh dục, lại phải có công
tác thành cho con cái. Trong sự tác thành, không phải dễ dàng
mà phải bao công phu bền bỉ, bao nổi lòng chân thật, bao
chí khí cương quyết, bao nhận định sáng suốt, bao năng lực
dồi dào mới đem lại sự an ổn và không lo sợ về con cái.
Nhưng chỉ có vậy, mới xứng đáng là cha mẹ của con cái.
2.-
NGHĨA VỤ CON CÁI ĐỐI VỚI CHA MẸ
" Điều
thiện tối cao không gì hơn hiếu. Điều ác nhất không gì
hơn bất hiếu "
Kinh
Nhẫn Nhục
Công
ơn sinh dưỡng
Con
người đã có thân, tất nhiên phải có cha mẹ. Có cha mẹ
tất nhiên con phải biết báo đáp công ơn cha mẹ.
Đời
nay có người tự cho mình là văn minh nên tự bình phẩm :
" Cha mẹ không có ơn gì đối với con cả chỉ vì muốn thỏa
mãn sự đòi hỏi của một chút dục tình mà chẳng may sinh
ra con, nay nuôi nấng chịu cực khổ vì con là phải lắm !
"
Đành
rằng đã sinh làm người, mấy ai lại khỏi có dục tình nên
mới lập gia đình, mới sinh con đẻ cái, mới tác thành con
người. Nhưng cha mẹ một khi sinh con, không có một cha mẹ
nào lại không hi sinh cho con và vui lòng chịu cực khổ vì
con. Những cha mẹ chịu chết vì con thì nhiều, những người
con chịu chết vì cha mẹ thì hiếm ! Như thế sao dám tính
toán, đo lường ân cao nghĩa trọng của cha mẹ.
Lời
Kinh dẫn chứng
Để
chứng minh cho ân đức ấy chúng ta hãy đọc những đoạn
Kinh sau này, hãy thành kính nghiêng mình trước hình ảnh hai
bậc ân nhân cao dày của những người biết vinh dự được
làm con : " Cha mẹ đối với con ân đức cao nặng sâu dày
: ân đức sản sinh, đem từ tâm cho con bú mớm, ân đức tắm
giặt, nuôi nấng trưởng thành, ân đức cung cấp các món
cần dùng, ân đức chỉ dạy cách sống ở đời. Cha mẹ luôn
luôn muốn con khỏi khổ được vui. Không bao giờ xao lãng
việc nhớ con, thương con, sự thương nhớ ấy như bóng theo
hình ‘.
Kinh
Bổn Sự
Non
Thái ơn cha mới sánh tầy !
Biển
sâu là đức mẹ hiền nay !
Dù
trong một kiếp ta lưu lại,
Nói
đến công kia khó hết rầy !
Kinh
Tâm Địa Quán
Và
đây là công ơn mẹ hiền khi sinh sản :
Mẹ
hiền khi thụ thai con
Cưu
mang vất vả luôn luôn trong người,
Màng
đâu năm dục trên đời,
Đồ
ăn thức uống tùy thời tiếp nuôi,
Ngày
đêm canh cánh ngậm ngùi,
Cảm
thương... đi đứng nằm ngồi héo hon.
Đến
thời trọn tháng sinh con,
Tựa
gươm dao cắt ruột gan tơi bời,
Mê
mang bất tỉnh sự đời,
Khắp
mình đau đớn, suốt người đớn đau,
Hoặc
lâm sản, bị mình nào ?
Thân
tình quyến thuộc âu sầu phân chia.
Vì
con mẹ chịu khổ kia !
Lo
thương thống thiết lấy chi sánh bì !
Thân
lành mạnh không hề chi,
Như
người được của còn gì vui hơn !
Thấy
con dung mạo phi thường,
Nhìn
con... thương nhớ, nhớ thương khôn rời.
Cho
hay mẫu tử tình đời !
Chắt
chiu trước ngực không ngơi mẹ hiền.
Cam
lồ suối sữa chảy liền,
Kịp
thời cung dưỡng không phiền thiếu khan.
Niệm
từ sâu rộng muôn vàn !
Công
cao cúc dục khôn bàn tới nơi ! "
Kinh
Tâm Địa Quán
Với
ân đức ấy không sao kể xiết được. Nhưng có một điều
là chúng ta phải làm thế nào báo đáp được ân đức ấy,
nếu chúng ta đứng vào địa vị là người con có hiếu ?
Kinh Trường A Hàm nói : " Làm con kính thờ cha mẹ có năm điều
:
a/
Phải cúng dường cha mẹ không được thiếu thốn
Tất
cả những sự cần dùng về ăn uống quần áo, thuốc men,
vật dụng hay chi tiêu phải được đầy đủ.
b/
Làm việc gì phải trình thưa trước
Trước
khi muốn thực hiện tất cả những công việc về sinh hoạt,
sự nghiệp, giao tế... Chúng ta nên trình để cha mẹ rõ. Một
là để giữ lễ độ cho phải đạo. Hai là sẽ được cha
mẹ chỉ bảo cho những kinh nghiệm mà có khi chúng ta chưa
nghĩ tới.
c/
Cha mẹ làm việc gì , vâng thuận không trái
Tất
cả các công việc thực hiện lựa theo tiên ý của cha mẹ
hay muốn thực hiện do cha mẹ sai bảo chúng ta không nên có
lời nói phản kháng, mặc dầu trong những ý định ấy cũng
có khi có sự sai lầm, nhưng chúng ta phải khéo dùng phương
tiện để sửa đổi mà không phật ý cha mẹ.
d/
Cha mẹ dạy điều phải không được trái lệnh
Cha
mẹ có thương con mới dạy bảo con những điều hay lẽ phải,
chúng ta phải hết sức phục tùng không nên chiều theo tính
hiếu kỳ, nông nổi hay vì địa vị của mình mà lãng bỏ.
đ/
Không được ngăn việc làm chân chính của cha mẹ
Những
việc xây dựng trong gia đình, làm vẻ vang cho đất nước,
bỏ việc ác, làm việc thiện, giúp đỡ những người thiếu
thốn về tinh thần cũng như về vật chất... là những việc
nên làm và cần làm, chúng ta không nên vì thành kiến hay lòng
sẻn tham của chúng ta mà ngăn cấm cha mẹ. Kinh Hiếu Tử cũng
nói : " Làm con cúng dường cha mẹ, lấy nước cam lộ trăm
mùi nuôi dưỡng, lấy âm nhạc cõi Thiền mua vui, lấy y phục
rực rỡ trang nghiêm thân thể, lấy vai cõng cha mẹ đi khắp
bốn bể chưa được gọi là " Hiếu ".
Cha
mẹ mê muội không biết kính tin Tam Bảo, cha mẹ tàn bạo
cướp của, nói lời gian dối, cha mẹ trái ngược đạo chính,
mê say cuồng loạn làm con phải hết sức can ngăn khiến cha
mẹ hướng về đạo chính, giữ năm điều răn, làm mười
điều lành, sống cuộc đời trong sạch : Không lấy trộm,
không nói dối, không rượu chè, cờ bạc. Có thế cha mẹ
ở đời mới được yên lành, lúc mệnh chung khỏi mọi điều
phiền não, sinh lên các cõi vui vẽ, được nghe lời Phật
thuyết Pháp. Chỉ vậy mới gọi là " hiếu ".
Chúng
ta nhận thấy chúng ta được sinh ra đời, được sống ở
đời thành người, toàn nhờ công ơn cha mẹ sinh thành và
dưỡng dục. Công ơn ấy chỉ có thể tạm ví với non cao,
bể rộng. Chúng ta làm người con phải luôn luôn nghĩ tới
và tìm phương báo đáp bằng tinh thần cũng như vật chất,
trong lúc sống cũng như khi chết, để đem lại sự an vui thiết
thực và giải thoát cho cha mẹ.
" Thờ
Trời, đất, quỷ, thần không bằng có hiếu với cha mẹ.
Vì cha mẹ là vị thần minh cao hơn tất cả các vị thần
minh ". Kinh Tứ Thập Nhị Chương.
3.-
NGHĨA VỤ NGƯỜI CHỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI VỢ
" Thấy
chồng thì biết được vợ "
Kinh
Tạp A Hàm
Sự
hệ trọng trong nghĩa vụ người chồng.
Người
chồng là chủ nhân ông trong gia đình, người chồng là tấm
gương sáng soi khắp những nổi lòng uẩn khúc, những đức
tính cần có và những công việc cần cù của người vợ
để đem lại lòng thân ái, đức nhân từ và sự vui vẻ trong
gia đình. Người chồng phải luôn luôn tỏ ra là thương yêu,
công bằng, đứng đắn và chăm chỉ để kiến lập gia đình,
hầu đem lại sự kính thuận và tinh tấn của người vợ.
Ảnh hưởng của người chồng đối với người vợ, đối
với công việc gia đình không phải là kém phần hệ trọng.
Hiểu
thấu sự hệ trọng ấy Kinh Trường A Hàm đã dạy : " Người
chồng đối với người vợ phải cần có năm việc :
a/
Phải lấy lễ mà đối xử với nhau
Mặc
dầu trong tình yêu đằm thắm của vợ chồng, hay khi tình
yêu ấy đã đem lại một kết quả truyền tiếp cho tương
lai, vợ chồng vẫn luôn luôn lấy lễ độ đối đãi với
nhau, không làm phiền lòng vợ khi xử sự, khi ăn uống chờ
đợi và không ngoại tình với người khác... Các nhà tâm
lý học cũng như thực tế đều đã chứng minh điều đó
: " Một tình yêu đằm thắm trong lễ độ, quyết nhiên một
gia đình hòa hợp, vui vẻ và vĩnh cửu. Một tình yêu chỉ
hướng về sự thỏa mãn nhục dục một cách sổ sàng trên
bộc trong dâu tất nhiên không tránh khỏi nổi nửa đường
đứt gánh, đem lại một bài học chua chát trong tình trường
". Chúng ta có thể nói rằng : " Bao cuộc hôn nhân bị đảo
lộn, bị tan vỡ là phản ảnh của sự thiếu lễ độ, thiếu
tình yêu chân thật, mà người vợ nhận thấy ở nơi người
chồng ".
b/
Thường giữ vẻ uy nghiêm
Uy
nghiêm là đức tính cần thiết của người chồng. Có uy nghiêm
mới có thể giữ vững được cương kỷ trong gia đình. Có
uy nghiêm mới đem lại sự kính thuận và làm tiêu tan những
lỗi lầm nghi kỵ của người vợ. Nghĩa là nhờ sự uy nghiêm,
nó đem lại cho gia đình đầm ấm, quy củ và thành thật với
nhau nhưng, hẳn là một vẻ uy nghiêm trong êm ái, chứ không
phải uy nghiêm trong võ dũng mà nó được bộc lộ ở nơi
người chồng.
c/
Đồ ăn thức mặc tùy thời mà cung cấp cho vợ
Người
ta ai lại không cần có sức khỏe. Muốn có sức khỏe phải
được ăn uống, thuốc men, quần áo đầy đủ bảo đảm
cho nó. Người vợ cũng thế, ăn uống cũng phải bổ dưỡng
để đương nổi gánh nặng nội trợ, để đủ sức trong
khi sinh sản và đủ sức trong khi dưỡng dục con cái. May mặc,
chi tiêu cũng phải được đầy đủ, để thân bớt tật bệnh,
khỏi tủi phận hờn duyên, khỏi lo nghĩ chán nản và khỏi
vương những bệnh di truyền cho con cái về tâm lý cũng như
về sinh lý. Cho nên đã là người chồng không thể lãng quên
vấn đề này được.
d/
Tùy theo sự giàu, nghèo, sang, hèn của mình mà sắm sửa trang
sức cho vợ.
Đàn
bà là một phái nghiêng về vấn đề trang sức. Vấn đề
trang sức là một vấn đề quan trọng nhất, còn hơn cả vấn
đề học vấn và ăn uống.Vì theo tâm lý người đàn bà,
có trang sức mới có giá trị, mới nổi bậc vai trò trên
sân khấu đời, mới đem lại sự vừa ý trong mong muốn. Hiểu
tâm lý ấy, người chồng nên tùy hoàn cảnh, tùy thời tiết
sắm sửa cho vợ được trang nghiêm để cho người vợ khỏi
có những giọt nước mắt thừa, những làn hơi thở dài trước
những người này và người nọ là " thua em kém chị ".
đ/
Giao phó việc trong nhà cho vợ
Người
chồng là người đã có mang sẳn tinh lực hoạt động. Hoạt
động cho mình cho nhà, cho quốc gia, xã hội trên mọi mặt.
Đã là người hoạt động tất nhiên sự hoạt động ấy
phải chiếm mất nhiều thì giờ nên nó không thể cho phép
người chồng quán xuyến tất cả những việc trong gia đình
nếu đúng là người hoạt động. Và lẽ dĩ nhiên giữa xã
hội này đều có sự phân công hợp lý. Công việc trong gia
đình người vợ phải có nhiệm vụ đảm đang thay cho người
chồng. Song người chồng cũng phải nhận lấy lẽ phải như
thế mà giao phó thành thực cho người vợ không nên bảo thủ
tất cả hay dò xét, nghi ngờ để đến nổi gia đình tan nát
kẻ Bắc người Nam.
Trong
một gia đình người chồng phải là người đứng vào địa
vị thủ lĩnh, có trí óc phán đoán, giàu tình cảm, hiểu
tâm lý, có đức độ, khoan dung, biết phân phối và biết
làm trọn nghĩa vụ mình hẳn là một gia đình sẽ được
hoàn hảo, một hạnh phúc chân thật sẽ được đáp lại
bởi người vợ hiểu biết và kính thuận.
Một
người vợ hiền đức là hình dáng phản chiếu của người
chồng tài năng, độ lượng.
4.-
NGHĨA VỤ NGƯỜI VỢ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHỒNG
" Cúng
dường cha mẹ, phụng sự người chồng, chăm nom con cái, cũng
gọi là tịnh hạnh ".
Kinh
Tịnh Hạnh Pháp Môn
Ảnh
hưởng giá trị của người vợ
Người
vợ là người chủ sự chốn đình vi. Người vợ là người
đem nguồn sống nhân từ, bác ái đượm nhuần khắp cõi lòng
và thân thể con cái, là giọt nước cam lồ để an ủi những
nổi lòng lo lắng cho chồng, là tấm gương sách tiến chí
khí cho chồng đạt tới sự vẻ vang trên trường đời. Ảnh
hưởng, giá trị của người vợ đối với gia đình, xã hội
không phải là một sự quá thấp kém như nhiều người lầm
tưởng, nếu là người vợ hiểu biết và thực hiện đúng
nghĩa vụ của mình.
Muốn
hiểu biết và thực hiện đúng nghĩa vụ ấy người vợ hãy
nghiêng mình thành kính nghe những lời Phật dạy trong Kinh
Trường A Hàm : " Người vợ nên lấy năm việc mà cung kính
người chồng :
a/
Nên dậy trước
Tất
cả công việc ở đời, không có chuyên cần cũng không có
thành tựu. Một bà nội trợ trong gia đình, thay thế người
chồng trông nom tất cả công việc không thể cứ bình tĩnh
nằm ngủ rất muộn, phải dậy sớm để xếp đặt công việc
trong ngày nay, điều khiển mọi người làm và săn sóc đến
con cái. Bóng sáng không chờ đợi. Bóng sáng chỉ dành cho
những người vợ muốn công việc được kết quả, muốn
gia đình được đầy đủ và muốn xứng đáng là người
vợ đáng tin cậy của người chồng. Vậy nên mỗi buổi sáng
người vợ phải dậy trước chồng là lẽ đương nhiên chứ
không phải là bất bình đẳng, nếu so sánh với người chồng
còn ngủ.
b/
Nên ngủ sau
Cũng
thế, tất cả công việc suốt ngày bề bộn, tối đến phải
thu xếp hẳn hoi, nhà cửa phải đóng cài cẩn thận, con cái
phải được ngủ yên nơi chốn, không phải là ít thời giờ,
không phải là ít hơi sức, tuy rằng chưa kể đến dự định
chương trình tiến hành công việc ngày mai do sự dự tính
của người vợ nên người vợ cũng đành chịu đi ngủ sau
và cũng coi đó là nghĩa vụ không thể từ chối được, nếu
là người vợ xứng đáng.
c/
Lời nói phải ôn hòa
Ca
dao có câu " Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói
cho vừa lòng nhau ". thật thế người vợ phải lựa lời mà
nói, đừng vì lời nói mà mình, người vợ trở thành kẻ
thù số một của người chồng như các sách truyện, nhật
báo đã tường thuật. Người vợ luôn luôn tự đặt mình
như một nhà ngoại giao dùng những lời nói ôn tồn, hòa nhã,
dịu dàng nhưng thân mật và lễ độ. Người vợ không bao
giờ dùng những lời nói thô bỉ, tục tằn, vô lễ, cắn
rứt đối với người chồng hay đối với con cái trong nhà.
d/
Phải kính thuận
Người
vợ cần tín kính và hòa thuận với chồng. Khi người chồng
đi đâu về nên đón chào niềm nở, khi ăn uống phải nên
ân cần chờ đợi, khi ốm đau nên thuốc than săn sóc, khi
cần tiêu dùng nên cung cấp đầy đủ, không nên nhìn nhau
bằng vẻ mặt lạnh lùng, không nên tư túi của riêng hay nắm
giữ độc quyền về kinh tế và không nên tư tình với người
khác. Những việc gì định làm nên thảo luận và cũng có
sự thoả thuận của người chồng. Những việc gì làm xong
nên thông qua để người chồng cùng biết. Nghĩa là nhất
nhất việc gì người vợ đều nhận mình là người đại
diện cho người chồng và là luật tắc hoà thuận chính đáng
trên cơ sở xây dựng.
đ/
Nên đón chiều ý chồng
Một
công việc gì được kết quả, một gia đình nào được êm
ấm đều là công phu của sự hiểu biết, cố gắng, nhường
nhịn. Người chồng không phải là không có khi nặng lời
với người vợ, nhưng người vợ biết nhẫn nhục vui cười
không một chút giận dữ tất nhiên những lời nặng nề ấy
sẽ được trở lại bình tĩnh, yên lành. Người chồng không
phải là người không có sự ham muốn, nhưng người vợ cũng
nên chiều theo sự ham muốn ấy và sẽ tìm phương sửa đổi,
nếu là ham muốn không chính đáng. Những công việc kiến
thiết gia đình do chương trình của người chồng đã định,
người vợ nên vâng theo thực hiện. Khi giao tế cần phải
có lịch sự, người vợ nên hiểu biết để làm vừa lòng
người chồng đem lại vinh dự cho gia đình.
Cả
một vấn đề được trình bày với bao sự tốt đẹp và
sung sướng trong gia đình mà phát xuất điểm là ở nơi người
vợ xứng đáng. Là người vợ có đủ tài ba điều khiển
guồng máy nội vụ, đủ những đức tính cần mẫn, cương
quyết, nhu hòa, sáng suốt, phục tùng, lễ độ, thành tín
và phương tiện tất nhiên sẽ kiến tạo thành gia đình ấy,
sẽ vững vàng hưởng thụ hạnh phúc lâu dài và sẽ mặc
nhận là con người biết làm tròn nghĩa vụ của người vợ
đối với người chồng yêu quý và là người mẹ hiền đối
với con cái.
" Tâm
đẹp được mọi người cung kính mới là cái đẹp chân chính
"
Kinh
Ngọc Gia Nữ.
5.-
NGHĨA VỤ THẦY GIÁO ĐỐI VỚI HỌC TRÒ
" Thầy
trò nên lấy đạo tương cảm thời tự nhiên tín kính nhau,
coi người như mình ... "
Kinh
Vấn Sự Phật Cát Hung .
Địa
vị Thầy giáo
Theo
sự phân công của xã hội thầy giáo ở một địa vị khá
quan trọng.
Với
nghĩa vụ của Thầy giáo đem thiên chức của mình cung cấp
vào sự mong muốn của người sau hầu làm phát triển những
điều cần thiết về thể chất, trí thức và tinh thần của
họ. Do đó họ sẽ đáp lại sự nhu cầu của xã hội ngày
mai và bảo đảm được nghĩa sống của họ.
Vì
thế, nó đòi hỏi nơi Thầy giáo rất nhiều sự hi sinh, nếu
đúng với nghĩa vụ như trong Kinh Trường A Hàm đã nói :
a/
Nên theo như pháp mà dạy dỗ họ
Một
vật gì đẹp hay xấu, hữu ích hay vô ích đều thoát thai
ở khuôn khổ đầu tiên do tay người thợ cấu tạo ra nó.
Người học trò cũng thế, sau khi ra gánh vác việc gia đình,
quốc gia, xã hội thành hay không, hữu dụng hay vô dụng đều
là phản ảnh trung thành của sự rèn luyện khi sơ tâm của
họ. Thầy giáo là một người lĩnh cái thiên chức thiêng
liêng thay cha mẹ để dạy dỗ họ. Vậy Thầy giáo nên theo
tiếng gọi của lương tâm, đem chỗ kinh nghiệm quán chiếu
tâm lý họ và dùng những phương tiện chỉ bảo theo trình
độ của họ một cách thân mật, vui vẻ nhưng không trái
với lẽ phải, với chương trình.
b/
Nên dạy họ những điều chưa biết
Đây
mới là lúc bắt đầu học hỏi để họ sẽ bước trên một
con đường đầy chông gai nguy hiểm và dày đặc của cõi
đời. Thầy giáo phải đem những chỗ hiểu biết của mình
về thể dục, trí dục và đức dục mà dạy bảo họ : Đâu
là cách rèn luyện thân thể cho bắp thịt nở nang, ăn uống
tiết độ, nhà ở mát mẻ, thu hít dưỡng khí... Đâu là trao
dồi trí tuệ, hiểu biết lý hóa, toán học, hiểu biết nguyên
nhân của vũ trụ nhân sinh... Đâu là hiểu biết về cách
xử thế đối với mình, đối với gia đình, quốc gia, xã
hội... là những điều họ chưa biết cần cho họ biết.
c/
Nên giảng giải cho họ những điều đã nghe
Học
không phải chỉ học trong phạm vi chương trình mà còn phải
học tất cả những cái gì chung quanh mình có liên hệ tới
mình bằng hữu hình hay vô hình. Học không phải là chỉ học
suông, phải biết phân biệt, suy nghĩ và thực hành. Nhưng
chưa chắc đã đúng hẳn, cần phải có chỗ quyết định,
mà chỗ quyết định ấy tức là Thầy giáo. Thầy giáo cần
đem những chỗ đã học, đã nghe hay những chỗ nghi vấn của
họ, giảng giải cho họ một cách tỉ mỉ trên phương diện
cụ thể hóa khiến họ hiểu thấu rõ rệt về mặt lý thuyết
cũng như về mặt thực tế !
d/
Nên chỉ cho họ biết chọn bạn hiền
Cảnh
sách nói : " Sinh dưỡng ta là cha mẹ, thành thân ta là thầy
bạn ".
Bạn
là những người giúp đỡ cho họ thành người, gián tiếp
thay mình, thầy giáo dạy bảo họ. Vì bạn luôn luôn đi sát
với họ, bình đẳng với họ có thể thẳng thắn bảo họ
hay khuyên họ điều hay điều dở. Nhưng phải là bạn hiền
lương, là những bạn biết ngăn điều trái cho nhau, có lòng
thương mến nhau, chỉ làm lợi cho nhau và đồng lòng làm việc
với nhau. Trái lại, là những bạn chỉ sợ hãi, chỉ luồn
cúi ngoài mặt nhưng không thực bụng, chỉ có lời nói khéo
léo nhưng ngấm ngầm sát hại, chỉ biết nịnh hót, chiều
chuộng để cầu lợi và chỉ rủ rê làm điều càn bậy.
Cho nên vấn đề giao bạn rất cần thiết cho học trò song,
chắc chắn họ chưa đủ trí óc lựa chọn, tất nhiên thầy
giáo phải có nghĩa vụ chỉ bảo cho họ một cách thẳng thắn,
nhưng khéo léo, đừng làm phật ý trò khác.
đ/
Nên đem hết những chỗ mình biết dạy bảo họ
Thầy
giáo nên tự nhủ : " Ta sinh ra để làm việc xã hội, ta đừng
để lương tâm ta cắn rứt, ta đem hết tài năng của ta phụng
sự cho bổn phận, ta cùng biểu đồng tình với tư tưởng
của ông F. Gregh :
" Mai
đây tôi có thác đi người ta sẽ nói : có hề gì, nó đã
sống ", để làm mục đích cho ta trong khi thi hành sự vụ.
Đã tự nhủ được như thế, tất nhiên sự không tận tâm,
sự tham tiếc sẽ tiêu tan, sẽ đem lại cho sự ích lợi chung
cho thầy và trò. Nếu không được thế, không những không
phải là người hiểu nghĩa vụ và không còn là ân nghĩa sâu
sa của thầy trò nữa.
Đối
với học đường là một nơi đào luyện con người, tất
nhiên trong đó nó tiềm tàng bao thắng nghĩa của con người,
của xã hội. Thắng nghĩa ấy không đòi hỏi gì ngoài sự
đòi hỏi về sự hiểu biết, thân ái, khôn khéo và tận tâm
nơi thầy giáo. và chỉ có thế mới đem lại một giá trị
như thật cho nghĩa vụ làm người đứng trong địa hạt giáo
dục.
6.-
NGHĨA VỤ HỌC TRÒ ĐỐI VỚI THẦY GIÁO
" Phàm
học trò ở đời nên kính đức của Thầy, mừng điều thiện
của Thầy và không nên có ác ý với Thầy ".
Kinh
Vấn Sự Phật Cát Hung
Biết
ơn, trả ơn.
Người
ta sinh ra đời, không ai có thể mặc nhận là người không
học mà hiểu biết được. Đã phải học tất nhiên là phải
noi theo sự chỉ dẫn và đã làm tốn bao sinh lực, tâm lực
của người khác. Người ấy chúng ta thường gọi là thầy
giáo.
Với
sự hy sinh cao cả của Thầy giáo, người học trò không thể
lãng quên được, phải luôn luôn kính cẩn và cố gắng thực
hành năm điều răn trong Kinh Trường A Hàm đã chỉ rõ để
đáp lại công ơn ấy nếu là người học trò hiểu nghĩa
vụ của mình :
a/
Nên cung cấp cho Thầy
Con
người được sống cần phải có bao nhiêu mối tương quan
phụ thuộc. Thầy giáo cũng thế, đứng vào địa vị giáo
dục là một địa vị cao cả, nhưng phải chịu nhiều sự
khó khăn, vất vả trong phạm vi suy nghĩ, nói năng, vận động
và lãnh đạo. Sự vất vả ấy nếu không được sự cung
cấp đầy đủ của học sinh hay của Chính Phủ, để bồi
dưỡng thân thể và tâm thần tất nhiên sẽ đem lại cho ông
một kết quả bi quan là suy yếu, giải nghệ hay là không đủ
sức để dạy bảo học trò cho tấn tới được.
Cho
nên sự nhu dụng của Thầy giáo cần được giải quyết một
cách ổn đáng.
b/
Nên lễ kính, cúng dường Thầy
Biết
cung cấp Thầy chưa đủ, phải biết lễ kính nữa. Nghĩa là
người học trò luôn luôn phải có một thái độ lễ phép
và cung kính đối với Thầy. Trong trường học cũng như những
nơi khác từ dáng điệu, lời nói, việc làm hay khi kính biếu
một vật gì người học trò phải chứng tỏ là một người
có đức hạnh đượm vẻ " biết ơn và nhớ ơn Thầy " mà
không vương một chút thị kỳ, kiêu mạn gì về năng lực,
địa vị hay của cải của mình.
c/
Nên tôn trọng và quy ngưỡng Thầy
Đã
học Thầy phải tôn trọng Thầy. Với giá trị Thầy, thân
thế Thầy, địa vị Thầy, người học trò không nên làm
mai một nó bất cứ trong trường hợp nào. Người học trò
chỉ nhận ở bất cứ nơi Thầy là ngọn đuốc sáng soi đường
cho ta đi trong đêm tối, ta không nên phân biệt hay câu chấp
vào con người mà bỏ mất ánh sáng. Nhưng cũng có thể dùng
ánh sáng soi lại ánh sáng cho người cầm đuốc sáng bằng
cách thành thực và lễ độ. Nghĩa là người học trò biết
đem bổn phận mình hướng về Thầy, kính mến Thầy, mặc
dầu có khi Thầy vô tình đã sa vào lầm lỗi.
d/
Nên vâng thuận lời Thầy
Trong
khi học tập hay lúc ra ngoài lớp Thầy có dạy bảo điều
gì, việc gì, người học trò nên hết sức vâng lời, kính
thuận và cố gắng thực hành. Thầy có quở trách không nên
tỏ vẻ giận dử, bực tức và cãi lại, để cho bầu hòa
khí được bền chặt mãi trong đạo nghĩa Thầy trò.
đ/
Nên ghi nhớ lời Thầy
Học
để biết, biết để làm, nên tất cả những lời gì, những
bài gì, do Thầy đã dạy bảo người học trò phải ghi nhớ
kỹ càng để đem áp dụng vào việc lợi mình, lợi người,
dầu khi còn theo học hay lúc xa Thầy.
Nên
đây người học trò nên nhận lấy câu : " Hòa thuận, trung
hậu, không oán ghét mà chân thành " là lời Đức Phật dạy
trong Kinh A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung để làm châm ngôn cho
đời chúng ta đối với công ơn của Thầy giáo.
7.-
NGHĨA VỤ ANH EM, HỌ HÀNG ĐỐI VỚI NHAU
" ...
Anh em, hàng trong ngoài của gia đình, nên kính mến nhau đừng
nên ganh ghét nhau. Di sản có hay không đều nên chung hưởng
cùng nhau. Lời nói sắc mặt thường hòa nhã không nên chống
trái nhau ".
Kinh
Vô Lượng Thọ
Tinh
thần gia tộc
Sinh
mệnh con người là một sự truyền tiếp không ngừng trong
nguồn gốc nhân chủng. Cùng nguồn gốc tức là cùng huyết
thống. Huyết thống ấy chu lưu xa, gần trong hệ thống gia
đình nội, ngoại nên có thể gọi chung là " gia tộc ".
Gia
tộc là một tổ chức mà thành phần trong ấy có anh, chị,
em,chú, bác, cô, dì v.v... cùng thai sinh bởi sinh lực của cha
mẹ, tổ tiên, cùng hấp thụ theo tư tưởng, tập quán của
gia phong và cùng chịu ảnh hưởng chung về giá trị và thanh
thế. Đã có một tổ chức chung, tất nhiên phải có quy tắc
gì về sự đối đãi với nhau cho phải đạo ? Quy tắc ấy
đã được trình bày, rõ rệt trong Kinh Lễ Sáu Phương : thân
mật với nhau. Chúng ta phải luôn luôn tín kính, yêu mến nhau
trong trật tự gia tộc.
Phải
giúp đỡ nhau
Trong
gia tộc nếu có ai bị hoàn cảnh thiếu thốn chúng ta phải
phụ trợ cho nhau, nhà giàu có nên san sẻ cho nhau, có của
gì tốt, sự gì hay cùng chia sẻ cho nhau chung hưởng.
Được
như thế, linh hồn gia tộc mới trường tồn bất diệt, giây
thân ái mới càng thêm khắn khít, nếp gia phong mới được
nêu cao trong xã hội, sự sinh hoạt mới chiếm phần ưu thắng
và do đó nền tảng quốc gia thêm bền vững.
" Người
ta không bao giờ đặt ra cái đích để đi ra ngoài nó bao giờ
".
Người
có tinh thần gia tộc hãy khép mình trong tinh thần ấy để
đem lại sự an vui, hòa hảo vĩnh cửu cho mình và cho tất
cả.
8.-
NGHĨA VỤ BẠN BÈ ĐỐI VỚI NHAU
" Có
thế trí mà không có bạn lành thì thường mê đạo. Chưa
tự ngộ cần phải có bạn lành ".
Tông
Kính Lục
Cần
phải có bạn
Ở
đời cần phải có bạn, có bạn để làm chiến lũy ngăn
tất cả cái gì có thể đột nhập, phá hoại những cõi lòng
trong trắng, tấm thân thanh sạch của mình. Có bạn, để đem
lại những chỗ chưa nghe, chưa hiểu, chưa biết cho mình một
cách rõ rệt có thực nghiệm.
Nhưng,
bạn cũng có hai loại : bạn thân thiết và bạn thù nghịch
:
A/
Bạn thù nghịch :
Những
người chính là ác thù với mình mà mình lầm coi là bạn
thân. Bạn ấy có 4 hạng :
Hạng
úy phục : Những người trước cho rồi sau gạt lại, cho ít
mong báo đền nhiều, vì sợ mà gượng cho hay làm thân, hoặc
vì lợi mà làm thân cũng có.
Hạng
mỹ ngôn : Những người dù hay dù dở cũng nghe theo để chìu
ý mình nhưng, hễ có hoạn nạn thì họ bỏ ngay, thấy người
tốt đến với mình thì họ ngấm ngầm cản và thấy mình
có việc nguy hại thì họ lại tìm phương hại thêm.
Hạng
kính thuận : Những người coi như có lễ độ, thuận tòng
nhưng hay nói dối trước khi có việc, sau khi có việc, đang
khi có việc và mình hơi có lỗi nhỏ một chút thì họ giở
mặt ngay.
Hạng
ác hữu : Những người chỉ làm bạn với nhau lúc uống rượu,
lúc đánh bạc, lúc chơi bời dâm dật và lúc múa hát.
B/
Bạn thân thiết : Những bạn thân ái chân thật, giúp ích
cho mình nhiều điều hay. Bạn này cũng có 4 hạng :
a/
Hạng chỉ phi : Những người thấy ai làm điều ác thì ngăn
cấm, bảo cho biết những điều chân chính, chỉ dẫn cho biết
đường về nơi an vui vĩnh viễn.
b/
Hạng từ mẫn : Những người thấy ai có sự ích lợi thì
thì mừng, thấy ai có tội ác thì lo, khen ngợi cái hay của
người và ngăn cản sự nói xấu của người khác.
c/
Hạng lợi nhân : Những người biết gìn giữ cho kẻ khác
khỏi bị phóng đãng và hại của, giúp đỡ kẻ khác khỏi
sợ hãi và trong chỗ kín đáo thường răn dạy nhau.
d/
Hạng đồng sự : Những người vì người đồng sự mà không
tiếc thân mệnh, tiền của, tích cực bên vực nhau trong lúc
sợ hãi và vì kẻ đồng sự mà trong chỗ kín đáo thường
răn dạy nhau.
Một
thí dụ...
Trước
khi bắt tay vào công việc lựa chọn một trong hai loại bạn
trên đây kinh Phật Bổn Hạnh đã cho chúng ta một thí dụ
cụ thể : " Một hôm đức Phật Thích Ca Mâu Ni cùng ông Nan
Đà vào thành Ca Tỳ La đến một hàng cá Ngài liền bảo ông
Nan Đà : " Ông hãy vào hàng này xin một ít cá, bỏ vào lá,
cầm một lát rồi ném xuống đất xem tay ông có mùi gì không
? " Ông Nan Đà liền làm theo lời Phật dạy và thưa : " Dạ
có mùi tanh hôi bất tịnh ". Phật nói : " Thật thế, nếu
thân cận với kẻ ác tri thức và chỉ giao thiệp với họ
trong một thời gian ngắn liền nhiễm nghiệp ác, tiếng dữ
đồn xa ". Cũng khi ấy đức Thế Tôn lại bảo ông Nan Đà
: " Ông hãy cầm một bao hương của hàng này trong một thời
gian ngắn rồi bỏ xuống xem tay ông có mùi gì không ? "
Ông
Nan Đà liền làm theo lời Phật dạy và thưa " Dạ, chỉ có
mùi thơm vi diệu khó lường ". Phật nói " Thật thế, nếu
thân cận với hàng thiện tri thức, thường tập theo đức
tính của họ sẽ thành đức lớn ".
Như
thế, chúng ta đã thấy sự cần thiết, lợi ích hay nguy hại
của bạn thân và bạn thù thế nào rồi. Cùng một tâm niệm,
chắc chắn chúng ta nên chọn lấy bạn thân. Vì được bạn
thân, gần bạn thân cũng như gần đèn thì sáng, như được
châu báu sẽ đem lại sự vẻ vang và sung sướng.
Vậy
chúng ta nên dùng những hành vi của người bạn thân thiết
mà đối đãi với nhau, nếu chúng ta cần có bạn.
" Những
ai có tình cảm cao thượng nhất là họ thọ nhất ".
Lời
ông Bailey.
9.-
NGHĨA VỤ CHỦ NHÂN VÀ TÔI TỚ ĐỐI VỚI NHAU
" Điều
mình không ưa làm chớ nên trách người ".
Kinh
Vấn Sự Phật Cát Hung
Ở
đời mỗi người đều có một công việc để giúp đỡ nhau
Danh
từ chủ nhân và tôi tớ là một danh từ được đặt ra để
chỉ về con người chủ động và bị động trên công việc
làm, hầu đem lại một mực sống chung cùng cho xã hội chứ
không phải là một danh từ thống trị hay nô lệ.
Vì
ai cũng là phần tử của xã hội phải hòa theo sự phân phối
hợp lệ của xã hội, nếu đúng với chân nghĩa bình đẳng
của đạo Phật.
Đúng
chân nghĩa ấy còn đâu là phân chia giai cấp, còn đâu là
sang, hèn, giàu, nghèo, còn đâu là sung sướng, khổ sở mà
chỉ biết nhận ở nơi mình, chủ nhân, tôi tớ, một nghĩa
vụ phải làm và phải xứng đáng với nghĩa vụ ấy.
Kinh
Thiện Sinh nói : " Chủ Nhân phải biết nghĩa vụ mình đối
với tôi tớ ".
a/
Nên tùy tài lực họ mà đặt để vào công việc
Có
người thông minh, có người ngu độn, có người khỏe mạnh,
có người yếu ớt nên chủ nhân cần phải lượng sức họ,
xếp đặt công việc cho họ để khỏi thiệt hại quyền lợi
của mình vì sự chậm chạp, vụng về của họ và cũng khỏi
làm suy yếu thân thể, bạc nhược tinh thần của họ
b/
Nên đầy đủ lương soạn và thức ăn uống cho họ
Người
lao động với vấn đề ăn uống và lương soạn là một vấn
đề quan trọng. Họ đem lương thực để cung phụng cho xã
hội, chỉ mong xã hội trả lại cho họ một giá phải chăng
về cơm ăn, áo mặc đầy đủ, món lương công bằng và sòng
phẳng, là chủ nhân cần làm thỏa mãn sự nhu cầu của họ.
c/
Nên săn sóc họ khi đau yếu
Ai
khỏe mà không yếu. Yếu, khỏe là luật chung thì sự săn
sóc cũng phải như nhau. Là chủ nhân, trong lúc này cần hết
sức trông nom thuốc thang, cơm cháo... cũng như khi mình đau
yếu.
d/
Nên cho họ nghỉ ngơi
Chủ
nhân cần biết phân phối thì giờ cho hợp lý. Nghĩa là,trong
một ngày đêm, theo luật quốc tế, chỉ nên để họ làm
việc tám tiếng đồng hồ, ngoài ra nên để cho họ ngủ nghỉ
kèm theo với những ngày nghỉ khác. Nếu được nghỉ, thân
thể họ sẽ khỏe mạnh thêm, học hỏi được thêm, họ sẽ
có nhiều sáng kiến giúp vào công việc của chủ và biết
cách cư xử với chủ là khác. Lợi hại trước mắt mà ít
người nhìn thấy!
đ/
Nên khen ngợi công lao họ
" Một
quan tiền công không bằng một đồng tiền thưởng "
Ở
đời không mấy ai không có lòng tự ái và tính hiếu kỳ.
Họ thấy sự cố gắng của họ được chủ biết đến còn
chi sướng bằng, tất nhiên họ sẽ cố gắng hơn lên. Là
chủ nhân nên dùng phương sách này bằng lời nói, hay của
cải để khích lệ họ.
Đó
là một nghĩa vụ mà chủ nhân đã thực hiện, để đáp lại
nghĩa vụ ấy người tôi tớ có năm việc cần làm :
a/
Nên có lễ độ đối với chủ
Lễ
độ là một việc cần thiết trong luân lý mà không một phương
sở nào không dùng nó, mặc dầu hình thức khác nhau. Khi đi,
đứng, nằm, ngồi, khi làm việc đều phải có lễ độ đối
với chủ cho tôn nghiêm
b/
Nên làm việc cho chu đáo
Khi
chủ đã đặt để mình vào công việc gì phải làm cho đến
nơi đến chốn không nên trốn tránh lười biếng, lơ đãng
để tốn phí thời giờ.
c/
Nên làm việc cho có trật tự
Tất
cả việc gì mình làm cần phải có ngăn nắp. Việc trước
làm trước, việc sau làm sau. Và, trong khi làm hay khi thôi về
một công việc gì, vật liệu hay tài liệu cần được cất
để trật tự không nên ngổn ngang lộn xộn.
d/
Nên có lòng thật thà
Tất
cả của cải hay đồ vật của chủ mình đều coi giữ cẩn
thận và cũng không nên có bụng tham lam, trộm cắp một thứ
gì, nếu không phải là chủ cho mình.
đ/
Nên ngợi khen danh tiếng chủ
Bất
cứ trường hợp nào mình đều kính mến chủ và tán thán
những đức tính tốt của chủ một cách thành thực.
Có
như thế lẽ sống trong sạch của đôi bên mới có giá trị,
hạnh phúc chân thật mới được cảm thụ, giây thân ái mới
được bền chặt, nguồn kinh tế mới được dồi dào và
nền hòa bình mới có bảo đảm lâu dài được.
" Bí
quyết của thành công là mình biết đặt vào địa vị người
khác ".
10.-
NGHĨA VỤ CÔNG DÂN ĐỐI VỚI QUỐC GIA
" Các
bạn hãy yêu Tổ Quốc của các bạn, vì nó là tên họ của
các bạn ở giữa vạn quốc, là vinh quang của các bạn, là
chữ ký của các bạn đấy ! ".
J.Mazzini
Quốc
Gia
Quốc
gia là một tổ chức do nhiều phần tử nhân dân kết hợp,
cùng chung một tiếng nói, cùng chịu một ảnh hưởng về
phong tục và có một lịch sử, một lĩnh thổ nhất định.
Đã do sự kết hợp tất nhiên sự hưng vong của nó không
phải là không đòi hỏi nhiều ở nơi nghĩa vụ người công
dân.
Nghĩa
vụ người công dân là một nghĩa vụ thiêng liêng cao cả
đối với sự mất, còn của đất nước, sự sướng khổ
của nhân dân nên công dân phải hết lòng vì nước, vì dân.
Chúng ta hãy xem Kinh Bồ Tát Diệm Tử dạy : " Làm vua quan,
công chức phải biết thương dân, dạy dân. Làm người dân
phải biết tuân theo và kính nhượng ".
A/
NGƯỜI CÔNG CHỨC
Người
công chức cũng là người công dân, được dân suy tôn hay
đề cử để thay mặt dân, cầm vận mệnh quốc gia, giành
lại hay duy trì nền độc lập, tự do, hạnh phúc cho quốc
dân. Đã thay mặt dân tất nhiên không thể bỏ dân, làm ngu
dân, hại dân, hay xa dân. Trái lại, phải cần dân, dạy dân,
thương dân và gần dân.
a/
Biết gần dân
Người
công chức phải luôn luôn đi sát với dân chúng, đồng sự
với dân chúng, cùng tìm hiểu trong sự sinh hoạt, sự cần
thiết cho lẽ sống về tinh thần và vật chất của dân chúng.
Người công chức muốn tỏ ra mình là bạn dân nên theo lời
ngài Lão Tử nói :
" Người
quân tử muốn tỏ đức với thiên hạ bao giờ cũng hạ mình
thấp xuống ".
b/
Biết thương dân
Đã
hiểu được ý niệm của dân chúng tất nhiên người công
chức phải biết thương dân. Thương dân tức là đem lại
sự an ninh trật tự, thuốc men đầy đủ, kinh tế dồi dào,
vật dụng phong phú và một nền văn minh tiến bộ cho dân
chúng.
c/
Biết dạy dân
Muốn
cho dân được thỏa mãn nguyện vọng người công chức phải
đem hết tài năng mình dạy dỗ dân chúng về tất cả mọi
mặt : chính trị, ngoại giao, hành chính, quân sự, văn hóa,
công nghệ, kỹ nghệ, canh nông, thương mại v.v... một cách
thân ái và bình đẳng, nghĩa là dạy bảo nhưng không có hình
dung gì là dạy bảo.
d/
Biết cần dân
Dạy
cho dân biết đường lối làm người công dân để cung ứng
vào công việc quốc gia tức là phải cần dân. Đã cần dân
dĩ nhiên tất cả việc gì liên hệ đến tinh thần quốc gia
dù đối nội hay đối ngoại đều phải được sự đồng
ý của dân. đã hỏi ý kiến của dân tức là người công
chức đã mặc nhận và tôn trọng quyền tự do hoàn toàn của
người công dân, hay ít nhất cũng được quyền tự do như
nhà văn hào Milton viết : " Trên hết mọi việc tự do khác
hãy cho tôi tự do biết nói và thảo luận tự nhiên theo lương
tri của tôi ".
Nghĩa
là người công chức phải tự nhận mình là công bộc của
dân, làm việc cho dân, tất cả đều hướng nhiều về hai
chữ " vì dân ". Người công chức phải làm sao cho dân quý,
dân mến, dân yêu, dân phục. Người công chức đối với
dân chúng nên cố gắng làm tương tự như lời Ngài Mạnh
Tử khuyên : " Kính cha mẹ mình và cha mẹ người, thương con
nhỏ mình và con nhỏ của người ".
Và
xin đừng để ông Shakespeare cũng như dân chúng phải cất
tiếng nguyền rủa, kêu than : " Người đời ôi, người đời
kiêu căng quá, họ hơi khoác một chút uy quyền vào mình, họ
liền diễn trước hóa công những hài kịch lố lăng đến
nổi các vị thần minh trông thấy cũng phải sa lệ ! "/
B/
NGƯỜI DÂN
Người
dân đã được thừa hưởng một đặc quyền về tự do, hạnh
phúc dưới chính thể " vì dân ", người dân phải hết sức
cung kính khiêm nhượng người công chức và phải triệt để
tôn trọng, tuân theo hiến pháp, hiến pháp do dân lập ra. Đã
nhượng kính và tuân theo tức là người dân phải thực hành
đúng với nghĩa vụ của mình.
a/
Không làm điều phi pháp
Tất
cả những gì thuộc về lời nói, ý nghĩ, việc làm trái với
lương tâm, trái với đạo lý, trái với pháp luật người
dân đều không vi phạm tới. Như không giết người lấy của,
không hãm hiếp, cướp bóc, không đánh nhau, kiện cáo v.v...
b/
Biết đoàn kết chặt chẽ
Tất
cả mọi người đều đồng tâm nhất chí, hiểu biết nhau,
thân yêu nhau, nắm chặt tay nhau cùng nhau chung sức để bảo
vệ tổ quốc, kiến thiết quốc gia, làm hậu thuẩn cho Chính
phủ để thực hiện hiến pháp mà không bị mù quáng trước
quyền lợi tư kỷ. " Các bạn phải đoàn kết mạnh mẽ, nếu
không các bạn sẽ bị tiêu diệt ".
c/
Biết đóng góp đầy đủ
Muốn
bảo vệ Tổ quốc, kiến thiết quốc gia đều trông vào tài
nguyên vô tận của dân. Người dân hãy dốc vào những công
việc ấy bằng tất cả nhân lực, vật lực của mình khi
mà tất cả công việc ấy đã được hiến pháp bảo đảm
và công nhận cho sự chân chính của nó.
d/
Biết tận tâm tận lực
Bất
cứ công việc gì có lợi ích cho quốc gia, cho quần chúng,
người dân phải đem hết tài năng, sinh lực mình vào công
việc ấy, không chút do dự, trốn tránh và chậm trễ để
làm hao tổn thì giờ hay tinh thần của quốc gia. Vì " Bỏ
một ngày đi tới vinh quang tức là bỏ một ngày đi tới hạnh
phúc".
Người
dân phải nhận lấy công việc quốc gia là công việc của
mình. Quốc gia hưng thịnh hay suy vong người dân sẽ chịu
ảnh hưởng sung sướng hay nô lệ. Sung sướng hay nô lệ không
đòi hỏi gì ngoài sự tận tâm, đoàn kết hay trốn tránh,
chia rẽ ngay tại bản thân người dân. " Anh được tự do
sống hay là để sự sống lôi cuốn anh "
Như
thế nghĩa vụ người công dân, công chức và thường dân
đối với quốc gia rất quan trọng, quan trọng vì sự sống
còn, sự vinh quang của dòng máu truyền thống trên giải đất
hữu định. Vậy chúng ta hãy nghiêng mình kính cẩn đảm nhận
lấy nghĩa vụ ấy.
" Biết
đoàn kết, biết ăn ở hoà hảo cùng nhau và thường hội
họp nhau lại để lo bàn việc nước thì không sợ gì sẽ
bại vong mà nhất định sẽ được cường thịnh, phong phú
thêm lên "
Kinh
Trường A Hàm.
11.-
NGHĨA VỤ CON NGƯỜI ĐỐI VỚI XÃ HỘI
" Kẻ
nào không quan tâm tới người khác kẻ ấy sẽ gặp nhiều
sự khó khăn và còn là người có hại nhất cho xã hội ".
Adler
Xã
hội
Xã
hội là một tổ hợp bởi nhiều phần tử có liên hệ về
sự sinh hoạt. Trong sự sống còn của loài người được
sung sướng hay đau khổ là phản ảnh của xã hội thịnh đạt
hay suy vong là hiện thân của con người tinh tấn hay biếng
nhác, hiểu biết hay ngu si. Cho nên nghĩa vụ con người đối
với xã hội không phải là không cần thiết.
Khế
Kinh nói : " Ta không cần phúc báo nào cả đến phúc báo được
tái sinh ở một nơi cõi Cực lạc. Nhưng ta tìm tòi sự lơi?lạc
cho loài người, ta tìm cách làm cho những kẻ lạc đường
biết quay trở lại, soi đường cho những kẻ sống tối tăm
và lầm lỗi, làm cho đời hết mọi phiền não và đau thương
".
Muốn
làm cho đời hết mọi phiền não và đau thương cần phải
chứng nhập chân lý của sự vật, dùng chân lý hướng dẫn
chúng sinh như trong Kinh Độ Thế nói : " Nắm ngọn đuốc pháp
chiếu khắp mười phương, phá tan đen tối, làm cho ai nấy
đều được bước lên đường quang minh của Phật ".
Tiến
tới đường quang minh của Phật không phải xa xôi mà tự
ngay nơi vững tin, gắng làm và phát nguyện của chúng ta biết
hướng về, toàn thể Kinh Hoa Nghiêm nói : " Bồ Tát có phúc
đức lớn, có tâm rộng rãi, có chính niệm quán sát nên không
thoái thác công việc độ sinh mà Bồ Tát thường vì sự lợi
ích cho tất cả chúng sinh siêng tu phép lành và chưa từng
lầm khởi những ý niệm bỏ chúng sinh... Dùng giáp trụ đại
nguyện của Bồ Tát để trang nghiêm, cứu độ chúng sinh nên
Bồ Tát luôn luôn tiến tới chứ không lui chuyển ... "
Căn
cứ vào giá trị trên đây đã đem lại cho chúng ta một đường
đi rõ ràng trong sự thực hiện nghĩa vụ của chúng ta giữa
xã hội ;
a/
Phải hiểu biết và tận tâm
Trước
một nghĩa cử gì nếu chúng ta không hiểu biết rõ ràng, chúng
ta không nên làm và nếu chúng ta làm chúng ta phải thể nhập
sự thật, hướng theo sự thật, đem lại lợi ích chung cho
cá nhân và xã hội chúng ta. Chúng ta tự nhận chúng ta là
một cá nhân trong xã hội, chúng ta nhờ xã hội mà sống và
xã hội sống nhờ chúng ta nên chúng ta phải dám nhận là
vị Bồ Tát hi sinh, tận tâm làm việc cho xã hội. Bất cứ
trường hợp nào, điều kiện gì, hi sinh đến mực nào mà
những công việc ấy có tính cách xã hội, lợi ích cho toàn
thể chúng ta đều cố gắng thực hành, không sờn lòng nản
bước hay chậm trễ.
b/
Phải thân ái với nhau
Kinh
Trường A Hàm nói : " Bậc hiền biết hòa giải những người
chia rẽ, kết chặt những người đồng tâm nhất chí ... ".
Ta là người, người là ta. tất cả những cái ta muốn là
người muốn, những cái ta không muốn tức là người cũng
không muốn. Chúng ta cố gắng nói nghĩ, làm như bậc hiền,
chúng ta luôn luôn thân mật, yêu mến nhau, sống chung với
nhau trong sáu điều hòa kính của Phật :
_ Thân
hòa : chung sống an bình,
_ Khẩu
hòa : lời nói êm dịu,
_ Ý
hòa : vui vẻ chân thành,
_ Kiến
hòa : giúp thêm hiểu biết,
_ Giới
hòa : cùng tu, cùng tiến,
_ Lợi
hòa : quyền lợi đồng đều,
c/
Phải giúp đỡ nhau
Theo
nghiệp lực của nhân quả, con người có những hoàn cảnh,
điều kiện khác nhau : đâu là thông minh, ngu độn, khỏe mạnh,
ốm yếu, đâu là sung sướng, đau khổ... Do đó chúng ta có
nghĩa vụ phải giúp đỡ nhau tùy theo hoàn cảnh và năng lực
của mình, như giúp đỡ tiền của, thuốc thang, cơm áo, giúp
đỡ sách, vở, báo chí hay dạy học, giúp đỡ bằng lời
an ủi hay hi sinh cứu vớt khi lâm nạn v.v... Nhưng sự giúp
đỡ ấy phải thốt ra tự đáy lòng chân thành của chúng
ta như lời Bác sĩ Albert Shweitzer nói : " Một đồng xu nhỏ
của một quả phụ thiếu thốn đem cho người nghèo có nhiều
giá trị hơn những món quà lớn của nhà triệu phú tặng
kẻ bần hàn, nếu đồng xu nhỏ ấy là tất cả gia sản của
quả phụ ".
d/
Phải dạy bảo nhau
Đã
thân yêu nhau, đã giúp đỡ nhau phải dạy bảo nhau cùng hiểu
biết về chân lý, về sự nghiệp của l