PHẦN
THỨ HAI
" Những
lời nói văn hoa của hạng người không bao giờ thực hành
đúng lời nói cũng giống như những đóa hoa tươi đẹp nhưng
vô hương ".
Kinh
Pháp Cú.
PHƯƠNG
PHÁP LÀM NGƯỜI
" Anh
hãy cương quyết chú định vào chân lý. Anh hãy lấy chân
lý làm ngọn đuốc và nơi nương náu cho anh "
Kinh
Đại Niết Bàn
Con
người được nhận là người, khi nào tư cách và hành động
chư pháp.
Những
trang sách trên đã trình bày khái niệm về con người. Khái
niệm ấy đã đem lại cho chúng ta một nhận thức rõ ràng
về giá trị, địa vị của nó trong đạo Phật, mà chúng
ta có thể nhắc lại : " Đạo Phật là đạo của con người
". Đã là Đạo của con người, tất nhiên phải có phương
pháp để hướng dẫn con người biết cách thức làm người
về phương diện nhập thế cũng như xuất thế.
Trong
sự hướng dẫn con người, đạo Phật không bao giờ đi xa
sự thật mà luôn luôn đứng trên quy luật " hợp pháp và
hợp cơ ". Nghiã là, lời nói, ý nghĩ, việc làm luôn luôn
phù hợp chính pháp và thích hợp cơ duyên, trình độ, hoàn
cảnh của cá nhân. Đức Phật dạy : " Con muỗi hay con voi
đều được no đủ khi uống nước biển, vì nước biển
chỉ thấm nhuần một hương vị : hương vị mặn của muối.
Giáo lý của Ta cũng thế , dù cao hay thấp, cũng chỉ thấm
nhuần một hương vị : hương vị an tịnh của giải thoát
". Với giáo lý trên đây hàm xúc ý nghiã sâu xa về phương
pháp hướng dẫn con người trên cơ bản của " Chân lý " và
thực hành bằng " Phương tiện ".
Song,
tùy theo sự học, hiểu và hành của chúng ta mà nó sẽ đem
lại cho chúng ta một sự giải thoát tương đối hay tuyệt
đối trong phương pháp làm người.
Trước
khi chúng ta vào trường rèn luyện theo phương pháp đạo Phật,
chúng ta hãy ghi nhớ những lời Bác sĩ André Migot đã nói
: " Những lời huấn giới chỉ là một phương tiện, là một
trong những nguyên tố của sự tranh đấu chống khổ. Huấn
giới chỉ là một nguyên tố trong những nguyên tố khác và
cũng chẳng phải là một yếu tố quan hệ nhất, sau khi đã
hiểu biết nó. Vậy, ta phải đặt để sự huấn giới cho
đúng chỗ trong công việc hành trì của toàn thể, đã tác
thành đời sống đạo lý theo Phật giáo, mà đời sống Đạo
lý ấy có mục đích là hết luân hồi, liễu sinh tử. Và,
phương tiện là diệt trừ ham muốn và vô minh ".
I.-
RÈN LUYỆN THÂN TÂM
" Hết
ngày này qua ngày khác, hết giờ nọ sang giờ kia, người thợ
vàng phải công phu thế nào mới lọc được vàng ròng thì
người muốn cho thân tâm mình trở nên trong sạch cũng phải
cố gắng khó nhọc rèn luyện như thế ".
Kinh
Pháp Cú
Sách
Nho nói : " Viên ngọc không mài dũa không thể thành đồ vật,
con người không học hỏi, rèn luyện không biết cách làm
người ".
Rèn
luyện thân tâm con người là điều cốt yếu của sự tiến
hóa. Công phu của sự tiến hóa không ai có quyền thay thế,
mà nó phải là sự nghiệp riêng của từng người. Con người
vui hay buồn, sướng hay khổ, đều do con người tạo tác.
Con người phải chịu trách nhiệm trước hành vi của mình.
Con người được an vui, khi nào con người điều khiển được
thân tâm con người, không bị nó lôi cuốn theo chiều của
dục vọng. Bác sĩ Victor Pauchet nói : " Muốn thành công trên
đường đời chúng ta phải làm chủ được thời cuộc. Muốn
làm chủ được thời cuộc chúng ta phải làm chủ được
người xung quanh. Muốn làm chủ được người xung quanh chúng
ta phải làm chủ được mình ".
Do
đó chúng ta thấy vấn đề rèn luyện là một vấn đề cần
thiết cho sự làm người. Thiếu nó nó sẽ trở thành người
không đúng ý nghiã của con người. Có nó, giá trị và sự
giải thoát tự đấy phát sinh.
A.-RÈN
LUYỆN VỀ TÂM TRÍ
"Phải
làm thế nào cho ta trở nên tinh tiến, quả quyết, sáng suốt,
biết mình. Phải làm sao cho tâm ta trở nên an định trong một
cảnh giới nào ".
Lời
Phật dạy
1.-
BIẾT ĐỊNH TÂM
" Muốn
tìm ngọc châu thì phải đợi sóng lặng. Nước động thì
rất khó tìm. Nước định trong lặng thì tâm châu tự hiện
".
Tọa
Thiền Nghi
Hạnh
phúc đâu xa ?
Kinh
Pháp Cú nói : " Không lửa nào có thể ví được lửa của
tham dục. Không ngục tù nào có thể ví được với ngục
tù của oán hờn. Không mối ràng buộc nào có thể ví được
với sự rối loạn của tâm trí. Không đau khổ nào giống
như sự đau khổ của loài người. Nhưng chẳng có hạnh phúc
nào lớn bằng sự an định của tâm trí ".
Đã
nhiều đau khổ... !
Cả
một quảng đời sống của con người dù ngắn hay dài, dù
sang hay hèn, dù giàu hay nghèo đã được diễn tả đầy đủ
trong đoạn giáo lý trên, mà chúng ta không thể chối cãi được
hay cho là tiêu cực, nếu chúng ta có con mắt nhìn đời một
cách tinh tế.
...
Không phải đâu xa, chúng ta thử nhìn vào những trang báo hằng
ngày, cũng đủ cho chúng ta ý thức rõ ràng : đâu là người
buông thả trái tim, lạc lõng trên đường tìm hạnh phúc,
mà kết quả đã đem lại cho họ thất vọng ngẩn ngơ, chôn
vùi kiếp sống, hy sinh danh giá hay là giam mình nơi ngục thất.
Đâu là người tủi phận, hờn duyên, không gặp thời, hay
suy yếu, đã hất hủi cuộc đời. Đâu là người ham chức
trọng, tiền nhiều làm điều phi pháp. đâu là người hằn
thù gây oan, giá họa v.v...
Trong
lúc đó, dù là người chủ động hay bị động, thắng hay
bại cũng không kém phần đau khổ do lương tâm cắn dứt hay
thân thể đau đớn. Vậy chúng ta có thể trả lời cho nguyên
nhân phát sinh ra cảnh tượng ấy, chỉ do một chữ " muốn
" mà thôi. " Đời ta có hạn, lòng muốn vô cùng. Lấy có hạn
mà tùy theo vô cùng nguy hại thay ! " Khổng Tử.
Nổi
khổ ở đời không sao kể siết được. Không thể dùng lửa,
ngục tù hay ràng buộc mà sánh ví được trong khi đau khổ
và biết đau khổ. Đau khổ là hiện thân của tham, sân, si
làm cho con người phải lưu lạc sinh tử, làm cho bức tranh
đời hiện thực thường bị hoen ố. Mà những nổi khổ ấy
chúng ta có thể tóm tắt dưới đây theo quan niệm Đạo Phật
:
1/
Sinh mệnh, sinh hoạt là khổ.
2/
Ốm đau, xấu xa là khổ.
3/
Già yếu, suy kém là khổ.
4/
Chết chóc, tiêu hoại là khổ.
5/
Ân ái biệt ly là khổ.
6/
Cầu không toại ý là khổ.
7/
Oán hận gặp gỡ là khổ.
8/
Chiều theo dục vọng là khổ.
Im
lặng là vàng bạc
Muốn
ngừng bớt đau khổ chúng ta hãy gò cương dục vọng lại,
nhận chân giá trị, địa vị và hoàn cảnh mình trong phạm
vi tự do. Chúng ta hãy yên tĩnh mỗi ngày vài lần, trong vài
mươi phút khi ban sáng và chiều tối để xét lại những việc
chúng ta đã làm xem phải hay trái. Trái, chúng ta cương quyết
sửa đổi. Phải, chúng ta cố gắng làm với một chương trình
cụ thể của ngày mai. Trong ngày mai chúng ta lại phải luôn
luôn nhắc nhở tới nó, biết hướng nó theo chân lý, mặc
dầu trong khi thực hành, chúng ta gặp nhiều trở lực hay thiệt
thòi đôi chút. Cứ thế, cứ thế mãi, làm sao cho tâm trí
chúng ta không tán loạn, không theo đà dục vọng, tự nhiên
chúng ta thấy bớt đau khổ. Như chúng ta đứng vào địa vị
người chăn trâu, mà chúng ta không đủ nghị lực để rèn
luyện con trâu của chúng ta trong khuôn khổ ăn cỏ, thì nó
sẽ là vật phá hại đồng ruộng. Trái lại, khi chúng ta biết
rèn luyện nó, khiến nó biết phân biệt lúa và cỏ có hại
và có lợi cho mình, cho người thế nào, thì khi ấy, dầu
chúng ta không chăn dắt, nó cũng không dám vượt ra ngoài khuôn
khổ, vì nó đã thuần thục.
Như
thế, chúng ta biết rằng đau khổ không ngoài con người mà
nó chỉ do tâm trí chúng ta hòa theo tiếng gọi của ham muốn.
Ham muốn không bao giờ tới đích, không bao giờ toại ý. Không
tới đích, không toại ý, phản chiếu lại thành đau khổ
cho thân tâm. Chỉ có định tâm mới có thể đem lại cho chúng
ta một hạnh phúc chân thật, vì biết theo đúng nghĩa sống
của mình và của người. Cho nên ông Kempis cũng phải công
nhận rằng : " Kẻ làm chủ được tâm hồn mình quý hơn kẻ
thâu thành cướp lũy "
" Thu
nhiếp được tâm thì tâm định. Tâm định thì rõ biết các
Pháp ". Kinh Di Giáo.
2.-
BIẾT NHẪN NHỤC
"...
Đức nhẫn nhục không cái gì có thể sánh bằng được. Người
tu hạnh nhẫn nhục đáng gọi là đại lực sĩ ... "
Kinh
Di Giáo
Chúng
ta nên mặc áo giáp nhẫn nhục cương quyết trừ quân giặc
phiền não.
Hoàn
cảnh xã hội có nhiều sự phức tạp. Tự thân con người
có nhiều sự éo le. đâu là hoàn cảnh quá lạc quan. Đâu
là nội tâm bị kích động, ngoại thân bị ngặt nghèo. Với
trạng huống ấy, đạo Phật gán cho nó cái danh hiệu là "
giặc phiền não ". Đã là giặc, chắc chắn không một giờ,
phút nào, một địa vị nào, một hoàn cảnh nào nó không
len lỏi phá hoại. Nó phá hoại trong tâm trí, phá hoại ngoài
cơ thể. Mà sức phá hoại ấy, là sức lực tiềm tàng ít
người lưu ý tới.
Vậy,
chúng ta phải đặt chúng ta vào địa vị người chiến sĩ.
Người chiến sĩ có đủ nghị lực, mặc áo giáp nhẫn nhục,
cầm thanh gươm trí tuệ, cưỡi con ngựa tinh tiến, xông ra
trận tuyến, chiến đấu với địch thủ phiền não. Chiến
đấu để sống còn. Chiến đấu để bảo vệ danh mệnh.
Chiến đấu cho đạo đức vô thượng. Chiến đấu cho mục
đích cao cả. Chiến đấu cho giác ngộ, giải thoát.
Thực
tế đã cho chúng ta thấy : quá lạc quan mà không nhờ có sức
nhẫn nhục hỗ trợ, dễ đưa ta xuống hố trụy lạc. Quá
bi quan mà không nhờ có sức nhẫn nhục, cũng dễ đưa ta vào
nơi tuyệt mệnh. Cho nên, nhẫn nhục là một phương pháp được
tôn trọng và thực hành trước nhất đối với người hành
đạo hay người làm việc đời.
Có
nhẫn nhục mới có thể thành công. Nhẫn nhục không phải
là một món ăn khó tiêu hóa, một kỹ thuật khó thực hiện,
theo như nhiều người tưởng tượng. Trái lại, theo quan niệm
đạo Phật, nó chỉ là một bài học kinh nghiệm, giúp cho
ta muốn nên người và thành công.
Thất
bại là mẹ thành công
Đây,
luận Bảo Vương Tam Muội đã nhắc nhở chúng ta : " Thân không
cầu không bệnh, thân không bệnh thì tham dục dễ sinh. Đời
không cầu không nạn, đời không nạn thì kiêu mạn, xa hoa
liền khởi. Nghiên cứu về tâm, không cầu không chướng,
tâm không chướng thì chỗ học dễ vượt bực, sai đường.
Lập hạnh không cầu không ma chướng, hạnh không ma chướng,
thì thệ nguyện không kiên cố. Làm việc không cầu dễ thành,
việc dễ thành thì trí hay kiêu mạn. Giao thiệp không cầu
lợi mình, lợi mình thì hại đến đạo nghiã. Đối với
người không cầu chiều chuộng, người chiều chuộng thì
dễ sinh kiêu căng. Thi ân không cầu trả báo, cầu trả báo
thì ý có mưu tính. Thấy lợi không cầu được lợi, cầu
lợi thì si tâm rung động. Bị ức hiếp không cầu than oán,
cầu than oán thì oán hận càng tăng. Vậy nên các bậc Thánh
nhân giáo hóa : Lấy hoạn nạn làm thú tiêu dao. Lấy chướng
ngại làm giải thoát. Lấy quần ma làm bạn Pháp. Lấy hoạn
nạn làm thành tựu. Lấy tệ giao làm tư lương. Lấy người
trái ý làm giao du. Lấy thi ân làm đồ bỏ. Lấy lợi ích
làm giàu sang. Lấy uất ức làm hạnh môn. Như thế, ở trong
ngại trở lại thông, cầu thông trở lại ngại ".
Tất
cả những giáo lý trên đây đã vạch rõ con đường cho chúng
ta, chúng ta nên đảm nhận lấy giá trị ấy. Chúng ta nên
cố gắng thực hành, để xứng đáng với lời khen tặng của
ông Kempis : " Kẻ biết nhẫn nhục quý hơn dũng sĩ ". Và, chúng
ta quyết giành lấy thắng lợi về chúng ta, để chứng tỏ
" kiên nhẫn là vạn năng " như tục ngữ Ai Cập nói.
3.-
BIẾT HỌC HỎI
" Nổi
khổ bị thiêu đốt trong ba đường dữ, nổi khổ của con
lạc đà, con lừa phải chở nặng, nổi khổ đói khát áp
bức của loài quỷ đói chưa gọi là khổ. Si mê không học,
không biết hướng đi mới gọi là khổ ".
Kinh
Sa Di Thập Giới
Sự
học hỏi rất quan hệ đến đời sống của loài người.
Đức
Phật dạy : " Làm đau thương không gì hơn buồn. Bắn tên
hại người không gì bằng ngu si. Không thể lấy sức mạnh
gì trừ diệt được hai nỗi khổ ấy, chỉ có học nhiều
mới có thể trừ diệt được. Người mù sẽ nhờ học mà
có mắt. Người tối sẽ nhờ học mà sáng suốt. Nhờ học
mới có thể chỉ đường cho mọi người. Có học như đem
mắt cho người mù. Vậy, phải rời bỏ ngục ngu si, xả lòng
kiêu mạn và sự an hưởng giàu có, chuộng học nghe nhiều
mới gọi là nhóm họp công đức ".
Sự
học hỏi là điều rất quan hệ của đời người. Không học,
không khác chi khách hàng hải không có kim chỉ nam. Bao những
cảnh đồi phong, bại tục, bao những nổi thương lòng sót
ruột, bao những mối buồn rầu, lo lắng, đã làm đau thương
đến con người, đau thương lây cho cả xã hội loài người,
phần lớn đều do thiếu sự học hỏi, hay là sự học hỏi
không được áp dụng vào mục đích chính đáng.
Sự
học hỏi quả là sự quan hệ của đời người, thời công
phu của nó cũng không phải là kém quan trọng.
Có
công mài sắt có ngày nên kim
Con
người không phải tự nhiên mà có, tất nhiên sự học không
phải tự nhiên mà thành và chắc chắn nó phải đòi hỏi
ở sự gắng công bền chí của chúng ta trong tất cả mọi
trường hợp :
Học
hỏi nơi nhà trường
Nhà
trường là một nơi rèn luyện thân tâm con người. Nơi đó,
có những sự tổ chức chu đáo, có những bậc sư phạm đủ
tài ba, hiểu tâm lý, thay cha mẹ chúng ta để rèn đúc cho
chúng ta cả về thể dục, trí dục và đức dục, ngõ hầu
làm cho thân tâm chúng ta mỗi ngày một tăng tiến.
Tự
mình học hỏi
Hoàn
cảnh và điều kiện nhiều khi không cho chúng ta đạt tới
mục đích mong muốn. Không tới mục đích, không phải là
chúng ta thôi hẳn, mà chúng ta vẫn phải học, học bằng sách
báo, học bằng việc làm, nếu chúng ta có chí hướng về
sự học.
Học
hỏi xã hội :
Chúng
ta không thể suốt đời đóng vai trò học mãi, mà có ngày
chúng ta phải ra đời gánh vác việc xã hội. Gánh vác việc
xã hội, đứng giữa xã hội, xã hội là cả một trường
học to lớn. Trong đó có đủ tất cả mọi màu sắc học
hỏi, tùy ý mình lựa chọn. Lựa chọn để học, học để
làm, làm để thí nghiệm sự học, học để lãnh đạo cho
việc làm. Làm, cho học, học, làm làluật tắc quyết định
cho sự tìm hiểu và hành động. Nghiã là : " Suốt đời chúng
ta vẫn học "
Cần
học tất cả
Với
sự học hỏi, chúng ta phải nhìn xa trông rộng, phải học
đến nguyên lý của nó. Và, phải học tất cả theo như cổ
nhân đã nói : " Thấy người hay, người giỏi ta phải cố
gắng học hỏi cho bằng. Thấy người dở, người xấu, ta
phải cố gắng học hỏi để xét nét tâm ta ". Nghiã là, không
cứ điều hay điều dở, việc phải, việc trái, chúng ta đều
phải học hỏi. học hỏi để tiến tới, học hỏi để sửa
chữa, mà hậu quả là hướng về lẽ phải, về chân lý.
dùng chân lý làm đuốc sáng cho công việc, cho đời sống
hợp nghiã sống.
Như
thế, nếu chúng ta sống một đời sống có học hỏi, dùng
học hỏi làm dẫn đường, thì chúng ta lo gì không thành một
người có đủ tư cách làm người nhập thế hay xuất thế.
Chúng ta lo gì không biết hướng đi chân chính, không có thể
giúp đỡ hay chỉ dẫn hướng đi cho người. Chúng ta lo gì
không có thể sáng suốt trước mọi vấn đề thắc mắc.
Và, không thể mặc nhận được như lời Đức Thích Ca nói
: " Người ta là người trượng phu, há ta không thành người
trượng phu hay sao ? ".
Vậy
chúng ta có thể cương quyết nhắc lại rằng : " Nhất định
xả kiêu mạn, bỏ sự an hưởng giàu có, chuộng học nghe
nhiều, diệt trừ ngu si, đem lại sự lợi ích cho mình và
người ".
4.-
BIẾT SUY NGHIỆM
" Không
có gì là nên hẳn và cũng không có gì là không nên hẳn "
Luận
Ngữ
" Chớ
tuyên bố điều gì mà không có chứng minh được một cách
giản dị và quả quyết "
Pasteur
Sự
thật là sự thật
Đức
Phật dạy : " Đừng vội tin tưởng một điều gì mà điều
đó thường nghe nhắc nhở đến luôn. Đừng tin tưởng điều
gì mà điều đó là một tập tục đã qua của ngàn xưa để
lại. Đừng tin tưởng những điều sáo ngữ hay bất cứ một
điều gì mà người ta thường nói đến nhiều quá. Đừng
tin tưởng bất cứ điều gì, dầu cho điều đó là bút tích
của Thánh nhân xưa để lại bảo ta phải tin. Đừng tin tưởng
điều gì, dầu điều ấy ở dưới mãnh lực của ông Thầy
hay nhà truyền giáo. tất cả những sự thật, theo suy nghiệm
riêng của anh, và sau khi xác nhận rõ ràng, phù hợp với lẻ
phải, tạo thành hạnh phúc riêng cho anh và hạnh phúc cho tất
cả mọi loài, thì chính đó là sự thật và anh cố gắng
sống theo sự thật ấy ".
Đấy
là một nguồn tin tưởng không bị cục hạn hay áp bức dưới
một hình thức nào mà chúng ta có thể gọi vắn tắt là "
tự do tin tưởng ". Có tự do tin tưởng mới có một giá trị,
một kết quả xứng đáng và viên mãn theo với sự thật trong
sự mong muốn của chúng ta, nghĩa là chúng ta muốn một việc
gì được thành tựu, chúng ta phải được toàn quyền tự
do về suy nghĩ, kinh nghiệm và lựa chọn.
Suy
nghĩ
Có
suy nghĩ mới phát sinh được nhiều sáng kiến. Có sáng kiến
mới đem lại cho công việc làm có một đường lối rõ rệt
và tỉ mỉ. Chúng ta muốn cấy một ruộng lúa, trước nhất
chúng ta phải suy nghĩ về thời tiết, về cách làm và về
giống lúa như thế nào ?
Kinh
nghiệm
Có
kinh nghiệm mới thực hiện được sự suy nghĩ ấy bằng việc
làm. Do việc làm mới đem lại cho chúng ta nhiều bài học
đượm nhuần màu sắc của thắng, bại, hay, dở, hư, thực.
Chúng ta đã phát khởi ra ý muốn cấy lúa, tất nhiên ý muốn
ấy phải được đáp lại bằng cày bừa, cày bón và gặt
hái.
Lựa
chọn
Có
lựa chọn, chúng ta mới nhận chân được giá trị của nó
và cố gắng thực hành giá trị ấy sau khi đã suy nghiệm
xác đáng. Ruộng lúa khi đã được thu hoạch với một kết
quả khả quan do sự đúng thời và thích hợp. Thế là chúng
ta đã nắm chắc được thắng lợi. Thắng lợi ấy lại sẽ
là một kết quả hơn nữa cho chúng ta trong những mùa sắp
tới. Và, có thể đem thắng lợi ấy chỉ dẫn cho những bạn
điền cùng suy nghiệm và đem lại thắng lợi như mình.
Cho
nên nhà triết học Aristote cũng phải công nhận : " Cứu cánh
là do ý muốn mà ra. Nhưng phương tiện để đi đến cứu
cánh đó lại do sự suy xét, kinh nghiệm và chọn lọc. Bởi
vậy, những hành động tương quan với những phương tiện
kia phải được làm theo với sự chọn lọc có suy nghĩ và
hợp với ý muốn riêng của mình ".
Tự
nơi mình
Trên
đây đã cho chúng ta biết : trước khi chúng ta tin tưởng một
điều gì, một việc gì, phải trải qua bao thứ lớp của
suy nghĩ và kinh nghiệm. Nhưng, sự suy nghĩ, kinh nghiệm ấy,
phải tự mình định đoạt, vì " một sự tin tưởng mà không
phải tự mình xác nhận, không phải là tin tưởng ".
Nếu
được thế, chắc chắn chúng ta cũng biểu đồng tình và
hăng hái thực hành như tư tưởng của nhà triết học Descartes
đã diễn tả : " Tôi cầm bằng như giả dối hết thảy những
điều gì chỉ có vẻ thực mà thôi. Tôi tập cho không bao
giờ tôi quá tin vào những điều gì chỉ do luân lý và tập
quán dẫn dụ ".
" Chỉ
có ngọn đèn dẫn đường cho chúng ta tới chỗ thành tựu
được đó là ngọn đèn của kinh nghiệm ".
5.-
BIẾT LẬP NGHIỆP
" Trước
phải tập nghề nghiệp sau mới được của cải ".
Kinh
Thiện Sinh
Xây
dựng đời sống chân chính
Đức
Phật dạy : " Trước hết phải học nghề nghiệp, phương
tiện để gom góp của cải. Sau khi có của, nên chia làm bốn
phần : một phần mình tiêu dùng, hai phần để làm ăn, còn
một phần cất đi để giúp đỡ mình và người khi nghèo
thiếu ".
Có
thân phải có sống. Có sống phải có vật giúp cho sự sống,
tức là phải có nghề nghiệp để tạo ra vật ấy, mặc dầu
sự tạo ấy do trí thức hay lao lực. Nói rõ hơn chúng ta phải
có một nghề nghiệp để lập thân, để bảo vệ sự sống
và truyền tiếp sự sống trên cơ sở chân chính.
Nhất
nghệ tinh nhất thân vinh
Thật
thế nghề nghiệp không từ chối chúng ta, chỉ sợ chúng ta
từ chối nghề nghiệp. Nghề nghiệp là một công phu rèn luyện
chạy dài từ thời gian này đến thời gian khác và phải dốc
bao tinh thần, năng lực vào đó. Nghề nghiệp chỉ là một
lẽ đương nhiên, không phân biệt sang trọng hay đê hèn, mà
chỉ bao hàm trong ý nghĩa " sống " tuỳ theo sở thích của
chúng ta. Và, hẳn có một hậu quả tương đương với năng
lực và sở thích ấy.
Trước
khi lập thân, điều kiện cần yếu của chúng ta là phải
có một hay nhiều nghề nghiệp tinh thạo trong các ngành như
: công chức, canh nông, thương mại, công nghệ, kỹ nghệ v.v...
Do
nghề nghiệp ấy, chúng ta có những nguồn lợi tức dồi dào
và chân chính để gây dựng thành gia nghiệp có tổ chức.
Một gia nghiệp biết xử sự và phân phối hợp lý. Nghĩa
là nguồn lợi tức ấy được đặt để đúng chỗ, không
quá xa xỉ hay tiết kiệm và thường biết hướng về sự
lợi ích cho mình, sự lợi ích chung cho người khi túng thiếu.
" Nếu có thể làm giàu được bằng cách lương thiện, hợp
đạo thì chúng ta cũng nên làm giàu "
Như
thế vấn đề lập nghiệp đạo Phật dạy chúng ta rất tinh
tế. Đạo Phật dạy chúngta " Có thể buôn bán làm nghề nuôi
sống, nhưng phải đong đầy, đo đủ, không được dối người
". Và, " Nếu làm Thầy thuốc phải làm có hiệu nghiệm, pháp
thuật còn kém thì không nên đem ra dùng ". Được thế nó
sẽ đem lại cho chúng ta sống một đời an vui vĩnh viễn.
Nó đem lại cho chúng ta một tinh thần tự chủ, một tinh thần
tổ chức, một tinh thần thân ái với tất cả.
Nhưng
trước khi bắt tay vào công việc, Kinh Trường A Hàm cũng không
quên nhắc nhở và mong mỏi ở nơi chúng ta: " Nuôi mạng mình
bằng cách chính đáng ".
6.-BIẾT
VỤ THỰC, THƯỜNG XUYÊN VÀ TRUNG ĐẠO
" Nếu
làm được thì nói, không làm được thì đừng nói suông
".
" Làm
việc chưa xong không nên nửa chừng thôi nghỉ "
Bột
Kinh
" Có
hai điều thái quá cần xa lánh, một là đời buông lung theo
ngũ dục, hai là ăn ở theo lối khổ hạnh... Như Lai tìm được
con đường đi giữa để mở mắt mở trí cho người ".
Lời
Phật dạy
Vụ
thực
Vụ
thực là một chương trình có giá trị khi nào " tri, hành hợp
nhất ". Ông Flaubert nói : " Dù người ta muốn nói gì đi nữa
cũng chỉ có một tiếng là làm sao điều đó hóa ra có sinh
khí ". Đơn giản thay lời nói ấy, nó bao hàm đầy đủ ý
nghĩa của một lời nói phải biến thành sự thật.
Kinh
Đại Ai nói : " Lời nói và việc làm phải hợp với nhau,
không nên ôm lòng tự đại ".
Đạo
Phật không bao giờ muốn lời nói sẽ đem lại một kết quả
trống không. Đạo Phật rất chú trọng vào việc làm, vì
đạo Phật là Đạo hoạt động. Hoạt động đúng theo sự
nhận xét và tùy ý chọn lọc. Đã tùy ý chọn lọc, nên không
bao giờ muốn thu công về mình và chỉ có thể nói là : "
Lẽ đương nhiên của sự vật như thế " ( Pháp nhĩ như thị
).
Việc
đời cũng thế. Nói để làm, làm để đáp lại lời nói.
Một việc rất nhỏ có kết quả còn hơn một chương trình
vĩ đại không đâu. Một người hi vọng thành người phải
làm đúng như hi vọng ấy, tất nhiên nó sẽ đem lại một
kết quả như kết quả của một nhà quân sự Tây phương
nói : " Tôi có một điều đáng mừng là không bao giờ tôi
thất vọng ".
Nhưng
phải cố gắng...
Từ
lời nói đến việc làm, từ việc làm trở lại lời nói,
không phải là sự dễ dàng trong thời gian ngắn ngủi, mà
nó sẽ có nhiều sự khó khăn trong thời gian lâu dài, mới
đem lại cho sự thành tựu, nếu chúng ta có tính kiên nhẫn
theo đuổi nó. Vì thế, đức Phật luôn luôn khuyên chúng ta
: " Có làm việc gì nửa chừng không nên bỏ dở ".
Và,
cần biết theo lẽ trung bình...
Không
nên nửa chừng bỏ dở, dĩ nhiên đó là một lý thuyết được
đặt ra một cách cụ thể. Nhưng chưa chắc đã được cụ
thể hóa trên thực hành. Vì thực hành khó tránh khỏi những
trở lực sẽ đem đến thất bại do lười quá hay siêng quá,
cương quá hay nhu quá... Khế Kinh nói : " Người làm việc,
phải như người gãy đàn. Nếu giây trùng tiếng, giây căng
tiếng gắt. Chỉ làm sao sợi giây trung bình, tiếng mới hay
và êm dịu ". Nghĩa là trên con đường hoạt động muốn bảo
đảm cho công việc đạt tới kết quả phải thực hành bằng
cách trung đạo. Tức là không bắt buộc thân thể quá khắc
khổ, không bổ dưỡng thân thể quá sung sướng, không vội
vàng, không chậm trễ, không quá siêng năng, không quá biếng
nhác, không nghiêng nặng về lý trí, không ngã nhẹ về tình
cảm v. v....
Như
thế chúng ta nhận thấy bất cứ một công việc gì, một
sự nghiệp gì, muốn tới thành công, nó đều đòi hỏi ở
chúng ta lời nói song song với việc làm. Việc làm căn cứ
vào lòng bền bỉ, trí sáng suốt, biết áp dụng một cách
trung bình và chân chính.
Trên
sự thật sẽ cho chúng ta bài học ấy, nếu chúng ta muốn
thành công hay không muốn thành công.
7.-
BIẾT NHÂN QỦA
" Khi
những điều kiện giống nhau được thực hiện ở hai khoảng
thời gian khác nhau, ở hai chổ khác nhau thì những hiện tượng
giống nhau lại tái phát, chỉ khác ở chỗ nó đã chuyển
đi trong không gian và thời gian thôi ".
Painlevé
" Trồng
dưa được dưa, trồng mận được mận ".
Đức
Phật dạy : " Bất cứ nghiệp lành hoặc nghiệp dử mà ta
đã tạo, chính ta phải mang lấy trong ngày mai "
Đây
là nói về định lý nhân quả, một định lý làm cho chúng
ta quyết tâm theo đuổi sự nghiệp, theo đuổi công việc,
mà nó có thể trả lời cho chúng ta biết rằng : " Có làm
thì có ăn, có nguyên nhân thì có kết quả ".
Nhân
quả
Nhân
là nguyên nhân, là năng lực phát động. Quả là kết quả,
là sự hình thành của năng lực phát động. Nhân quả là
một định luật tất nhiên, nêu rõ sự tương quan, tương
duyên giữa nhân và quả. Phàm đã có tác động tất nhiên
phải có kết quả hình thành, phản ứng nguyên nhân ấy. Như
đi học thì biết chữ, cấy gió thì gặt bão v.v...
" Tất
cả những hiện tượng của đời sống vật chất và cả
đời sống tinh thần rất hợp lý : Cái quả kết thành là
do ở cái nhân. hễ ít nhân thì ít quả "
Như
thế chúng ta biết rằng tất cả sự vật hiện tại đều
là kết quả trực tiếp hay gián tiếp của nghiệp nhân, không
phải ai sinh, không phải tự nhiên sinh, chỉ do sự tương quan,
tương duyên của nó mà thôi.
Mối
tương quan...
Đứng
về phương diện tương quan của nhân quả chúng ta thấy :
A/
Một nhân không thể sinh ra quả, mà phải được sự giúp
đỡ của nhiều nhân khác. Như cây lúa không những chỉ do
hạt lúa tạo thành mà phải có các nhân khác giúp đỡ hạt
lúa mới nẩy mầm thành cây mà phát triển tồn tại.
B/
Nhân nào quả ấy, không bao giờ nhân quả mâu thuẩn nhau.
Người học đàn chỉ biết đàn, chứ không thể biết vẽ.
Người làm việc lợi ích, thì bao giờ cũng được kết quả
tốt, chứ không thể có kết quả xấu.
C/
Trong nhân có quả, trong quả có nhân. Nghĩa là chính trong nhân
hiện tại chúng ta thấy quả vị lai, và chính trong quả hiện
tại chúng ta đã tìm được nhân quá khứ. Hạt nhãn hiện
nay sẽ là cây nhãn, quả nhãn của ngày mai. Quả nhãn hiện
nay là hạt nhãn của ngày đã qua.
Mối
tương duyên...
Đứng
về phương diện tương duyên của nhân quả, chúng ta thấy
nhân quả chỉ là một chuỗi giây liên lạc từ vô thủy tới
vô chung, nên có thể :
Tạo
nhân được kết quả ngay nhất thời, như đánh tiếng chuông
liền nghe thấy tiếng ngay.
Tạo
nhân đời này kết quả ngay đời này. Như trồng lúa chừng
6 tháng đã có kết quả.
Tạo
nhân đời trước đời này mới kết quả. tạo nhân đời
này đời sau mới kết quả
Tạo
nhân từ các đời trước đời này mới có kết quả. Tạo
nhân đời này các đời sau mới kết quả
.Do
đó chúng ta thấy nhân quả là một định lý tất nhiên. Định
lý ấy cho chúng ta thấy rõ sự thật về lời nói, ý nghĩ
và việc làm hàng ngày của chúng ta không thể tiêu tán theo
thời gian, mà nó sẽ đáp lại một kết quả của ngày mai
hoặc đau buồn hay sung sướng, hoặc đen tối hay xinh tươi,
tùy theo hành nghiệp của chúng ta. Định lý ấy đã cho chúng
ta thấy sự hưởng thụ dù tốt đẹp hay xấu xa của chúng
ta hiện tại cũng là sự trình bày khách quan của nghiệp nhân
ở quá khứ. Cho nên con người là đấng Chúa tể. Con người
là tự định đoạt, tự tác thành đời sống của con người
chứ không ai có quyền thưởng phạt. Định lý nhân quả cuả
đạo Phật đem lại cho chúng ta một tin tưởng mạnh mẽ vào
nơi chúng ta, khiến chúng ta không chán nãn lùi bước trước
những trở lực trong công việc làm.
" Chúng
ta cố gắng tạo nhân lành để hưởng quả tốt và mở rộng
chân trời giải thoát để giác ngộ cho chúng sinh ".
8.-
BIẾT TRI TÚC
" Ta
thà giữ đạo chịu nghèo hèn mà chết chứ không chịu vô
đạo được giàu sang mà sống "
Kinh
Lục độ Tập
Người
ta biết an phận là sung sướng
Kinh
Di Giáo nói : " Muốn khỏi khổ não, nên quán tưởng " tri túc
" ( biết đủ ). Phép " tri túc " là chổ an ổn của sự giàu
sang, sung sướng. Người " tri túc " nằm trên đất cũng thấy
sung sướng. Người không " tri túc " ở cõi Thiên Đường cũng
không vừa ý. Người " tri túc " tuy nghèo mà giàu. Người không
" tri túc " tuy giàu mà nghèo. Người không " tri túc " thường
bị năm món dục vọng sai xử, khiến người "tri túc ‘ thường
thương xót tới.
Ham
muốn của con người
Lòng
ham muốn của con người không biết đâu là cùng tận, không
có một quy phạm nào làm ranh giới cho nó : " Nấc thang hoạn
lộ chưa thể dừng nghỉ khi người công chức chân còn bước,
tay còn dài, tuy rằng họ biết là năng lực không đủ hay
nguy hiểm. tấm biển thương trường chưa thể nhạt màu khi
người buôn bán thế còn to, mưu còn giỏi, mặc dù họ biết
tài sản quá thừa và giả dối. đại điền chủ chưa nới
tay thu nhận văn tự, tính lợi hoa màu, bớt sén lương soạn,
nhân công, khi mà gia đình họ đã thừa sung sướng, chung quanh
bao kho thóc đã mục nát. đại xí nghiệp chưa thôi đi tìm
tòi nguyên liệu, hùn vốn công ty, bóc lột thặng dư giá trị
khi mà gia nghiệp họ quá sức giàu sang, ngổn ngang những hàng
hóa sẽ đổ đi. Ái tình, sắc đẹp chưa thể thoả mãn dục
vọng khi cặp mắt của con người nhìn xa ngoài bản vị ..."
Nghĩa
là dục vọng của con người không có một bờ bến nào đúng
như lời Ngài Mạnh Tử đã nói : " Nếu tính tới lợi trước
mà xét tới nghĩa sau, thì lợi ấy chưa chiếm được hết
chưa chán ".
Như
thế muốn cứu vãn lại hoàn cảnh ấy chỉ còn một giải
pháp " tri túc " là có thể dừng chân dục vọng, đem lại
sự thăng bằng cho nhân loại
Tri
túc
Tri
túc là sẳn sàng thực hành theo với địa vị và hoàn cảnh
của mình. Giàu và sang ai chả muốn, lẽ không nên được
mà được, không ham. Nghèo và hèn ai chả chán, lẻ không đáng
chịu mà phải chịu, cũng đành".
_ Với
phương pháp ấy, có phải làm ngừng trệ sự tiến hóa của
con người không? Không, vẫn tiến, tiến mạnh và tiến tới
thành công. Vì muốn tiến bộ, con người phải cần có sức
lực và tinh thần. Sức lực và tinh thần của con người nếu
đem cung cấp cho dục vọng trong trường hợp lạc quan chỉ
là phá sản và trụy lạc. Nếu đem cung cấp cho thất vọng
trong trường hợp bi quan chỉ là chán nản và tuyệt mệnh.
Trái lại con người tri túc biết theo địa vị và hoàn cảnh
mình thì không vui, không buồn, tất nhiên sức lực, tinh thần
vẫn được mạnh mẽ. Sức lực, tinh thần mạnh mẽ, sự
tiến bộ sẽ tiệm phát và quyết tới kết quả mỹ mãn không
thể nào chối cãi được.
Cho
nên tri túc là phương thế tiến thủ chứ không phải để
chờ đón lấy thất bại trong im lặng. " Lùi để tiến " phải
chăng là chiến lược, chiến thuật của nhà quân sự vẫn
áp dụng theo phương pháp ấy, mà chúng ta thường được nghe
nói.
Vậy
tri túc là một đường lối dạy cho con người biết phương
pháp làm người và muốn thành công rực rỡ trên trường
đời. Tri túc đã biết, đã làm, thân tâm sẽ được bình
tĩnh trước mọi hoàn cảnh. Tri túc không phải là mồi thơm
ngon để cho mọi vật cám dỗ. Người tri túc không phải là
người ngây ngô, để nhiều ngã đường làm mù quáng, trái
lại là người rất mạnh mẽ, đủ làm chủ được mình,
hướng dẫn được người trên con đường về tươi sáng.
Tri
túc đủ mãnh lực bảo vệ một đời sống thanh cao và an
lạc.
9.-
BIẾT SỬA CHỬA
" Ai
biết sửa đổi lỗi lầm thì người ấy được tiến hóa
trong giáo Pháp của Như Lai ".
Kinh
Trường A Hàm
" Phải
xét lỗi nơi mình chớ chê kẻ khác ".
Người
ta ở đời cần biết sửa đổi lỗi lầm, nếu khi nào nhận
thấy nó phát khởi tại nơi mình. Vì " Người có lỗi không
biết sửa đổi, diệt trừ tự nơi tâm, thì lỗi ấy sẽ
đến thân, như nước chảy về biển, dần dần thành sâu
rộng ".
Kinh
Pháp Cú thí dụ nói : " Không nên trách người chỉ tự xét
mình. Nếu ai biết được cách này thì vĩnh viễn không tai
hoạn ".
Đó
là phương pháp sửa đổi lỗi lầm ngay tự bản thân con người
do ý nghĩ, lời nói hay việc làm tạo nên. Đã có thân tất
có đau khổ, có hình thể tất có phiền lụy
Người
ta nếu chưa phải là bậc Thánh triết khó có người tránh
khỏi lỗi lầm .
Trên
đường hoạt động để tìm lấy lẽ sống cho cuộc sống,
chúng ta không thể phủ nhận là lỗi lầm không có ở nơi
chúng ta : " Một bước vô tình đã làm hại sinh mệnh con sâu,
con kiến. Một cử chỉ bất lịch sự khi bố thí cho đồng
bào nghèo một đồng xu. Một sự vô tâm đã làm phật ý bao
người thân thích hay tôi tớ chung quanh. Một sự du đãng đã
làm hại cho thân thể mình và thanh danh của gia đình, quốc
gia, xã hội. Một sự đảng trí, lười biếng đã khiến cho
công việc không chu đáo, nhanh chóng và thiếu trật tự. Một
lòng ham chút vật của người khác để làm lợi cho mình,
làm thiệt cho người v.v... đều có thể gọi là lỗi cả.
Vì mình đã làm thương tổn đến người hay không làm trọn
nghĩa vụ là một người trong xã hội loài người ".
Biết
sửa đổi sẽ trong sạch
Chúng
ta biết rằng không ai tránh khỏi lỗi lầm, nhưng chỉ có
hoặc nhiều hay ít mà thôi. Có lỗi lầm chúng ta nên quyết
tâm sửa đổi, tất nhiên sẽ được trong sạch. Lỗi lầm
không khác chi tấm gương bị bụi phủ, một khi chúng ta biết
lau chùi, nó sẽ hoàn lại trong sáng như xưa. Lỗi lầm cũng
như căn nhà đen tối, nếu một bó đuốc đem tới, bao nhiêu
đen tối sẽ nhất thời tan biến. Lỗi lầm cũng như thân
thể nhơ cáu, một khi tắm gội thân thể sẽ sạch sẽ. Đó
là một tỉ dụ để chúng ta nhận rõ sự thực của sửa
đổi. Nhưng chúng ta cần nhớ rằng theo quan niệm đạo Phật
thì sự sửa đổi ấy phải được đặt trên tấm lòng thành
thực giải bày không tái phạm và tự mình sửa đổi lỗi
của mình chứ không thể nhờ vào một quyền phép nào.
Như
thế chúng ta không còn ngạc nhiên, thắc mắc về sự lỗi
lầm hay sửa đổi. Đã không thắc mắc, chúng ta nên hăng
hái xét nét lỗi lầm của chúng ta và để sửa đổi nó.
Chúng ta không nên dò xét lỗi lầm của người, chỉ phí thời
giờ và sinh mâu thuẩn, nếu là người chưa hiểu biết và
không có lòng giác tha. Chúng ta không nhớ lời Ngài Khổng
Tử đã nói : " Khi bậc cửa nhà ta còn nhơ, thì ta đừng chê
nóc nhà bên tại sao đầy tuyết ".
Chúng
ta đã nhận thấy sửa đổi là việc rất cần thiết cho chúng
ta muốn nên người và thành công thì chúng ta nên nghiền ngẫm
thực hành nó trên tất cả mọi việc, trong tất cả mọi
thời, tất nhiên chúng ta sẽ thấy nó trở lại với chúng
ta một kết quả khả quan:
a/
Công việc được chu đáo và tăng tiến hơn
b/
Hành vi không bị sa vào lầm lỡ.
c/
Phẩm giá con người được nâng cao.
d/
Tâm trí được sáng suốt.
e/
Thân thể được nhẹ nhàng.
f/
Hậu quả được tốt đẹp
" Biết
sửa đổi là biết hướng về tiến bộ ".
10.-
BIẾT TRONG SẠCH
" Một
người sống một cuộc đời không trong sạch, không thể nào
phát triển tinh thần được. Đời sống hoàn toàn trong sạch,
chỉ có thể có được sau khi đã đạt được công năng của
tinh thần đưa đến chính tri kiến ‘.
André
Migot
" ...
Cứ trong sạch yên vui mới không lỗi đạo ‘.
Đức
Phật dạy : " Chúng sinh thấy sắc tướng Như Lai thì mắt
trong sạch, nghe danh hiệu Như Lai thì tai trong sạch, ngửi giới
hương Như Lai thì mũi trong sạch, đầy đủ tướng lưỡi
rộng dài, hiểu rõ các ngôn ngữ, thấm nhuần hào quang Như
Lai thì thân trong sạch, cứu cánh chứng pháp thân vô thượng
".
Đây
là kết quả của hạnh trong sạch. Đã có kết quả trong sạch
, không thể không có nguyên nhân của trong sạch. Vì, " Như
Lai " có nghĩa là noi theo đạo Như- Thật chân lý, để đạt
tới chổ giác ngộ hoàn toàn. Đạt tới là con đường chạy
dài từ thực hành tới hiểu biết. Có hiểu biết mới có
thể thấy, nghe, ngửi, nếm, thấm nhuần trong chân nghĩa của
Như Lai, nếu không hiểu biết sẽ không được thế và sẽ
được đáp lại như trong Kinh Pháp Cú thí dụ đã nói : "
Ông thấy hình tôi mà ông không giữ lời răn thì tuy ông thấy
tôi mà tôi không thấy ông. Ông kia tuy cách tôi muôn dặm mà
biết giữ lời răn, thì ông ấy tất đứng trước mặt tôi
".
Như
thế, chúng ta biết rằng muốn thành bậc Giác Ngộ, muốn
gần đạo giác ngộ hay muốn thành một người đủ tư cách
làm " người ", điều kiện cốt yếu là chúng ta phải trong
sạch về lời nói, ý nghĩ và việc làm.
Căn
cứ vào giáo lý trên đây và còn nhiều ở trong Kinh sách đạo
Phật thì hạnh trong sạch ấy ở ngay sự động tác của thân
thể, miệng lưỡi và tâm ý chúng ta.
Thân
trong sạch
Thân
chúng ta không làm việc sát hại, trộm cắp, dâm dục làm
gì không được trong sạch. Đã được trong sạch tất nhiên
được tắm ánh sáng hiểu biết, trông thấy hình sắc thanh
tao trong sự hiểu biết, nghe thấy những tiếng vi diệu trong
sự hiểu biết, ngữi những hương vị giải thoát trong hiểu
biết, tất là không bị xác thân lôi cuốn vào dục vọng,
không bị con mắt lôi cuốn vào hình sắc trụy lạc, không
bị tai lôi cuốn vào những âm thanh bỉ ổi, không bị mũi
lôi cuốn vào mùi tanh tao của sự sát hại...
Miệng
trong sạch
Miệng
lưỡi chúng ta không nói dối, nói thêu dệt, nói độc ác,
nói lật lường, tất nhiên miệng lưỡi được trong sạch.
Được trong sạch là được nếm những hương vị giải thoát
của lời nói chân thật, ngay thẳng, dịu hòa, thành tín trong
sự hiểu biết.
Ý
trong sạch
Tâm
ý chúng ta không còn ham muốn, oán giận, ngu mê tất nhiên
tâm ý chúng ta được trong sạch. Được trong sạch là được
một tâm ý hồn nhiên, nhịp nhàng với bản thể vũ trụ trong
sự hiểu biết chân thật và hòa đồng cùng sự vật, làm
những việc ích lợi, bình đẳng và sáng suốt.
Trong
đời sống, không ai là không phải nói, phải làm và phải
nghĩ. Nhưng, nói, làm và nghĩ có sự rất lợi và cũng có
sự rất hại. Hại ở mình, mà lợi cũng ở mình. Con dao là
một vật giúp đỡ chúng ta nhiều việc, nếu chúng ta biết
dùng, trái lại nó là vật sát hại.
Chúng
ta muốn sống đời sống hoàn toàn và giá trị, tất cả thân
tâm chúng ta phải được trong sạch trước đã !
11.-
BIẾT ĐẠO TỪ BI, BÌNH ĐẲNG
" Thật
vậy, chúng ta sống an lạc mạnh khoẻ giữa đám người đau
khổ... Thật vậy, chúng ta sống an lạc, không oán hận với
những kẻ oán hận... "
G.Lounsbery
Đạo
Phật với chúng sinh
Đức
Phật dạy : " Tôi thấy rõ chúng sinh luân hồi trong sáu ngã,
đều thay thế nhau làm cha mẹ, thân thích, quyến thuộc, nỡ
nào lại sát hại lẫn nhau"
" Các
đức Như Lai đều thấy : " Hết thảy chúng sanh trong pháp
giới đều đầy đủ trí tuệ, đức tướng Như Lai, chỉ
vì ngu si, mê hoặc, nên không tự biết. Tôi nay sẽ chỉ cho
con đường chính, khiến con người dứt sạch các món vọng
tưởng, chấp trược, tự chứng được trí tuệ rộng lớn
của Như Lai, bình đẳng với chư Phật không sai khác ".
Đây
là cả một tôn chỉ mục đích của đạo Phật, đây là cả
một chương trình làm người, hướng về lễ nghĩa, tâm đức
và nhân đạo.
Dưới
con mắt giác ngộ của đức Phật, Ngài nhận thấy tất cả
chúng sinh, loài người cũng là một trong đó đều bình đẳng
về trí tuệ, đức tướng vàđều là người thân thích với
nhau. Đã là bình đẳng, là thân thích tất nhiên không bao
giờ phân chia hay sát hại nhau, trái lại phải thương yêu,
giúp đỡ nhau nếu là người hiểu biết. Người hiểu biết,
một cử chỉ, một hành động đều hướng về từ bi, bình
đẳng và không xa " từ bi bình đẳng "
Từ
bi
" Từ
" là hiền lành, là cho vui. " Bi " là thương xót, là cứu khổ.
Cho vui, cứu khổ là một hành động quả cảm, mong đem lại
lợi ích cho người, cho vật mà quên những lợi ích nhỏ nhen
riêng mình. Người vui cũng như mình vui, người khổ cũng như
mình khổ. Thấy người khổ ta tìm đủ phương tiện giúp
đỡ họ bằng của cải, bằng lời hay lẻ phải, bằng sự
an ủi hay sự hy sinh trong tinh thần vô tư và vô úy. Thấy
người vui ta tán dương, khuyên cố gắng và khuyên đem sự
vui đó hướng về lợi ích chung.
Bình
đẳng
" Bình
" là quân bình. " Đẳng " là tề đẳng. Tất cả đều ngang
bằng như nhau không hơn không kém.
Loài
người cũng như các sinh vật khác, cũng do nhân duyên phát
sinh, cũng đủ cơ quan sinh hoạt, cũng ưa sống sợ chết...
có chi là khác nhau. Khác nhau ở học vấn, địa vị, giai cấp
chăng ?
_ Học
vấn, điạ vị, giai cấp chỉ là điều kiện, hoàn cảnh hay
nhân quả tạo thành chứ không thể khác nhau ở lẽ sống.
Vì máu ai cũng đỏ và mặn. Nhất là lẽ sống thì sự kiện
ấy chỉ là sự phân công rõ rệt trong đời sống xã hội.
Nếu không có người làm ruộng, lấy thóc đâu nuôi người
công chức. Nếu không có người công chức thì sự an ninh
đâu đem lại cho người làm ruộng. Nghĩa là " Tất cả đều
bình đẳng ". Đã bình đẳng còn đâu là kẻ sang, người
hèn, kẻ giàu, người nghèo, kẻ oán, người thân. Đã bình
đẳng còn đâu là tranh chấp tương tàn, tương tặc, mà chỉ
còn biết thương nhau, yêu nhau, giúp đỡ nhau.
_ Theo
thuyết từ bi, bình đẳng, mất hết cả lễ, nghĩa, liêm,
sĩ chăng ? Không ! Hiểu nghĩa vụ mình trong xã hội và làm
đúng với nghĩa vụ ấy là " Lễ " . Đối với nhau tín- ái
chân thật là " Nghĩa ". Biết tri túc theo hoàn cảnh mình là
" Liêm ". Biết thẹn hổ khi mình có lỗi, biết mình không
tiến tới mục đích cứu cánh làm người là " Sĩ ". Cho nên
chỉ bốn chữ " từ bi, bình đẳng " là đầy đủ hết cả
.
Như
trên chúng ta đã hiểu ý nghĩa của " Từ bi, Bình đẳng "
giờ đây chúng ta phải bắt tay vào việc thực hiện nó, mà
chúng ta có thể tóm tắt như sau theo tôn chỉ đạo Phật :
Bố
thí
Có
thể giúp đỡ bằng tài sản, bằng sự giáo dục hay bằng
sự che chở. Bất cứ ở vào trường hợp nào, hoàn cảnh
nào, chúng ta đều có thể làm việc bố thí được. Bố thí
con kiến một hột cơm, an ủi người bằng nụ cười, hay
cho kẻ nghèo hèn vạn bạc. Nhưng nếu sự bố thí ấy phát
ra tự đáy lòng từ bi chân thành và rộng rãi, thì đều có
giá trị tương đương, mặc dầu hành vi ấy có sự sai khác
bề ngoài.
Ái
ngữ
Giữ
lời nói chân thật, hòa nhã để xử sự và cảnh tỉnh người
trong khi giao tế, trong lúc mê lầm, hoặc để làm vui người
trong khi buồn bã. Không muốn đem ra ánh sáng những điều
lỗi lầm, chỉ muốn thấy người dưới những phương diện
tốt đẹp nhất của họ. Emerson nói : " Bất cứ người nào
tôi gặp, cũng hơn tôi cách này hay cách khác ". Chúng ta muốn
nên người cũng nên giữ một thái độ khiêm tốn như thế
đối với nhân loại và bao trùm tới tất cả muôn loài.
Lợi
hành
Mãnh
liệt thực hành hết thảy công việc lợi lạc cho quần chúng
và xã hội. Bên trong lúc nào chúng ta cũng trao dồi trí tuệ,
tâm hồn cho hết sạch những tư tưởng vị kỷ. Bên ngoài
lúc nào chúng ta cũng sẳn sàng giúp ích cho mọi người, mọi
vật trong bất cứ trường hợp nào.
" Tất
cả các Pháp đều là Phật Pháp ".
Đồng
sự :
Cùng
sống nhịp nhàng với hết thảy mọi người trong hết thảy
hoàn cảnh, để thiết thực làm lợi ích cho hết thảy mọi
người và dìu dắt họ tiến trên đường chân chính.
Như
thế đạo lý " từ bi bình đẳng " là con đường đưa chúng
ta tới đích của chân lý, của xã hội an bình thiện hảo.
Đạo lý " từ bi bình đẳng " đem lại cho chúng ta biết tôn
trọng sự sống, quyền sống, biết làm theo tiếng gọi của
cõi lòng hồn nhiên và rộng rãi, biết thân yêu, giúp đỡ
nhau cùng vui sống trong đại gia đình nhân loại. Và nó có
thể đưa chúng ta sống gần với muôn loài, nhịp nhàng với
lẽ sống chung cùng của vũ trụ.
" Chỉ
có lòng thương yêu chân thật, đặt trên tư tưởng bình đẳng
mới đem lại một nghĩa sống chân thật ".
12.-
BIẾT TRAO DỒI TRÍ TUỆ
" Bồ
Tát nên học rộng nghe nhiều, tăng trưởng trí tuệ, thành
tựu biện tài để giáo hóa hết thảy chúng sanh được an
vui, sung sướng hoàn toàn ".
Kinh
Bát Đại Nhân Giác
Đức
Phật dạy : "Có trí tuệ thì không tham trược, thường tự
soi sáng, tránh khỏi các lỗi lầm... Trí tuệ chân thật là
chiếc thuyền kiên cố chở chúng sinh khỏi biển sinh, lão,
bệnh, tử, là ngọn đèn lớn soi sáng vô minh hắc ám, là
liều thuốc hay chữa hết thảy tật bệnh, là chiếc búa sắc
chặt gãy cây phiền não. Vậy các vị cần phải lấy sự
học hỏi, sự suy nghĩ, sự tu tập mà tự tăng ích cho trí
tuệ mình ".
Trí
tuệ
Trí
tuệ là nhận thức sáng suốt. Nghĩa là dùng chính trí nhận
hiểu, phân biệt chân tướng của sự vật rõ ràng xác đáng.
Không nhận giả làm chân, nhận hư làm thực. Không chấp chặt
thành kiến riêng của mình. Không theo cổ tục di truyền vô
nghĩa. Không mê theo những tà thuyết dị đoan trái chân lý.
Nói
rõ hơn trí tuệ là sự hiểu biết, phân biệt những cái giả
cái thực, lẽ phải, lẽ trái, không bị a dua hay cảm tình
riêng biệt của cá nhân. Vì trí tuệ phải là sự kết tinh
của ba yếu tố chính lý :
a/
Tìm hiểu
Tất
cả công việc muốn đạt tới kết quả như sự mong muốn,
đầu tiên phải có sự tìm tòi tỷ mỷ và phải có sự sáng
suốt phân biệt công việc ấy trên cơ sở của lý lẽ chân
chính. Như chính phủ, chính phủ vì dân, muốn cho người lao
động có một đời sống bảo đảm, Chính phủ phải có sự
sáng suốt tìm hiểu, xét thấy, nghe thấy những gì cần thiết
trong đời sống của họ, sau đó chính phủ mới đề cập
đến đạo luật lao động.
b/
Suy nghiệm
Tất
cả công việc gì được thực hiện cụ thể phải trải bao
thứ lớp của sự suy nghĩ và thể nghiệm ấy phải đúng
chính lý. Chính phủ đã đề cập tới đạo luật lao động,
phải suy đi xét lại mới có thể ban hành được.
c/
Thực hành
Qua
bao sự tìm hiểu suy nghiệm nhưng phải thu công bằng sự thực
hành, thực hành trên chính lý. Đạo luật của Chính phủ
đã được đề cập, được suy nghiệm, tất nhiên phải được
thi hành trên toàn lãnh thổ. Nhưng chỉ khi nào nó được thích
hợp với tất cả nhân dân mới là kết quả tốt đẹp.
Cho
nên với ba yếu tố chính lý trên đây, phải được đặt
để vào tất cả công việc, để tăng trưởng cho trí tuệ.
Nếu thiếu một trong ba yếu tố ấy tất nhiên sẽ được
ít kết quả, như trong Kinh Sa Di thập giới đã nói : " Học
hỏi, xét nghe mà không suy nghiệm thì như làm ruộng không
gieo mạ. Suy nghiệm mà không thực hành tu tập thì cũng như
không tát nước, bừa cỏ, rốt cuộc không có kết quả. Trái
lại được đầy đủ thì được chứng quả ".
Như
thế chúng ta biết rằng : Trí tuệ không ở đâu xa, nó ở
ngay nơi học hỏi, tìm hiểu, suy nghiệm và thực hành của
chúng ta được đặt trên sự thực, trên chân lý mà có. Nó
có còn đâu là lỗi lầm, còn đâu là ham đắm phi lý, còn
đâu là chấp trược nhân ngã, còn đâu là mê tín nhãm nhí,
mà nhất định là tiến bộ và thành công. Vì nó là ngọn
đuốc soi tỏ cho tất cả ý nghĩ, lời nói và việc làm của
chúng ta, để đem lại sự an vui và hạnh phúc chân thật cho
chúng ta.
" Được
trí tuệ, đoạn tuyệt được các sở nghi làm sáng tỏ các
điều lành. Được trí tuệ, mới thoát ra khỏi vòng sinh tử
khổ não ".
Kinh
Na Tiên Tỳ Khưu.
13.-
BIẾT TINH TẤN
" Biếng
nhác làm hệ lụy các hạnh ".
Kinh
Bồ Tát Bổn Hạnh
" Nước
chảy đá mòn ... "
Đức
Phật dạy : " Ta hãy tinh tấn nổ lực thêm lên để đạt
mục đích cao thượng nào mà ta chưa đạt được, để làm
chủ các Pháp nào mà ta chưa có, để thực hành những đức
tính nào mà ta chưa thành tựu ".
" Siêng
năng, tinh tấn thì không việc gì khó. Các vị nên siêng năng
tinh tấn. Giọt nước thường chảy có thể xuyên thủng đá
".
Trước
những công việc phức tạp giữa đời, nếu chúng ta không
tinh tấn không thành tựu gì hết, như lời Bác sĩ Durvill nói
: " Không cố gắng gì cả, tức là không có gì cả ".
Tinh
Tấn
Tinh
tấn là một tiềm năng linh động, quyết hướng cầu đến
chổ tinh – thuần, hiểu biết thành tựu và giải thoát. Tinh
tấn là đem tâm trong sáng, tự tại hướng đến mọi công
việc dựa theo sự thật để đạt tới chổ Như – Thật.
Vì vậy, nên tinh tấn có những hình tướng rộng rãi, bao
trùm mọi ngành hoạt động, từ lời nói, ý nghĩ đến việc
làm : Nhà nghệ sĩ, nhà khoa học, nhà chính trị, nhà tu hành
... muốn thành tựu lý tưởng, chí nguyện, muốn điêu luyện
tài nghệ, phụng sự nghệ thuật, muốn thành đạo, cứu đời...
không thể vượt qua hạnh tinh tấn. Hạnh tinh tấn rất cần
cho đời sống con người, nếu biết áp dụng nó .
a/
Đề phòng
Tất
cả những lỗi lầm, những việc không hay, những hạnh xấu
cần phải tinh tấn gìn giữ đừng cho nó sinh khởi
b/
Diệt trừ
Nếu
đã sinh khởi, cần phải tinh tấn, tìm mọi phương tiện để
diệt trừ, không để nó di truyền lại
c/
Phát sinh
Tất
cả những điều hay, những tính hạnh tốt, những công việc
ích lợi cho mình, cho người, cần phải tinh tấn làm cho nó
phát sinh
d/
Tăng trưởng
Điều
thiện phát sinh, luôn luôn phải tinh tấn làm cho mỗi ngày
một nảy nở hơn lên.
Chúng
ta nhận thấy hạnh tinh tấn là một sức mạnh trong sáng và
hướng thiện để cải hóa tự thân, cải tạo hoàn cảnh,
hướng dẫn mình và người tinh tấn trên con đường sự nghiệp
và giải thoát. Chúng ta không nên thoái lui, không nên dừng
bước, không nên do dự, không nên chậm trễ một phút nào,
một giai đoạn nào trước những việc đáng làm của chúng
ta. Chúng ta sinh ra để hoạt động, đã hoạt động, chúng
ta phải hoạt động đúng với mục đích cao cả của nghĩa
sống. Chúng ta thực hành hạnh tinh tấn trên tất cả mọi
phương diện, trong tất cả mọi trường hợp, nếu chúng ta
muốn thành tựu về tất cả.
Vậy
trước khi bắt tay vào công việc, chúng ta hãy nhận thêm những
lời đanh thép của một bác sĩ Tây phương nói : " Chúng ta
quyết chiến đấu, phầ? may mắn sẽ thuộc về chúng ta. Vì
nó không phải là một thực thể hay dời đổi, nó chỉ vâng
lời những ai biết muốn. Khi nào chúng ta có thể điều khiển
nổi tư tưởng của chúng ta thì khi ấy chúng ta hấp dẫn
được nó, chúng ta hấp dẫn nó cũng như đá nam châm hút
kim chỉ nam vậy ".