THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 
c
BÌNH-THƯỜNG  TÂM THỊ ĐẠO
Cư-Sĩ  Nhuận-Bảo
Tiếp Theo Trang Trước
II.  Làm thế nào để có được cái Tâm Bình-thường.

"Sống với cái tâm bình thường tức sống Đạo" là một pháp tu tích cực của Tông-Thiền, khiến người căn cơ trí tuệ hành trì pháp này một cách chơn chánh thì dễ thành tựu đại công đức là kiến tánh. Đó chính là ý chỉ của người xưa vậy. 

Thiệt ra pháp tu "Sống với cái tâm bình thường là sống Đạo" chẳng phải đợi Tổ Nam-Tuyền hay chư Tổ Thiền-Tông sau này nói ra mới biết, mà từ ngàn xưa, cách đây trên hai ngàn năm trăm năm, đức Thế-tôn đã phát minh và dạy pháp này cho đệ tử của Ngài là các hàng Bồ-tát trong Pháp-hội. 

Ngài bảo đại ý, hàng Bồ-tát hãy nên áp dụng cái tâm bình thường vốn tự sẵn có vào ngay trong cuộc sống của chính mình, để lúc nào cũng luôn gần gũi với Đạo, là "một" với Đạo, nghĩa là Thể và Dụng chung cùng, Tánh và Tướng dung thông, bất khả phân ly, không hai không khác, cũng là ngay đó thể nghiệm thân tâm linh hoạt trong cuộc sống mà hiện tiền tự tại giải thoát.  

Nghĩa là sao ? Nghĩa là sống, là làm, là không làm, là nói, là nín, là động tay múa chân, là nằêm, ngồi, đi, đứng, uống, ăn, ngủ, nghỉ, bố thí, thuyết pháp để cứu độ chúng sanh vv…… tuỳ duyên trong mọi hoạt dụng hằng ngày mà không móng khởi vọng niệm trói buộc, không níu kéo với tất thảy trần lao phiền não, cũng tức là khiến cho tánh sáng láng của đạo không bị che lấp, không tự chia lìa cùng Đạo. Nghĩa là làm tất thảy việc nơi cảnh giới nhơn quả, ngay trong hiện thực trước mắt, mà không hề rời lìa bổn tánh sáng suốt, chơn thật, tự tại, tức không lầm nhơn quả, nhơn quả chẳng thể trói buộc, cũng là tự tâm hiện tiền giải thoát vậy.  

Nói rõ hơn, làm tất thảy việc mà thiệt không thấy có chỗ làm. Làm mà không khởi vọng niệm trói buộc với nhị nguyên phân biệt, không vướng mắc với trần cảnh, nghĩa là tuỳ thuận nhơn duyên để được tự lợi và lợi tha, hay để trả ơn chư Phật mà làm hay không làm, mà nói hay nín, bằng cái tâm rổng rang, trong sáng, không đến không đi, không tâm, vô tác ý, nghĩa là không nắm cũng không buông, không ngã cũng không pháp, như như bất động. 

Tự tâm làm được một cách chơn thật như thế tức là sống Thiền, sống Đạo, là Định, là nhập Không-Tam-muội, là du hí thần thông, là sáng suốt không lầm nhơn quả, là tự vượt lìa nhơn quả, bỡi lúc nào cũng trọn trong nhứt niệm "Đang-là", cùng Đạo trong chỗ Thể-Dụng nhứt như, dung thông tự tại, sáng suốt, viên mãn, cũng là Pháp thân thường trụ, là Pháp tánh Như-thị, là thường lạc ngã tịnh.   

Bằng ngược lại với cái "tâm bình thường", là sống với cái tâm không bình thường, xa lìa Đạo, tức cái tâm tối tăm, hư huyễn do nhơn duyên vọng lập, lúc nào cũng lăng xăng vọng động, trói buộc với trần lao phiền não, vướng mắc với các pháp tướng sanh diệt, biến hiện mất còn từng mỗi sát na, cũng là vọng biết, vọng thấy, cũng là biết lầm, thấy lầm vì mê mờ theo vọng nghiệp vô minh nhơn quả. Tâm không bình thường là cái tâm chấp ngã, chấp pháp, không thoát khỏi sự ràng buộc của tứ tướng, sự hệ luỵ, níu kéo của lợi và danh.        

Tại sao khẳng định đức Thế-tôn đã dạy cho các hàng Bồ-tát trong Pháp-hội nên biết sống với cái tâm bình thường là Đạo, để cứu cánh hiện tiền giải thoát? 

Đó chính là điểm kỳ đặc của đức Thế-tôn mà Đệ Nhất Giải-Không Tu-bồ-đề đã khám phá ra, nhưng Tôn-giả chưa thật sự rõ biết nên mới khải thỉnh Phật khai thị giùm cho. 

Do thường ngày cùng sinh hoạt chung, cùng đi khất thực, cùng về một chỗ thọ trai, ăn xong thì rửa bát, rửa tay chân, rồi thay y. Đức Phật thì  lên toà thuyết pháp, còn đại chúng thì đến ngồi quây quần bên Phật để nghe pháp. 

Công việc thường này của từng mỗi người, và cả pháp hội đại khái là như vậy, hầu như ai cũng giống ai, và cũng chẳng có ai thắc mắc hay cần tìm hiểu một điều gì khác lạ. Tuy nhiên, với Giải-Không Tu-Bồ-đề thì lại khác. Tôn-giả đã loáng thoáng nhận ra được chỗ kỳ đặc của đức Phật : từ trong tâm ra đến ngoài thân, Thế-tôn lúc nào cũng thư thái, bình ổn, an lạc, thanh tịnh, tự tại, giải thoát; còn với Tôn-giả và tất thảy đại chúng trong Pháp-hội thì hoàn toàn không được như thế, nghĩa là thân tâm đại chúng lúc nào cũng vọng động, lăng xăng, bất an, trói buộc.  

Khám phá ra điểm kỳ đặc đó, Tôn giả Tu bồ-đề đã mạnh dạn thưa thỉnh với đức Phật, cầu Ngài chỉ cho ông ta và đại chúng, làm thế nào để hàng phục được cái tâm lăng xăng, vọng động lúc nào cũng vướng mắc, hệ-lụy với phiền não trần lao, cũng như làm thế nào để an trụ được tâm, khiến thân tâm lúc nào cũng thường, lạc, ngã, tịnh, niệm nào cũng là nhứt niệm "Đương niệm" sáng suốt, tự tại, vô ngã, giải thoát như Phật không khác. 

Thiệt là Tôn-giả Tu-bồ-đề đã gãi trúng chỗ ngứa của Phật. Đã từ lâu, gần suốt hai mươi hai năm sau khi khởi chuyển pháp luân, đức Phật mong mỏi có được cái ngày này, cái ngày mà có người khám phá ra Pháp-thân chơn thật của Như-lai, cầu Ngài thuyết pháp khiến Ngài có thể giải bày được nỗi oan vì sự hiểu lầm của thế gian về Thật-tướng Không-tướng của Ngài, cũng như chỉ bày ra cho chúng sanh tỏ ngộ tự tánh Phật, cũng là hình hài chơn thật vốn tự sẵn có xưa nay chưa từng sanh diệt của mỗi chúng sanh, cũng là ngộ nhập Phật tri kiến, là "một" Pháp-giới thường trụ, để không lầm nhơn quả. 

Tỏ ngộ Phật tánh rồi, lại phải khéo biết trọn sống chơn thật trong nó để tu hành, làm tất thảy việc mà không rời lìa tự tánh, thì trước mắt, đương niệm "Đang-là" pháp tánh như thị, thanh tịnh giải thoát mà chẳng cần phải chờ tới chết mới được tự tại. Đó là chỗ nhiệm mầu, cao sâu, linh diệu, không thể nghĩ bàn của Phật đạo. 

Qua lời khải thỉnh của Tôn-giả Tu-bồ-đề, Đức Thế-tôn đã ngợi khen ông không hết lời và cũng ngay đó Ngài tuyên thuyết Kim-Cang Kinh, để khai thị cho người thế gian ngộ nhập Phật tri kiến. 

Trong bài viết ngắn này, chúng tôi chỉ đề cập tới hai câu cốt tuỷ của bộ kinh này, có liên quan trực tiếp đến cái "Tâm Bình thường là Đạo" mà ngài Nam-Tuyền đã đề xuất, tức hai câu trả lời "trực chỉ" ngắn gọn của đức Phật cho Tôn-giả Tu-bồ-đề, mà không nói tới những ý khác trong kinh. Mà thật ra, dẫu có mổ xẻ hết ba mươi hai phần trong toàn bộ kinh này thì cốt tủy mà đức Phật muốn chỉ bày cho thế gian cũng chỉ gói ghém trọn vẹn trong hai ý chính là hàng phục vọng tâm và trụ tâm vô sở trụ mà thôi. 

Qua câu hỏi của Tôn-giả Tu-bồ-đề, đại ý rằng, hàng Bồ-tát như đại-chúng trong pháp hội, đang phát tâm cầu Vô-thượng Bồ-đề, thì nên trụ cái tâm như thế nào, nên hàng phục cái vọng tâm ra sao (để có được thân tâm hiện tiền giải thoát như Phật không khác) ?  

Đức Phật đã dạy, đại ý :    

a). Các hàng Bồ-tát nên hàng phục vọng tâm bằng cách như vầy:

Sở hữu nhất thiết chúng sanh chi loại. Nhược noãn sanh, nhược thai sanh, nhược thấp sanh nhược hóa sanh, nhược hữu sắc, nhược vô sắc, nhược hữu tưởng nhược vô tưởng, nhược phi hữu tưởng phi vô tưởng, ngã giai linh nhập Vô-dư Niết-bàn nhi diệt độ chi. Như thị diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh thật vô chúng sanh đắc diệt độ giã. Hà dĩ cố ?Tu bồ-đề ! Nhược Bồ-tát hữu ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng tức phi bồ tác.    

Có cả thảy các loại chúng sanh: hoặc sanh trứng, sanh con, sanh chỗ ẩm ướt, hoá sanh, hoặc có sắc, không sắc, có tư tưởng, không tư tưởng, hoặc chẳng phải có tư tưởng chẳng phải không tư tưởng, Ta đều khiến vào Vô-dư Niết-bàn mà diệt độ. Diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh như thế, nhưng thiệt không có chúng sanh nào được diệt độ cả.  Bỡi cớ sao? Này, Tu-bồ-đề ! Bồ tát mà còn có tướng Ngã, tướng Nhơn, tướng Chúng-sanh, tướng Thọ-giả thì chẳng phải là Bồ-tát. 
  
b). Các hàng Bồ-tát nên trụ tâm không chỗ trụ, tức trụ pháp giới thường trụ.

Phục thứ, Tu bồ-đề ! Bồ tát ư pháp ưng vô sở trụ hành ư bố thí. Sở vị bất trụ sắc bố thí, bất trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp bố thí. Tu bồ-đề ! Bồ tát ưng như thị bố thí, bất trụ ư tướng. Hà dĩ cố ? Nhược Bồ-tát bất trụ tướng bố thí, kỳ phước đức bất khả tư lương.   ??
?Lại nữa! Này, Tu-bồ-đề ! Bồ-tát làm việc bố thí mà đúng như pháp, thì không có chỗ trụ. Là chẳng trụ sắc mà bố thí, chẳng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí.   Này, Tu-bồ-đề ! Bồ-tát hãy như thế mà bố thí, chẳng nên trụ vào tướng. Bỡi cớ sao ? Nếu Bồ-tát chẳng trụ tướng mà bố thí, thì phước đức chẳng thể suy lường".            
 
Trước khi đi vào nội dung các lời dạy của đức Phật, chúng ta cần phải hiểu một cách sâu sắc ý nghĩa và công năng giải thoát của hạnh lành Bố thí. 

Vì có hiểu thông suốt được tận gốc ngọn, thì mới có thể thật hành những lời dạy của đức Phật một cách đúng như pháp, không sợ đi lệch ra ngoài giòng đạo học.  Tri và hành đúng như pháp thì đại công đức của việc tu học mới có thể được thành tựu. Đại công đức của người tu Phật được đề cập ở đây là kiến tánh vậy. Nghĩa là người tu Phật chơn chánh, chẳng kể tại gia hay xuất gia, phải biết nương Giáo-pháp là những lời dạy chơn thật của Như-lai mà học để sáng tỏ Chân lý giải thoát. Một khi đã nhận ra được đâu là con đường đưa đến sự giải thoát chân thật thì phải nên đúng như pháp mà Hành trì một cách dõng mãnh, chơn chánh để thành tựu công đức Kiến-tánh, là sáng tỏ Phật tâm, cũng là ngộ nhập Phật tri kiến. Sáng tỏ tự tâm bổn tánh, thấy biết bằng tánh biết chơn thật rồi, cũng là lúc bắt đầu cho một giai đoạn tu học lên nữa để chứng Quả giải thoát, nghĩa là phải biết sống chơn thật không rời lìa tự tánh, tự gột tẩy tất thảy những ô uế tập nhiễm còn sót lại của ba độc tham, sân, si, cũng là cách nuôi dưỡng thánh thai hầu trở về lại bổn nguyên chơn thường tịch lặng, mà không sa lại vào nhơn quả nữa.   

Tuỳ căn cơ, duyên phước cao thấp của từng người mà pháp Phật thuyết có ba thừa giáo, cho nên "Bố thí" cũng được hiểu theo nhiều nghĩa sâu cạn khác nhau. 

Đối với Giáo-pháp của đức Phật, thì Bố thí, ngoài ý nghĩa thông thường là cho, giúp đỡ, san xẻ, chia sớt để gieo trồng căn lành, tích góp phước đức của hàng Tiểu-thừa, thì nghĩa đích thực mà chư Phật muốn tỏ bày khiến chúng sanh có thể thành tựu đại công-đức của phép hành thí vô tướng, giải thoát mọi trói buộc của nhơn quả, đó là nghĩa "Buông", "Xả" cùng tột, là không một pháp dù thi vi nhỏ nhặt tới đâu có thể dính dấp, là Định tâm, là Nhập Không Tam-muội, Đắc vô sở đắc, là Trụ tâm Vô sở trụ, là Thường trụ Pháp-giới. Đó là nghĩa đích thực của đệ nhất hạnh trong sáu hạnh lành giải thoát, tức hành thí vô tướng, cũng là phép thí tam luân không của hàng Đại Thừa Bồ-tát. 

Thấy người cùng khổ cơ hàn, ta sẵn cơm áo liền lấy ra san xẻ cho người, như chính mình đang bị đói lạnh, đang cần cơm ăn áo mặc mà không một niệm khởi phân biệt là thân hay sơ, không để ý thấy có người bố thí, có người nhận thí hay có vật được cho nhận, hay vọng cầu bố thí để được phước đức như thế này, thế nọ vv…vv.    

Lúc hành thí mà tâm rổng rang như hư không, tức chẳng chấp ngã, chấp pháp, cũng là lìa tất thảy tướng mà làm tất thảy thiện pháp, cũng là buông bỏ cùng tột, không một pháp có thể can hệ, thì ngay đó bản thể chơn thật của tâm là gì nếu chẳng phải gọi đó là đang trong trạng thái hiện hữu sáng suốt, tự tại, tuyệt đối, là Định, là Nhập Không Tam muội, là Trụ tâm vô sở trụ, là Thường trụ pháp giới? 

Thế nào là buông bỏ cùng tột? Tức buông, xả mà không một niệm chấp vào chỗ có buông đó, cũng là trạng thái tâm thể tự nhiên như nhiên, không nắm cũng không buông, không một niệm sanh thấy có chỗ nắm, buông hiện hữu.  

Người nhận bố thí cũng vậy. Hàng Đại-thừa giải thoát nhận bố thí phải nhận làm sao để được tự lợi và lợi tha, đúng như lời Phật dạy. Nghĩa là đang khi đói rét được có người bố thí, thì người nhận thí phải biết tự "một"trong nhứt niệm "Đương-niệm" sáng trong tự tại mà nhận thí, thì chẳng những công đức người cho đã hẵn là vô lượng vô biên bất khả tư nghì rồi, mà chính người nhận cũng đang tự trang nghiêm cõi Phật của chính mình bỡi tâm vô phân biệt, nhận thí trong phép giải thoát tam luân không, nhận trong tình thương bao la, bình đẳng của Phật tâm, của  Đại-Đạo mà ngay đó mình tự "Đang- là". Người bố thí và người nhận thí mà được như thế mới đáng gọi là hàng Đại-thừa của Phật thật hành hạnh Bố thí ba-la mật vậy.   

Tạm đưa ra một thí dụ cho dễ hiểu. Ví như có người nhà giàu, một mình lái xe đi ngang qua một cánh rừng hoang vắng, rất xa thành phố, vào một buổi trưa hè.  Ông ta bắt gặp ven đường một người đàn bà già cả, lụ khụ, vẻ mệt mỏi đói khát, đang ngồi dựa một gốc cây để tránh nắng. Đã đi qua khỏi rồi, nhưng vì là người có lòng nhơn ái nên ông ta tự nghĩ :

 " Người đàn bà già cả đói khát kia, một mình ở nơi hoang vắng không một bóng người, nếu mình không cho bà ta chút gì để ăn, chắc bà ta chết mất. Thật tội nghiệp". Nghĩ như vậy mà nỡ bỏ đi thì làm sao đành lòng, cho nên nhà hào phú bèn quay xe trở lại, đến bên bà lão, hỏi han, giúp đỡ.  

Bà lão nói, tôi không có con cái, chẳng người thân thích, lại già cả không còn sức lực để đi làm, nên mới phải tìm những vật thừa mà người ta bỏ để sống. Mấy hôm nay không có gì  để ăn nên rất đói. 

Nhà hào phú suy nghĩ trong thoáng chốc :"Từ đây ra khỏi rừng khoảng một tiếng đồng hồ là có quán xá. Miếng sandwich mà ta đem theo dự trù để ăn dọc đường, có thể giúp cho bà lão khỏi đói trong hiện tại. Còn bữa trưa của mình thì tính sau". 

Nghĩ đoạn ông ta đến chiếc xe lấy gói bánh đưa cho bà lão. Bà lão thản nhiên đưa tay nhận gói bánh, không một lời cám ơn, ngoài cái nhìn triều mến đặt lên ông như đối với một người thân thiết. 

Trong khi đó người nhà giàu nghĩ bụng, chắc là bà lão sẽ rất vui mừng khi được tặng bánh, và sẽ không ngớt cám ơn mình; ông đang chờ bà ta cho mình những lời khen tặng và những lời chúc phúc tốt đẹp nhất. Thế nhưng ông ta hoàn toàn thất vọng, vì bà đã không nói gì với ông ta cả. 

Bà lão cầm miếng bánh mì mà tay run run vì quá đói, sửa soạn đưa lên miệng để ăn, thì thật bất ngờ, một con chó đói, ốm tong teo, sống lưng nhô ra như hình tam giác, xương sườn phơi bày ra có thể đếm được, dưới lớp da mỏng lông trơ trụi, từ trong bìa rừng đi ra. Nó lê cái thân tàn tạ trên hai đôi chân khẳn-kheo, yếu đuối gần như đi không nổi, đến ngồi đối diện trước mặt bà lão, nhìn miếng bánh bà đang cầm mà miệng nó chảy nước miếng ròng ròng. Trông thấy con chó đói đang dòm mình như van xin và nhìn chiếc bánh một cách thèm thuồng, bà lão bèn bẻ đôi chiếc bánh và đưa cho con chó một nửa. 

Tới đây thì người nhà giàu không còn chịu đựng được nữa rồi. Ông ta đứng phắc dậy, phùng mang trợn mắt, nói như quát vào mặt bà lão :"Tôi nghĩ tình đồng loại, thương bà đói khát, cho bánh bà ăn. Chẳng những bà không một lời cám ơn thì chớ, lại còn đem cho con chó một nửa. Bà thật là kẻ vô ơn và khinh người quá đáng". 

Mặc cho người nhà giàu la rầy lớn tiếng, bà lão vừa nghe ông ta nói, vừa ăn bánh một cách ngon lành, nét mặt bình thản, như không có chuyện gì xảy ra, ngoài việc đang thưởng thức cái mùi vị thơm ngon của miếng bánh mì cùng sự no nê khoan khoái của cái bụng đã bị đói nhiều ngày. 

Đợi cho vị ân nhân nói xong, bà thủng thỉnh trả lời : 

" Đương khi ông cho bánh, tôi  không nói gì, chỉ nhìn ông và nhận bánh, tức ngay đó tâm ông đang rộng mở như hư không, đón nhận tất cả, đầy đủ và trọn vẹn công đức vô lượng, vô biên, bất khả tư nghì của sự bố thí bằng Phật tâm chơn thật, bình đẳng, vô ngã mà ông đã tự thể hiện, mà không một lời cám ơn nào, hay bất cứ một lời tốt đẹp nào trên thế gian này có thể sánh bằng. Cho nên dẫu tôi có nói cám ơn thêm bằng lời, thì chẳng những không ích gì cho công đức tự trang nghiêm cõi Phật bằng tất thảy thiện pháp của ông đã làm, mà chính chúng chứ chẳng phải là gì khác, tức những lời cám ơn trói buộc trong vọng nghiệp nhơn quả kia, sẽ làm lu mờ, chướng ngại cho công đức vô vi, vô lượng,vô biên mà ông vừa tự gặt hái được bằng Phật tâm thanh tịnh, vô ngã, bình đẳng. 

Còn việc ông thắc mắc tại sao tôi lại chia đôi cái bánh cho con chó, thưa ông, với tánh đói của hữu tình sinh hoạt, thì con chó đang đói và tôi đang đói, trạng thái đói của hai sinh vật này nào có khác gì nhau đâu, đều gọi là đói cả và cũng đều cần ngay cái ăn cho hết đói, khỏi chết oan uổng vì đói !". 

Nghe tới đây, vị hào phú như đang mê chợt tỉnh. Nhờ một lời chân thật của bà lão mà ông đã nhận ra được thế nào là hành thí vô tướng giải thoát rốt ráo, thế nào là tận cùng pháp giới chỉ còn lại một tình thương bao la tự nhiên như nhiên  của Phật tâm, của Đạo, cũng như ngay đây ông đã tự khám phá ra hình hài chơn thật của mình cùng Đạo-thường tuỳ duyên mà bất biến, không khác không hai.     

Mẫu chuyện nhỏ vừa nêu có thể là chuyện thật mà cũng có thể là chuyện bịa. Thế nhưng chúng ta cũng đừng chấp vào chỗ thật hay không thật của câu chuyện, vì dẫu có được gọi là chuyện thật hay là giả đi nữa, thì tướng thật, giả đó cũng đều là các pháp hư vọng cả. Chỉ nên khéo nhận ra một điều là, chỗ phương tiện chỉ bày của bà lão là chân lý giải thoát, giúp chúng ta có chút cơ sở để thâm tỏ diệu pháp hành thí vô tướng, là pháp "buông" giải thoát rốt ráo của hàng Đại-thừa Bồ-tát, để đi vào không tánh.  

Trở lại với những lời dạy của đức Phật, ở câu đáp (a) đức Thế-tôn đã trả lời trực tiếp vào câu hỏi của Tôn-giả Tu-bồ-đề, đại ý :

"Sở dĩ các ông trong đại chúng không có được chỗ kỳ đặc, bình ổn, an lạc, tự tại, giải thoát như Phật, chỉ vì thân, tâm của các ông lúc nào cũng lăng xăng, vọng động, vướng mắc vào các pháp tướng sanh diệt, không tự yên nghỉ.

Bên ngoài thì các căn luôn bị cuốn hút, trói buộc, hệ lụy  vào các pháp sanh diệt của trần cảnh, còn bên trong thì vọng thức, tình tưởng khởi lên trùng trùng, biến hiện chập chùng không lúc nào ngưng dứt. Các ông đã tự rời lìa, đã tự bỏ quên, đã tự đánh mất cái bổn tánh chơn thật, uyên nguyên, sáng suốt, rổng rang, thanh tịnh, thường hằng, tự tại, bất động của mình, cũng là chơn tâm, Phật tánh, để tự trong mê mờ duyên thành vọng niệm, chấp lầm vào cái thân hư, cái tâm vọng trói buộc với vô minh nhơn quả, thì làm sao có được chỗ an trụ thường, lạc, ngã, tịnh như Phật được. 

Cho nên, muốn được bình ổn, an lạc, tự tại, giải thoát, hãy nên khiến vạn loại chúng sanh diệt độ vào Vô-dư Niết-bàn, tức cũng là khiến vạn loại trần lao, phiền não, cũng là các pháp tướng trói buộc của thế gian, cũng là tất thảy vọng thức, tình tưởng, ngã nhơn, bỉ thử, thị phi, thiện ác, thánh phàm, hơn thua, được mất, cao thấp, khổ vui ….nói chung là mọi thứ hệ-lụy với nhị nguyên nhơn quả, hãy nên đưa hết chúng vào chỗ buông cùng tột, chơn như tịch lặng, không một pháp có thể được, cũng là thật nghĩa của vô dư Niết-bàn. 

Điều đó có nghĩa là hãy khéo sống với trạng thái vô tâm, tự nhiên như nhiên, không lấy không bỏ, không được không mất, không có không không, không phải không trái, không cao không hạ, không thánh không phàm, không hơn không thiệt….trước mắt tự như, chơn thường vắng lặng, tuỳ duyên tự tại, đến đi vô ngại, cũng là trọn sống trong tự tánh thanh tịnh Như-lai, cũng là đương niệm hiện tiền giải thoát, tức trọn sống trong cái tâm bình thường, uyên nguyên, tự chủ, vô thủ, vô xả, vô ngã, vô tác ý, không một pháp có thể lập khiến tự tánh không bị che mờ, khuất lấp".  

Tất thảy vạn loại chúng sanh gọi chung, đều là tướng trần lao phiền não. Trong chỗ cùng tột, thật tướng các pháp vốn thiệt không tướng, tánh thật các pháp vốn không tự tánh, nên liền biết như thật tất thảy pháp đều là huyễn hóa, hư vọng, như hoa đóm trong không. Chỉ vì chợt vọng niệm mà ngay đó bốn tướng Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả hiện khởi trói buộc với nhơn quả vô minh. Bằng không một niệm khởi sanh, không một niệm khởi diệt, ngay lúc này tâm thể là gì nếu không là nhứt niệm "Đương niệm, Đang-là" quang minh, tự tại, viên mãn, nhứt như, vô ngã, tịch tịnh. Cũng có nghĩa là vạn pháp trôi chảy, biến hiện mất còn trước mắt một tâm không tâm, vô ngã, có khác nào như bụi bay trong ánh sáng, như chim bay trong hư không.  Bụi bặm biến hiện, mất còn, thấp cao, lên xuống nhưng có làm chướng ngại ánh sáng đâu. Chim bay từng đàn trong không gian nhưng có làm cho 

không gian lay động, hay để lại dấu tích trong hư không đâu. Nói vô tâm như hư không, cũng chính là đang diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh mà thiệt không một chúng sanh nào được diệt độ cả, nghĩa là tất thảy chẳng dính dấp, hệ lụy, níu kéo tới cái tâm như, tự tại, sáng trong, tròn đầy, bất động. 

Cho nên đức Phật mới dạy, tất thảy vạn loại chúng sanh, tức trần lao, phiền não ứng hiện trên tất thảy các pháp tướng sanh diệt, đều hãy nên đưa hết vào Vô dư Niết bàn mà diệt độ, nhưng thật ra chẳng có một pháp tướng nào được diệt độ cả, mà chỉ có tự tâm diệt độ, tịch tĩnh, Niết-bàn, thì vạn pháp tự như trước mắt, không chi dính dấp, trói buộc, tức là giải thoát vậy. 

Đây là Phật dạy đại chúng khéo biết quán sát tự tâm bổn tánh vốn thiệt chơn như vô ngã, khéo biết tự an định tâm mình, biết tự sống trọn trong cái tâm bình thường, uyên nguyên, thanh tịnh, mà không khởi vọng niệm trói buộc với trần lao phiền não, cũng là phiền não trần lao không chỗ dính dấp, cũng là tự tâm an định, bình ổn, giải thoát vậy. Vì tâm thể đã được sáng trong, tự tại, như như, viên mãn thì tất thảy chúng sanh, cũng tức là phiền não, trần lao không chỗ can hệ, không thể trói buộc, đó là lẽ thật.  

Ở lời đáp (b), đại ý Phật dạy, do khởi niệm chấp ngã trói buộc với vọng nghiệp vô minh nhơn quả, nên chơn tánh mới liền bị che mờ khuất lấp. Do chơn tánh bị che mờ khuất lấp, nên chúng sanh trong vọng nghiệp vô minh nhơn quả mới lầm thấy, lầm biết, cho rằng thật có tướng ta, là một tự thể độc lập, hữu ngã, có sự tương quan với các cá thể khác trong cái thế giới thiệt có đến đi, còn mất này. Do vọng chấp có tướng ngã, mà các tướng đối đãi hư vọng khác liền hiện hữu, thì cũng ngay đó tất thảy các tướng trần lao phiền não khác liền có chỗ trói buộc.  

Bỡi vậy đức Phật mới dạy, một Bồ-tát mà còn có nghĩ tưởng có tướng Ta, cũng là chấp ngã, thì các tướng khác liền hiện hữu. Một Bồ-tát mà còn có đủ bốn tướng hiện hữu, thì còn bị trần lao, phiền não trói buộc. Một hữu tình còn bị trần lao, phiền não trói buộc, còn bị mê lầm nhơn quả thì  làm sao có thể gọi kẻ đó là một Bồ tát (Bồ-đề tát-đõa), tức bậc đã thật sự giác ngộ chân lý giải thoát, không lầm nhơn quả, đồng thời có thể giác ngộ các hữu tình khác nhận ra tánh Phật chúng sanh của chính  mình để tự không lầm nhơn quả !? 

Với hàng Đại-thừa vì cầu giải thoát, Phật dạy hãy nên làm việc bố thí rốt ráo của bậc Đại Bồ-tát (thể hiện tâm buông cùng tột, viễn ly thường đoạn, viễn ly cả tâm viễn ly) mà không trụ vào tất thảy tướng, cũng là hành thí vô tướng, hành thí tam luân không, là tự thể hiện không tâm vô ngã trong cuộc sống trước mắt, là không dính mắc với trần lao phiền não, cũng là sống với cái tâm bình thường của Đạo, như như, tự tại, giải thoát vậy. 

Tự thể hiện không tâm vô ngã, cũng là buông bỏ rốt ráo, cũng tức là sống thật với cái tâm bình thường uyên nguyên, tự tại của chính mình, cũng tức là không rời lìa tự tánh mà sống, thì trước mắt các pháp đến đi, biến hiện, mất còn nào có dính dấp tới ai đâu. Tâm như hư không, tự tại, vô ngã, không một pháp có thể lập, thì lấy cái gì để có thể can hệ, níu kéo, ràng buộc, trói cột "không tâm". 

Lại nói thêm một chút về Nhơn-Quả. Theo nghĩa hẹp thì nhơn quả có nghĩa là, hạt nào thì sanh cây nấy, cây nào thì ra quả nấy, quả nào thì sanh hạt nấy. Hoặc như soi gương thấy hình, hình bên ngoài ra sao thì ảnh trong gương cũng vậy; làm thiện thì tích thiện, làm ác thì  gặp ác, là lẽ trả vay trong cuộc đời và nhiều đời nếu chưa trả hết. 

Người đã biết lẽ nhơn quả như thế, thì không ai là không muốn hành thiện. Muốn trong hiện đời được thêm vui bớt khổ, muốn ở vị lai khỏi bị đoạ lạc vào các đường dữ như địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, muốn không phải bị làm thân phận kẻ  hèn mọn, làm tôi tớ phục dịch cho người, lục căn bất túc, khùng khùng điên điên hoặc muốn không phải bị ê chề phiền não vì gặp nhiều nghịch cảnh đắng cay thì ngay lúc này đây, lúc còn đang hít thở, lúc còn đang tự do làm theo ý mình, lúc có đủ mọi điều kiện để hành thiện, thì phải nên hành thiện cho thiệt nhiều. Làm thiện nhiều thì hưởng phước nhiều, làm ác nhiều thì gặt họa nhiều, đó là luật tắc bất biến của giá trị nhơn quả. 

Một chén cơm, một đồng bạc, một việc làm có ý nghĩa theo khái niệm thiện hay ác, đưa ra hay thâu vào, cho hay nhận đều có giá trị tương đối nhau trong nhơn quả. Cho nên, đã sống trong cảnh giới nhơn quả, đã rõ lẽ nhơn quả rồi thì không ai là không nên làm thiện, không ai là không nên cố gắng gieo trồng phước nghiệp cho vị lai. 

Tuy nhiên, với hàng Đại-thừa vì cầu giải thoát, thì hạnh bố thí cũng như lý nhơn quả lại được hiểu theo nghĩa vô-vi, cao sâu, huyền mầu, bí áo, khiến tự thân người thật-hành pháp Phật một cách như pháp có thể đạt tới đỉnh điểm buông rơi cùng tột, bùng vỡ tự tâm, sáng tỏ Phật tánh, không lầm nhơn quả, cứu cánh vô sanh. Bằng không thật hành hạnh bố thí theo nghĩa vô vi giải thoát  rốt ráo, cũng như không hiểu lẽ nhơn quả một cách vượt thoát như thế, nghĩa là còn chấp, dù là chấp thiện đi nữa, thì vẫn không làm sao có thể cắt đứt sự trói buộc của nhơn quả.   

Nghĩa là sao ? Thí như có người gieo trồng không biết bao nhiêu là căn lành trong các đời quá khứ, nên đời này người ấy được hưởng phước lớn và được làm vua trong thiên hạ. Nói tới làm vua thì sự uy quyền, giàu sang, sung sướng, hoan lạc không sao kể xiết, và người thế gian ai ai cũng thèm muốn. Thế nhưng làm vua nhiều đời rồi thì cũng có lúc phải đoạ lạc vào các đường dữ. Bỡi cớ sao ? Bỡi vì những thuở làm vua ấy, để thoã mãn dục lạc của tự thân, cũng như để bảo vệ ngai vàng, sự nghiệp và chính thân mạng của mình, thì người ấy làm sao tránh khỏi những việc làm xấu ác. Mà đã làm ác thì ắc có lúc phải hết phước, hết được làm vua, phải trả nghiệp dữ, phải đoạ lạc ác đạo. Thế thì, dù làm thiện hay làm ác, người ấy cũng không sao thoát khỏi sự trói buộc của hai mối thắt nhơn và quả. Cái vòng tròn của giá trị nhơn quả luôn luôn khép kín, khó mà thoát ra, nếu tự tâm còn chấp chặc vào việc làm thiện hay làm ác. 

Vì lòng từ thương khắp chúng sanh mà ba đời chư Phật thị hiện trong khắp các cõi nước để hóa độ, không ngoài mục đích khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến, để tự trong trí sáng của Phật tâm mà nhận ra như thật đâu là sự trói buộc của hai bờ nhơn quả, để không lầm nhơn quả.

Phật đạo dạy phải làm lành lánh dữ là vì Thế-tôn biết như thật chúng sanh trong cõi này mê mờ tăm tối, tâm địa xấu ác, nghiệp chướng dẫy đầy, ba độc chất chồng cao to không xiết kể, nên mới khuyên răn cốt để chúng sanh tự gieo trồng căn lành, vun đắp cội phước, khiến cho ai cũng có phước đức trọn đủ, trí tuệ cao vời, hầu đến lúc gặp duyên lành có thể thâm nhập Đại-thừa giải thoát pháp của Phật mà sáng trí Bát-nhã, để không lầm lầm nhơn quả, chứ Phật chẳng phải khuyên dạy chúng sanh chỉ dừng lại ở chỗ tích góp nhiều phước đức để được sung sướng, hoan lạc trong các cảnh giới nhơn quả đâu.     

Còn nói sâu xa hơn, giá trị nhơn quả là một giá trị tương đối, giống như hai mặt của một đồng tiền. Nhơn quả luôn trói buộc chúng sanh trong hai bờ tương đối và chúng sanh cũng khó lòng thoát khỏi sự trói buộc của nó nếu không nhờ đến phép mầu của Phật đạo mà tu tập để tự giải thoát nhơn quả.    

 Hai mặt của đồng tiền mà chúng ta tạm đặt tên cho là trái hay phải, trắng hay đen, sấp hay ngửa, có hay không, đều có giá trị tương đối nhau, không thể nói chỉ có một mặt có giá trị còn mặt kia thì không giá trị, mà phải đủ cả hai mặt thì mới được gọi là một đồng tiền, và hai mặt đó có giá trị như nhau nhưng lại tương đối nhau, và đều có tánh trói buộc, vì tự nó có sự giá trị, tuy tương phản nhau.    

Chúng sanh đối với giá-trị nhơn quả, như đang tự cột buộc chính mình vào hai mặt của một đồng tiền, cùng nó lăn lóc, sống chết mà không hề hay biết. Nghĩa là sao ? 

Lấy thí dụ. Nếu như ai trong chúng ta có thể đứng ngoài cuộc mà nhìn vào nhơn quả, thì liền biết chúng sanh đang sống trong cảnh giới nhơn quả, chẳng khác những con bạc trong chiếu bạc. Đồng xu được bung ra, nó chỉ có thể chìa ra một mặt, hoặc là trắng hoặc đen, sấp hoặc ngửa, phải hoặc trái chứ không thể cùng một lúc chìa ra cả hai mặt, hay không chìa ra một mặt nào.  Nghĩa là cùng một đồng tiền ấy, mà người này được thì người khác ắc phải mất, người này cười thì kẻ kia ắc phải khóc, người này vui thì kẻ nọ ắc phải buồn, người này ăn thì kẻ kia phải thua, người này được để có thể sắm xe hơi thì kẻ kia phải bị mất đi bằng một giá trị tương đương chiếc xe hơi, mà không thể trong hai kẻ tương đối trói buộc nhau cùng vui hay cùng buồn được, vì đồng tiền khi bung ra thì không thể an bài cùng một lúc cả hai mặt, hay là không an bài một mặt nào. Vì đó là nhơn quả. 

Nói cho dễ hiểu, như mặt bên này của trái đất đang là ngày, thì mặt kia phải đang là đêm, bên này sáng thì bên kia tối, bên này nóng thì bên kia lạnh, bên này ngủ thì bên kia thức. Lẽ tương đối cùng trói buộc nhau trong nhơn quả, như ngày nóng đêm lạnh luôn hòa quyện, không lìa bỏ nhau, mà không thể luôn là ngày, cũng không thể luôn là đêm, mà ngày đêm không hề chia lìa, vì lìa nhau tức là mọi thứ đều hết sống, chẳng còn ai ngồi đây bàn nhơn quả nữa. 

Chúng sanh trong tất cả các cảnh giới, đang đối mặt với các giá trị nhơn quả của từng cảnh giới đó, chẳng khác những người đang tham gia vào canh bạc, khi đồng tiền được bung ra và chìa ra một giá trị tương đối nào đó. 

Nghĩa là nếu không được thì ắc phải mất, không ăn thì ắc phải thua, không vui thì ắc phải buồn, không giàu to thì ắc phải sạt nghiệp, mà không thể nào thoát ra khỏi sự trói buộc của giá trị tương đối này được. Cho nên mới ví, nhơn quả giống như hai mặt của một đồng tiền, có giá trị tương đối và hỗ tương trói buộc, hai mặt không thể chia lìa.  Sự hệ lụy của chúng sanh vào nhơn quả cũng vậy, rất bền vững và chắc chắn, nếu còn vọng chấp (trói buộc) vào giá trị của nó, dù là mặt nào, chấp thiện hoặc ác, chấp phải hoặc trái, chấp có hoặc không, chấp thường hoặc đoạn vv…. và vv… Hễ còn có niệm chấp, là còn bị trói buộc trong vọng nghiệp nhơn quả. 

Mà đã làm thân chúng sanh trong cảnh giới nhơn quả, trừ các bậc đến với cõi này vì hạnh nguyện từ bi cứu độ thì không kể, còn lại thì hầu như ai ai cũng ham được mà sợ mất, ham lấy mà sợ cho, ham sướng mà sợ khổ, ham tốt mà sợ xấu, ham vui mà sợ buồn, ham sống mà sợ chết, vv…và vv…nên suốt đời cứ bôn ba kiếm tìm và trốn tránh: tìm cái ưa và trốn cái ghét, tìm cái được và trốn cái mất, tìm cái thiện và trốn cái ác vv….cũng là chấp ngã, nên luôn luôn tự vướng mắc với một trong hai trạng thái tương đối của nhơn quả. Mà dù có rơi vào mặt nào trong hai mặt tương đối này thì cũng đều phải hệ luỵ, trói buộc với nó, không được tự do, tự tại, không tự làm chủ được chính mình. 

Cho nên đức Phật đã dạy, muốn viễn ly sanh tử, muốn giải thoát rốt ráo, muốn tịch tịnh vô sanh, phải nên biết lìa cả hai bên của tương đối, đoạn và thường, hữu và vô, tức hai đầu mối trói buộc với nhơn quả.      

Bằng còn chấp, dù là chấp thiện đi nữa, thì vẫn không thể thoát khỏi sự trói buộc của vọng nghiệp nhơn quả hai bờ. Chúng tôi đưa ra một thí dụ có thật. 

Có một anh Phật tử tại gia giàu lòng nhân ái, phát tâm hành thiện, đi quyên góp tiền bạc, phẩm vật để giúp đỡ nạn nhân bão lụt. Anh ta tới một cảnh chùa lớn để kêu gọi  những Phật tử từ các nơi xa đến đây hành hương và nghe pháp, khá mở lòng từ bi bác ái mà đóng góp vào quĩ tương thân tương trợ cho đồng bào bị nạn tai nước lửa.  Gặp lúc vị Sư già đang giảng về Diệu-hạnh vô trụ của các Đại Bồ-tát, rằng"nên không chỗ trụ mà trụ tâm", rằng nên biết vô tâm  để tự tại giải thoát, rằng nên đối cảnh không tâm, nên không làm thiện cũng chẳng làm ác, rằng nên dùng phép Hành-thí Vô-tướng Giải-thoát rốt-ráo của Đại-thừa giải thoát pháp (Bố-thí Ba-la-mật, buông bỏ cùng tột, nhập Không Tam muội), thì mới có thể vượt thoát trói buộc của nhị nguyên nhơn quả, mới có thể đoạn lìa sanh tử hai bờ. 

Anh Phật tử tu tại gia kia đang phát tâm hành thiện, cổ động mọi người cùng anh ta tạo phước nghiệp cho hiện đời và vị lai, thế mà vị Sư gìa kia lại bảo với những Phật tử đang nghe ông ta giảng pháp, rằng hãy nên biết sống vô tâm, nên không làm thiện cũng không làm ác, nên đối cảnh không tâm, nghĩa là dù thiện hay ác cũng chẳng làm mình động tâm trắc ẩn, rằng tâm mình phải luôn tự như đối với  các pháp, được như vậy thì mới mong giải thoát hai bờ sanh tử, cứu cánh Niết-bàn tịch tịnh. Nghe vị Sư già giảng pháp giải thoát rốt ráo của Phật nhưng anh ta lại không thể hiểu được tí gì, vì căn trí phước duyên không có đủ để kham nổi pháp lớn, nên mới vọng tưởng : "nếu ai ai cũng làm theo vị Sư già kia dạy bảo thì làm sao anh ta có thể quyên góp, làm sao những người đang đói rét kia được no cơm ấm áo, cũng như làm sao chúng sanh có thể gieo trồng được căn lành, vun đắp cội phước vv…và vv… Lại nữa, anh ta nghĩ, Phật thì dạy nên làm thiện, tránh làm ác, bỡi ai vừa mới qui y Tam bảo cũng đều được học như vậy, ấy thế mà vị Sư già đây lại bảo ác không làm đã đành, mà đến việc thiện cũng không làm luôn thì mới có thể thành Phật. Thế là vị Sư già này thuyết bậy, đi ngược lại lời Phật dạy".

Đó là ý nghĩ của anh ta. Do nghĩ như thế mà anh ta đã không tiếc lời nhục mạ vị Sư già kia, rằng tâm của vị Sư già đã trở thành chai đá, không có lòng nhân từ, không biết vị tha trắc ẩn, làm nghịch lại những lời Phật dạy, vv…và vv rồi viết thư gởi khắp nơi để bêu rếu, nói xấu, nói ác vị Sư già không tâm, vô ngã  nọ.    

Việc phát tâm hành thiện của anh Phật tử tại gia kia là rất tốt, rất đáng trân trọng và tán thán, vì đã bỏ công bỏ sức đi từng nơi, gõ cữa từng nhà để quyên góp, làm lợi lạc cho nhiều người, lợi lạc cho cả người bố thí vì được gieo trồng căn lành, cho lẫn người nhận thí vì được cái ấm no, hạnh phúc trong hiện tại. 

Bố thí là Đại-Hạnh đầu tiên trong sáu "Hạnh" lành giải thoát mà người tu Phật phải biết như-pháp phụng-trì. Người tu Phật mà không thật hành hạnh Bố-thí thì làm sao có thể gọi là người Phật tử chơn chánh được. 

Tuy nhiên, dù cùng là Phật pháp cả, nhưng hạnh Bố-thí vẫn có nhiều đường, hiểu theo nhiều nẻo, thực hành bằng nhiều cách khác nhau, tuỳ theo từng căn cơ trí tuệ cao thấp khác nhau, tuỳ nhơn duyên nghiệp ác hạnh lành của từng người đeo mang nặng nhẹ khác nhau mà "Quả" được thành tựu vẫn có sai biệt. Nghĩa là hàng Tiểu thừa có cách hiểu và thật hành hạnh Bố thí khác hẵn so với hàng Đại-thừa, nhưng phải không chướng ngại nhau thì mới được. 

Còn ở đây, do anh Phật tử tại gia kia đã nghe và hiểu pháp Đại-thừa mà vị Sư già đang giảng, bằng cái tâm của hàng Tiểu-thừa, nghĩa là anh ta đã dùng cái tâm quá nhỏ, còn hệ luỵ theo vọng nghiệp vô minh, còn coi tâm, cảnh và tất thảy pháp làm thật có (còn phân biệt thiện ác, tốt xấu, lành dữ trói buộc với nhị nguyên nhơn quả) để đón nhận pháp quá lớn của tánh không vô ngã, vượt thoát mọi khái niệm trói buộc của phàm tình, tức pháp đi thẳng, để diệu nhập vào chơn thể của Phật tâm, nên anh ta liền bị chướng ngại. Cũng có nghĩa là anh ta đã đem cái tâm còn vướng mắc với các pháp tướng sanh diệt hữu vô, thường đoạn, thánh phàm trong giòng sanh tử mà luận bàn pháp chơn như không tướng; tức dùng cái tâm "có, không" hệ lụy với nhơn quả mà xét cái tâm "như", cái tâm "Biết-Giác" không lầm "vạn pháp như hoa đốm trong không" của người đang lội nghịch giòng nhơn quả, đang dự nhập vào giòng thánh, nên chẳng những anh ta không thể hiểu, không thể thâm nhập được pháp chơn không giải thoát kia đã đành, mà lại còn bị điên đảo, bất tín, rồi sanh tâm sân giận vì chấp thiện, cũng là trói buộc vào một trong hai bờ nhơn quả,  nên mới chửi bới vị Sư già không tâm nọ không tiếc lời. 

Chẳng phải chỉ ở đời mạt pháp mới có những người như anh Phật tử tu tại gia kia, mà  trong thời Chánh pháp, lúc Phật còn tại thế vẫn có xảy ra như thường. Không cần đề cập tới ngoại đạo hay những Phật tử tại gia hồi ấy đã khước từ những lời dạy chân thật của đức Phật, mà ngay trong hội Pháp-Hoa, nhiều vị Tỳ-kheo đã bỏ chỗ ngồi đứng dậy không nghe Phật thuyết pháp nữa, cũng vì những người ấy có cái tâm quá nhỏ, ít phước duyên, nhiều nghiệp chướng, nên mới không thể đón nhận đại pháp giải thoát rốt ráo của Như-lai được.

Tại sao như vậy? Vì người trí tuệ có giới hạn, lại ít phước đức, không thuộc vào hàng căn cơ Trung-thượng mà dự nghe pháp lớn của hàng Đại-thừa giải thoát môn  thì tâm ắc điên đảo, cuồng loạn, hồ nghi, bất tín, rồi sanh khởi sân giận mà tự chuốc lấy nghiệp chướng.  

Pháp lớn ví như mưa to, như nước nguồn, dễ làm thấm nhuần, tươi mát, tăng trưởng, lợi ích lâu dài cho những cây đại thọ, nhưng đối với những cây lau sậy hay cỏ hoa yếu đuối thì ắc dễ bị trốc gốc, cuốn trôi, ngã nhào, hay ít ra cũng bị bầm dập, nhừ  nát.  

Người thiểu trí, ít phước, nghiệp chướng nặng nề mà nghe pháp lớn dành cho hàng Đại Bồ-tát cũng thường bị như vậy, rất khó tránh khỏi. 

Bỡi thế, phải mất trên hai mươi năm sau khi khởi chuyển pháp luân, một quảng thời gian vừa đủ để những đệ tử đang theo Phật tu học tích góp duyên lành, phước thiện, trí tuệ và một đức tin không gì lay chuyển nổi, khiến có thể  tiếp thu nổi pháp lớn của đức Phật, mà nhiên hậu Ngài mới thuyết những bổn kinh Đại thừa Giải thoát rốt ráo như Kim-Cang Bát-nhã Ba-la mật chẳng hạn. 

Muốn hiểu Phật tâm thì phải dùng chính cái tâm Phật rổng rang, thanh tịnh tự sẵn có của mình để hiểu, cũng là tự "một" với Phật tâm, chứ chẳng phải dùng quan năng tri thức, cũng là vọng thức để hiểu. Phải biết dùng cái tâm bất động, như như để thấy, nghe, hay, biết, tức dùng cái bất biến tuyệt đối mà ứng cùng vạn biến, mới là cái thấy biết chơn thật, bình đẳng, tự tại. Bằng nếu dùng cái tâm biết của kiến văn sanh diệt để hay biết, tức  là chỗ biết lầm, cũng là vọng biết, thì không thể vượt thoát sự trói buộc của hai bờ vọng nghiệp nhơn quả.

Thời này người ta thường dùng cái tri thức bác học của cơ tâm để biện Phật, luận Pháp hơn là dùng cái tâm bất động vốn tự sẵn có để thâm nhập Phật đạo. Người ta đâu biết rằng, càng biện Phật là càng xa Phật, càng luận đạo là càng sái với đạo thường. 

Cho nên, cũng là tình thương yêu chúng sanh, nhưng tình thương của một con người còn bị biết lầm, còn trói buộc trong vọng nghiệp nhơn quả, còn thích thiện ghét ác, hoàn toàn khác với tình thương của một người đã "hết" lầm nhơn quả, đã sáng suốt, tự tại với cái tâm "Như", không một pháp có thể được, cái tâm không, vô tướng, vô tác, vượt lìa trói buộc, vướng mắc của nhị nguyên nhơn quả.    

Vị Sư già giảng Đại-thừa giải thoát pháp, không đi lệch ra ngoài giòng pháp của Thế-tôn, tức không vướng mắc vào hữu vô, thường đoạn, tức giảng pháp Trung-Đạo giải thoát; chỉ có anh Phật tử tu tại gia còn nặng tâm chấp, dù là chấp thiện, đã phải tự chuốc lấy mọi tội lỗi vì sự thiểu trí của mình khi nặng lời với vị Sư già. Hóa ra, đó chẳng phải là vì ham  làm thiện mà phải tự rước lấy nghiệp dữ đó ư ? 

Cho nên, hễ làm bất cứ việc gì mà xa rời Trung-Đạo đều là trói buộc cả.  

Nếu lúc nghe vị Sư già kia thuyết pháp, mà anh Phật tử tại gia biết dùng cái tâm bình thường của Đạo để nghe thì hay biết mấy.    

Thế mới biết, chỉ từ trong một pháp vô vi của đức Phật mà tu học và thật hành, nhưng vẫn có từng "Quả" sai biệt, đó là do căn cơ, trí tuệ, phước đức, nghiệp dữ, hạnh lành của từng mỗi người tiếp thu pháp ấy một cách không giống nhau vậy. 

Cho nên, khi thuyết Đại-thừa Chánh pháp cũng như khi thính pháp Đại-thừa, cả hai người thuyết và thính đều phải rất nên cẩn thận, chớ đụng đâu thuyết đó, gặp ai cũng thuyết. Người thuyết phải nên biết quán tâm những người đối diện để việc thuyết pháp của mình trôi chảy, đồng thời khiến người nghe được lợi lạc, không bị chướng ngại hay mang tội huỷ báng chánh pháp, đánh mất đi một hạt giống của Như-lai. Người nghe cũng vậy, hiểu được thì tiếp tục nghe, không hiểu thì thôi đứng dậy bỏ đi, biết rằng mình chẳng có duyên với pháp này, mà chớ nên để tâm sân giận hay phỉ báng, tự tạo nghiệp chướng vì chuyện chẳng can hệ. 

Bằng một khi tự "biết như thật" rằng người ta đã thuyết pháp trói buộc với vọng nghiệp nhơn quả, chứ chẳng phải thuyết pháp chơn không giải thoát như Phật, thì hẵn nói. Nhưng đã nói ra để sửa chữa chỗ lầm biết, lầm thấy của người thì phải dùng cái tâm không tâm, sáng trong, vô ngã mà nói, nghĩa là chỗ nói đó không ra ngoài pháp Trung-Đạo, không vướng mắc, trói buộc với nhị nguyên nhơn quả, với lợi danh, tài sắc.  Bằng tự tâm chưa bừng sáng, cũng như đạo học chưa đủ để có thể làm được như thế thì chớ nên nói, cứ để tuỳ duyên, tự có lúc sẽ có người trí tháo gỡ giùm. Bằng đi mở trói giùm cho người mà lại dùng cái tâm vẫn còn trói buộc vào có không, thường đoạn của hai bờ vọng nghiệp mà mở, thì chỗ sửa sai đó cũng tức đồng ma thuyết. 

Chính vì thế mà một vị Tổ của Tông Thiền, ngài Nam-Nhạc Hoài-Nhượng, một trong những đệ tử lớn của Lục-Tổ Huệ-Năng, đã nhắc chừng những người đang truyền bá pháp Đốn giáo: 

Nhứt thiết chư pháp giai tùng tâm sanh.
Tâm vô sở sanh pháp vô sở trụ.
Nhược đạt tâm địa sở tác vô ngại.
Phi ngộ thượng căn, nghi thận từ tai"

Tất thảy các pháp đều do tâm sanh.
Tâm không chốn sanh pháp không chỗ trụ.
Thông đạt tâm này, việc làm không ngại
Không phải thượng căn, cẩn thận chớ nói.

Cho nên, khi thuyết Đại-thừa giải thoát pháp, hãy rất nên cẩn thận, phải khéo biết tuỳ duyên, tuỳ người mà thuyết, nếu không ắc dễ bị tác dụng ngược, khiến người nghe chẳng những không thể tiếp tu đã đành, mà còn sanh tâm hủy báng. Người thuyết phải không rời lìa tự tánh mà thuyết, phải bằng một pháp duy nhứt tức lý duyên khởi tự trong chơn như mà tuông trào bất tận, cũng là thuyết bằng cái tâm rổng rang không một pháp trói buộc, đó mới gọi là diệu thuyết pháp vậy. 

Người thính pháp cũng phải nên biết dùng cái tâm bình thường, không động niệm trói buộc với nghiệp thức nhơn quả để nghe pháp Đại thừa, thì ắc dễ có đường diệu nhập Phật tâm.  

Cho nên, để tự thân được bình ổn, an lạc, tự tại, tự chủ, hai đầu mối của nhơn quả không thể trói buộc, nghĩa là không vui cũng chẳng buồn, không mất cũng chẳng được, không hơn cũng chẳng thua …. tức không bị hệ luỵ vào giá trị tương đối của hai mặt trắng đen, sấp ngửa của đồng tiền an bài số mệnh cho mình, thì hãy biết thức tỉnh cuộc chơi, thản nhiên đứng dậy và bước ra ngoài mà nhìn lại. 

Biết tự ra ngoài cuộc chơi, đứng nhìn đồng xu sấp ngửa, đen trắng, ăn thua mà không chỗ can hệ, dính dấp thì liền biết rằng từ lâu ta đã mê muội lăn xả vào chỗ trói buộc của cái giá trị tương đối, tức đi tìm cái được luôn sẵn ẩn chứa cái mất, tìm cái hơn luôn sẵn hàm tàng cái thua, tìm cái may luôn sẵn chực chờ cái rủi vv… và vv… Nay tỉnh ngộ, ra khỏi chiếu bạc thì an ổn, tự tại, không thua cũng không được, không vui cũng không buồn, hai mặt của đồng tiền kia chẳng thể trói buộc được ta, nó tự như như trước mắt, ta thiệt đang sống với chính cái vốn sở hữu tự sẵn có của mình chưa từng thua được, mất còn, tự tại an nhiên, nhàn cư, vô sự.

Để khiến chúng sanh đang từ chỗ mê mẩn vì bị vọng nghiệp dẫn dắt, trói buộc vào hai bờ tương đối, tức mê lầm tìm cái được trốn cái mất, ưa cái vui ghét cái buồn, ham cái sống sợ cái chết, đến chỗ biết tỉnh ngộ bước ra khỏi hấp lực trói buộc của nhơn quả, hầu được an ổn tự tại, thì phải tuỳ phước đức của mỗi người mà có từng pháp dạy bảo, khuyên nhủ, chỉ vẽ khác nhau. 

Tuỳ căn cơ, duyên phước, nghiệp ác hạnh lành của từng chúng sanh gắn bó ít nhiều, sâu cạn với nghiệp chướng nhơn quả mà đức Phật có hằng nhiều vạn pháp môn để đối trị, phân làm ba thừa giáo, lại có thêm Chánh-pháp Nhãn-tạng dành cho người thượng căn thượng trí tu học. 

Tuy nhiên dẫu có pháp môn nào, thừa nào cũng đều là phương tiện tạm mượn để đạt tới cứu cánh là sáng tỏ tánh thấy biết không lầm, tánh thấy biết tuyệt đối, bất động, không đổi, cũng là tánh Phật chúng sanh để ngay trong cảnh giới nhơn quả mà không lầm nhơn quả. 

Hễ chợt không lầm nhơn quả, thì ngay đó tự biết việc phải làm, là làm người vô sự, tự chủ tự tại, sống "một" không rời lìa bổn lai tự tánh mà tu hành.   Đã sáng suốt không lầm nhơn quả thì dẫu có ra vào trong nhơn quả cũng là tuỳ thuận nhơn duyên thật hành hạnh nguyện cứu độ chúng sanh, mà đền ơn chư Phật, nên đến đi vô ngại. 

Tóm lại, để sống được với cái tâm bình thường, cũng tức là sống Đạo, chúng ta nên y cứ theo lời Phật dạy mà đưa hết trần lao phiền não vào Vô dư Niết bàn tức  tự tâm chơn như thanh tịnh mà diệt độ. Cũng có nghĩa là phải biết dẹp bỏ cái tâm lăng xăng, vọng động để được an trú trong nhứt niệm "đương niệm", “đang là” của bổn thể chơn thường, tự tại, vô ngã. 

Trong Pháp-Bảo-đàn kinh, Lục-Tổ Huệ-Năng đã dạy: 

Pháp môn của ta, chủ yếu:

 - Lấy vô niệm làm Tông
 - Lấy vô tướng làm Thể
- Lấy vô trụ làm Bổn.

Hiện đời có Sư Đức-Thắng, mà trong Ngữ-lục của Thầy, cũng nói : 

  - Cứu-cánh lấy Không-tịch làm Thể
  - Tu lấy Đương niệm làm Tông 
  - Hành lấy Vô-phân-biệt làm Bổn

Chữ nghĩa, danh tự, sắp đặt trên dưới tuy khác, nhưng ý chỉ một.

Thế nào là ý chỉ một? 

a). - Bổn-thể tuyệt đối, cũng là Chơn tâm, Phật tánh, Thể-tánh của Đạo-thường (Gọi sao cũng được, vẫn chỉ một nó, đều là chỗ mượn tên tạm đặt), vốn dĩ chơn như, không tướng, thường hằng, tịch lặng, vô ngã, tánh không tự tánh, nhưng lại diệu dụng (diệu hữu tự chơn không, chơn không diệu hữu), khéo sanh muôn pháp. Một niệm khởi (Gọi Bổn thể cũng tức là đề cập tới thật tướng không tướng của chơn tâm, là Phật tâm, là chơn như. Niệm là tánh linh của bổn thể, là diệu tánh, diệu dụng của Phật tâm, cũng là Phật tánh. Không có tánh này, thì chúng sanh đồng như cỏ cây, đất đá) thì pháp pháp trùng trùng sanh khởi, vọng sanh vọng diệt sai biệt trăm đường, dẫn đi ngàn lối, kết buộc vào vọng nghiệp vô minh nhơn quả. Dẫu thế, từng mỗi mỗi pháp tuỳ duyên sanh khởi vẫn không hề mất bổn tánh uyên nguyên, chơn thường, vô ngã, tịch lặng, linh diệu, sâu mầu. Thế nên, không một hữu tình nào, dù to như voi hay nhỏ như kiến mà không tự hàm tàng tánh Phật chúng sanh. Hạt cải mà dung chứa Đại-Tu-di vẫn vô ngại, là ở chỗ này.    

Một niệm khởi sanh là nhờ tánh linh diệu, huyền mầu, bí áo của bổn thể tuyệt đối, cũng là của bổn tâm, chơn tâm. Chúng sanh tu hành sáng tỏ được bổn thể chơn như, thường hằng, tịch lặng, vô ngã, cũng là khám phá ra được mặt mũi chơn thật vốn tự sẵn có xưa nay, thì ngay đó trước mắt tự như, tự tâm như hư không, các tướng tự lìa không chỗ dính dấp, vạn pháp chẳng thể trói buộc, cũng là ngay đó pháp thể tự tại, thanh tịnh. 

Bỡi thế, Lục-Tổ Huệ-Năng mới chủ trương lấy tướng thật không tướng  của các pháp, cũng thiệt là chơn tâm (Vô-tướng)  làm Pháp-Thể, Sư Đức-Thắng thì lấy pháp tánh chơn không tịch lặng (Không-tịch) làm Thể , nên nói chữ nghĩa có khác mà ý thì  chỉ một chỗ mà thôi.  

b) Pháp-tánh như-thị, vốn tự bình đẳng, không thỉ không chung, không tăng không giảm, không có quá, hiện, vị lai, cũng một tâm này không hai, không khác. Chỉ vì động niệm mà thành sai khác, từng chuỗi pháp pháp nối tiếp sanh khởi vô biên. Khi mê, thì thấy vạn pháp, vạn cảnh, sự sự, vật vật biến hiện sai biệt trong ba thời. Chợt tỉnh, liền sáng tỏ như thật quá, hiện, vị lai, cho tới vô thỉ vô chung, vô cùng vô tận đều gồm thâu trọn trong nhứt niệm "đương-niệm", cũng là trong khoảng giữa của "không một niệm nào khởi sanh và khởi diệt" tức  Vô niệm, tức Đang-là, Pháp giới đồng nhứt thể. 

Chợt "Vô niệm", tức đối cảnh chẳng sanh một niệm nào trói buộc, cũng là nhứt niệm "Đương niệm" phô bày tự tánh bổn lai, cũng là nhứt niệm - vô niệm đồng "một" bổn thể tuyệt đối, cũng là tự trở về bổn thể uyên nguyên, tịch lặng, chơn thường, vô ngã, phi sanh diệt.     

Lục-Tổ Huệ-Năng dùng từ Vô-niệm, lấy Vô niệm làm Tông-pháp, Sư Đức-Thắng dùng từ Đương-niệm, lấy Đương niệm làm Tông-pháp, mà vô niệm hay đương niệm đều chỉ một chỗ "ba thời trong một niệm", trong sáng tròn đầy, "Đang-là" pháp tánh như thị, chỉ khác có tên gọi mà thôi. 

c). Từng mỗi chúng sanh, ai ai cũng tự hàm tàng bổn tánh chơn như thường hằng, tự tại vô ngã, là mặt mũi chơn thật xưa nay, cũng là pháp tánh như-thị. Pháp tánh như-thị, cũng là một pháp duy nhất, là chơn tâm, là Phật tâm, vốn tự bình đẳng, chưa từng phân biệt. Chợt động niệm phân biệt, trụ chấp vào các pháp tướng sanh diệt thì pháp tự có hai, có khác, có trùng trùng sai biệt, cũng là tự xa lìa chơn pháp uyên nguyên, tự rời lìa chơn tánh thường hằng, như như, tự tại, phi sanh diệt mà đi vào trăm đường vạn nẻo theo vọng nghiệp tử sanh, vô minh nhơn quả.      

Lục-Tổ Huệ-Năng lấy vô trụ, nghĩa là lấy cái gốc pháp duy nhất, tức thể tánh uyên nguyên, thanh tịnh, viên mãn, tự tại, bất biến, không từng có chỗ trụ,  cũng là thường trụ pháp giới, là pháp tánh như-thị, như thị pháp tánh làm pháp bổn. Sư Đức-Thắng lấy vô phân biệt làm gốc, bỡi gốc pháp vốn tự nhứt như bình đẳng, tuyệt vô đối đãi, thanh tịnh, viên mãn, chưa từng chia lìa phân biệt, mà chúng sanh luôn tự hàm tàng, chưa từng mất đi gốc pháp. Không phân biệt thì luôn tự "một" trong một pháp nhất như, cũng là pháp tánh như thị.  Hai cách dùng từ có khác, nhưng chỗ dụng chỉ một, vì pháp-tánh như-thị, như-thị pháp-tánh. 

Trọn hiểu và tự thể hiện được một cách chân-thật những lời dạy trên, thì cũng có lúc tự tâm hốt nhiên "Đang-là" Pháp tánh như thị, cũng là chơn tâm, Phật tánh hiển-hiện, cũng là tánh tướng dung thông, để liền ngay đó tự có chỗ hay biết như thật thế nào là tâm bình thường, thế nào là tự sống "một" với Đạo, thế nào là cái tâm bình thường cùng đạo tương ưng, không đến, không đi, viên mãn thanh tịnh, hiện tiền tự tại giải thoát. 

Đó chính là cái tâm bình-thường của cô Bàng-Linh-Chiếu, bất biến mà vẫn cứ tuỳ duyên, tuỳ duyên mà vẫn chơn thường tự tại : “Đói ăn, khát uống, buồn đi ngủ”. 

Đó chính là cái tâm bình-thường của Mãn-giác Thiền sư, vượt thoát trói buộc của không gian và thời gian, thường, lạc, ngã, tịnh ngay trong hiện thực tuyệt đối :    

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
“ Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai”.

Tâm bình-thường đó tức là cái tâm tròn đầy, trong sáng, thanh-tịnh, như như,? làm tất thảy việc mà muôn sự chẳng dính dấp, trói buộc,tức cái tâm buông xả cùng tột, không tình tưởng vọng niệm, không phân biệt ngã nhơn, bỉ thử.

Lại cũng phải nói cho hết ý. Người trí nên biết biện biệt cho thật rõ ràng thế nào là sống bình thường hợp với Đạo-thường, và thế nào là lối sống "bình thường" của những kẻ "bất bình thường" trong cộng đồng xã hội. Những kẻ làm biếng, ăn bám, ỷ lại vào người khác, không chịu làm việc, lêu lổng chơi bời, lợi dụng vào câu nói hãy biết sống với cái tâm bình thường là Đạo, rồi bẻ vặn câu nói theo ý mình, cho là sống thì phải nên biết đói ăn, khát  uống, mệt thì đi ngủ, ngủ chán rồi thức dậy đòi ăn, đòi uống, bắt người khác phải phục vụ cho cái thây lười nhác trong một tâm hồn bệnh hoạn. Hiểu "sống bình thường" mà lệch lạc như thế thì  thật là tai hại, hư thân bỏ đời, là gánh nặng cho gia đình, xã hội vậy.  

Phải nên hiểu một cách sáng suốt, rằng, sống tự một với Đạo là làm tất thảy việc mà không rời lìa tự tánh, là luôn trong mọi thời cùng Đạo tương ưng, chính là hoạt dụng linh diệu, huyền mầu của cái tâm bình thường là Đạo. 

Xin được kết thúc bài viết "Tâm bình thường là Đạo" bằng hai câu thơ bình thường với những việc làm bình thuờng của người đang trên đường cầu Phật:  

Nấu cơm, rửa bát, quét nhà
Xem kinh, lễ Phật đều là Thiền tu.
 
 

Trở Về Trang Trước
 
 


c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap