Sau
hai năm từng là bạn học thân thiết, chung lớp chung trường
ở bậc Trung học, tôi và Thầy chia tay nhau, mỗi người mỗi
ngả. Rồi đằng đẵng hơn ba mươi năm sau mới một lần
gặp lại. Lần gặp lại đầu tiên ấy, cả hai đều đã
cận kề ở tuổi tri thiên mệnh.
Trong
cốc lá đơn sơ của Thầy, chỉ có mấy giờ hàn huyên ngắn
ngủi, mà chứa chan ấm lạnh không biết bao nhiêu là chuyện
xưa chuyện nay, việc đời việc đạo. Một thoáng chợt tái
ngộ rồi lại đến lúc cũng phải chia tay nhau. Cái tình bạn
bè sáng trong, thơ ngây, nồng ấm của thuở thiếu thời như
còn phưởng phất quanh tôi, làm cho lòng tôi luyến lưu bịn
rịn, chưa muốn rời nhau vì chuyện trò chưa thõa, nhưng biết
ai cũng đều có riêng bổn phận, nên tôi cáo từ ra về. Trước
khi tôi từ biệt, Thầy đã tặng cho tôi một tờ giấy trên
đó có in bài Tâm-kinh "Ma-ha Bát-nhã Ba-la mật đa",
kèm theo những giòng chú giải của Thầy.
Bài
Tâm-kinh ấy tôi đã thuộc nằm lòng từ nhiều năm trước.
Cho nên, đối với tôi lúc đó, nó thực sự cũng không quan
trọng lắm, vì đọc hoài xem ra cũng chỉ có bấy nhiêu, khoảng
hai trăm sáu mươi từ mà thôi. Thế nhưng tôi vẫn giữ nó
cẩn thận, về nhà xếp làm tư, kẹp vào trong cuốn tự điển
thường dùng. Sự kỹ lưỡng ấy, có lẽ là vì tôi trân trọng
một tình bạn hiếm có, sáng trong, không vụ lợi, mà cũng
có thể là trực giác mách bảo tôi rằng, Thầy muốn dùng
nó thay lời mà gởi gắm cho tôi một điều bí ẩn gì đó
mà hiện tại ngôn ngữ của loài người không thể truyền
đạt nổi, nhưng rồi nó sẽ thành hiện thực trong tương
lai.
Không
lâu sau lần gặp lại đầu tiên ấy, vào một ngày Đãn
sanh của đức Phật Thích-ca Mâu-ni, ngày tôi vừa tròn năm
mươi tuổi, tôi xuống cốc tìm Thầy. Trước Bảo-toạ của
đấng Vô-thượng-tôn, tôi phát tâm Qui-y Tam-bảo, làm
cư sĩ tu Phật tại gia, nhận Thầy làm Bổn sư cõi thế, dìu
dắt tôi trên con đường cầu đạo.
Trong
suốt nhiều năm sau đó, khi nào dùng từ điển, tôi lại bắt
gặp mảnh giấy có bài Tâm kinh. Mỗi lần như thế, tuy tôi
vẫn biết rằng trong đó cũng chỉ có bấy nhiêu chữ ấy
thôi, nhưng tôi vẫn mở tờ giấy ra xem lại, lẩm nhẩm vài
ba câu "sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc
tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức
diệc phục như thị", rồi xếp lại để cẩn thận
vào chỗ cũ, bâng quơ mỉm cười một mình.
Mỗi
lần như thế, tôi đọc theo quán tính, chẳng cần nhìn vào
mặt chữ mà cứ lướt qua, lướt qua, như cái đọc từ trong
vô thức, không nghĩ suy, không động niệm, lại cũng không
thắc mắc gì về cái thói quen có vẻ ngộ nghĩnh ấy của
chính mình. Cứ bắt gặp là đọc nhẩm vài ba câu, mà lần
nào cũng vậy, đọc hết câu đầu tiên rồi thôi, xếp cất.
"Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị
không, không tức thị sắc".
Đến
sau này, khi có chút ít tri thức về Phật đạo, tôi mới
vỡ lẽ. Thì ra tất thảy đều là nhơn duyên cả. Thầy Bổn
sư và vị Pháp-sư kính mến cùng một lúc hội ngộ với tôi
trong cuộc trần này là một nhơn duyên lớn đối với tôi.
Tôi
đã may mắn gặp hai Thầy trong cùng một thời điểm, một
hữu hạn nhỏ nhoi của không gian và thời gian, mà so với
cái bao la, vô cùng, vô tận, không ngừng biến dịch, đổi
thay của vũ trụ, trong từng mỗi sát na, thì cuộc hội ngộ
đó, nếu chẳng phải là cái nhơn duyên lớn đầy tốt lành
cho tôi, thì nên gọi là gì?
Duyên
gặp gỡ hai Thầy đúng thời điểm đã làm thay đổi hoàn
toàn sự hiểu biết của tôi về cuộc đời, về nhân sinh
quan, về sự đến đi, sống chết. Cả hai Thầy đã cùng lúc
chuyển tải một nhân lành đến với tôi, chỉ cho tôi đóm
lửa nhỏ cũng là cái nhân sáng luôn tự sẵn có trong tôi,
khuyến khích tôi tự nhen nhúm, tự thổi bùng lên nguồn sáng
bất tận của tự tâm.
Cốt
tuỷ của bài Tâm-kinh chính thiệt là ngọn Phật đăng sáng
suốt vô biên, vô hạn lượng, có công năng xoá tan sự mê
mờ, tăm tối, lầm thấy, lầm biết của chúng sanh tâm, khiến
chúng sanh nương tánh sáng ấy trực ngộ bổn thể chơn thật,
cũng là cái tánh "Biết" tuyệt đối, tự tại, cũng
là chơn tâm, Phật tâm hiển lộ, để ngay đó tự sáng suốt
không lầm nhơn quả.
Bài
Tâm-kinh chính thiệt là chiếc cầu vồng "sắc sắc, không
không, như hư như thật", chính thiệt là con thuyền pháp vạn
năng chuyên chở chúng sanh vượt qua biển mê tử sanh phiền
não, chính thiệt là cái thang có nhiều tầng nấc để tuỳ
duyên giúp chúng sanh theo từng mỗi căn cơ trí tuệ, tự mày
mò, tự xoay xở, dùng nó làm phương tiện để chính mình
tự thực hiện hành trình ra vào không-tánh, cũng là thấu
suốt lẽ vô ngã duyên sanh, tuỳ duyên bất biến.
Yết
đế, yết đế ! Ba la yết đế ! Ba la tăng yết đế ! Bồ
đề tát bà ha.
Nhờ
Tâm-kinh chiếu soi thấu suốt tận cội nguồn bổn thể, khiến
chúng sanh đang từ một cái biết lầm trong một cá thể hữu
hạn của cảnh giới tương quan tương tác sanh diệt, chỉ
một thoắt, không quá sát-na, cái biết lầm lẫn, hữu hạn
sanh diệt kia liền chuyển sang cái biết sáng suốt, chơn thường
vô ngã, bất biến tuỳ duyên hồi nào không hay. Nói chơn thường
vô ngã, bất biến mà vẫn tuỳ duyên, nghĩa là trong nhứt
niệm sáng trong, bổn thể"Đang-là" hốt nhiên khai mở, cũng
là chơn tánh, Phật tánh hiển hiện, tánh biết "Biết"
như thật từng pháp pháp duyên sanh mà mỗi mỗi pháp chưa
hề mất tự tánh chơn như, thường hằng, tự tại. Trong từng
mỗi pháp đó, vẫn hiện hữu cái "sắc" mà trước một sát-na,
ta lầm nhận là thật ngã, thật pháp, tự trói buộc với
nó trong tử sanh phiền não, giờ rõ lại sắc kia chính thiệt
là diệu dụng của tánh Phật chúng sanh, tuỳ duyên sanh diệt,
mà chơn thể thì vẫn thường hằng, tự tại, bất biến,
như như. Ngay đó tánh biết thường hằng, tự tại "biết"
như thật, sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc
chẳng khác không, không chẳng khác sắc, tức thể với dụng
tự đồng, tánh với tướng dung thông, tuỳ duyên đến đi,
thần thông du hí, tự tại vô ngại, mà tất thảy pháp đó
đều không ngoài lẽ vô ngã, duyên sanh, tuỳ duyên bất biến.
Cuộc hành trình tới chỗ này, ít ai không được nhàn cư,
vô sự vậy.
Những
lời này của người viết thay cho ngàn lời tri ân đối với
Bổn-sư và Pháp-sư kính mến, thay cho vạn lần chấp tay, quì
gối, lạy đối mười phương hư không, mà trước mắt không
đâu chẳng phải là Niết-bàn thanh tịnh của đức Phật Thích-ca
Mâu-ni, mà với ánh sáng vô biên của Trí-huệ Giải thoát,
sắc không, không sắc chỉ là những bóng lung linh của
hoa đóm, khi mất khi còn, khi biến khi hiện trong tánh "không"
tuyệt đối, chơn thường, tịch lặng, vô ngã, vô sanh.
Yết
đế, yết đế ! Ba la yết đế ! Ba la tăng yết đế ! Bồ-đề
tát bà-ha.
***
Hằng
ngày, mỗi người trong chúng ta, là tăng hay là tục, là người
bình thường không theo một tôn-giáo nào hay là Cận-sự nam,
Cận sự nữ của nhà Phật, có lẽ không dưới một vài lần,
trong chỗ có ý thức hay vô tình đã nhắc tới một chữ "TÂM"
hay chí ít là trong lúc trò chuyện với nhau, hoặc nghĩ suy,
tính toán có liên quan đến "cái" được gọi là "tâm" hay
có những mắc mứu, giây mơ rễ má với chữ tâm này.
Chẳng
hạn, đứa con đi xem yết bảng, chạy về báo tin thi đậu.
Lòng người cha rộn rã hân hoan, không nén nổi sự vui mừng,
hớn hở nói với cả nhà: "Thôi, yên tâm rồi. Từ ngày
nó đi thi tới nay, lúc nào tôi cũng lo lắng, bồn chồn không
biết đậu rớt thế nào. Nay thì tôi đã có thể ăn no, ngủ
ngon, thật sự yên tâm rồi".
Cũng
một tâm này mà, khi tiễn con gái về nhà chồng, thì ưu tư,
lo lắng không biết nó có thích nghi được với môi trường
mới hay không, nó sẽ phải sống làm sao, khổ sướng thế
nào khi xa cha mẹ; hoặc khi con dâu sinh được đứa cháu nội
trai thì cũng một tâm này nhưng lại hồ hởi sướng vui, ngập
tràn hạnh phúc; hoặc có khi giốc cả gia tài ra để kinh doanh,
hòng xây dựng một sự nghiệp lớn, hoặc trong một lúc cao
hứng lỡ lời, vô tình xúc phạm tới một ông, bà tai to nào
đó đang ở trước mặt, thì tâm lòng cứ thắc thỏm âu lo,
tơ tưởng vẽ vời ra đủ mọi tình huống tốt, xấu, hay,
dở có thể xảy ra, rồi thở than, phiền muộn, tự mình chuốc
lấy khổ não vào mình.
Có
thể nói, không ai là không thường nhắc tới một chữ "tâm"
hay những gì có liên quan, mắc mứu tới "nó", nhưng chẳng
có mấy ai thật biết, tự tâm của mỗi người nó ở chỗ
nào, hình hài mặt mũi nó ra làm sao, vì đâu mà nó có năng
lực làm cho một người lúc thì vui mừng, hớn hở, hạnh
phúc chứa chan, lúc lại làm cho chính con người ấy ủ ê,
phiền não, khổ đau đến có thể chết đi được?
***
Phật
tức thị tâm, tức tâm là Phật. Tâm vốn sẵn Phật, Phật
trọn trong Tâm. Ngoài một tâm này chẳng có Phật khác.
Tức
Tâm tức Phật, Tâm Phật không hai. Phật Tâm, Tâm Phật như
sóng với nước, bất khả chia lìa, chẳng phải một, chẳng
phải hai cũng chẳng phải khác.
Sẽ
không có tên gọi là sóng, hay sóng cũng chưa từng hiện hữu
khi mà biển nước chẳng bị dấy động, phẳng lặng như
mặt gương. Nước yên tịnh, bình lặng thì không
có sóng. Do nước bị tác động mà sóng mới sanh. Nên nói,
sóng sẵn tự đồng trong nước, nước đã sẵn chứa ngàn
sóng. Khi bị tác động, từ chỗ mặt nước đang trong trạng
thái "không", duyên động thành muôn sóng. Từng mỗi mỗi con
sóng xô đuổi nhau hàng hàng lớp lớp, lên xuống, mất còn
trên biển nước, cùng với biển nước yên bình, phẳng lặng
thiệt chẳng phải một, chẳng phải hai cũng không phải khác.
Như
thế có nghĩa là sóng chẳng phải là một thật thể tự tại.
Bổn thể chơn thật của sóng chính thiệt là biển nước.
Thực danh thực tướng sóng vốn thiệt tự "không", gốc vốn
vô ngã, chỉ vì do duyên động mà nước thành có sóng,
cao thấp, to nhỏ, lên xuống, mất còn. Nên nói, thật tướng
của sóng vốn thiệt không tướng, bổn thể của sóng cùng
biển nước mênh mông phẳng lặng vốn thiệt chẳng phải
hai cũng chẳng phải khác, bổn tánh chơn thật, tự tại của
sóng chính thiệt là tánh ướt của nước vậy.
Nếu
tự mỗi con sóng ngộ ra lẽ duyên sanh, rằng chỉ vì nước
bị tác động mà duyên thành có sóng, chứ thật tướng của
sóng vốn thiệt không một tướng nào, bổn thể chơn
thật của muôn sóng vốn thiệt là cái mênh mông, bình lặng,
vô hạn lượng của biển nước, đồng "một" cùng tánh nước,
thì ngay đó nó tự biết như thật rằng tự chính nó là một
vô hạn lượng như biển nước, là "một" đồng biển nước,
chính thiệt là biển nước, cùng biển nước bất khả phân
ly, chẳng phải hai cũng chẳng phải khác. Biết như thật nó
đồng một, tự một, là một cùng thể tánh của biển nước,
chẳng từng thấp cao, chẳng từng to nhỏ, chẳng từng mạnh
yếu, chẳng từng sanh chẳng từng mất, mà chơn thường tự
tại, bất động, như như, viên dung, bình đẳng, vô thỉ vô
chung. Chỉ vì duyên động mà tự chỗ chơn không duyên thành
có sóng, cũng là lẽ vô ngã duyên sanh vậy.
Bằng
ngược lại, nếu từng mỗi con sóng không tự sáng tỏ thể
tánh chơn thật của mình, lầm biết (chấp) vào các pháp tướng
sanh diệt do nước duyên sanh mà tự cho là thiệt có thật
ngã; lầm chấp vào các pháp tướng tương quan, tương tác
với sóng theo không gian và thời gian mà cho là có thật pháp
trong biển sóng không ngừng nhấp nhô lay động, lầm tưởng
rằng mình là một cá thể hữu hạn trong biển sóng, có các
tương tác hữu hạn như mình, thì liền ngay đó nó tự
chia lìa, xa cách với bản thể chơn thật tuyệt đối, tự
tại, để tự trói buộc vào thế giới của các pháp tướng
huyễn sanh, huyễn diệt, lên xuống, mất còn.
Cho
nên, giá mà từng mỗi con sóng khám phá bản thể chơn thật
của mình là biển nước, thì liền tự thấy từng mỗi mỗi
con sóng trong chỗ tương quan, tương tác với mình đều là
vô hạn lượng như biển nước, đồng một với biển nước,
chính thiệt là biển nước, cũng tạm gọi là một pháp duy
nhất, bất động, như như, tự tại, bình đẳng, thì ngay
đó nó an ổn, tự tại, vô ngại đến đi. Nghĩa là biết
như thật, sóng chẳng phải là một thật thể tự tại mà
chỉ là các huyễn tướng do nước duyên sanh, hết duyên thì
diệt, còn bản thể chơn thật của sóng thì chơn thường,
tự tại, bất biến mà vẫn tuỳ duyên.
***
Từng
mỗi mỗi tâm của hữu tình đối với tánh Phật chúng sanh
chơn như, tự tại, bình đẳng, dung thông, tuỳ duyên bất
biến, chẳng khác từng mỗi mỗi con sóng đối với đại
hải mênh mông vô hạn lượng. Nghĩa là, chẳng phải cậy
tu mà mới có Phật, cũng chẳng phải do không tu nên mới không
có Phật, mà bổn lai hữu tình ai ai cũng đều sẵn chứa tánh
Phật trong tâm.
Sở
dĩ gọi là Thánh hay phàm chỉ ở một lẽ là tự mình có
ngộ ra được tánh Phật sẵn chứa trong một tâm này hay không
mà thôi.
Ba
đời chư Phật thị hiện các cõi, cũng chỉ vì một đại
sự nhơn duyên này, là khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật
tri-kiến để từng mỗi mỗi chúng sanh tự sáng suốt mà không
lầm nhơn quả, cứu cánh vô sanh, Niết bàn tịch diệt.
Không
biết mượn diệu pháp của Phật để tu thì khó lòng khám
phá diệu tánh Phật vốn luôn tự sẵn có trong từng mỗi
chúng sanh. Mà đã không khám phá được tánh Phật, cũng là
tánh biết sáng suốt, tuyệt đối, tự tại thì ắc phải
bị biết lầm vì thức biết do nhơn duyên vọng lập, là vọng
biết, là biết mê, là tự trói buộc với vọng nghiệp tử
sanh, nhơn quả.
Mượn
pháp Phật để tu là cốt để giác cái mê lầm của chúng
sanh tâm, để chuyển cái biết lầm thành cái biết không lầm,
tức hết lầm. Chợt hết lầm là tự biết chơn thật. Biết
chơn thật cũng là giác cái tánh biết bổn lai, là tự sáng
tỏ tánh "Biết" tuyệt đối, chơn thường vốn luôn tự sẵn
có, là ngộ nhập Phật tri- kiến, là không lầm nhơn quả.
"Biết"
của Phật là Phật-tri-kiến, là thấu suốt tất thảy pháp.
Nói tất thảy các pháp đó, cũng tức là tạm gọi, tạm mượn
ngôn từ của thế-gian đặt tên cho một pháp duy nhất, độc
diệu, là chơn không diệu hữu, là Vô-ngã duyên-sanh tuỳ duyên
bất biến, là Nhứt thiết pháp không, tánh vô tự tánh, là
Pháp-tánh như thị, cũng là Tánh Không Duyên khởi, cũng là
diệu tánh Phật chúng sanh, gọi sao cũng được, tự thấu
suốt thì vẫn chỉ một nó.
Thầy
nói tôi nghe đó là tánh nghe, tánh thường nghe, thường sáng
suốt, chơn như, tịch lặng, vô ngã, vô hạn lượng, là chơn
tánh, Phật tánh. Thế nhưng nghe cái gì, ra sao, thế nào, phân
biệt ai nói, phải trái làm sao, là cái sự nghe do nhơn duyên
vọng lập, là vọng thức hư huyễn, xa lìa chơn tánh, là cái
nghe có hạn lượng, bó buộc trong một cá thể sanh diệt.
Có
người lướt qua trước mặt, tôi thấy. Đó là tánh thấy,
tánh thường thấy, chơn thường vô ngã, tự tại, vô hạn,
vô biên, là Phật tánh. Thế nhưng thấy cái gì, to nhỏ ra
sao, màu sắc, tốt xấu thế nào là cái sự thấy do nhơn duyên
vọng lập, xa lìa chơn tánh, là vọng thức hư huyễn, bó buộc
trong một cá thể hữu hạn, sanh diệt.
Chỉ
nói trong phạm vi hạn hẹp mà mỗi người có thể nhận thấy
được, thì hàm linh hữu tình, hễ có thân tướng, dù sanh
làm loài nào, cũng đều có tánh "Biết". Tánh "biết" là tánh
Phật chúng sanh. Tánh Phật thì sáng suốt, diệu mầu, chơn
thường, tịch lặng, vô ngã, bất biến, không mất còn, không
tăng giảm, không sạch nhơ, không sáng tối, tự tại, như
như, vô chung, vô thỉ mà hữu tình ai ai cũng tự sẵn gồm
chứa.
Nhờ
tánh "linh diệu" nên dẫu chơn thường, vô ngã, tự tại, bất
biến mà vẫn thường tuỳ duyên hay sanh muôn pháp.
Phật
tánh trong từng mỗi mỗi chúng sanh có thể tạm ví như cái
tánh của nước, để yên thì mặt nước phẳng lặng, trong
trẻo như gương, thấu suốt mọi chỗ.
Nghĩa
là khi không khởi một niệm nào, thì tánh biết "Biết" như
thật tự nó luôn bình đẳng, tịch lặng, như như, sáng
suốt, vô hạn, vô biên, tuyệt vô đối đãi. Chợt một
niệm sanh, cũng là vọng thức duyên sanh, tức cái biết hư
huyễn sanh khởi do vọng niệm tác động tánh biết chơn thường,
thì cảnh cảnh, vật vật trùng trùng sanh khởi, mất còn,
biến hiện tiếp nối không ngừng, chẳng khác mặt nước
kia bị gió tác động duyên thành muôn sóng,
Chúng
sanh đang từ trong tánh biết sáng suốt, chơn thường, tự
tại, chợt khởi vọng niệm thì vọng cảnh liền sanh. Cảnh
vọng chợt sanh thì liền che lấp tánh biết chơn thường vốn
tự sẵn có, liền cùng tánh biết sáng suốt chia lìa, ngăn
cách, là trăm sai ngàn khác với tánh thật, là lầm biết,
là tự đi vào nghiệp thức vô minh, nhơn quả tương đối.
Bằng
không một niệm sanh, thì cũng có nghĩa là đang trong thức
biết tương đối sanh diệt tự quay về bổn thể chơn thật
của tánh biết, tự đồng một, là "một" cùng tánh biết
chơn thường, cũng là mặt mũi chơn thật tự xưa nay hốt
nhiên hiển lộ vậy.
Tánh
biết cũng là Chơn tâm, Phật tâm thì luôn tự bình đẳng,
như như, chẳng có thiện ác, vui buồn, sướng khổ, mừng
giận, sống chết, thánh phàm hai đường hiện diện trong đây.
Những khái niệm tương đối trong nhơn quả sanh diệt không
chỗ dính dấp tới nó, nghĩa là chẳng từng có "hai kẻ đối
lập" nhau trong một tâm "Trung" như như, bình đẳng, tự tại.
Bỡi chợt có tương đối, đối lập, cũng là lưỡng nguyên
xảy sanh, tức vọng thức duyên khởi, thì liền tự xa lìa
tánh biết chơn thật, cũng là cùng chơn tâm chia cách nghìn
trùng. Gọi là Trung, tức thể tánh luôn tự như như, không
vọng niệm chấp trước, không thiên lệch vào nhị nguyên
tương đối, không động tâm, hay trí trá vì vọng dục. Nghĩa
là bổn thể và dụng của chính nó lúc nào cũng tự đồng,
thông suốt, không lìa nhau, chẳng phải một, chẳng phải hai
cũng không phải khác nhờ tánh "diệu" linh hoạt. Cũng có nghĩa
là trong đây, tánh với tướng dung thông, tức sắc-không không-sắc
chẳng ngại nhau, mà viên dung, là sống "một" với Trung-đạo
vậy.
Tự
sống "một" với Trung-Đạo, nghĩa là thân tướng này (cũng
là diệu dụng của thể tánh), phải nên luôn tự "một" trong
tánh biết, không rời lìa tánh biết chơn thường, cũng là
không vọng niệm phân biệt. Bằng khởi vọng niệm phân biệt,
tức tự kết buộc với cái thức biết nhị nguyên tương
đối trong vọng nghiệp nhơn quả, cũng là tự che lấp tánh
biết, là xa lìa thể tánh chơn thật tự tại, thì ngay đó
chúng sanh ấy tự đi vào biển mê sanh diệt. Cho nên một chúng
sanh được gọi là sống với Trung-đạo, cũng là tự "một"
trong tánh biết chơn thường sáng suốt, thì ngay đó, chúng
sanh ấy tự biết như thật sắc tức không, không tức sắc,
thông suốt viên dung, không lầm nhơn quả.
Khám
phá tánh thấy, nghe, hay, biết luôn tự sẵn có chưa từng
hư mất, mà cũng chính là chơn ngã, chơn tâm, Phật tâm, là
pháp tánh như-thị thì liền ngay đó biết như thật cá thể
đang thấy, nghe, hay, biết bằng thức ý bó buộc trong một
hữu hạn sanh diệt này chính là diệu dụng của bổn tánh,
cùng với thể tánh chơn thật chẳng phải hai cũng không phải
khác. Ngay đó "Biết" như thật, ta đang mượn huyễn sắc từ
diệu dụng của tánh chơn thường mà hiện tướng, du hí thần
thông, tuỳ duyên ra vào tự tại, mặc sức đến đi mà không
lầm nhơn quả.
Khám
phá bổn thể chơn thật thì liền ngay đó "Biết" như thật
huyễn sắc, huyễn tướng này là diệu dụng của bổn tánh
chơn thường, biết như thật thể và dụng luôn tự đồng,
"sắc-không, không- sắc" thông lưu xuyên suốt trong nhau, nếu
không tự vọng động.
Khám
phá tánh thật thì cũng liền ngay đó, chỉ trong sát-na, tự
chuyển cái biết hữu hạn của thức ý sanh diệt thành "một"
với tánh biết vô hạn, vô biên, vô chung, vô thỉ, là pháp
tánh như-thị; biết như thật "sắc tức thị không, không
tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc", là
vô ngã duyên sanh, tuỳ duyên bất biến, vô ngại đến đi,
không lầm nhơn quả.
Bằng
không khám phá được tánh thật, cũng là không chuyển được
thức biết, (tức dụng của tánh biết) về lại thể tánh
chơn thường, tự tại, thì đành phải chịu bó buộc trong
cái biết hữu hạn của nghiệp thức tử sanh, luân hồi nhơn
quả.
Gọi
là ngộ nhập Phật tri kiến, cũng tức là "Giác" cái tánh
biết sáng suốt, bất động, như như, tuyệt vô đối đãi,
cũng là thấu suốt một pháp duy nhất. Tánh biết "Biết"
như thật, vạn pháp trùng trùng sanh khởi từ một pháp duy
nhất, bất biến mà thường tuỳ duyên hay sanh muôn pháp, mà
từng mỗi pháp riêng biệt không hề mất tự tánh bổn lai
từ một pháp chơn thường duy nhất, cũng là chơn tâm, Phật
tánh, cũng là bổn lai diện mục, là Pháp-tánh như-thị.
Gọi
là chúng sanh tâm, đó là chỉ ra cái biết bằng thức biết
hư vọng, lầm lạc, xa lìa tánh biết chơn thật. Mỗi mỗi
pháp do duyên sanh từ một pháp chơn thật duy nhất, bất khả
thuyết, bất khả tư nghì, tự lầm thấy lầm biết vì chấp
rằng có thực ngã, thực pháp, có đến đi, có thọ mạng,
thì liền tự kết buộc với vọng nghiệp vô minh sanh tử.
Chỉ
vì mê - ngộ hai đường mà từ một chỗ "Thấy, Biết" tự
có muôn sai, ngàn lầm, "Vọng - Chơn" cách biệt. Một
đàng tự trói buộc trong biển khổ phiền não tử sanh, luân
hồi nhơn quả. Một đàng là Bồ đề, Niết-bàn, tự tại,
giải thoát.
Khi
mê, tức lầm chấp có thật ngã, thật pháp, thì liền thấy
có Phật, có tâm, có ta, có người, có tương tác đối đãi,
cũng là tự duyên theo hằng sa vật cảnh vọng sanh vọng diệt,
biến hiện mất còn trong từng mỗi sát na mà tự chiêu cảm
khổ vui, mừng giận, có không, được mất hai đường, tức
tự đi vào sanh tử, chẳng khác hình ảnh của muôn ngàn bóng
trăng trên nước, do phản chiếu ánh sáng từ một trăng thật
trên cao.
Nếu
từng mỗi bóng trăng trên nước bất giác ngộ ra tướng thật
của nó là không một tướng nào, mà chỉ là cái bóng
do ánh sáng từ một trăng thật phản chiếu trên nước mà
có, thì ngay đó, tự chúng biết như thật rằng, chính chúng
chẳng phải hai cũng không phải khác với thể sáng như
như, bất động, bình đẳng, tự tại của ánh trăng thật;
tự biết như thật từng mỗi bóng trăng có hạn lượng trên
nước, nghĩa là lúc mất lúc còn, khi có khi không tuỳ duyên
lên xuống, thấp cao theo từng con sóng, cũng chính là cái vô
hạn lượng của ánh sáng mặt trăng chiếu soi cùng khắp,
bất động, bình đẳng, tự tại, như như.
Bằng
mỗi mỗi bóng trăng trên nước lầm chấp có thật ngã, thật
pháp thì liền ngay đó, tự chúng cùng thể sáng của ánh trăng
chia lìa, là hai là khác, là cùng sóng nước biến hiện mất
còn, có không, sáng tối, cũng là đi vào vọng nghiệp sanh
tử hai đường.
Chúng
sanh cũng vậy, do không ngộ ra tánh biết sáng suốt tuyệt
đối, cũng là một pháp duy nhất linh diệu, cũng là chơn tâm,
chơn ngã, tự tại, bất biến mà thường tuỳ duyên khởi
sanh vạn pháp, nên mới tự mê mờ lầm nhận một pháp trong
muôn vạn pháp hư vọng duyên sanh làm thật ngã, thì liền
ngay đó phải lặn ngụp, mất còn trong nghiệp thức tử sanh,
nhơn quả, cũng là trong biển mê phân biệt, tranh đấu vậy.
Nếu
tự trong chỗ tận cùng chơn thật mà hốt nhiên xảy sanh những
lời chơn thật có thể tuông ra, thì người viết xin dành
tất cả những lời chơn thật ấy cho những ai có chủng tử
Phật, nghĩa là chúng sanh có duyên với Phật đạo, hãy nên
mau mau giành bớt thời giờ cho việc tu hành. Cái thân tướng
yếu ớt, nhỏ bé, ngắn ngủi, nay còn mai mất, so với cái
vô cùng vô tận ở dưới chân, trên đầu, trước mắt chúng
ta, thật chẳng đáng là gì cả. Thế nhưng, sự vô cùng vô
tận của cái mà chúng ta cho là vũ trụ trước mắt, so với
pháp giới chơn thường tịch lặng, tự tại như như, chẳng
khác một khóm mây trong bầu trời .
Ấy
thế mà chúng sanh cứ nhắm mắt nhắm mũi đấu tranh nhau,
lúc nào cũng lo đi tìm cái được, tránh cái mất, thích cái
vui, ghét cái buồn; mà thiệt ra được mất, hơn thua, thấp
cao, sướng khổ, vui buồn cũng chỉ là các khái niệm tương
đối trong nhơn quả sanh diệt do vọng tâm phân biệt vì chấp
ngã, chấp pháp, chứ tự chúng vốn hư vọng, chẳng phải
thiệt có.
Việc
chúng sanh biết tu hay không tu, chỉ là một cách nói chúng
sanh ấy có thiện duyên với Phật đạo hay không, có biết
mượn pháp phương tiện hy hữu mà đức Phật đã phát minh,
được chư Tổ tiếp nối trao truyền cho đến hôm nay hay không,
để tự mình xoay xở khiến có thể ngộ ra hay vẫn mờ mịt
về thật ngã, chơn ngã, chơn tâm, Phật tánh, cũng là tánh
biết sáng suốt, tuyệt đối, không lầm nhơn quả vậy.
Biết
tu đúng pháp lại hợp với căn cơ, trí tuệ, phước đức
của mình, ắc không sớm thì muộn cũng có lúc tỏ ngộ Phật
tánh, cũng là sáng tánh "Biết" bổn lai, cũng là hiển lộ
Bát-nhã trí. Sáng tỏ tánh này thì liền không lầm nhơn
quả. Không lầm nhơn quả thì nhơn quả chẳng thể trói buộc,
tuỳ duyên đến đi, tự tại vô ngại.
Không
biết tu hay không chịu tu vì tâm lòng cứng cỏi, hoặc không
tin đời này có Tam-bảo thường trụ vì thiện duyên ít ỏi,
nghiệp chướng nặng nề. Hoặc tu không đúng pháp, tu theo
hình thức, hay không trạch pháp hợp với căn cơ, trí tuệ
thì chúng sanh đó khó lòng vượt thoát nghiệp thức vô minh
sanh tử.
Hạnh
phúc thay cho chúng sanh được làm người trong đời có Phật
Pháp. Đó là một đại duyên, đại phước mà không ai có
thể phủ nhận được, cũng như không cần phải dài dòng
nữa.
Thế
nhưng, gặp đời Phật-pháp thông lưu quảng độ, mà có biết
nương mượn pháp Phật để tu hành hay không lại là một
việc hoàn toàn khác.
Lại
nữa, Phật-pháp quảng lưu tám vạn pháp môn, mà từng mỗi
môn đối trị cho từng căn bệnh phiền não của chúng sanh,
nên mỗi người có biết trạch pháp hợp với căn cơ, trí
tuệ, nghiệp duyên, phước đức của riêng mình để tu hành
hay không, khiến có thể nhanh chóng thể nhập Bát-nhã trí,
hầu sáng suốt không lầm nhơn quả, cứu cánh vô sanh, lại
là một lẽ khác.
Lại
nữa, biết trạch pháp thích hợp căn cơ, phước đức để
tu, nhưng có chịu thật tâm tu hành chân chính hay không, có
bất thoái chuyển Bồ-đề tâm hay không, hay chỉ tu hình thức,
cũng lại là một lẽ khác.
Có
duyên hội ngộ với bậc thiện-tri-thức, tức Tỳ-kheo đắc
pháp và pháp hạnh chân chính để tôn làm Thầy cõi thế,
hầu dìu dắt, theo dõi các diễn biến tâm linh, khiến nhanh
chóng sáng tỏ trí Bát-nhã, thể nhập Trung-đạo, thì đó
chính thiệt là phước đức hy hữu của một chúng sanh trong
đời mạt pháp vậy.