Ngày
14 Octobre 1936 – 29-8-â.l.
Y lệ,
11 giờ ngọ bột, khoai lang, bún xào ướt. Ba giờ huynh Samdhen
cùng Isess đi Dzêsbung, ba huynh đệ ở nhà. Tối 8 giờ trực
nhớ cuối tháng mà quên cạo đầu vì ban ngày những mảng
lo riêng phận sự mà quên ngày tháng lại qua. Chịu khó nhúm
lửa hâm nước gội đầu rồi tự cạo như mấy tháng trước.
Tối nay trong lúc cạo đầu rồi vào ngồi, phút tiếp quán
điển về vấn đề trần thế giả cuộc, từ vua chí dân
ăn xin, đều gánh vai tuồng nghiệp lực, thiện ác, hết lớp
muôn điều trả lại thế gian. Bỗng tiếp quán một vị Vương
đế băng hà, nằm ngay dứt hơi, cung điện đều phế, hậu
cung nga, thiếp đều khóc lóc bơ vơ. Muôn ngàn sự nghiệp
đều về tay khác. Bỗng quán tiếp lúc Phật tổ treo ấn Thái
tử, cắt ái, ly cung, xa sướng, tìm khổ đạo, từ Kapila quốc
kỵ bạch mã thẳng tới Già da, vào Dungarseri cùng Phạm chí
học đạo, lục niên khổ hạnh, cho đến lúc hình khô vóc
ốm, bỏ đạo khắc thân qua ngồi Tala thọ, chịu cô Sử-giả-ta
dưng sữa, sau qua gốc bồ đề cách trăm thước ngoài ngồi
49 ngày, tới thành đạo đi Lộc-giả-viên chuyển pháp luân
thứ nhứt độ ngũ tì-kheo, từ Bồ-đề-thọ đi Lộc-giả-viên
xe lửa Grand Express chạy nửa ngày, xa lối 500 km. Tới đây
phút động tâm thương Phật, thị hiện độ đời bèn ra thiền.
Đoạn hữu ngọa đến khuya. Ngủ.
Ngày
15 Octobre 1936 – mùng 1 tháng 9 â.l.
Nhựt
thường lệ. Mười một giờ ngọ bột, khoai lang nấu canh,
1 giờ coi tay giùm một người quen cùng Méchen. Mua 2 trăng nga
thuốc. Thần gió đã khởi, khí hậu đã lạnh lung rồi. Chót
núi đã trắng tuyết.
Tiếp
điển : Lời căn dặn :
Nay
gần tới ngày về xứ, vậy ngươi chóng tập cho thuần thục.
Ngươi chớ nhớ chỗ ta nói sự biến nghiệp ở Đạo tràng
mà buồn, e cho con ma buồn nó sẽ phá tâm ngươi. Thích-tử
tánh Kim-cang . . . . . . . . .
Ngày
16 Octobre 1936 – mùng 2-9-â.l.
Tụng
kinh mơi rồi sửa soạn đi chợ. Bữa nay không trà điểm tâm,
10 giờ mới có sữa nấu trà, 11 giờ ngọ bột với cải bào,
khoai xào. Thần gió đã khởi thổi, lạnh càn rút tới, sớm
mơi ra đi chợ đã thấy mọi người đều đội mũ kỵ hàn,
mặc y phục lông, ngó lại mình, đầu không nón, áo cặp mỏng,
quần nỉ mỏng, giày vớ mùa thu, từ bảy tháng trời chỉ
một bộ đồ y phục nầy mà che thân. Dãy núi khởi đóng
trắng phao. Đi chợ mua dầu, cải củ và khoai 6 trăng nga. Chiều
y lệ tụng niệm thiền định.
Tiếp
điển :
Muốn
ta giúp trong chỗ không hiểu phải đọc câu . . . 22 Septembre
thì sẽ thấu tới ta cùng nhau thầy trò hội ý . . . . . . .
.
Ngày
17 Octobre 1936 – mùng 3-9-â.l.
Y lệ
trà ngọt điểm tâm. Học chút ít, 11 giờ ngọ bột cải xào.
Ba giờ coi tay giùm cho cô vợ của người quen Đầu bếp, chồng
coi hôm kia, bữa nay vợ coi. Cô xin hộ 1 săng, hoan hỉ. Khuyên
rước thầy tụng kinh ba ngày, rồi sau ba ngày sẽ lại thì
bần đạo chỉ cách cúng dường Phật-Pháp-Tăng…… Tùng
dịp khuyên người tác phước chút ít, họ lu lờ quá, ở
đất Phật mà không biết Phật pháp uổng quá. Tôi cùng vợ
chồng Méchen đàm đạo huỷnh khuyên mua giày da ấm, áo ấm,
chớ lúc nầy đã lập đông mà thầy chỉ có một áo một
quần đó hoài, tôi rất thương quá, vì đã lớn tuổi mà
chịu lạnh xứ nầy sao nổi. Rất đỗi tôi đây là người
xứ nầy đã quen phong thổ mà hãy chịu không nổi, huống
chi thầy. – Cám ơn huynh, song tôi nhớ lúc tại Dungarseri sáu
năm khổ hạnh lạnh ấm một cái y, sau qua Phật-đà-gia bồ
đề thọ hạ cũng chịu ấm lạnh. Nay bần đạo như vầy
là ấm áp hơn Phật xưa……. – Huỷnh lắc đầu thở ra…
Chuyện tới khuya… Nghỉ.
Tiếp
điển :
Việc
của ngươi. Mỗi lần đem hỏa hầu xuống chút ít. Sau tựu
nỗn tử thì có lợi ích về vụ xuất dương cứu khổ ứng
cầu. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Hai năm
bốn tháng thì thấy. . .
Ngày
18 Octobre 1936 – 4-9-â.l.
Y lệ,
11 giờ ngọ cúng dường bột cải xào, khoai xào. Vợ chồng
Méchen hộ một quảo khoai lang. Cám ơn hoan hỉ cúng dường
bố thí. Chiều 3 giờ đang ngồi phơi nắng nhưng tháng nầy
đã ít nắng, trời âm can, mây phủ đầu non từ mơi tới
trưa, mây tan, tuyết đóng, bốn phía thành Lhasa núi bao ngó
trắng xóa như đầu tường phết vôi. Bỗng Choundouss đi chợ
về, thuật việc đã gặp cô hầu trà của Đại đức Lama
cả bên thành Pato Bhutan, thuật sự Đại đức đã tịch, cô
khóc lóc cùng Choundouss, ấy là người đồng hương của huỷnh.
Cô đến Lhassa hầu lo cúng dường chư tự và có năm mươi
Lama Bhutan đồng đi cùng cô đặng tụng kinh cầu ân Phật.
Nghe qua bần đạo cũng cảm tình vì Ngài cũng đã trọng đãi
bần đạo tại Pato, lại hoan hỉ đứng tên vào passeport giùm,
thầm niệm Phật cầu vong linh siêu thăng tịnh độ. Đoạn
4 giờ đi nhiễu tự Chôkhăng. Chung quanh chùa thiên hạ buôn
bán đông đảo, phố xá đông đặc, lúc nầy tùy theo mùa
khởi Đông-chí, nên các tiệm quán bán đồ y phục kỵ hàn,
nhứt là áo may da trừu dê để y lông cùng da các thú khác,
mền Tây-tạng dệt bằng bông vải để xồm xàm dầy dục.
Xứ còn thô tháo, nội hóa các thứ đều còn kệch hình, chưa
đặng thiện mỹ, lại thêm các thứ đều mắc mỏ lắm. Da
thú thuộc rồi treo lểnh nghểnh, chồng cả đống nầy qua
đống kia, thiên hạ bu theo các quán ấy mua dập dìu. Bần
đạo thấy da chúng thú cũng có chút thương tâm, nên chi thà
chịu lạnh chớ không đành mua đó làm ấm thân. Về lo tụng
niệm y lệ. Tối lại hỏi Choundouss, cô hầu Lama cả có nói
vì sao bịnh chi mà Ngài tịch chăng ? – Huỷnh nói không phải
bịnh, ấy là bị rủi ro bất đắc, vì Ngài đi ngựa đặng
đi Calcutta, đi tới núi (chỗ chúng ta chụp hình núi tuyết)
thì con ngựa của Ngài trợt tuyết té nhào, ném Ngài xuống
triền, trong lưng ngài có đai súng lục liên, cấn cò nổ,
đạn trúng nơi dạ dưới xoi lủng ruột nên phải bỏ mạng.
Mũi thiên oai chờ người bạc mạng.
Mua
một hộp quẹt.
Tiếp
điển :
Việc
trong ngôi tam bửu. Hai năm mới xong xuôi thì sẽ khai tự ngày
Phật tổ xuất gia.
Phải
tùy thời mà làm, không cần rình rang. Phải đủ y khâu theo
luật đã tấu chức Đại-lặc-ma (Hòa-thượng). Cái mão tùy
ý ngươi thay đổi. . . . . . . . . . . . . . .
Ngày
19 Octobre 1936 – 5-9-â.l.
Sáng
thức dậy, khí hậu lạnh như đồng, tay chơn tê ngắt. Dòm
ra ngoài sân, thấy trời mù mịt âm can, 7 giờ rưỡi thì tuyết
xuống như hốt bông gòn rải, lần hồi sân trắng như rây
vôi, che dù ra ngoài vòng thành đi tiểu, thấy đồng cỏ trắng
phao. Mười giờ rưỡi hết mưa tuyết, ra ngoài xem bốn phía
núi đều trắng xóa từ dưới tới chót, cả thành Lhassa trên
nóc nhà, dưới đường cùng ngọn cây đều trắng lớp, chim
bay nặng cánh, chó chạy tuyết đầy lưng, kẻ đi đường
già trẻ không phân biệt, đầu đầu trắng phêu. Ôi ! hèn
chi mà nhơn dân không dùng da thú sao đặng……. Nay mới đầy
tháng chín mà lạnh dường nầy, tuyết sa dường ấy, qua tháng
mười một và tháng chạp bực nào nữa… Mười một giờ
ngọ bột với khoai chiên ngồi ăn như ngồi dưới nước,
ăn mau mau vì đồ ăn đã lạnh ngắt. Một giờ tuyết ngoài
đồng và mấy nẻo đường tan ra nước hết. Trên rầm nhà
cũng tiêu rã, nhà nào nhà nấy cũng bị nước tuyết rịn
dột ướt cả, vì bị trời nắng khô đất rầm nên nức
nẻ, nay nước tuyết mới rịn dột. Tuyết trên đảnh cũng
còn trắng phao, mặt trời làm tan không hết tới tối cũng
còn y nguyên một màu vôi bạc. Tối tụng niệm rồi nghỉ,
trời lạnh không kể mấy lớp mền, nằm tới khuya, nhờ hơi
trong mình ra nhiễm ấm lớp mền, ngủ mới yên.
Ngày
20 Octobre 1936 – 6-9-â.l.
3 giờ
sáng thức, nhưng hữu ngọa quán tưởng thiền định, trùm
đầu trùm đuôi, không dám lo hở, mắc tiểu cũng nhịn tới
sáng sẽ hay. Nằm lì tới 7 giờ mới tốc mền chỗi dậy,
mọi người còn trùm. Lấy ca ra rửa mặt, hớp nước răng
nhổm, lưỡi tê, nước lạnh như nước đá. Đoạn y lệ,
cúng dường trà rồi điểm tâm, tụng niệm tới 8 giờ rưỡi,
ra ngoài ngồi nắng. Chung quanh các đảnh núi đều còn tuyết
đóng trắng bách. Mười một giờ ngọ bột và khoai, cải
củ nấu canh cà-ri. Đoạn phơi đồ ngủ đặng tối nó còn
hơi ấm, vì ban đêm rờ vật chi cũng lạnh đồng cả, ví
như áo đang mặc, trong ấm chớ ở ngoài không khác chi lắm
các vật ở ngoài cũng lạnh ngắt. Hai giờ xếp đem vào cho
còn hơi ấm, tủ đó. Chiều y lệ, khí hậu lạnh tối ngày,
ban đêm tăng thêm, tụng niệm rồi nghỉ.
Tiếp
điển : 2 giờ khuya.
Tự
đến chỉ pháp quán Vô sanh rồi dặn rằng : Ba năm sau khi
về xứ, hết dư nghiệp. Ngươi sẽ lập Tây-trước-chánh-tông.
Y theo bài kệ đã thấy . . .
Nếu
Giáo sư quày lòng thì thôi . . . . . . . . . . . . . . . .
Giáo
sư cần phải ứng mà độ người . . . . . . . . . . .
Ngày
21 Octobre 1936 – 7-9-â.l.
Nhựt
y lệ. 11 giờ ngọ bột với khoai chiên. Méchen thấy ăn cũng
xề gần, bần đạo mời ăn thử, khen ngon. Mười hai giờ
Samdhen về vào than rằng nơi tì đau ran, thế bị beurre và
thịt nhiều, vì chư huynh đệ mừng thết đãi mấy ngày, cứ
cầm cộng không cho về. Cả buổi huỷnh ngủ hoài, tối than
nhức đầu. Bảy giờ trùm ngủ. Một bần đạo ngồi tụng
niệm y lệ rồi ngủ.
Tiếp
điển :
Hỏi
qua việc can qua Tàu, Ngài cho rằng : Âu nổi thì Tàu nhẹ nghiệp.
Ấy là cái nghiệp bí ẩn tương giúp nhau. Chưa phải lòng
tham của Nhựt : nước Tự tại bình đẳng, cốt nhục đại
bại chưa đầy tháng. Nước nhà của Thầy nhờ Phật-lực,
sẽ yên tĩnh. Mặt trời mọc hướng nam là điềm an ổn, không
xiêu cột đèn đường. Đắc vị thất vị, lý tự nhiên.
Ngày
22 Octobre 1936 – 8-9-â.l.
Y lệ,
11 giờ ngọ bột với canh cải củ. Thấy Méchen mua đậu hủ
(tôpô) nói hai trăng nga một miếng, chiếp để dạ, bữa khác
sẽ mua dùng tốt lắm. Hai bữa rày cúng ngọ rồi thì đem
đồ ăn ra ngoài nắng ngồi ăn, vì ăn trong nhà lạnh quá in
như ngồi gần thùng nước đá, đồ ăn mau lạnh, ăn nửa
bữa thì đồ ăn lạnh như ngâm nước đá. Tuyết vẫn còn
đóng đầu non. Chiều y lệ tụng niệm, đoạn nghỉ sớm.
Ba giờ sáng thức, hữu ngọa quán tưởng tới sáng. Khí đông
thiên, một ngày một tăng sự lạnh.
Tiếp
điển :
Vậy
sự tạo tự sẽ không điều cản trở và ngày nào đất Xiển-đề
theo cờ Phật thì ngôi tam-bửu gần hoàn toàn. Song từ đây
lo gia thêm công cho mau rồi, kẻo sẽ có điều . . . . . . .
. . . Phật đà Đạt mạ Tăng già phân biệt.
Ngày
23 Octobre 1936 – 9-9-â.l.
Y lệ,
sanh khí nặng nề, ra phơi nắng. Samdhen lo đi tính việc. Bần
đạo đang lúc xem sách ngoài nắng, bỗng Choundouss trong nhà
bước ra, lại ngồi gần và rằng : Thầy ơi ! Tuyết lập
đông một ngày một tới, hàn khí một ngày một gắt gao,
chúng ta ngồi không ăn lụn nơi xứ Tây-tạng mà chờ công
việc Quốc Vương cúng dường cho Phật-đà-gia đó, giấy tờ
cho rồi, sắc sớ cho hườn cuộc, thì thế không mau, vì là
việc nước. Samdhen than phiền sự tốn kém tại xứ nầy,
món món đều mắc mỏ và cứ ngồi không mà ăn xài, dầu
của kho cũng phải tiêu tận. Vậy huỷnh tính, muốn cho hai
anh em tôi và Issê đi về Phật-đà-gia trước nhưng không đủ
số tiền cho đi, vậy xin thầy làm ơn xuất tiền cho mượn
trước, chừng về tới Phật-đà-gia sẽ tính hườn lại,
hoặc tới Kalimpong lấy tiền tại đó trả cho thầy cũng đặng.
Bần đạo nghe qua rất vui lòng, vì tiền cất trong lưng mà
về sớm không đặng, ở chờ hoài hao phí của Đàn na, công
sự của mình đã phỉ nguyện rồi, ngày nào về cũng đặng,
chỉ còn chờ công chuyện của huỷnh. Lòng muốn về đã lâu
nhưng không lẽ tách bọn mà về coi không đặng. Nay nghe qua,
lòng đã nghĩ ngợi rất phỉ sở ước ao, bèn nói : Nếu huynh
Samdhen muốn sao thì nói, bần đạo xuất tiền trước giúp
huỷnh cũng đặng. Choundouss rằng : Thầy tôi bàn tính như
vậy, song nói : Cứ cậy mượn của thầy hoài, nên ngại lòng
hổ miệng không dám nói, bảo tôi tỏ ý cho thầy tính giùm…
– Đặng, đặng, tiền để không đây làm gì… Bỗng Sam-dhen
ngoài ngõ bước vào, thì bần đạo kêu lại và nói chuyện
Choundouss mới nói vân vân. Samdhen nói y vậy lòng tôi muốn.
Vậy xin mời thầy vào đơn, đoạn huỷnh nói chuyện rằng
: Sớ, sắc nhà vua đã xong, chỉ còn một tờ sắc cáo số
tiền chia ra từ quận thì chưa rồi. Việc nhà nước không
mau đặng, mà bọn tôi nhiều người cứ ngồi không ăn lụn
tốn kém quá, xứ nầy mắc mỏ mà cả đám cứ ăn ăn uống
uống thật tốn hao cũng nhiều, thầy đã thấy cũng biết
giùm. Vậy tôi tính cho Choundouss và Issê về Phật-đà-gia trước,
đi với thầy, nhưng tiền chưa lãnh, vậy xin thầy hoan hỉ
giúp trước, sau về tới Kalimpong sẽ có tiền hườn lại,
hay về Phật-đà-gia cũng đặng. Tự ý thầy muốn nơi nào
cũng đặng. Bần đạo rằng : Huynh tính như vậy tốt lắm,
tôi thấy huynh tốn kém lung quá thì rất buồn giùm, nhưng
không lẽ nói ra, nay huynh sáng tính, thì bần đạo cũng hoan
hỉ theo ý huynh. Tiền để không làm chi, lúc hữu sự thì
dùng. Đoạn lấy ra 20 rupee trao cho huỷnh, huỷnh thâu và cám
ơn. Huỷnh bèn lo đi xin quan giúp ngựa Quốc gia. Mười một
giờ lo ngọ cúng dường bột và khoai chiên. Mười hai giờ
rưỡi về nói ngựa nhà nước lúc nầy không có. Huỷnh tính
mướn ngựa ba con cho ba người. Chiều y lệ.
Samdhen
tính bữa 19 tháng 9 nầy cho Choundouss và Issê về trước, bần
đạo cũng tháp chưn theo đó về trước đặng sắp đặt công
sự cho xuôi xếp, phòng lo năm tới đi chư quốc Phật độ
với Samdhen.
Ngày
24 Octobre 1936 – 10-9-â.l.
Y lệ
triệu thời. Mười một giờ ngọ bột với cải củ nấu
cà-ri. Xin đôi giày cũ Tây-tạng của Samdhen, huỷnh hoan hỉ
vì đi đường lạnh lắm, giày tây chịu không thấu, cô đầu
bếp nói để hộ một đôi vớ Tây-tạng. Samdhen đưa 1 săng
mượn cô đầu bếp đem may da semelée lại vì đã lủng rách.
Choundouss và Issê lo đi mướn ngựa, về nói chủ ngựa đòi
20 rupee mỗi con tới Kalimpong. Bàn luận thì rẻ hơn quận đi
đặng 4 rupee, vì kỳ đi Lhassa thì mỗi con 24 rupee, nếu vậy
tiền ngựa quận đi và về 44 rupee, tiền đến Lhassa cúng
dường chư tự 150 rupee, tiền sở phí 150 trong 8 tháng đi cùng
Samdhen. Thiệt nhờ huỷnh quá, nếu một mình đi bạc ngàn
không đủ.
Ngày
25 Octobre 1936 – 11-9-â.l.
Y lệ,
11 giờ ngọ bột với cải củ xào hôm qua và khoai lang luộc.
Đợi tới ngày về, còn lo mướn ngựa. Nay Issê đi mướn
ngựa, gặp một chủ ngựa ở Pharijong đưa bộ hành đến
Lhassa, chịu cho mướn ngựa tới Pha-rijong. Sẽ bàn luận giá
cả cùng Samdhen. Bần đạo cùng Issê luận lúc đi về phải
trải qua mấy chỗ, mỗi chỗ một ngày đường, nếu đi xăng
thì trong 25 ngày tới Phật-đà-gia. Lhassa đi đến Nam, Xhuxul,
Bêđê, Namkachê, Ralum, Yăngsê, Khăngma, Kala, Tunna, Pharijong,
Gialinhkha, Chima, Natăng, Linhđam, Tchongthapa, Arakara, Kalimpong,
Ghoom, Siligauri, Calcutta, Bodhi Gaya. Chiều y lệ.
Tiếp
điển :
Tự
đến : Đệ nhứt nghĩa. Khuya nầy đặng chỗ truyền Pháp
nhãn tạng . . . . . . . . và chỉ thêm chánh pháp niệm đối
với chánh pháp nhãn tạng không hai.
1o.
Đại nhựt (ngạch)
2o.
Bửu sanh (hữu kiên)
3o.
Bất không (kiên tả)
4o.
A sơ (tâm)
5o.
Vô lượng thọ (hầu)
Căn
dặn về xứ xem (năm xứ gia trì).
Ngày
26 Octobre 1936 – 12-9-â.l.
Y lệ
triệu thời trà điểm tâm, ngày nay còn hai bữa nữa đi về,
nên hoan hỉ với các huỷnh, uống trà Tây-tạng. Chín giờ
có bạn Monsalman của Samdhen đến vì có mời. Mười giờ ra
về. Đang lúc bần đạo đang ngoài bếp nấu ăn, Samdhen bước
ra than rằng : Mời người bạn đến đặng nói chuyện cậy
huỷnh tạm giúp một số tiền đặng làm sở phí cho ba huynh
lên đường ngày mốt đây, ai ngờ huỷnh nói túng nên từ
chối sự giùm giúp. Bần đạo nghe qua thì rằng : Sao huynh
không nói cho tôi hay, bạc còn đây 100R vậy huynh có sự cần
dùng thì tạm đây mà dùng, để bỏ túi không ích, và nói
và móc tập passeport, lấy tấm giấy cent rupee trao cho huỷnh,
huỷnh bèn mừng lòng tiếp lấy và nói để đổi rồi đưa
lại cho thầy 50R đặng dùng lên đường. Nhưng bần đạo
tính không lấy chi nhiều, vì đi đường khó cất, chi bằng
để cho huỷnh xài trong lúc nầy, tiền kém mà chưa lãnh số
bạc ba ngàn của Tây-tạng Quốc gia tín cúng, nên huỷnh túng,
vậy trước giúp nhau mà cũng như gởi cho huỷnh cất giùm.
Vậy bần đạo lấy 20R, còn gởi lại cho huỷnh 220R, sau về
Phật-đà-gia sẽ tính tiền sở phí của bần đạo trong sự
đi đường, tiền ngựa mướn và chút ít sở phí đò giang,
chỗ ngụ là bao nhiêu, còn dư bao nhiêu huỷnh hườn lại cho
tròn việc, tài thượng phân minh đại trượng phu ………
Mười một giờ ngọ bột với khoai chiên. Mười hai giờ rưỡi
có huynh đầu bếp của đức Taxilama, là bạn đồng hương
của Samdhen đến, mua thịt, trà, gạo đặng nấu ăn đãi các
huỷnh, có đãi trà Tây-tạng cho bần đạo, hoan hỉ cho vui
lòng người. Từ ngày đến Tây-tạng huỷnh cũng hay lui tới,
xem tánh tình cũng hào hạp. Huỷnh có hộ cho bần đạo một
tấm hình của đức Đại Lama của Taxilama. Cảm ơn thọ lãnh
làm kỷ niệm. Đoạn coi tay giùm cho huỷnh, nói sự quá khứ,
huynh le lưỡi lắc đầu, sự gia đàng, sự tâm trung, sự ngoại
giao nam nữ, nghe qua rất kỉnh. Đoạn nói qua sự sẽ tới,
hoạn nạn vị lai…, người mới 34 tuổi, Mẹo niên. Tối
lại nài của Đầu bếp, cái áo kỵ hàn giá 10R. Sam-dhen tính
tiền của bần đạo tổn phí, ngựa và đi và về 44R, cái
áo 10R là 54R, sở phí chút ít cho 6R. Cả thảy là 60R, vậy
về tới Kalimpong thì sẽ lấy lại nơi tiệm quen của huynh
160R cộng với 20R mới đưa là 180R cộng với 60R sở phí thì
đủ 240R. Đâu đó tính xong mười giờ rưỡi huynh đệ nghỉ.
Ý huỷnh sợ bần đạo sau về Phật-đà-gia bỏ huỷnh, không
đi các xứ Phật quốc độ cùng huỷnh, nên chi bần đạo
rõ tâm nghi ấy, bèn đôi lời phủ ủy cho vững lòng huỷnh
rằng : Huynh đừng để lòng lo sợ về sau, việc Phật sự
huynh đệ đồng lo, tôi hứa sẽ đi cùng huynh thì lời hứa
không quên, vì người Phật đệ tử, buông một lời thì không
dám quên, dầu bỏ xác nầy, kiếp sau cũng y lời mà thi hành
lời hứa, phương chi Phật khiến hai huynh đệ mình gặp nhau
đặng đâu cật lo Phật sự, ấy là điềm lành của người
tu hành, ấy là dịp may của bọn tăng chúng, mấy khi đặng,
bần đạo bỏ qua sao đặng. Huỷnh nghe qua vui lòng. Bần đạo
rằng : Phật chứng minh lời hứa rồi.
Ngày
27 Octobre 1936 – 13-9-â.l.
Y lệ,
trà điểm tâm, đi dạo chợ cho Samdhen mua áo cho Issê, đoạn
về 9 giờ rưỡi đi đến dinh Quan Tả tướng viếng Ngài và
đôi lời cầu chúc, cảm ơn lòng tốt của ông bà cho tạm
trong dinh của Ngài bốn tháng, và xin ghi passeport. Ngài vui lòng
ghi, đoạn đãi trà và kỉnh một sợi anh lạc với hộ một
cốt Phật tổ bằng đồng nhỏ cao một tấc, ông bà cầu
chúc sự đi đường bình an. Về 11 giờ rưỡi đi viếng Đại
Lama của đức Taxilama, dưng anh lạc và 2 săng. Ngài vui lòng
nạp thọ và ban niệt điều với đãi trà, đoạn hộ một
gói thuốc bá bịnh để đi đường. Về tới nhà 12 giờ rưỡi,
đoạn đầu bếp hộ salade cải bắp. Nay không nấu ăn đặng,
tạm sơ quấy quá, rồi lo thu xếp đặng mai lên đường.
Chiều
5 giờ có Lama Tzăngpa Khâmtzanh phái đến tiễn hành bần đạo,
dưng anh lạc và một ổ beurre. Bần đạo phải đáp lễ 6
săng. Lama từ giã ra về. Bần đạo hộ ổ beurre lại cho Samdhen.
Samdhen bèn hộ cho bần đạo một tí thuốc bá chứng, giá
thuốc nầy một lượng 60 rupee. Chiều lại Méchen hộ hai bắp
cải và khoai lang đi đường. Đợi tới tối mà không có chủ
ngựa đến. Vậy mai đi lên đường chưa đặng. Ấy là Hộ
pháp chẳng cho đi ngày 14-9 Annam.
Ngày
28 Octobre 1936 – 14-9-â.l.
Y lệ,
10 giờ lo nấu ăn, nấu hết hai bắp cải đặng đem theo đường,
11 giờ ngọ bột với cải bắp cà-ri. Một giờ có huynh coi
tay quen Méchen đến dưng một sợi anh lạc, một gói 13 trăng
nga 1 kama và một bao nhỏ bột, ấy là lễ tiễn hành và hỏi
thăm sự cúng dường. Bần đạo khuyên cúng chùa Phật tổ
một trăm ngày và ăn chay trong một trăm ngày ấy và bần đạo
biên tên hai vợ chồng :
Chồng
: Thubten 42 ans : Mùi.
Vợ
: Tsering Doulkar 32 ans : Thìn
đặng
phục nguyện giùm, hứa về Phật-đà-gia sẽ cầu Phật và
phục nguyện giùm. Từ ngày đến Tây-tạng thì Phật khiến
cho làm quen đặng nhiều người. Hai giờ có chủ ngựa đến,
hứa mai lên đường. Tốt quá mai là rằm. Ba giờ có Méchen
đồng hương Samdhen đến, bần đạo mua 3 trăng nga bánh đãi
người và mua 3 trăng nga trà sữa để đãi vợ chồng Méchen
của Tả-tướng. Lo sắm sửa đi chùa lễ Phật đặng mơi
lên đường. Đến chùa cúng dường đoạn xin keo Phật Tây-tạng
một keo dương (xin về lo Phật sự tại Phật-đà-gia và sau
trở lại Tây-tạng một kỳ nữa) keo dương là mọi sự đặng
vui như ý nguyện, sẽ toàn hảo Phật chào và hoan hỉ ấy
là keo dương mật ý đó. Qua điện Phật tổ cũng cầu nguyện
y vậy thì đặng keo âm dương : ấy là Phật hoan hỉ cho bần
đạo hành Phật sự vuông tròn, mừng lòng cái sở nguyện
toàn vẹn nơi Phật địa.
Ngày
29 Octobre 1936 – Rằm¬¬-9-â.l.
Nay
cô đầu bếp lăng xăng lo dưng trà sữa, bần đạo điểm
tâm rồi, lo thu xếp đồ hành lý không chi lung, chỉ trọn
trong cái vải bao đồ ngủ. Đoạn chờ mã tử đem ngựa lại,
xẩn bẩn đã 9 giờ. Samdhen đưa cho bần đạo 4 săng là 1
rupee bảo để dành dọc đường có mua chi chút ít cho dễ
rồi huỷnh hối hả bảo : Thầy hãy lo ăn bột cho sớm, để
tới ngọ không tiện. Y lời huỷnh, lấy bột và đồ ăn ra,
đoạn nhồi bột rồi cúng dường xong xuôi mới ăn. Ăn rồi
mà cũng chưa thấy ngựa đến. Samdhen bảo Issê đi kêu mã
tử. Mười giờ rưỡi Issê đem ngựa ba con về, mã tử bảo
đi trước. Choun-douss và Issê lo gác yên giùm, xong xuôi, bèn
cho cô đầu bếp và hai đứa con gái của cổ 1 săng 2 yôgăng,
sẵn có con nhỏ ở gần chạy lại cũng cho nó 1 yôgăng. Samdhen
hối lên ngựa, đoạn vợ chồng Méchen và bọn quen tựu lại
cầu chúc và đưa lên đường, huynh Sam-dhen coi có ý buồn,
vì kẻ đi người còn ở nán. Ngựa chậm rãi đi, xế qua lối
2 giờ thì tới xóm Đông-kar xuống ngựa vào nhà quán chờ
mã tử tới, vì mã tử có lời dặn tới đây nghỉ ngựa
chờ. Hai huynh-đệ họ nhậu xăng, bần đạo không dùng chi
cả, vì quán không có gì hết. Chuyện vãn trút giờ, mã tử
tới, đoạn tháp tùng đi lên đường, đi chậm rãi tới mặt
trời chen lặn tới làng Manê Cha-khăng, mã tử vào trạm hỏi
chỗ nghỉ cho ba huynh đệ tạm ngụ một đêm. Tối lo trà
uống chuyện vãn tới khuya ngủ. Đêm nay ngủ vùi vì bữa
đầu cả buổi ngồi ngựa có hơi mỏi mê.
Ngày
30 Octobre 1936 – 16-9-â.l.
Sáng
thức sớm, chủ nhà nấu trà rồi ba huynh đệ điểm tâm trà,
còn nội bọn mã tử có vị khách sang đi chung cả thảy sáu
người, họ ăn thịt sống chấm ớt bột không muối, thói
tục xứ nầy ăn thịt sống đã quen và ăn lạt lẽo ít dùng
muối. Choundouss lo trả tiền ngụ là 2 trăng nga. Mặt trời
vài sào cao thì lên ngựa. Trời đứng bóng đi tới Nhê-thăng
(lúc trước tới đây nhằm ngày 27 Juin). Lúc đi có huynh Samdhen,
nay lúc về không có huỷnh thì cũng có ý nhớ nhau, và xem
sự đi đường chỗ ăn chỗ ngủ có hơi ít toại ý bằng
lúc có Samdhen. Tới đây nghỉ ngựa luôn, mai sẽ lên đường.
Lo nấu trà, rồi dùng bột với đồ kho và sữa khô chua. Hộ
cho hai huỷnh chút ít đồ ăn. Trọn buổi chiều họ nhậu
xăng cùng nhau hỉ hả, bần đạo chỉ ngồi tưởng Phật niệm
tăng. Trời lạnh lẽo, tối ngủ vùi.
Ngày
31 Octobre 1936 – 17-9-â.l.
Sáng
trà rồi 8 giờ lên đường. Trả tiền ngụ một ngày 2 trăng
nga. Hai giờ tới Banasap (quận đi tạm nghỉ đổi ngựa ngày
26 Juin) vào trạm nghỉ, ăn ngọ bột cải xào rồi nghỉ luôn
đêm.
Ngày
1er Novembre 1936 – 18-9-â.l.
Sáng
điểm tâm trà Tây-tạng rồi lo lên đường, mặt trời quá
sào, lên ngựa chậm rãi đi, đường đi không đèo ải dễ
đi, lối đứng bóng thì đã tới Xhuxoul (Quận đi thì tới
làng Đum-bô-chê đổi ngựa đi ra bến Nhập-sóc-cô-trúc ngủ
một đêm ngoài trời đoạn sáng đi đò dọc đến Xhuxoul là
ngày 26 Juin). Vào trạm nghỉ, lo ăn bột rồi ngụ luôn đến
mai sẽ lên đường. Lúc ăn bột thì bọn mã tử và khách
thấy không dùng chung cùng hai huynh kia thì họ hỏi. Đoạn
Choundouss và Issê rằng : bần đạo ăn chay và ăn ngọ một
ngày chỉ có một bữa mà thôi, sớm tối gì cũng một lần
ăn, không ăn hai, ba buổi như mình, cả bọn dòm bần đạo
hít hà và coi bộ họ lấy làm lạ lắm, vì xứ Tây-tạng
chư tu hành ăn ba bữa và dùng thịt, ít có người ăn chay
và ngọ, chỉ có bực Đại Lama Thượng tọa mà thôi, ăn chay
song cũng ăn ba buổi trong ngày. Đi một bọn cả thảy chín
người 36 con ngựa, chở long chiên và hành lý, chiều có một
vị mã tử nữa nhập bọn, hỏi ra là người nội bọn, song
đi sau vì có việc phải trễ nán, nay nhập bọn. Tới đây
bần đạo mới cho nội bọn mã tử coi passeport có vua Tây-tạng
phê và cho pháp danh và xem các hình của đức Quốc Vương,
Tả lê, Taxi và Quan Tả tướng Tsarung, nội bọn đều cung
kỉnh bần đạo và khen ngợi rằng hữu công đức quá. Vì
thầy đã lớn tuổi mà chịu cực đi tới xứ Tây-tạng đặng
cúng dường lễ Phật thiệt cực khổ mà lại hao tốn quá.
Đoạn các mã tử và hai huynh Choundouss và Issê nhập tụi uống
xăng vui cười tới tối. Ở đây tạm nghỉ hai ngày vì là
làng nhau rún của một vị mã tử, cha mẹ y bảo ở nghỉ
chơi tới mốt sẽ lên đường vì lâu hội hiệp vì y có gia
đạo tại Pharijong. Đồ ngủ của Bần đạo, Choundouss để
dưới lầu, chung với đồ của mã tử, vì huỷnh thấy nặng
nề, nên không đem lên lầu, nơi đơn ngụ. Tối lại bọn
họ làm một tiệc xăng nữa, Issê say xăng, la lối om sòm.
Ấy là : Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm, vì không có Samdhen
nên Issê ăn uống vô độ.
Ngày
2 Novembre 1936 – 19-9-â.l.
Sáng
dậy, xuống lầu đặng thăm đồ hành lý, thấy tanh bành,
bèn mở cái valise nhỏ ra xem thì thấy mất hết 6 rupee. Không
lạ gì, bọn mã tử ngủ đó, kẻ tham tâm đã lấy, nhưng
nghĩ vì Phật nói : Nhứt ẩm nhứt trác giai do tiền định…
Nay bần đạo mất số bạc ấy, không phải vô cớ, cũng là
một duyên cớ kiếp rồi… Vui lòng không chút phiền hà. Thôi
còn lại 14 rupee, lấy ra cất trong túi quần tây, luôn dịp
đem gói hành lý ấy lên lầu, thuật lại cho Choundouss rõ cái
sự tệ ấy. Huỷnh và Issê hít hà và ăn năn không cẩn thận,
ngỡ không có chi trong gói, nên không đem lên lầu, mà thầy
cũng không nói. Bần đạo sợ hai huỷnh buồn e bần đạo
phiền hà nên nói : Không hại gì, kẻ tu hành không cần tiền
bạc, phải chi mất kinh sách, giấy tờ trong valise thì buồn,
chớ mất tiền thì có chi lo buồn, hai huynh còn tiền đi đường
là quí, ấy là kiếp trước bần đạo thiếu nợ của kẻ
cắp nên nay phải trả. Nói rồi cười xòa cho họ hết ngại.
Ấy là một dịp hay cho bần đạo tiện dịp nói mất hết
đặng sau đi đường hai huỷnh không ỷ lại mà quá ăn uống
chơi bời, ấy là sự bần đạo lo hơn hết. Vì xứ Tây-tạng
phần nhiều nam nữ hỗn loạn lắm, và nhà nhà đều có thứ
xăng trữ để, ấy là xứ lạnh họ hay dùng như uống trà
mà ít tốn tiền hơn trà mà đặng ấm áp hơn. Nội bọn mã
tử nghe mất tiền ai nấy cũng buồn giùm. Nội ngày vào xóm,
trưa ngọ bột. Khí hậu đã lạnh lẽo hơn mấy ngày trước,
vì tuyết xuống trắng đầu non, nước theo triền núi đã
tráng mặt cứng đông, đêm ngủ thẳng giấc, khuya thức đi
tiểu, nghe tiếng đờn bà la inh ỏi ngoài đường và nghe có
tiếng chơn người chạy theo sau. Vào kêu hỏi Issê vì huỷnh
thức giấc, huỷnh lại cửa sổ hé cửa xem thì nghe cô ấy
đã vào nhà dưới lầu la khóc om sòm và bọn mã tử cãi lẫy
và cười rộ với nhau. Issê khép cửa và nói, bọn mã tử
chơi giỡn, cô đờn bà bị họ chọc nên giận khóc la là
vậy, không chi lạ. Bần đạo nghĩ cho huỷnh không hiểu lắm.
Thôi ngủ… Sáng thức hỏi ra thì mới rõ, cô nọ lấy 3 săng
của vị Babon hứa tối giao thông, song tối không giữ lời
hứa mà cũng không trả tiền lại, nên mới có cuộc rượt
nhau hồi hôm…
Ngày
3 Novembre 1936 – 20-9-â.l.
Sáng
lo trà bột điểm tâm, 8 giờ lên đường đi chừng một giờ
thì đã tới bến đò Cha-sâm-chu-ủ-rê, xuống ngựa thì đã
thấy hành khách tại bến đông dầy cũng chờ đò (Quận đi
đến Nhạip-sóc-cô-trúc, đặng đi đò dọc, thì có đi ngang
qua bến đò nầy, có chụp ảnh chỗ miễu nơi cầu). Đò cây
bên bến bên chùa đã chèo qua, người ngựa xuống đò nhưng
không chở một lần cho hết đặng, nên phân ra làm hai quận,
bần đạo đi chuyến trước, xuống đò thấy nước dưới
đáy đò đông cứng hết bọn chèo đò lo hốt tát nước.
Rảo mắt xem chiếc đò thì thấy cách đóng chiếc đò cũng
lạ hơn xứ Nam-việt, đẽo cây chuông như cột vuông chừng
một tấc rưỡi rồi đâu ráp lại như cái thùng rectangle,(1)
dài sáu, bảy thước, ngang lối ba thước, kịch cộm thô tháo,
song xem sự chắc ước dùng vài chục năm, vì xứ ít cây nên
phải dùng vậy. Còn đò, ghe nhỏ thì dùng toàn bằng da, may
rồi trét chai theo lằn may. Issê rằng : Từ đây tới Pharijong
thì đi đường phải lạnh lẽo vì gió lung lắm, tuyết lấp
đường cao ước đôi ba tấc. Bần đạo khi đứng yên trong
đò dựa be, đò chở xong bèn chèo qua bên kia bến. (Lúc đi
nước đổ lung, lúc nầy nước kém rồi, nên cũng ít chảy
mạnh, đò chèo qua ít bê.) Tới bến, lên ngựa chậm rãi đi
đặng đợi tốp sau. Ngồi trên ngựa, gió thổi lạnh quá,
bèn ngẫm nghĩ rằng : Lúc nầy tháng chín mà trời lạnh dường
nầy, tuyết trên núi đã trùm các đảnh, nước theo triền,
trong mấy ao vũng đều đông đặc hết, mấy cái suối nhỏ
thì hai bên mé đã đông, chính giữa còn chảy, có nhiều suối
vì nước chảy không mạnh nên bị gió thổi quá mà phải
đông đặc tráng mặt, nước chảy dưới nước đá tráng
mặt, người đi không bể, chỉ có gió ngựa mới nát lồi
nước, nghĩ cho qua tháng chạp ắt sẽ đông đặc cả suối
lớn nhỏ. Tưởng vậy bèn nhớ tới huynh Samdhen còn ở nán
lại Lhassa, lúc nầy lạnh lẽo quá, và lúc về Phật đà lối
tuần tháng 11 thì phải chịu biết bao sự lạnh lẽo lối
dọc đường, tưởng vậy phút động tâm thương Đạo hữu
Samdhen.
Lần
lượt ngựa đếm bước, phút đã tới xóm Khempa tôm-pô (lúc
đi, đi đò dọc nên không biết xóm nầy) thì mặt trời đã
quá ngọ. Đây nhà cửa chật hẹp, không có nhà trạm, nên
phải tạm nghỉ ngoài đồng ruộng. Bọn mã-tử đi sau chưa
đến, thì mã tử già và Choundouss vào nhà quen của mã tử.
(Choundouss cũng lạ đặc vì trước cũng không có đi đường
nầy, nay mới lần nhứt.) Mướn nấu trà mua xăng đặng đợi
tốp sau. Độ vài giờ thì Choundouss đem trà ra bảo : Thầy
dùng bữa vì đã trễ quá rồi. Bần đạo bèn lấy bột và
đồ ăn ra lo nhồi bột dùng bữa, đoạn lối 2 giờ thì tốp
sau đã tới. Xúm xích kiếm chỗ an nghỉ. Đêm nay lớp gió,
lớp sương lạnh thấu ruột, nhưng nhờ có cái áo lông che
đắp nên ngủ cũng êm. Đi đường như thế, chỉ niệm Phật,
chớ ngồi thiền định không đặng, hữu ngọa tư-duy tới
muội tâm thì thôi. Khuya thức giấc tốc mền đi tiểu lạnh
quá, không ngủ lại đặng, trùm mền nằm đó nghe ngựa khua
chuông bèn động tâm thương đến thượng cầm hạ thú nơi
xứ nầy, trong lúc đông thiên chịu sự lạnh lẽo rất khổ
sở, tưởng vậy rồi nằm quán tưởng từ vô thỉ đến nay
thọ không biết mấy lần thọ thân cầm thú, thì cũng phải
vậy, rồi nhớ tới Phật tổ đã trong 500 kiếp lẫn lộn
cùng cầm thú không biết mấy lần vì lòng mẫn độ chúng
sanh mà quên điều cực khổ, nhẫn nhục hữu-tình và vô-tình.
Quán vậy, phút cả thân đều hết lạnh.
Ngày
4 Novembre 1936 – 21-9-â.l.
5 giờ
sáng từ biệt Khampa-tampô, họ ăn bột, bần đạo không dùng.
Đi đến núi Khampa-bachzi. Mười giờ tới đảnh, trải qua
xóm triền dọc theo hồ. Ba giờ tới xóm Xú-sê (là nơi lúc
đi trẽ theo đường dây thép tới xóm nầy dùng xăng), đây
là ngã ba, nay đi đường khác, không đi đường núi Nhạp
sóc la. Bốn giờ tới làng Pêté (quận đi ghé ngày 24 Juin)
nghỉ ăn bột nghỉ luôn đêm. Mai đi Nhênh-xi ou(1) Xi-ô. Từ
mé triền xóm Ma-xú-xê thì đi theo mé hồ lớn dài, bề ngang
bằng sông Thủ, bề dài ước tám, chín chục cây số.
Ngày
5 Novembre 1936 – 22-9-â.l.
6 giờ
từ biệt Pêté lên ngựa đi. Mười hai giờ tới làng Nhênh-xi.
(Không ngụ tại Năng-cang-sê như quận đi 23 Juin.) Bữa nay
ít gió, ít lạnh, nước mé triền đặc đông, theo mé hồ
lớn cũng đặc (9 giờ tới đường đắp cuối hồ là nơi
đổi ngựa ngày 24 Juin, tạm nghỉ uống trà ngoài đồng).
Vào trạm nghỉ ăn ngọ, xóm nầy ít nhà chỉ có vài nóc gia.
Chiều thiền định.
Tiếp
điển Tổ sư về sự độ nhơn sanh phương tiện, tùy thuận
chúng sanh thân ngữ ý vân vân. . .
Ông
chủ trạm thấy, hỏi thăm Issê, Issê và Choun-douss thuật sự.
Ngày
6 Novembre 1936 – 23-9-â.l.
6 giờ
trà bột cúng dường rồi điểm tâm, sắm sửa lên đường,
phút chủ trạm cậy xem tay, Choundouss nài nỉ xem giùm, ông
tên Sâmthroup 36 tuổi (Sửu) người cúng dường 1 săng 2 yôgăng
nhang đèn và để tiền hộ.
5
giờ rưỡi lên ngựa, 8 giờ tới quận Năng-cang-sê, mã tử
ghé mua lúa né cho ngựa rồi đi, dọc đàng giông gió lạnh
và các suối nhỏ đều đông nước, suối lớn hai bên cũng
đặc, ngựa lấy cẳng đạp bể nước tráng mặt đặng uống.
1
giờ tới Ziá-ra (quận đi ngụ 22 Juin). Khi đi nước mênh mông
nay về ráo rẻ, còn chút ít đều đặc hết.
Ngày
7 Novembre 1936 – 24-9-â.l.
4 giờ
sáng thức uống 3 chén trà, họ uống xăng. Năm giờ lên ngựa
từ biệt Ziá-ra, lên đảnh Kharula, ôi biết bao nhiêu lạnh,
ngựa đạp tuyết rổn rảng, con suối dưới triền đặc nước,
trên đảnh trắng phao, quận đi đến đây ngày 22 Juin, không
mấy lạnh, nay nước đông, gió mạnh, tê tái tứ chi, mặt
mày như cắt. Chín giờ tới ngã ba cuối đường núi Kharula,
hai người trong bọn đi qua Giăng-sê, còn nội bọn trẽ qua
đường khác. Mười hai giờ tới xóm Chamanangca ou (Giamônangca)
tạm nghỉ luôn tới mai. Ngọ bột, chiều mua của cô chủ
trạm 1 yogăng cải củ bào kho một nồi. Xóm nầy chỉ có
vài cái nhà thôi.
Ngày
8 Novembre 1936 – 25-9-â.l.
4 giờ
sáng trà điểm tâm, họ dùng bánh canh thịt, 5 giờ đi bộ
một khúc đường xấu, ngựa cỡi khó đi. Đoạn đến nơi
đường tốt, lên ngựa thẳng lên đảnh Ôpyala, 9 giờ tới
hữu đảnh đoạn xuống triền, lần lượt gộp nầy tới
gộp kia. Hai giờ tới làng Dranh-đa-zi-ga, tạm nghỉ tới mai.
Trà
vài chén rồi ăn quá ngọ cũng bột, cải kho. Đêm nay ngủ
nhà bếp ấm áp như hôm qua.
Ngày
9 Novembre 1936 – 26-9-â.l.
4 giờ
sáng thức, trà điểm tâm. Năm giờ rưỡi thả bộ một đỗi,
rồi lên ngựa qua hai đảnh núi cận nhau, 10 giờ tới hữu
đảnh, xuống triền ngựa lần bước. Hai giờ tới xóm Yôkăng
(hai đảnh tên Sêljola. Làng nầy có nhà thơ, khi đi có ghé
nơi bờ lộ trước nhà thơ uống xăng ngày 14 Juin).
Tối
lại chủ gia nghe thuật việc bần đạo, thì vợ chồng phục
lắm. Mượn xem tay một cô, chồng ta-bà. Đoạn bà hộ cải
bẹ đưa cho hai huynh đệ. Tối ngủ ấm áp.
Ngày
10 Novembre 1936 – 27-9-â.l.
5 giờ
thức trà, trả tiền nhà, ông từ chối xin cúng hiến Lama.
Sáu giờ rưỡi lên ngựa. Một giờ rưỡi tới làng Samadơss,
vào trạm nghỉ, trà rồi dùng bột. Bọn mã tử tách phe, hai
huynh đệ coi bộ giận. Đêm nay lạnh và bị ba bữa rày chuyển
răng cùng, đêm nay nó hành ngủ không đặng. Bọn mã tử mua
thịt chia cho hai huynh đệ, bớt giận. Mã tử có dại gì làm
quen, ăn chung mà làm biếng quá !…
Ngày
11 Novembre 1936 – 28-9-â.l.
4
giờ thức, trà nước. Kẻ bột người không. Sáu giờ lên
đường, trải qua làng Kala (khi trước tạm ngụ ngày 12 Juin)
đi tới 2 giờ tới xóm Xhalu tạm ngụ nhà bếp dơ dáy. Hết
đồ ăn mua cô chủ nhà không lấy tiền cải củ. Hai người
đi Giăng-xê, nay đã hiệp bọn, mua giùm 3 trăng nga khoai lang
tây. Dùng bột cải bào kho. Chia Xhura 3 yoyăng. Coi tay giùm cô
chủ gia. Tối ngủ không bao nhiêu. Mua đặng một cái hộp
quẹt 1 trăng nga.
Ngày
12 Novembre 1936 – 29-9-â.l.
1 giờ
sáng thức trà rồi. Hai giờ lên đường, trời ló đầu núi
tới Dorxhanh, họ ghé uống xăng. Issê say. Mười hai giờ tới
Touna (lúc đi là 11 Juin gọi Tuyna cũng vậy). Nghỉ nhà khác,
chủ gia cho phòng cũng khá hơn các nơi, nhưng không đặng hoan-hỉ
lắm. Trời lạnh, răng nhức, hết thuốc hút, mua cùng không
có, thật xứ khổ lắm.
Ngày
13 Novembre 1936 – 30-9-â.l.
4 giờ
sáng thức, nấu trà uống. Năm giờ đi lên đường, dọc đàng
mua đặng một gói thuốc 2 trăng nga, đỡ nhức răng vì đi
trên đồng Gobi hai ngày rày gió nhức tai nhức mắt, tê tay
chơn. Một giờ tới Pharijong mừng quá vào nhà quen lúc trước
nghỉ, mốt sẽ lên đường. Uống trà rồi, chiên khoai ăn
bột. Cô chủ gia mừng rỡ hỏi lăng xăng. Ngày nay hai huynh
đệ làm tiệc xăng. Say mèm cả hai. Cạo đầu.
Ngày
14 Novembre 1936 – mùng 1-10-â.l.
Mấy
ngày không rửa mặt, nay hâm nước tẩy sạch sẽ, nhậu trà,
mượn mua thuốc, hộp quẹt, trà, sữa, đường, dầu ăn, hành
cả thảy là 13 trăng nga. Nấu trà sữa uống vì 15 ngày rồi
không uống. Ngọ cơm, khoai kho, mượn Choundouss 1 rupee (24 trăng
nga 1 yogăng), mua trọn 1R ống sữa khô. Đêm nay đi tiệc xăng
cùng bạn. Choundouss say, đi kêu, bị Issê đánh một thoi vào
mắt hữu. Cả ngày buồn luôn.
Ngày
15 Novembre 1936 – 2-10-â.l.
6 giờ
thức lo điểm tâm bột khoai khô đợi Issê tới 7 giờ rưỡi
mới về. Tám giờ mã-tử đem ngựa lại, từ biệt Pharijong,
từ đây hết đường đồng Gobi, cứ đi đường triền núi,
lên ải ít, xuống đèo nhiều, 15 cây số xa Pha-rijong thì dọc
theo triền đã có cây tòng vì lần lần xuống thấp, tới
20 km đã có nhà có nóc cây hoặc tôle, đi ngang qua làng Gaou,
có nhà thờ Anglais, có quán. Năm giờ tới Batzăng vào trạm
nghỉ. Chủ trạm nầy niềm nở lắm. Ăn bột khoai kho đêm
ngủ ấm áp. Từ đây dân chụm củi. Đường đầy phân bò,
ngựa không ai lượm.
Ngày
16 Novembre 1936 – 3-10-â.l.
5 giờ
thức, 6 giờ rưỡi lót lòng bột. Bảy giờ lên đường cách
4 km tới Numpôsôchi là nơi nhà đúc bạc tiền Tây-tạng khi
trước, nay dời về Lhassa. Mười một giờ trải ngang qua Galinhkha,
đi luôn (nhớ lúc đi ngày 27 Avril, tạm ngụ nơi chùa của
đức Dromo Gueshay và cúng dường). Nghe đồn Ngài tịch Choundouss
và Issê ghé đó hỏi thăm tin tức. Một giờ tới trạm Xhiênggiu
tạm nghỉ mai đi. Cúng dường bột rồi dùng bữa, tối nghỉ
êm ả, hai huynh đệ hiệp bọn, hỏi ra đức Dromo thiệt tịch,
ngài có nói : ta sẽ trở lại trong ít năm xa đại chúng.
Ngày
17 Novembre 1936 – 4-10-â.l.
5 giờ
sáng thức, trà nước bột lót lòng, 6 giờ rưỡi thả bộ
đi ngang Galinhkha, Xa xinh (Englis). Issê và Choundouss ghé đó đòi
tiền, trải qua xóm China Ri-canhcăng (lúc đi tạm ngụ 22 Avril,
23, 24) đến đây lên ngựa đi lên đảnh. Một giờ tới nửa
đảnh tới trạm Bi-thăng-ka, vào trạm nghỉ. Lama Pharijong lo
trà, bần đạo thả lại quán, còn 2 trăng nga 1 yogăng bèn
uống 2 ly trà ngọt với bánh mì Tây-tạng. Sáu giờ hai huynh
đệ về nói đòi không đặng, để mai tới trạm khác, có
thơ của Police sẽ có tiền. Tối nghỉ êm…
Ngày
18 Novembre 1936 – 5-10-â.l.
4 giờ
thức, 6 giờ trà bột, 7 giờ thả bộ lên đảnh Zêlêla, tới
nữa đảnh ghé quán Népali uống một ly trà ngọt (tiền Issê
1 ana) lên ngựa đi 12 giờ tới đảnh (ranh thuộc địa Anglais
và Tibet, xuống triền rồi lên đảnh Koubou, ghé quán ăn bánh
và uống trà ngọt (2 anas) lên ngựa xuống triền lên dảnh
Koubou nhỏ, đoạn đi bộ xuống triền rồi lên ngựa lên đảnh
Nađăng, ghé trạm nghỉ mai đi. (Khi đi là ngày 20 Avril.) Ăn
bột khoai. Bốn giờ chiều. Tối nghỉ.
Ngày
19 Novembre 1936 – 6-10-â.l.
3 giờ
thức, cô chủ trạm thức nổi lửa, 6 giờ trà xong, xem tay
giùm chủ gia, cho xem passeport và hình vua Tả-lê và Taxi đoạn
lên đường thả bộ xuống núi Nathăng. Ba giờ tới suối
mới hết triền, dọc đường ghé hai trạm dùng trước một
ly trà ngọt (1 ana) sau tới Zélum một bánh mì (1 ana) lên đường
đi bộ tới 5 giờ tới làng Linhđam, vào nhà quen lúc trước
nghỉ. Chủ gia mừng và nói đi già về trẻ. Đoạn uống trà
Tây-tạng và một ly trà ngọt nữa (1 ana). Đợi nấu cơm sẽ
dùng, tối uống một ly trà ngọt rồi nghỉ (1 ana). Đây, quít,
cam, bưởi, tốt lần.
Ngày
20 Novembre 1936 – 7-10-â.l.
5 giờ
thức, sắm sửa lên đường, 6 giờ thả bộ, dọc đường
cây trái đỏ cây (quít) xuống dốc núi Linh-đam, đoạn lên
núi Rung-linh 10 giờ tới chợ, ghé tiệm khách trú một ly trà
và một bánh, lúc trước đã quen (19 Avril), đoạn đi bộ một
đỗi lên ngựa lên dốc núi, 12 giờ rưỡi tới trạm xóm
Trompébăng ghé trạm nghỉ luôn, sáng đi. Từ Linh-đam tới
Kalimpong có nhà tranh, cộng cả ăn bánh uống trà hết thảy
(9 anas), ăn canh cải chung trả (1 ana) Lấy 7 anas cho đầy 1
rupee xài rồi 10 anas. Thuyết pháp, cả thảy đều tựu nghe.
Chủ gia biết Hindou.
Ngày
21 Novembre 1936 – 8-10-â.l.
5 giờ
thức, 6 giờ uống một ly trà 3 pạsas, khách thương hộ cốm
dẹp, 6 giờ rưỡi lên ngựa lên đảnh Trôm-pêbăng vài km
xuống triền, đoạn tới chợ Zổnthapa, uống một ly trà và
bánh bột chiên (parlet) 2 anas. Đoạn lo lên ngựa lên dốc núi
đi đến Péđông quá ngọ (ở trên đảnh). Chợ Péđông có
nhà trường, nhà thờ, sạch sẽ. Phần nhiều nhà nóc tôle
sơn chu. Cây cối, tre lồ ồ nhiều, cam đỏ cây. Một xu bốn,
năm, sáu trái. Nay nghỉ tại trạm Péđông (trước là ngày
18 Avril) ăn cơm với nước muối ớt qua buổi, các huỷnh xơi
thịt heo xào cải.
Ngày
22 Novembre 1936 – 9-10-â.l.
5 giờ
thức lo gác yên. Sáu giờ tạm biệt Péđông lên núi, 8 giờ
tới chợ Arakara, tạm ghé tiệm quen uống trà ăn bánh mì chiên
Tây-tạng, chủ tiệm không tính tiền trà mọi người, ấy
là cách tiếp khách đặc biệt. Hai bánh (1 ana) lên ngựa đi
1 giờ tới Kalimpong. Vào nhà quen của Choundouss đỗ ngụ. Chủ
gia trà thuốc tử tế. Hườn tất, từ giã mã tử. Chìu theo
tục, chiều tối mới ăn cơm, họ dùng đồ mặn, bần đạo
mua hai gói đậu phọng đâm nấu mắm đậu, ăn một bữa rất
đẹp miệng, chủ gia và hai huynh đệ cư sĩ cả buổi uống
xăng. Tối ngủ nực quá, tuy là trên núi cao 4000 feets.
Ngày
23 Novembre 1936 – 10-10-â.l.
Thức
sớm, đoạn trà điểm tâm, tụng kinh mơi. Ăn ngọ cơm đồ
chay xào của cô chủ gia nấu. Choun-douss đưa 15 rupee. Trả
tiền cho Choundouss 1 rupee và Issê 1 rupee. Bán cái áo lông 9
rupee 8 anas. Cho cô chủ gia 8 anas. Huynh đệ họ dùng xăng, bần
đạo và Lama dùng trà sữa (3 anas). Tối lại huynh đệ vui
vẻ đàm đạo, kẻ mai đi ngả Ghoom, người mai đi ngả Siligauri,
buồn quá, trong vài tuần sẽ hội hiệp tại Phật-đà-gia.
Ngày
24 Novembre 1936 – 11-10-â.l.
5 giờ
huynh đệ đồng thức, trà, xăng. Ba huynh đệ Choundouss, Issê
và Lama lo cuốn gói lên đường, thả bộ qua Trai-si-trá. Bảy
giờ họ đi. Bần đạo ở lại chiều sẽ đi xe hơi qua gare
Siligauri. Tối đi xe lửa về Calcutta lúc 8 giờ. Chủ gia tử
tế lo trà sữa, lo mua giùm hàng bông, nấu ăn ngọ mua các
vật cả thảy là 10 anas. Ăn ngọ rồi nghỉ, 1 giờ xe hơi
lại, ông chủ gia đưa ra xe hơi, xe ăn 2R.8 anas bagages bỏ quên
cây dù. Đoạn xe cứ xuống dốc núi Kalimpong 25 km (altitude
3.500 feets) 15 km đường bằng, hai bên ruộng như xứ ta, lúa
chín đỏ, trải qua ít chợ núi Kandi, Kalagaira. Bốn giờ tới
gare Siligauri. Mua giấy 5R.14A.1P. Coolie 2A.
Ngày
25 Novembre 1936 – 12-10-â.l.
6 giờ
xe lửa tới Calcutta (cả đêm ngồi không ngủ mệt quá) coolie
2 anas, xe ngựa 8 anas, tạm tại chùa hội, cả thảy thấy mặt
đều vui mừng. Bảy giờ trà sữa, bánh mì, beurre, chuối bỉ
bàn. Trưa ngọ đồ chay ngon miệng. Mua một cái rương tôle
2R, một con dao 5A, sở phí ít anas. Lo thu xếp, tối đi ra xe
lửa về Phật-đà-gia. Tám giờ đi xe kéo 5A ra gare, giấy xe
4R.7A.2P. Coolie 2A.2P, Gobal 7 anas. Tối ngủ êm, trải đồ ngủ
dưới rầm xe ngủ.
Ngày
26 Novembre 1936 – 13-10-â.l.
6 giờ
xe tới Gaya, uống trà 2 anas, xe ngựa đi 8 anas. Chín giờ tới
Bodhi Gaya. Mười một giờ ngọ, Burma đãi cơm. Không có Bikku
lấy đồ không đặng, phải lo đi về Sarnath, chuyến xe 1 giờ
50. Bảy giờ rưỡi xe tới Bénarès, mua giấy về Sarnath 1 ana.
Chín giờ rưỡi xe chạy, mười giờ tới gare, xe ngựa 3 anas.
Mười một giờ tới Tăng già. Trao thơ cho Secretary, sở phí
theo xe lửa 1R. Giấy xe Gaya Bénarès 2R.5A.
Ngày
27 Novembre 1936 – 14-10-â.l.
Lo
đãi đại chúng các nơi, đoạn lo điểm tâm. Xong lo công quả.
Tối viết thơ gởi về Thiên-chơn. Sáng đặng thơ nhà bank
và Nhung. Đạo hữu Karma trao vì huỷnh thâu giùm ngày 21 Novembre.
The
National City bank of New York.
(date
18 Novembre 1936)
Dear
Sir.
Under
advice from Banque de l'Indochine Saїgon office we are prepared to pay
you Rs 249-8-0.
Please
send us your Instructions as to the disposal of he money together with
the enclosed recept in triplicate for the amount, duly signed and stamped.
Your
faithfull,
Alkapoor
Sub.
acct.(1)
Ngày
28 Novembre 1936 – 15-10-â.l.
Y lệ,
2 giờ khởi lễ, cũng như năm rồi, voi chở xá lợi, Sécretary
và hai vị Đại lão Thượng tọa, ngồi hầu lầu bạc, trong
là xá lợi, tàng vàng che. Kèn trống inh ỏi, cờ xí mịt trời,
chư đại chúng theo hầu, Nhựt bổn, Tây, Xiêm, Annam, Hindou,
Ceylon, Burma, Sénégalais, Tibet, Allemand đại chúng tề tựu.
Xong rồi các nước thuyết pháp, có thầy Ananda Rahoula và chư
sư khác thông ngôn mấy thứ tiếng.
Ngày
29 Novembre 1936 – 16-10-â.l.
Gởi
thơ về Việt-nam Thiên-chơn và cư sĩ Nhung. Năm nay có nhiều
chư sư các nước như : Siam,(1) một ông (biết chút đỉnh
tiếng Annam nhưng cũng quí vì hai năm nay mới hở môi nói chút
tiếng nước nhà lần đầu nơi Trung thiên) có một vị Allemand
biết chút ít tiếng Langsa có một vị Nhựt bổn, một vị
Chinois, Sang-hai, cả thảy đều vui vẻ chuyện trò
Ngày
30 Novembre 1936 – 17-10-â.l.
Nay
là ngày chót cuộc cúng dường, có cuộc thuyết pháp, có cuộc
India boy Scout.(2) Thiên hạ buôn bán đông đảo vui vẻ.
Trong
lúc đi Tây-tạng thì ông Cư sĩ Nhựt bổn Shikou Kawai Japaness,
đã từ biệt Holy Isipatana Sar-nath về Japan. Cùng nhau quen biết
tại Đạo tràng sáu tháng có dư, ấy là một tay rất mộ
Phật đạo.
Ngày
1er Décembre 1936 – 18-10-â.l.
Nay
điểm tâm rồi lo dọn dẹp, hạ cửa hạ cờ, lúc đang hạ
cửa nơi trước chùa, huynh Allemand ở đằng quán đi lại,
bèn thẳng lại bần đạo máng vào cổ bần đạo một xâu
chuỗi Kim-cang rằng kỉnh tặng. Mô Phật cũng hoan hỉ thọ
lãnh.
Sư
trưởng Srinivasa bữa nay đi Bodhgaya có lại từ tạm lên đường
và có nói : tôi có hỏi ông Từ hàng cho huynh đi Bodhgaya, người
rằng để huynh ở Sarnath quí hơn.
Ngày
2 Décembre 1936 – 19-10-â.l.
Lo
dọn dẹp thu xếp cờ xí.
Tối
soạn cờ tới 11 giờ, luôn dịp đặng chờ đức Đại sư
đi Bénarès đưa bạn đạo về xứ.
Ngày
3 Décembre 1936 – 20-10-â.l.
Điểm
tâm rồi, lo xếp cờ bỏ vào thùng, cờ lung lắm, ba ngày xếp
mới rồi. Nay hườn sự. Chiều rảnh rang quét sân tăng già.
Rev.
via Bhikkhu
Budhist
Temple
Latouch.
Road
Lucknow.
Ngày
4 Décembre 1936 – 21-10-â.l.
Y lệ,
Sécretary đi Calcutta hồi âm mà không hay.
Ngày
5 Décembre 1936 – 22-10-â.l.
Y lệ,
bữa nay rửa phòng của Sư trưởng. Đảnh lễ Đại đức
Lão Thượng tọa Laknow vì ngài Quốc độ. Sư trưởng viếng
phòng, hỏi bần đạo có đủ mền áo chăng ? Thưa đủ dùng,
ngài lại đơn tốc mền nệm xem. Đặng thơ Thiên-chơn, ký
tên Thiện-trì. Sửa hai cái đồng hồ và mang vớ cho Sư trưởng.
Đồng hồ bị lạnh rít dầu nên chạy không nổi, chỉ lấy
dầu hôi rửa sơ thì chạy đặng.
Ngày
6 Décembre 1936 – 23-10-â.l.
Y lệ,
bữa nay Sư trưởng uống thuốc, không điểm tâm, bần đạo
đi lấy nước sôi, trà, sữa cho ngài. Đoạn lo giặt đồ
y phục, mấy tháng trời vùi vẩn trong tấc đường Tây-tạng.
Bữa
nay học thêm vần Siam.
á
ạ í ị ứ ự ú ụ
ô
kô chô
đô tô
bô pô
Ngày
7 Décembre 1936 – 24-10-â.l.
Y lệ,
đoạn lo học. Chiều lối 4 giờ đạo hữu Dham-majoti đi Calcutta
về có lấy giùm một rương đồ đem về và mua giùm một
cái đồng hồ trái quít 4R.8A một con dao kính cạo 1R.4A và
một cuốn sổ nhựt ký 1937 cộng là 6R.2A, thối tiền huỷnh
không lấy, gọi chút ít tặng hiến cho bần đạo.
Ngày
8 Décembre 1936 – 25-10-â.l.
Y lệ,
đoạn viết thơ cho Choundouss vì đã có đặng thơ của huỷnh
ngày 5-12-36 và gởi thơ recommandes cho banque New York.
Dear
Champa Choundouss,
I
am very glad to receive your kind letter, I think you are now at Bodh-Gaya
and you have acquired the room. I have many works to do at Sarnath, hence
now. I am not able to come to see you, but I that I can get the permission
to come to Bodh-Gaya when the venerable Samdhen off lama will come from
Tibet, incare I am aware of it.
Yours
sincerely.(1)
Ngày
9 Décembre 1936 – 26-10-â.l.
Y lệ,
chiều đi xuống trù phòng uống trà, phút gặp huynh Sangharatana
cũng tới đó uống trà, huỷnh hỏi bần đạo rằng : Huynh
không về xứ sao ? – Ngẩn ngơ bèn nói : Sau sẽ về. – Huynh
có ý mến Ấn-độ sao ? – Phải, nếu không ưa ắt không
đến. – Bây giờ huynh có học không ? – Có chút ít. –
Thứ tiếng nào ? – Cũng y lệ cựu Englis và Hindi. – Sau có
dùng đến nó đâu mà phải học ? – Bây giờ dùng nói chút
ít cùng người. – À huynh tốt hơn là đi chùa Laknow, sư trụ
trì muốn huynh đến đó. Huynh biết Laknow chưa ? – Chưa. –
Thành thị lớn và đẹp lắm.
Mấy
lời huỷnh nói trên đó làm cho bần đạo nhớ lời Tổ sư
Lama nói khi còn ở Lhassa.
Ngày
10 Décembre 1936 – 27-10-â.l.
Y
lệ, Verahsapatibar.
Ngày
11 Décembre 1936 – 28-10-â.l.
Y
lệ, ăn, học, công quả. Bureau đưa recu (recom-mandée thơ)
Ngày
12 Décembre 1936 – 29-10-â.l.
Y lệ,
9 giờ đặng thơ nhà banque The National City Bank of New York.
Please
send us your instructions as to the dispoas [disposal] of the money together
with the recept in dipplicate [duplicate] for the amount, send to you on
18th Novembre 1936.(1)
Ấy
là giấy nhắc (to remember) vì đề ngày 9-12-36 (còn thơ gởi
là 8-12-36).
Ngày
13 Décembre 1936 – 30-10-â.l.
Y lệ,
đặng thơ nhà banque The National City Bank of New York, có một
cái chèque de 249R.8A.0. (Thơ đề ngày 10-12-36) thì cũng không
phải thơ trả lời cái thơ bữa 8-12-36 đã gởi. Nhưng có
lẽ cái chèque nầy là đủ dùng.
Nay
cái gót mặt đau quá, tối đi xuống trù phòng uống trà không
đặng, nhờ đạo hữu Dhammajoti đi lấy giùm.
Ngày
14 Décembre 1936 – 1er-11-â.l.
Y lệ.
Trưa ngọ rồi, đem giấy tờ bank hỏi thầy ký, huỷnh cũng
nói y như trên và chỉ rành rằng : Nếu chi thơ đề ngày 11-12-36
thì phải, vậy tốt hơn là đợi vài ngày nữa.
Ngày
15 Décembre 1936 – 2-11-â.l.
Y lệ,
cho huynh China ba cái y và cúng.(2) Huỷnh là người Thượng-hải
nên nói chuyện chút chút bằng chữ Hán mà thôi. Tội nghiệp
đến ngụ tại nhà Thiền Lộc-giả, chẳng một ai quen, chỉ
có một bần đạo kết bạn đạo thì huỷnh mừng và lân
la. Có khác nào bần đạo lúc mới đặt chơn nơi Xá-vệ-thành.
Nghĩ mình rồi lại thương người.
Ngày
16 Décembre 1936 – 3-11-â.l.
Y
lệ.
Ngày
17 Décembre 1936 – 4-11-â.l.
Y
lệ. Chiều đăng đạo tràng, phút gặp huynh China đạo hữu,
huỷnh kính hộ một gói thuốc tế-sảng đơn của đức Quan-âm
Cứu-thế.
Secretary
về tới hồi 10 giờ.
Ngày
18 Décembre 1936 – 5-11 â.l.
Y
lệ, Có Secretary về, ai nấy đều lo phận sự, không bê trễ,
tốt quá.
Kasiapa
Dhammaratana
Boacdha
Pria
Ngày
19 Décembre 1936 – 6-11-â.l.
Y
lệ. Nay có hai người Tây-tạng đến.
Ngày
20 Décembre 1936 – 7-11-â.l.
Y
lệ. Đêm nay có cô Anglais đến, họ đã sửa phòng cho cô,
vì cô đến đặng thọ Samanérani(1) pháp.
Nam-mô
bổn-sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Xin khiến lòng các nước văn-minh
đem gương lành dẫn diệu chúng sanh.
Tên
cô là Miss E. Grant Robinson. Đạo hiệu là Vajira.
Ngày
21 Décembre 1936 – 8-11-â.l.
Y
lệ, ngày hôm qua mưa khá khá, đêm nay khí tuyết có hơi lạnh.
Sáng khí hậu lạnh hơn các bữa rồi. Bần đạo tháo luyện
chút ít trong sự công quả. Chiều lại cầu nguyện Phật huệ
xin ưng quẻ đặng trở lại Thiên-chơn-tự đặng quẻ tốt.
. . . . . . . .
Duy
còn chờ huynh Samdhen một ít tuần nữa.
Ngày
22 Décembre 1936 – 9-11-â.l.
Y lệ,
nay công quả trên chùa, không chi lạ. Ông sư cho một trái
mận, bần đạo không ăn, hộ cho Karma và Damaj.
Ngày
23 Décembre 1936 – 10-11-â.l.
Y lệ.
Bần đạo lãnh phần công quả trên chùa lo sự sạch sẽ đại
diện Phật tổ. Mỗi ngày lo lau chùi.
Nay
có chư Lama ít vị và mươi vị nam nữ Cư-sĩ đến cúng dường.
Ngày
24 Décembre 1936 – 11-11-â.l.
Y lệ.
Chiều nay đăng đạo tràng thì có cô Anglaise tại chùa cúng
dường, thì lúc kinh kệ rồi, ông Chánh từ hàng bèn đem cô
lại gần bần đạo mà ra mắt nói : đây là vị Bikkhu Annam,
và ông nói rằng : Cô đây ở London đến ra mắt thầy. Đoạn
xoay qua nói với cô rằng : Sư Annam biết tiếng Langsa. Cô bèn
hỏi tiếng Anglais rằng : You speak French ? – Yes miss…
Nay
cô cho Thầy cả hay rằng : Mai cô thọ Sama-nerani.
Ngày
25 Décembre 1936 – 12-11-â.l.
Y lệ.
Chiều 3 giờ đi xuống trù phòng uống trà, đi ngang qua phòng
cô Anglaise, thấy cô lo mượn người cạo đầu, thấy vậy
mừng và thương. Đoạn tới 7 giờ Đại chúng đăng đạo
tràng y lệ. Rồi cuộc kinh kệ thì mở đầu làm lễ thọ
Sadi ni cho cô, cô thọ y đắp, xem ra oai nghi lắm. Tam qui xướng
rồi, đoạn thọ thập giái, rồi cột chỉ nơi bình nước
(C. L) rồi tháo chỉ trao tay đại chúng giáp vòng, rốt là
cô, bèn xướng niệm chúc cho cô…….
Ngày
26 Décembre 1936 – 13-11-â.l.
Y lệ,
không chi lạ. Có Bổn đạo Ceylon qua 10 người. Bữa nay ăn
ngọ rồi về liêu đang ngồi viết nhựt ký liền có huynh
Buddhapria ở kho kinh qua kêu mời đi chụp hình. Cả ông viên
chức chánh phủ Ceylon qua mấy ngày rày, nay xin chụp hình Đại
chúng và có mời cô Sa-di Anglaise dự cuộc chung. Tối lại
cô theo quan Hội-đồng về Ceylon.
Ngày
27 Décembre 1936 – 14-11-â.l.
Nay
Sư giáo-chủ cảm phong sương, nên bần đạo lấy trà sữa
về liêu cho Thầy. Trưa ngọ cũng vậy.
1o.
Anagarika Bramhmachavi (Govinda)
2o.
Nranakhetto Bhikku (German)
Maruyama
(Japanese).
Ngày
28 Décembre 1936 – 15-11-â.l.
Y lệ,
nay Thầy cả bớt bịnh. Trưa ngọ rồi về liêu rồi qua Kho
Kinh xem kinh, bỗng ông Chánh-từ-hàng cầm tờ nhựt báo ở
Bureau bước vào phòng đọc, bèn nói rằng : Chư sư đã biết
Ladenla ở Darjeeling là người representant cho Hội Đ.B.A., ngài
đã tị trần, có đăng nhựt trình đây. Đoạn đọc ai nấy
nghe qua cũng có vẻ chia buồn cùng gia quyến của Ladenla.
Bần
đạo đã đặng biết ngài lúc ở Ghoom.
Ngày
29 Décembre 1936 – 16-11-â.l.
Y lệ,
lên chùa phút gặp sư Burma Uza-Gaya (quen tại Bodhgaya Janvier
1936) chào mừng đoạn lo triệu thời đọc tụng. Xong cuộc,
ngài hộ đồ vật thực quả đẳng cho bần đạo, đem thẳng
trù phòng ½ phần cho Đại chúng ăn, còn ½ phần cho Bâu-nanh
coolie tại chùa.
Piaratana
thấy bần đạo lấy đồ cho Sư-trưởng thì nói huynh lo cho
thầy quá, bị vậy thầy nằm hoài. Bần đạo rằng : có vậy
mới có chút công-đức, tốt lắm. Khi đau phải giúp nhau.
Ấy là một vị Sadi rất tệ tánh trong tăng già, chúng đạo
phần đông đều lánh. Song với bần đạo thì không lánh ai
cả, xấu như tốt.
Ngày
30 Décembre 1936 – 17-11-â.l.
Y lệ.
Không chi lạ. Nay Sư trưởng đã hết cảm. Tự đi điểm tâm.
Khi về, phút Sư đặng thơ Ceylon. Thầy bèn thuật cho bần
đạo nghe rằng : Chúng đệ tử nơi chùa Sư gởi thơ mời
Sư về sớm sớm viếng tự. Thầy nói có lẽ trong mùa nực
tới sẽ đi và đem bần đạo đi cho biết chùa và muốn ở
lại chùa cai quản giùm cho Sư thì rất tốt.
Ngày
31 Décembre 1936 – 18-11-â.l.
Y lệ.
Trong lúc sớm lên chùa lau chùi nơi chánh điện, sửa soạn
nhang đèn cho Đại chúng, nhựt lệ triệu thời. Phút thầy
Chánh từ hàng lên gặp bèn thẳng vào Chánh điện nói rằng
: Sư ngày mai nghỉ để đạo khác thế cho Sư một ít lâu
cho khỏe, cứ làm hoài, tôi không thấy chư Đạo nào làm cả.
Bèn căn dặn đôi ba phen rồi lễ Phật.
Ngày
1er Janvier 1937 – 19-11-â.l.
Y lệ,
nay nghỉ công quả chánh điện, đoạn lo việc khác. Triệu
thời rồi xuống trù phòng lấy bát cúng Phật triệu thực.
Mười giờ đặng thơ Thị-Cảnh, xem thơ “Hội ý” bắt
nực cười cho cái tu nầy nhiều Ma-vương quyến thuộc ghẹo
tâm, khêu lửa sân-hận, phiền-não, nhưng với ai kìa, chớ
với Bần-đạo vẫn là giọt cam-lồ rưới tâm rất mát mẻ.
Kẻ chỉ lỗi là thầy, nhớ hoài lời Phật dạy : Cả thảy
chúng sanh là cha mẹ, thế thì bần đạo nhìn cả thảy lời
xuất khẩu của người như lời cha mẹ dạy con, rầy con,
quở con, nên vui lòng cam thọ. Có chi lạ cái cung kỉnh là
phận sự của con cái. . . . . . .
Minh
hà tâm, kiến hà tánh ?
Kỳ
tâm như hà ?
Thanh,
huỳnh, xích, bạch dã ?
Phương,
viên, trường, đoản dã ?
Ngày
2 Janvier 1937 – 20-11-â.l.
Y lệ,
triệu thời đọc tụng rồi công quả quanh chùa cho bớt lạnh
vì lúc nầy Sarnath đã lạnh lung rồi, tuy không sánh Tibet chớ
cũng hơn các miền Ấn-độ. Sớm mơi làm công việc chút ít
mới quên lạnh và đặng máu chạy đều, gân cốt giãn.
Chiều
trả lời cái thơ của cô phán Nhung.
Dịch
kệ trong kinh Phật tiền kiếp trong bài : The Kind Brahma datta
:
Triếu
kẻ lòng nhơn ấy lẽ thường,
Khác
nào lấy phải đối người thương.
Lý
nhiên, nhơn-đạo trong đời vẫn,
Nhưng
thế mà hay chửa đủ đường.
Đối
quấy trả lành thế mấy ai,
Trở
yêu kẻ nghịch trí nên tài.
Không
nêu hạnh cả thuần thuần tánh,
Công
đức chêm cao phước lộc dày.
“Bổn
vô kiêm hữu”.
Ngày
3 Janvier 1937 – 21-11-â.l.
Y lệ,
tụng niệm triệu thời rồi công quả quanh chùa. Trưa ngọ
rồi đi xuống nhà thuốc thí của hội hiệp cùng Shanada học.
Buổi chiều đi lên mộ thời trên chùa phút gặp huynh Ưu-bà-tắc
Ceyloniste dọc đường, huỷnh hỏi : chừng Sư cả đi về Ceylon,
thầy chắc cũng đi cùng Sư cả hé ? – Phải, vì ngài có
hứa đem tôi đi đến Quốc-độ Ceylon lễ bái chư tự và
xá-lợi Phật (răng của Phật tổ tại Ceylon) và cho biết
xứ ấy.
Đi
đến sân chùa xảy gặp Chánh-từ-hàng, thì huynh cư-sĩ trăm
lia với ngài, Ngài day lại tôi rằng : Thầy ở luôn khi tại
Sarnath, đừng đi đâu cả. Bạch : bần-đạo sẽ đi Ceylon
rồi trở lại. – Vậy thì đặng, đừng ở luôn Ceylon.
Đoạn
chuyện vãn chút chập kế tới giờ mộ thời.
“Đạo
chỉ ư chí Thiện”.
Ngày
4 Janvier 1937 – 22-11-â.l.
Y
lệ, không chi lạ cả.
Cái
tâm bổn tánh lặng trang.
Tội
tình không tạo sao mang tiếng đời ?
Nghĩ
cho cạn, hỡi ai ơi !
Tâm
không tội tánh, phao lời sao nên.
“Uổng
tác thiên niên kế”
“Nhi-tôn
tự hữu nhi-tôn phước”.
Ngày
5 Janvier 1937 – 23-11-â.l.
Y
lệ đạo tràng. Về liêu 9 giờ mơi gặp thơ của Nguyễn-văn-Bạch,
Lộc-ninh, gởi thăm.
“Vô
khổ, vô tập, vô diệt, vô đạo thị Ma-ha-bát-nhã-ba-la-mật-đa
chi diệu lý”.
Ngày
6 Janvier 1937 – 24-11-â.l.
Y
lệ. Chín giờ mơi gặp thơ của Bí-sô Vira.
Đời
như thể cái tuồng hát bóng,
Múa
men cùng cử động rồi tiêu.
“Không
thật, không hư đạo mầu vô lai khứ”.
Ngày
7 Janvier 1937 – 25-11-â.l.
Y
lệ.
“Đạo
bổn phi hành diệc phi luyện”.
Ngày
8 Janvier 1937 – 26-11-â.l.
Y
lệ.
“Nhứt
trần bất nhiễm hà tham hà thọ”.
Ngày
9 Janvier 1937 – 27-11-â.l.
Y
lệ không chi lạ. Chín giờ đặng lịch của Nguyễn-văn-Luông,
thầy tu chez(1) Dương-ngọc-Hội (commercant à(2) Thủ-dầu-một)
Lịch gởi ngày 23 Décembre 1936.
“Đạo
bổn phạm hạnh, vô sân, vô dục”.
Ngày
10 Janvier 1937 – 28-11-â.l.
Mơi
riết tới trưa lo chưng dọn treo cờ. Ba giờ mở cuộc thuyết
pháp, có sứ thần Tàu tọa chủ hội diễn đàn. Cuộc diễn
thuyết 5 giờ tan, đoạn chủ hội mời phó hội trưởng đi
khai môn nhà Thiền khách.
“Đạo
bất vị tự cầu phước báo”.
Ngày
11 Janvier 1937 – 29-11-â.l.
Dọn
dẹp cờ xí, nhập kho, không chi lạ cả. Tính đi Sangassa chỗ
Phật tổ sau khi lên độ chư Thiên và Phật mẫu Maya rồi,
trở xuống Diêm-phù tại nơi Sangassa.
“Tâm
bổn tịnh tịch, hà hữu hảo xú”
“Mạng
bổn tứ-đại hư ngụy hà kẻ hảo xú”
Ngày
12 Janvier 1937 – 30-11-â.l.
Y
lệ. Nay ngày cạo đầu.
“Đạo
phi chơn, ngụy”.
Ngày
13 Janvier 1937 – 1-chạp â.l.
Y
lệ. Lúc ngọ thời, huynh Chittagong đang ngồi ăn chừng vài
bún, vùng phát nói lớn tiếng. Đoạn gầm hét, bần đạo
lấy làm lạ, ngó qua thấy mặt đỏ au, ngỡ có sự giận
ai… Kế huỷnh đứng dậy, bỏ ăn ra trù phòng la nói inh ỏi,
rồi vào khách thiền. Hỏi lại thì đã hai bữa rày, huỷnh
lảng trí, nhưng bữa trước ít, ngày nay lại lung hơn. Thấy
vậy bắt thương tâm.
“Đạo
bịnh chỉ tại vô thiền-duyệt thực”.
Ngày
14 Janvier 1937 – 2-chạp â.l.
Y
lệ. Sớm ghé thăm huynh Chittagong, mặt những còn vẻ lạ.
Ba giờ Secretary đi Calcutta. Huynh Chit-tagong một mình ra gare
Sarnath, nghe ra huỷnh còn đánh tả, đánh hữu, khổ thì thôi.
“Tội
bổn tánh không, hà hữu hà vô ?”
Ngày
15 Janvier 1937 – 3-chạp â.l.
Y
lệ. Nay huynh Chittagong lâm cuồng, nên chiều 4 giờ Sư trưởng
Tăng già đưa huỷnh ra nhà thương Bénarès.
“Đạo
bổn bất tịnh bất cấu”.
Ngày
16 Janvier 1937 – 4-chạp â.l.
Vô
sự là tiểu thần tiên, hữu sự là rễ ưu phiền trồng giâm.
“Đạo
bổn vô nhãn nhĩ tỉ thiệt thân ý, hà nhiễm hà dục”.
Ngày
17 Janvier 1937 – 5-chạp â.l.
Y
lệ sớm tối đừng thay, một lòng thanh tịnh tháng ngày như
nhau.
“Đạo
bổn vô trí diệc vô vô-minh”.
Ngày
18 Janvier 1937 – 6-chạp â.l.
Y
lệ.
“Đạo
bổn vô hình, hà thanh tịnh, hà cầu uế, hà tập, hà luyện”.
Ngày
19 Janvier 1937 – 7-chạp â.l.
Y
lệ. Đêm nay đau ruột phía bên hữu, có lẽ đồ ăn bữa
nay không tốt. Chiều 5 giờ có một người Ăng-lê, hai cô
đầm và một người Ấn-độ đến tăng-già. Gặp bần đạo
nói chuyện tiếng Langsa chút đỉnh, vì ông Anglais biết chập
chủm.
“Đạo
bổn vô dâm dục hà sanh tử tôn”.
Ngày
20 Janvier 1937 – 8-chạp â.l.
Y
lệ.
Khó
đốt lòng tham bằng lửa trần
Cùng
làm tiêu tán tội vì thân.
“Đạo
bổn vô nhứt thiết tánh, hà hữu khiêm tốn hà hữu táo bạo”.
Ngày
21 Janvier 1937 – 9-chạp â.l.
Y
lệ.
“Đạo
vô sắc trần hà đắc xúc”.
Ngày
22 Janvier 1937 – 10-chạp â.l.
Y
lệ.
“Đạo
phi thiện, ác, diệc phi thân”.
Ngày
23 Janvier 1937 – 11-chạp â.l.
Y
lệ.
“Đạo
bổn bình đẳng, vô thiện vô ác vô thượng vô hạ”
Ngày
24 Janvier 1937 – 12-chạp â.l.
Y
lệ. Chiều đi viếng chùa Đạo Join, ở gần Tăng già. Từ
ngày đến Sarnath tới giờ, thấy đó mà không rõ. Nay cùng
đạo hữu Dhammajoti đi xem, vào chùa thấy có một cốt đá
đen một vị tổ sư trên bàn án toàn bằng cẩm thạch trắng.
Chùa cũng sạch sẽ. Đoạn đi vòng qua tháp Phật-tổ. Hỏi
đạo hữu, nay huỷnh cắt
nghĩa
rằng : Nơi tháp nầy làm kỷ niệm đức Di-lặc gặp Thích-ca
nơi đây.
“Đạo
bổn vô cẩu thả, vô Thiên địa”.
Ngày
25 Janvier 1937 – 13-chạp â.l.
Y
lệ. Sư trưởng se da
“Nhơn
chi sơ tánh bổn thiện tị thiện bất đắc”.
Ngày
26 Janvier 1937 – 14-chạp â.l.
Y
lệ. Mộ thời rồi, Sư trưởng tăng già mời đại chúng nán
lại đặng phú Pháp danh chữ Pali cho bần đạo, cho dễ, cả
đạo tràng tung hô, vì cả Đại chúng đều muốn vậy, vì
tên Annam khó kêu và khó cho Đại chúng nhớ. Đoạn bần đạo
lễ Phật và quì chính giữa, lễ Sư trưởng. Kế sư hỏi
ý cả Đại chúng, thì mỗi huynh dưng một tên. Rốt cuộc
Sư nói xứng với tên Annam thì tên Pháp là Manhgiusshri (Manjusri).(1)
Ngày
27 Janvier 1937 – 15-chạp â.l.
Y
lệ. Lần lượt lúc nầy là lúc miền Tibet chư tăng và bần
đạo tới Phật-đà-gia và đi cúng dường Sarnath.
Ngày
28 Janvier 1937 – 16-chạp â.l.
Vô
sự.
“Bổn
vô đấu-tránh-tánh hà dĩ kiêm hữu thủ tránh tụng tâm ?”
“Nhược
liễu bổn nguyên, tắc tri tâm vô sở trụ nhi hành kỳ đạo”.
Ngày
29 Janvier 1937 – 17-chạp â.l.
Vô
sự.
Chiều
bốn giờ răng nhức chuyển rụng hai cái răng cùng, bèn đi
thẳng xuống nhà thuốc nhổ hai cái, bị còn cứng gốc nên
còn nghe đau quá, chịu ê hàm thốn óc tới tối lối 9 giờ
thì hết. Bỏ buổi công phu, nhựt tụng chiều. Khuya lại nhập
thiền, tâm thần hãy còn nhắc việc răng đau. Chuẩn lấy
vấn đề ấy mà quán tưởng. Thủy thổ kia nghe đau hay phong
hỏa chăng ? Nhưng bốn chất ấy có cái tự tánh không biết
đau. Vậy chớ ai đau ? Răng chăng ? Răng cũng có tự tánh không
biết đau vì nhổ ra rồi nó vẫn cứng khư. Ai đau ? Ta chăng
? Ta bổn tánh không tịch. Thần thức chăng ? Không vì thần
thức cũng không có tánh đau… Ôi ! chú vọng tưởng điên
đảo chớ ai…
Ngày
30 Janvier 1937 – 18-chạp â.l.
Vô
sự, y lệ. Song ngày nay nghe trong miệng không còn cái đau nhức
chướng ngại như cái bữa trước.
Trọn
ngày phát giác chỗ chịu đau trong bốn, năm giờ mà không
đau luôn khi về sau. Có khác kẻ tu hành chịu cái khổ bịnh
chiến cùng chư tà vọng mộng tưởng, ma vương trong một thời
gian, thắng đặng rồi thì sẽ đặng an-tịnh trong nền đạo…
Nay
Sư trưởng đi đưa huynh Chittagong về xứ vì có kẻ đàn-việt
du lịch cúng dường, chịu đem về Chittagong nơi tổ đình
của huỷnh. Nam mô Phật, từ bi hào lực, rọi não trí của
huỷnh cho hườn như cũ phòng tu hành đoái công, diệt nghiệp.
Đặng
thơ Bát-nhã-âm và tạp chí bốn cuốn.
Ngày
31 Janvier 1937 – 19-12-â.l.
Y
lệ. Nay đặng thơ cô phán và thơ của Thiên-thai thiền giáo
tông Liên-hữu hội và bốn cuốn tạp chí Bát-nhã-âm ngày
hôm qua.
Ngày
1er Févier 1937 – 20-12-â.l.
Y lệ.
Điểm tâm rồi trở về Tăng-già phút gặp khách Đàn-việt
Ceylon đến một vị tuổi lối ngoài năm mươi, cụ bị valise,
giỏ, gói đùm đề đứng nói cùng Sư trưởng chi chi không
rõ, đoạn nghe lại thì tên đánh xe đưa khách từ Bénarès
vào Sarnath, thừa dịp khách xa đàng, già cả đoạt của ông
10 rupee. Đoạn Sư-trưởng bèn kêu tên đánh xe lại hỏi, nó
chối ngược chối xuôi. Phút có chư Đại chúng ấu lại hỏi
nó lăng xăng, nó cứ chối và móc túi ra 2 rupee rằng : Ông
trả tiền xe có 2 rupee đây thôi, có tiền gì khác. Đoạn
mấy huỷnh ăn ý, tốc nệm xe thì thấy 10 rupee tên đánh xe
dấu, liền tri hô
lên
có lính làng đến, liền rõ tự sự, nhưng Sư trưởng nói
thôi tha nó về, lấy số tiền đủ thì thôi.
Ngày
2 Févier 1937 – 21-12-â.l.
Y
lệ. Nay có con Ladenla đến cúng dường cầu cho cha, bần đạo
có ra mắt mà an ủi người.
Ngày
3 Févier 1937 – 22-12-â.l.
Y
lệ.
Ngày
4 Févier 1937 – 23-12-â.l.
Y
lệ. Nay gởi thơ cho thầy phán Nhung và huynh tri phủ Minh Chánh
và một cái thơ cho bổn sư Thiên-thai thuật về việc đi Tây-tạng.
Ngày
5 Févier 1937 – 24-12-â.l.
Y
lệ.
Ngày
6 Févier 1937 – 25-12-â.l.
Y
lệ.
Ngày
7 Févier 1937 – 26-12-â.l.
Y
lệ.
Ngày
8 Févier 1937 – 27-12-â.l.
Y
lệ. Sécretary về 8 giờ mơi.
Ngày
9 Févier 1937 – 28-12-â.l.
Y
lệ. Đặng thơ của Thiện-trì và của thầy phán Nhung. Trả
lời và cho phép cô vãi lánh Đạo tràng Thiên-chơn.
Có
50 boys scout Ceylon đến, chiều mời chụp hình cả Tăng già
cùng họ chung đứng.
Luôn
dịp ấy Thầy Từ hàng đi Calcutta.
Tối
10 giờ 30 mưa.
Ngày
10 Févier 1937 – 29-12-â.l.
Y
lệ. Sáng nay khí trời mát mẻ nhờ hồi hôm có mưa.
Ngày
11 Févier 1937 – mùng 1 Tết-1-Đinh Sửu.
Vô
sự. Bữa nay trời cũng mưa khá hơn hôm kia. Khí hậu rất
mát-mẻ.
Ngày
12 Févier 1937 – 2-1-â.l.
Y
lệ. Hồi khuya trời giông mưa rất dữ dội. Sáng thức thấy
cả đồng linh láng nước mưa. Cả ngày u ám, tới chiều 4
giờ mới có ló bóng mặt trời.
Ngày
13 Févier 1937 – 3-1-â.l.
Y
lệ.
Ngày
14 Févier 1937 – 4-1-â.l.
Y
lệ. Sadananda mua giùm một tập giấy 3A.
Ngày
15 Févier 1937 – 5-1-â.l.
Y
lệ. Khởi viết cuốn Yataka.(1)
Ngày
16 Févier 1937 – 6-1-â.l.
Y
lệ. Tối đi lên chùa mộ thời rồi trở về lo dọn liêu
qua kho kinh, vì buổi mơi có bạch cho Sư trưởng tăng già rõ,
xin dọn liêu chỗ kho kinh rất thanh-tịnh. Sư hoan-hỉ.
Ngày
17 Févier 1937 – 7-1-â.l.
Y
lệ, ăn ngọ rồi, sư trưởng bèn đi về ngõ kho kinh, ghé
xem liêu của bần-đạo.
Ngày
18 Févier 1937 – 8-1-â.l.
Y
lệ. Từ đây đã bình phục thân thể, quyết định không
dùng “tiểu-trai-minh tướng”.
Ngày
19 Févier 1937 – 9-1-â.l.
Y
lệ.
Ngày
20 Févier 1937 – 10-1-â.l.
Y
lệ.
Ngày
21 Févier 1937 – 11-1-â.l.
Y
lệ. Ba giờ sáng trời mưa một đám nhỏ nhỏ. Sáng ra u ám
tới 9 giờ 10 giờ rỉ rả mưa.
Ngày
22 Févier 1937 – 12-1-â.l.
Y
lệ.
Ngày
23 Févier 1937 – 13-1-â.l.
12
giờ đi Bodh Gaya, đi xe ba giờ chiều giá 2R.5A. Bảy giờ tới
Gaya, mướn xe ngựa đi vào Phật-đà-gia 0R.8A.
Hai
huynh đệ Choundouss, đợi Samdhen không đặng nên trở về Ghoom.
Nghe ra thì huynh Samdhen còn ở Lhassa, chưa rồi việc. Thế bần
đạo phải đợi huỷnh tới đông thiên mới trở lại Phật-đà-gia.
Ngày
24 Févier 1937 – 14-1-â.l.
Bữa
nay đi viếng chỗ Phật tổ thọ thực của cô Sugata. Về ăn
ngọ rồi tối cúng dường rước vía Rằm.
Ngày
25 Févier 1937 – 15-1-â.l.
Thu
xếp lo đi ra Gaya đặng trở về Sarnath. Ăn ngọ rồi một
giờ đi ra Gaya nghỉ đêm. Đi cùng Sư cả Seinivasa, xe ngựa
6A sư cả bao.
Ngày
26 Févier 1937 – 16-1-â.l.
Sáng
bốn giờ thức, uống trà ăn bánh mì, năm giờ ra gare. Sáu
giờ ba mươi xe chạy mua giấy 2R.5A.
Xe
ngựa lại gare sư cả bao 11 giờ 30 tới Bénarès. Đợi xe lửa
2 giờ 30 chiều về Sarnath xe lửa 1A và xe ngựa tại gare Sarnath
về Tăng già sư cả bao.
Huynh
Sangharatana đưa 2R tiền Lama cúng dường mỗi sư.
Ngày
27 Févier 1937 – 17-1-â.l.
Sớm
10 giờ 30 lo ăn ngọ rồi thả bộ ra gare đi Bénarès thẳng
vào thành phố đến viếng Naragacha-tram Agent và lấy đồ đã
gởi năm (1935 – Mai 1er) cách nhau một năm ngoài, nay gặp mừng
rỡ. Chiều lại gare về Sarnath 10 giờ 30.
Ngày
28 Févier 1937 – 18-1-â.l.
Y
lệ. Đang lúc rồi ngọ thực, huynh đệ rủ bần đạo ra xem
một ngôi sao. Rất lạ, giữa ban ngày trời nắng chói chang
mà ngôi sao ấy thấy tỏ rõ, thế nếu ban đêm thì ắt chiếu
rạng lắm. Điềm trời rất lạ.
Ngày
1er Mars 1937 – 19-1-â.l.
Y
lệ.
Ngày
2 Mars 1937 – 20-1-â.l.
Y
lệ.
Ngày
3 Mars 1937 – 21-1-â.l.
Y
lệ.