Ngày
25 Juillet 1936 – 8-6-â.l.
Sáng
thức thường lệ. Điểm tâm bột với cải chua, 8 giờ trời
còn mưa rầm rỉ, đường xá khắp thành Lhassa, lầy lút chưn,
nước ngập linh láng. Bữa nay không đi mua hàng bông. Mười
một giờ ăn ngọ bột với cải bẹ của mấy huỷnh xào với
thịt, dưng cho bần đạo một dĩa cải không có thịt. Ấy
là rau gởi gần với thịt đó…
Chiều
3 giờ trà sữa xong, huynh Samdhen kêu bảo coi tay giùm con trai
của Thừa tướng, 13 tuổi, kế đi hành hương chùa chợ :
chùa lớn Chôkhăng (Thích Ca) với Samdhen. Đã mấy lần đi
mà bất ý xem tại cửa chánh có treo một tấm biển của Tàu
cúng có bốn chữ : tây trúc chánh
tông , hèn chi huynh Samdhen trước nói : Tibet gọi Chôkhăng
Gompa, nghĩa là Thích-Ca-Mưu-Ni tự, là trọn thờ chánh pháp
của đức Thế-tôn. Hai huynh đệ vào đi cúng các điện từ
từng dưới cho tới từng thứ ba như mấy lần trước, đoạn
cùng nhau đi về gặp một vị Lama người xứ Lhassa mà ở
nhà thiền Lađặt, đến xin coi tay. Hoan hỉ coi giùm. Kế vợ
huynh Đầu bếp đem ra hai bắp cải nói hộ cho Bần đạo.
Hồi nãy đã gặp Đầu bếp trước cửa có nói rồi. Tôi
hỏi mua bao nhiêu, Samdhen rằng : của Quan lớn, gần nhà có
vườn trồng hàng bông. Bần đạo cám ơn cô Đầu bếp và
nói : Quí lắm, đất nầy trồng được thiệt quí quá. Samdhen
nói : Hôm qua huỷnh hộ thịt cho chúng tôi, còn thầy không
dùng thịt, nên Đầu bếp hộ hai bắp cải ấy, một bông
cải và một bắp cải. Lúc nghèo gặp bạc, lúc khát gặp
nước.
Ngày
26 Juillet 1936 – 9-6-â.l.
Điểm
tâm cải bắp ăn sống với muối. Trưa ngọ bột với cải
bông chấm nước muối ớt. Samdhen và Sonnam cũng xề lại ăn
ít lá cải bắp chấm muối hột. Mười hai giờ có vị Lama
mập quen (của Quan) lại thăm và dưng một sợi anh lạc. Đàm
đạo vui cười, huỷnh xề lại ngồi gần Bần đạo, nắm
lấy tay bần đạo vào lòng bàn tay huỷnh một cách thâm mến.
Samdhen thông ngôn rằng : Lama đây muốn thầy ở lại Lhassa
chung liêu cùng huỷnh một năm. Bần đạo nói : Bất tiện
! (theo lời tiên tri của Đại đức Quốc Vương gởi ý điển
vào trí-não bần-đạo), nay bần-đạo lớn tuổi, ở lại
học hành không bao nhiêu mà làm cho mất ngày giờ của huynh,
lại mất ngày giờ độ Thiện nam tín nữ tại bổn-quốc-độ
đang trông đợi. Để sau về Đạo tràng, như có đạo đồng
nào có tín lực mộ Đại đạo Tây-tạng Pháp môn, thì Bần
tăng sẽ cho đi ở tại Lhassa nầy mười năm học đạo, tả
kinh, như vậy sau về truyền bá lâu dài. Còn Bần đạo tuổi
cao, ngày tịch gần, truyền đạo có bao lâu đâu. Nghe lời
Samdhen thông ngôn thì Lama nói : Phải, phải vậy ngày nào thầy
cho Đạo đến, tôi xin bảo lãnh dạy dỗ. Đoạn hỏi thăm
sự cúng dường và nhà thiền ra thế nào ? Tốt lắm, cách
cúng dường tinh khiết và nhà thiền đẹp đẽ huyền vũ tinh
anh. Chuyện vãn khắn khít, đoạn Isess sửa soạn đi chợ,
hỏi bần đạo đi không ? Samdhen vui miệng bảo bần đạo
đi chơi cho khoảng khoát. Lama nói : Tốt lắm, tôi cũng đi
với, nói rồi huỷnh kiếu Samdhen đi cùng bần đạo có Choundouss
theo. Bốn người ra đi, thì lama cặp kè nắm tay bần đạo
cách yêu thiết mà đi. Giáp vòng chợ không hở tay, cùng cực
chẳng đã, gặp mấy chỗ sình nẩy lầy án buộc huỷnh phải
buông tay bần đạo một cách tiếc rời trong lúc đàng hẹp.
Lúc về tới nhà quen của Choundouss thì huỷnh trẽ vào đó
cùng Isess. Lama nắm tay đi thẳng cùng Bần đạo tới ngõ Quan
Thừa-tướng, dừng bước ý không muốn rời tay, nhưng một
chập lâu, huỷnh nói : Sérang phết, rồi buông tay bần đạo,
hai đàng ngó nhau rồi phân nhau về nghỉ. Vá dù, may sổ. Tối
nay lại thiền tụng rồi ngủ, khuya trời mưa rỉ rả. Samdhen
nói : Có hai Lama Dzesbung đến lúc thầy nghỉ trưa, tôi không
cho kêu, họ mời huynh đệ mình đến ngày hát rằm, đến
xem.
Ngày
27 Juillet 1936 – 10-6-â.l.
Nhựt
thường lệ, sáng có hai vị Lama đến ở đàng trước đơn
cùng Samdhen tụng kinh (bị mưa liêu dột, nên Samdhen che vải
trước sân liêu, đem đơn ra ngoài nghỉ ba, bốn ngày rày,
có một mình chỗ bần đạo không dột, nếu trời mưa to thì
có chút ít, nên một mình bần đạo ở trong liêu). Bần đạo
còn ngồi trong đơn lần chuỗi, nghe tụng kinh chớ không thấy
mặt, đến lúc rồi sự, ra ngoài mới thấy hai vị Lama, một
vị là chủ liêu ngụ khi nọ tại Pithu Khampa và một vị nhỏ.
Thấy bần đạo liền mừng chào, bần đạo cũng mừng đáp
lễ cách yêu thiết. Mời ngồi, bần đạo kiếu đi ngoài,
ra gặp Samdhen cũng đi ngoài, rồi đi vô, huỷnh thấy hai con
cẩu phải lẹo, liền chỉ và hỏi Bần đạo thấy cái chi
không ? Và hỏi và cười. Bần đạo rằng : Cả thảy chúng
sanh (nhơn vật) trên mặt đất Diêm-phù nầy, vì có bao nhiêu
đó mà phải khổ sở, mà ham sống, và nói và đi. Tiểu rồi
vào, tới đơn Samdhen, bèn kêu huỷnh mà nói : Huynh thấy không
? Rõ không ? Biết không ? Cả thảy chúng sanh loại, vì đó
mới có sanh, sanh ra mới có khổ, lão, bịnh. Người như thú,
thượng cầm, hạ thú đến loài cá, côn trùng, ham sống cũng
vì tham dục. Cái khổ nhân, tham dục vi bổn. Lama khách hỏi,
Samdhen thông ngôn. Lama gật đầu khen phải. Bần đạo rằng
chỉ có Phật đệ tử biết cái dâm dục là nguồn cội sự
sanh, nên lánh đó cho tuyệt sanh, hễ sanh tuyệt thì lão dứt,
lão tuyệt, bịnh đoạn, bịnh tuyệt thì tử vô do nhi hữu,
thì ưu bi khổ não đâu còn theo. Lama khách nghe thông ngôn,
lắc đầu, ngó bần đạo rồi nói phải quá…
Sẵn
đó, một đám nam nữ gia quyến của Đầu bếp và người
sai nha của quan lớn với các huynh nội bọn đứng nghe. Bần
đạo thừa thử nói : Loài người hiếm kẻ biếm nhẻ chư
Lama (thầy tu) rằng : ăn no, mặc ấm, không làm gì hết, ngồi
chờ của tín thí đàn na. Đó là họ ngạo báng Phật đệ
tử làm biếng, ấy họ không biết kinh Phật bảo, chư đệ
tử y Pháp tu hành mà làm ruộng tốt cho chúng sanh gieo giống
lành mà họ không rõ lại chê cười, mà họ có ngờ rằng
họ không phải chê cười chúng tăng, ấy là chê cười Phật
đó… Đến lúc họ đau ốm, nằm rên siết, nhớ tới lời
chúng tăng y lời Phật giảng thuyết, họ ăn năn lắm, khi
bịnh hành quá nhức đau thì họ kêu Phật trời ôi cứu tôi,
thương tôi. Miệng kêu réo liền đeo. Đến lúc hết đau, ngũ
dục dập dồi, họ quên hết lúc đau lúc khổ. Cả thảy nghe
lời thông ngôn, lắc đầu, ngó bần đạo, dường có vẻ
lạ lùng như vẹt mây thấy trời xanh. Cười cười mà có
ý tỏ nơi mặt chút nét hổ ngươi. Đoạn Bần đạo tiếp
: Nầy huynh Samdhen, bần đạo thấy hiếm người chết vì đờn
bà, nghèo khổ vì đờn bà, cũng như một ngày kia bần đạo
gặp một người ăn mày đui hai con mắt, người vợ dắt đi
xin, bần đạo bảo : Thôi hai ông bà vào chùa của tôi mà
ở thọ tam qui ngũ giới tu hành, cơm sẵn ăn, quần áo sẵn
bận, chết chôn cất tử tế. Nhưng người khất cái ấy lắc
đầu nói : Tôi tu không đặng, nói rồi dìu dắt nhau đi. Đó
huynh có đến đỗi mù quáng, ăn mày, lúc đói, lúc lạnh mà
không rời đờn bà, thà cùng nhau ngày bò mo, lết mủng xin
ăn, miễn tối cùng nhau đặng gần gũi. Nghe thông ngôn, ai
nấy đều cười rộ mà có vẻ hổ ngươi, dòm Bần đạo
và đi dang hết. Sam-dhen gục đầu nói : A băng Losang. Bần
đạo rằng : A băng Losang ninh done. Cười xòa. Samdhen rằng
: Thầy không rõ : A băng Losang là một vị Đại lão Lama tại
Dzêsbung tu hành kiên cố, mấy ngàn Đại chúng kính phục,
thuyết-pháp như lưu, nghe qua ai cũng nhờ đó mà tỏ đạo
mầu. Nên gọi là Thiện xảo thuyết. Kiếu vào đơn, ngồi
trà nước một chập, huynh Choundouss hộ một chén cơm đường
và một chén trà dehi chế beurre đặng điểm tâm. Hoan hỉ…
Đoạn 11 giờ rưỡi ăn ngọ bột và bông cải với nước
muối. Ăn rồi, có cô bạn của lại quan đàng dinh quan lại
xin xem tay. Samdhen dắt vào, xem rồi dưng 2 trăng nga. Bần đạo
hiến lại Sam-dhen rằng tiền nhang (cũng như lúc ở Pithu Kham
trzanh, tiền xem tay của một vị Lama dưng, bần đạo hiến
lại Choundouss, bảo huỷnh đem hộ cho các Lama nghèo, vì có
một lúc một vị Lama có tiền, đến xem tay, dưng tiền thì
bần đạo không lấy, Choundouss và Samdhen rằng : Thầy lấy
rồi cho Đạo nghèo hay cúng chùa tốt hơn, vì họ có tiền.
Nếu người nghèo đến coi tay thì thôi, còn người có tiền
phải lấy), vì lời ấy mà bần đạo giao tiền xem tay cho
các huỷnh. Chiều lệ thường. Học thêm tiếng Tây-tạng.
Ngày
28 Juillet 1936 – 11-6-â.l.
Nhựt
thường lệ. Trưa ngọ bột với bắp cải nấu cà-ri. Chiều
y lệ, học, không chi lạ. Đổi 2 rupee, đếm lại thiếu 7
yôgăng. Ấy là Sonnam đi mua thịt về, Choun-douss đếm đưa
cho bần đạo, song thôi cũng hoan hỉ. Cho họ ăn xôi chùa cho
êm.
Ngày
29 Juillet 1936 – 12-6-â.l.
Hai
huynh Lađặc về Dzêsbung. Sớm điểm tâm bột khô với trà
Tây-tạng. Đoạn cùng Samdhen đi chợ, mua một cục savon thơm
6 trăng nga (4 annas) một cục savon đá 5 yôgăng 2 sous (5A), một
cái hộp quẹt, một bắp cải bông 4 trăng nga (2A.3P) sữa 1
trăng nga. Đi chợ, có hơi lâu vì Sonnam đi cùng phường phố,
lại lúc về gần tới nhà còn trở ra mua savon đá. Khi về,
họ ở nhà ăn cơm với thịt xào rồi, Sonnam về, không ai
bảo ăn cơm, nên huỷnh ăn bột với nước trà, cách buồn
xo. Isess kêu Bần đạo rằng : Cơm còn hiếm, thầy ăn ngọ
tốt lắm. Bần đạo rằng : Cám ơn, bần đạo không dùng
cơm, để dùng bột vì lâu ngày không ăn cơm, nay ăn e đau
bụng, để đó các huynh ăn. Đoạn tới ngọ, nhồi bột với
nước trà cúng dường rồi dùng với cải chua mua sớm mơi
2 trăng nga. Ngọ rồi nghỉ một chập, rồi thẳng xuống bến
sông, giặt áo quần rồi tắm.
Đêm
nay ra ngoài sân ngủ với Samdhen vì ở trong liêu rệp lung quá,
ai nấy ngủ ở ngoài, một mình chịu không nổi rệp ở quanh
vách, chấu lại cắn quá ngủ không đặng. Khuya lại trời
mưa, có che vải, nhưng vải mỏng ré và gió tạt, ướt lớp
mền ở ngoài hết. Tuy mưa nhưng mền nhiều lớp (bốn lớp)
ba lớp mền và Choundouss cho mượn một cái áo bố Tây-tạng,
dày lắm, đắp ngoài nên ấm áp và nhờ có tắm đặng hồi
trưa, nên khỏe xác ngủ êm đềm. Sáng còn mưa rỉ rả.
Ngày
nay cũng gặp Tổ sư dạy bảo tại góc núi gần mé sông…
Ngày
30 Juillet 1936 – 13-6-â.l.
Sáng
thức dậy, trời còn mưa rỉ rả. Điểm tâm trà Tây-tạng,
ăn bột khô rồi, 8 giờ rưỡi có nắng. Mền, áo ướt át,
các huỷnh lấy trọn cả đồ ngủ ấy đem lên rầm phơi giùm.
Đoạn
có một vị Lama ở Galden đến viếng, ngựa chở một bao bột
đem hộ Samdhen. Samdhen hộ lại một bao gạo và đãi cơm. Sonnam
xin 2 trăng nga đặng mua savon đặng mai đi chùa Galden dưng cho
Lama thiền chủ của huỷnh. Hoan hỉ, và cho luôn ba huynh kia
4 trăng nga, tùy ý ăn uống.
Trưa
ngọ bột với cải bông nấu cà-ri. Đoạn Choun-douss rủ đi
chợ, lúc vào phường phố, tới sở tuần cảnh, gặp Isess
đang đứng xem đám đông người, dừng bước một chập rồi
đi, đoạn gặp người quen bảo huynh Choundouss nán xem lịnh
Thừa tướng phán xử đòn hai người tù nhơn đờn ông với
một người tội đờn bà, tại trước sân sở Tuần cảnh.
Thiên hạ lao xao, già trẻ nữ nam nhóm đông dày. Choundouss
nói với Bần đạo sự ấy, đoạn rủ lại hè phố ngồi
chờ. Lâu hoắc mà không tới giờ phạt, Isess, Choundouss và
bần đạo thả đi dạo phường hai vòng mà cũng chưa thấy
lịnh quan đến, nên đồng về. Lúc về tới nhà quen Choundouss
thì hai người quen khi nãy cũng đồng theo sau, nói chi không
rõ, Choundouss rủ bần đạo vào nhà quen chơi. Bần đạo rằng
: Không, tôi về luôn, huynh ghé chơi với Isess. Isess cũng nài
bần đạo ghé chơi. Chối từ đôi ba quận rồi Choundouss rằng
: Có hai người hồi nãy muốn mời thầy vào chơi. Nói quá
cũng xuôi lòng, vào đó, thì hai người đờn ông khi nãy đứng
dậy mời lại đơn ngồi, đoạn cô tình của Choundouss đi
mua xăng đem về rót mời uống. Bần đạo biết thứ ấy uống
không ra chi hết, uống trà còn quí hơn. Song các huỷnh mời
quá thôi cũng thuâïn tình, vài từng xăng, thì huynh già đi
theo đó, xin coi giùm tay, coi rồi, thì bần đạo muốn về,
bỗng có Issê lại kêu hai huỷnh rằng Samdhen quở trách. Hai
huỷnh về cùng bần đạo, tới cửa, họ sợ, bảo bần đạo
đi trước. Samdhen thấy bần đạo bèn nói : Thầy theo họ
không tốt, và nhà ấy không nên lại đó chơi. Đoạn rầy
hai huynh kia bằng tiếng Tibet. Kế sai Issê và Choundouss đi chùa
Séra, không rõ đi chi. Trời mưa rỉ rả, hai huynh ra đi. Bần
đạo lấy mủng bánh của huynh nhỏ xem tay sớm mơi mua dưng
cho bần đạo cho huynh Samdhen ăn, ban đầu huỷnh từ chối
không xơi, nhưng bần đạo giả đò không rõ rằng huỷnh từ
chối, bảo Isess đi lấy dĩa nhỏ đặng sắp bánh ra tử tế.
Isess
không rõ, bần đạo bèn đi lấy rồi sắp bốn bánh bốn thứ
để trên tợ của huỷnh. Huỷnh trăm với Isess và huynh Lađặc
ở Dzêsbung mới đến lúc vắng mặt mấy huynh đệ tôi, rằng
: Cách của thẩy nghiêm trang vậy. Đoạn huỷnh ăn bánh, còn
bánh trong mủng thì cho Isess và huynh Lađặc. Lúc chiều tối,
bần đạo trong đơn bước ra thấy huynh Lađặc kiếu về,
còn Isess thì ngồi trong bếp, bần đạo hỏi Samdhen rằng :
Trời đã tối mà chưa dùng bột sao ? Samdhen rằng : Bữa nay
không có mua thịt đặng, nên không có đồ ăn. Bần đạo
nói : Vậy huynh muốn ăn bắp cải bông chăng ? Tôi sẽ nấu
cháo bắp cải bông theo kiểu China cho huynh ăn. Huỷnh rằng
: Tôi ăn bột chớ không ăn cơm, bần đạo tưởng huỷnh từ
chối cháo bông cải, bèn vào đơn ngồi, chập lâu, huỷnh
kêu bần đạo rằng : Thầy không nấu bắp cải sao ? – Ủa
huynh muốn ăn sao ? Bần đạo ngỡ huynh nói ăn bột với trà.
Thôi để bần đạo nấu. Đoạn lấy cải bông xắt rồi nấu
cà-ri, khi cải gần chín bần đạo đổ nước lung và đi lấy
bột mì con chút đỉnh trong thau, bảo Isess nhồi nấu bánh
canh. Huỷnh nhồi rồi lăn con bột bỏ vào, lúc chín múc cho
Samdhen ăn, huỷnh đói quá mà gặp bánh canh, ngon ăn no cành,
mỗi người kia Isess và Sonnam đều một chén. Đoạn trời
còn mưa rỉ rả, Samdhen ra ngoài ngủ, bần đạo nói lạnh
lắm không ngủ. Huỷnh bảo Sonnam trải đồ ngủ giữa liêu
cho bần đạo ngủ, vì tại đơn nhiều rệp. Kế Issê về
còn Choundouss ngủ tại nhà quen.
Ngày
31 Juillet 1936 – 14-6-â.l.
Sớm
điểm tâm trà rồi ăn bột với cải chua rồi uống một ca
trà sữa của Đầu bếp hộ. Mượn cô Đầu bếp mua sữa
và đường. Samdhen rằng : Mua đường đừng mua sữa vì bữa
nay đi Galden. Hôm qua đã mua một bắp cải kế đầu bếp cho
một bắp nữa, nên hôm qua nấu một bắp, sáng nầy còn một
bắp, nấu cà-ri nửa bắp chia nhau ăn, còn nửa bắp cất đó.
Đậy điệm dọn dẹp hẳn hòi, chừa hai cái mền đặng đem
theo đắp. Chín giờ cùng các huỷnh lên đường, lội bộ
đi, lội qua không biết mấy bàu(1) mấy suối, ướt át quần
áo, nước lạnh như đồng, tê tái hai chưn. Mười một giờ
rưỡi tới bến đò, ngồi đợi ước 1 giờ, con đò đôi,
đò da tới, xuống đò đi qua sông, lên đi riết 1 giờ rưỡi
đã tới xóm nhà gần đường, các huỷnh vào hỏi chỗ tạm
nghỉ, song không nhà nào có chỗ tử tế, nên họ từ khách,
huynh đệ đành trải lá lót ngủ ngoài sân (cũng có bộn khách
đi đường ngồi trước uống trà uống xăng) cùng nhà xúm
xích ngồi nghỉ, đợi Isess đi mướn nấu trà (trà, beurre,
muối của mình) đem ra dùng. Chập lâu trà xong, Isess đem ra,
đồng uống trà ăn bánh bột chiên (hình như chiếc dép) của
Issê hôm qua đi chùa Séra đem về. Ăn rồi trả tiền nấu
trà 1 yôgăng, đoạn 2 giờ 15 lên đường, trải qua khe suối,
lúc 4 giờ rưỡi bần đạo đuối giò, hết gân hết cốt,
cẳng hết muốn bước, song cứ niệm Phật mà đi theo họ.
Họ đi bộ giỏi lắm, song cũng ráng bước, lúc tạm nghỉ
xả hơi, thì lo bóp cẳng o bế, rốt việc cũng kịp bước
như họ. Năm giờ rưỡi, phút tới làng Đê-xanh, còn chừng
ngàn thước tới chợ, thì cho Sonnam đi trước hỏi nhà ngụ.
Huynh đệ đi sau, lần lượt đã tới chợ, thì Sonnam hỏi
chỗ ngụ đặng, bèn đứng nơi đường đón rước. Vào nhà
ngụ, thẳng lên lầu vào phòng đã dọn dẹp sẵn. Tạm nghỉ
uống trà ăn bột rồi mượn chủ nhà mướn giùm hai con ngựa.
Mướn đặng, đỡ quá. Samdhen rằng : Tôi mỏi cẳng quá lẽ,
nếu không ngựa thiệt khổ lắm. Thầy cũng mỏi như tôi.
Ngày
1er Aouât 1936 – 15-6-â.l.
5 giờ
thức, Samdhen kêu huynh đệ, bảo Sonnam đi hối ngựa, Sonnam
đi vừa khỏi ngõ, thì gặp chủ ngựa, đem hai con ngựa vào,
lên lầu lấy hành lý xuống gác yên, đoạn trả tiền phòng
cho chủ nhà rồi xuống hai huynh đệ lên ngựa đi, cách chợ
100 thước thì có ba cái suối nước chảy như cắt, hai con
ngựa qua suối nước tới gối, qua rồi, dòm lại bốn huynh
kia đang xăn quần túm áo, cởi giày, bần đạo động lòng
thương xót, trời còn sa mù lạnh lẽo mà băng qua ba cái suối
và mấy đầm nước linh láng ấy, lạnh hai chơn lắm. Các
huỷnh lần lượt đi sau, hai huynh đệ đi ngựa tới trước,
trải qua khe suối mấy lần, phút tới xóm đã 8 giờ. Tạm
ghé, sai Sonnam đi hỏi chỗ tạm nghỉ mướn nấu trà (lúc
đi còn chừng ít ngàn thước) thì Samdhen bảo Sonnam lên ngựa
ngồi sau huỷnh. Hai người một ngựa thấy thương con loại
vật, miệng đổ bọt, trời lạnh mà đổ mồ hôi, vì vậy
mới có Sonnam đi một lượt. Hỏi đặng chỗ rồi, vào nhà
ấy tạm ngồi, đợi nấu trà, chập lâu trà sôi thì bốn
huynh kia đã tới. Muối, beurre bỏ vào ống, cô chủ nhà thục
xong, đổ vào bình đem lên, huynh đệ đồng uống điểm tâm
và ăn bột, các huỷnh uống xăng trước, hai huynh đệ tôi
uống trà. Xong trả 1 trăng nga tiền nấu trà, 9 giờ rưỡi
lên ngựa. Lúc khi nãy đã thấy phan lọng của Đại đức
Lama hòa thượng Galden, đi Lhassa về, còn đi sau xa, khi tạm
dùng trà thì toán Đại đức đã đi qua khỏi trước. Lên
ngựa đi ước nửa giờ, ngó tới trước thấy toán của Hòa
thượng Lama, đóng liêu vải gần mé đường tạm nghỉ. Samdhen
nói rằng : Thôi xuống ngựa, đợi các huỷnh tới giao ngựa
cho mã tử rồi đi bộ qua khỏi toán của Đại Lama rồi sẽ
lên ngựa. Đồng xuống ngựa, ngồi nghỉ một chập, phút
mã-tử tới. Samdhen trăm với người một hồi, mã-tử quần
ngựa theo lề ruộng cho ăn, kế bốn huynh kia tới, cùng nhau
đi bộ qua khỏi trại liêu Thượng tọa cách 500 m ngồi nghỉ
chờ mã-tử. Samdhen nói với Bần đạo rằng : Lama cả đây
thiệt một vị Đức hạnh tu hành, ngài quản xuất 3.300 Lama
tại Galden, trên Quốc Vương Lama dưới là ngài. Ngài đi yết
lễ vua tại Lhassa nay về Galden. Bần đạo thấy toán hành
khách và các lama khác đi ngang qua đó đều sập dù xuống
ngựa cả, khen thay ! Đoạn mã-tử tới, hai huynh đệ lên ngựa,
bốn huynh kia cùng mã-tử lần lượt đi bộ theo sau. Từ đây,
ngựa lần hồi từ bước lên dốc núi, ngựa thở ra khói,
còng xương sống phình hông chỏi cẳng, ngồi trên lưng ngựa,
những thảm thương thân loại vật, nhưng nếu không cậy sức
đó, thì bữa nay chỉ nằm dọc đường, chớ chắc đi không
nổi vì ngày hôm qua đi cả ngày hết gân cẳng. Tuy mượn
lưng ngựa mà lòng vẫn đáo đáo niệm Phật và chú nguyện
cho hai con ngựa nầy, kiếp nầy hết nghiệp, kiếp tới nguyện
đó tái sanh vi nhơn, độ đó tam qui ngũ giới cho khỏi thân
anh phụ trọng. Lần lượt lúc nghỉ lúc đi, phút tới đảnh
núi, khúc đường bình địa, ngựa đỡ chưn ước 1.000 thước,
phút tới xóm đảnh. Xuống ngựa, trả tiền mã tử, vì tới
đây còn 1.000 thước nữa sẽ tới chùa ở phía bên kia đảnh,
ấy là địa phận của chùa, bất câu vua, quan, dân, tăng chúng,
tới đây cũng phải xuống ngựa, dắt ngựa đi bộ, chớ không
đặng ngồi trên lưng ngựa. Đợi chập lâu các huynh đệ
tới, Samdhen bèn bảo Isess đi vào xóm đảnh gởi con dê con
mượn nuôi ít bữa sẽ trở lại trả tiền công (ấy là lúc
dưới chơn núi trẻ nhỏ đôi ba la lối đuổi quạ và ó bay
đáp trên lưng một con dê lạc mẹ, cắn mổ, lúc Samdhen đi
bộ vừa tới hỏi cái chi, trẻ bé chỉ con dê con và quạ
ó mà thuật việc ấy, rồi cho tiền trẻ bé, bảo Sonnam ẵm
dê con đi tới xóm trước gởi nuôi, sau đem về Calcutta). Bần
đạo lần hồi đi xuống dốc núi tới đường bằng qua đảnh
bên chùa, bèn ngồi nơi thạch bàn chờ các huỷnh. Biết phận
mình đi dở, nên lo đi trước cho đỡ chưn, nếu để đi một
lượt thì đi không lại họ vì họ quen chưn đi núi, đi mau
lắm. (Tiếp điển tại Galden trên Thạch bàn.) Nghỉ chừng
1 giờ, kế các huỷnh tới. Issê Sonnam trễ ở lại đặng
chờ thay y phục lama mới dám vào chùa vì trước huỷnh có
ở Đạo tu tập tại Galden tự nơi nhà thiền, đồng hương
của huỷnh là : Sêconn-Khâm-trzanh của người Khâm-pá, nhưng
khác quận với Choundouss. Mấy huynh đệ đi vòng qua đường
đi đến chùa, trải qua mấy cấp nhà thiền trên đảnh ước
500 thước mới tới nhà thiền người Khampa đồng quận cùng
Choundouss, lên mấy cấp mệt le lưỡi, vào liêu của huynh Guêgam
đỗ ngụ. Guêgam mừng rỡ chào hỏi, lo sắp đặt đơn tợ
mời ngồi. Đoạn huynh lo thục(1) trà cho chư huynh giải lao.
Bần đạo ngồi nghỉ một chập, ngó qua đồng hồ reo của
Samdhen thì đã 1 giờ rưỡi. Trà rồi, bần đạo nằm vì bị
răng cùng chuyển, chửa(2) chưn nướu nên nhức nổi hạch
cổ, nuốt nước miếng đau thấu óc. Nóng lạnh, trùm nằm
mê mết, còn Samdhen lo mượn một vị Lama đem y phục lama cho
Sonnam thay. Tuy nằm mà nghe các huỷnh bàn luận sự cúng dường
và hành hương ngày mai. Bần đạo bèn chỗi dậy, Samdhen hỏi
bớt nhức răng không ? Còn nhức lắm. Huỷnh bảo nằm nghỉ
và bảo hút thuốc cho đỡ nhức, nhưng đau quá bần đạo
cứ trùm mà nghỉ. Qua 5 giờ rưỡi các huỷnh ép ăn bột với
nước trà, bần đạo ráng nuốt vài muỗng bột cho đỡ đói,
dường nuốt đá, bột qua mụt hạch cổ, nhức đau quá lẽ.
Đoạn trùm nữa, 8 giờ tối đi tiểu rồi vào đơn nói với
Samdhen rằng : Mai sẽ hết đau, huỷnh rằng : Xem thầy đau
lung quá, e mai không hết, nếu đặng y lời thầy nói, thì
rất quí và đáng kính lời tiên tri. Bần đạo cười và nói
: Chắc lắm, sẽ hết đau, vì ngày mai là ngày hành hương,
Phật sẽ cho hết đau. Nằm ngủ thẳng ống tới sáng.
Ngày
2 Aouât 1936 – 16-6-â.l.
Sáng
thức sớm, ngồi niệm Phật, kế Samdhen thức cùng các huỷnh
hỏi hết nhức chăng ? Hết rồi, khi qua đã nói bữa nay hết
đau, thì đâu còn nhức. Đoạn huynh đệ lo điểm tâm, rồi
Samdhen bảo Bần đạo trao 4 săng (40 yogăng = 1R.10A.2P) đặng
đưa cho Choundouss đem đi qua Điện thiền cúng dường tiền
trà cho chư Lama Khampa. Ba huynh đệ Samdhen, Choundouss và bần
đạo mỗi người y số chung đậu cúng tiền trà. Choun-douss
lấy tiền lo đi đưa trước cho Thiền chủ mua trà, beurre đặng
3 giờ cúng dường. Xẩn bẩn tới ngọ, ăn bột với nấm
mèo xào, đoạn tới 3 giờ, Choundouss mời Samdhen và bần đạo
qua Điện thiền cúng dường. Samdhen bảo một huỷnh đi đủ,
mời bần đạo thì Bần đạo cũng nói y vậy. Choundouss đi
rồi, Samdhen nói rằng : Mình cúng dường chút ít, qua đó làm
rộn cho họ phải đãi trà nước không ích. Đoạn Sonnam bước
vào, mặc đồ lama, ngồi nói chi lăng xăng với Samdhen, 4 giờ
Choundouss cúng rồi về liêu ngụ thuật việc cho Samdhen rõ.
Huỷnh bèn nói với Bần đạo rằng : Tôi cúng rồi và nói
với Thiền chủ rằng : Để sau sẽ cúng tiền cho chư Lama,
lúc nầy còn nghèo cúng không nổi. Nhà thiền Khampa Lama có
trên bốn trăm lama tăng, y như nhà thiền Trzăngpá Khâmtrzanh
của của thầy tại Dzêsbung. Nếu cúng y như thầy thì tôi
không có tiền, nói rồi cười xòa. Samdhen bèn sửa soạn đi
hành hương ba chùa, đem bình tô-du theo (bần đạo có mượn
của Samdhen 2 rupee vì hết tiền lẻ, hùn 1 rupee tiền tô-du
cúng dường, còn 1 rupee để cúng dường và trong lưng cũng
còn một mớ). Có một vị lama theo dẫn lộ, huynh đệ cùng
đi, qua tới khúc quẹo, Sonnam chạy vào đường hẻm trốn
và nói Bơda Lama đi gần tới kia, Samdhen cũng đứng ẩn cùng
các huynh đệ, thấy cách họ cung kính chư Đại đức như
thế cũng đáng khen và mừng cho Phật đạo xứ nầy còn thạnh
hành. Kế Đại đức đi ngang qua, bần đạo xem hình mạo cũng
chưa mấy già, tuổi lối năm mươi, ngài đi thẳng với một
tiểu Lama bưng một mâm lễ vật trên trùm vải trắng. Khi
ngài qua khỏi rồi, huynh-đệ bước ra chỗ ẩn, đồng đi.
Samdhen rằng : Thượng tọa nầy cai quản hai chùa bốn nhà
thiền. Đoạn đi tới chùa lớn trước vào lễ bái cúng dường
các điện, mỗi điện đều chút ít tiền nhang khói cầu phúc
cho đàn-na. Trước cửa chánh chùa lớn có treo một tấm biển
của China cúng, có bốn chữ vàng : tuyên từ
phu phúc . Đi cúng đủ bốn cảnh tự, trải
qua các điện, xem nguy nga rực rỡ, tượng Phật đồ sộ,
tượng Tổ sư Lama cũng to tát, các tháp Tổ sư rực rỡ, trân
châu mã não, gắn mấy từng, thiệt Đàn-na cúng dường rất
long trọng, đất Phật phải lắm. Khi đi cúng các điện, thì
mỗi điện huynh Samdhen đều có cắt nghĩa cho Bần đạo rõ.
Khi vào Điện Phật tổ Thích Ca rồi qua điện Hậu tổ Sungapa,(1)
thì Samdhen rằng : Đây là Sungapa Buddha oanh ấp tari nghĩa là
Phật Thích Ca niết-bàn tại Kusinara rồi, sau đến Tây-tạng
tới xứ Khampa giáng sanh vào một nhà phước-đức thường
nhơn, tên là Sungapa. Ngài tu và tịch tại Galden đại già lam
nầy. Hậu tổ để dấu tích tại núi nầy nhiều lắm. Ngày
mai sẽ dẫn thầy đi kỉnh xem các nơi cổ tích của Hậu-tổ,
theo chung quanh triền núi. Tuy có chùa, nhưng bình sanh của ngài,
tối không ngủ trong chùa, cứ ra ngoài ngồi theo các thạch
đơn mà thiền định, nên để nhiều cổ tích chung quanh. Trời
chen lặn về tới ngụ liêu, cùng nhau trà giải lao. Kế các
huỷnh ăn tối, phận bần đạo y lệ lần chuỗi thiền định
rồi nghỉ.
Ngày
3 Aouât 1936 – 17-6-â.l.
Sớm
điểm tâm trà bột, kế 9 giờ rưỡi có một vị Lama già
đến làm hướng đạo đem đi nhiễu Thánh-địa cổ tích của
Hậu tổ Sungapa. Ban đầu viếng chỗ Thạch bàn, Lama hướng
đạo chỉ và nói cắt nghĩa sử tích chỗ ấy. Samdhen thông
ngôn lại cho bần đạo rằng : Đây là chỗ Sungapa, Tổ sư
hay ngồi thiền định lúc đêm tốt trời. Ngài lúc đại định
một đêm kia, biết thành Lhassa phải bị lụt, bèn ấn chú
lấy đá thạch bàn quăng qua hướng nguồn nước chảy về
Lhassa thành mà cản ngọn nước đặng cứu thành Lhassa khỏi
lụt. Thầy dòm xuống triền thì biết, bần đạo y lời dòm
xuống triền, hằng thấy không biết mấy nguồn suối chấu
chảy về hướng Lhassa, trông xa cái hẻm hai đảnh núi còn
cổ tích Thạch bàn cản ngang đã trải qua 2.000 năm rồi, nay
thành hòn núi nhỏ băng ngang hẻm núi lớn, nằm cản ngọn
nước. Bần đạo bèn thầm vái ngài và xin thỉnh một cục
đá nhỏ tại đó làm kỷ niệm. Kế sang qua chỗ ngài nhập
định bị người phá, ma-vương hóa mưa đá, đến đỗi chung
quanh chỗ ngồi đá bị nước mưa xoi lủng như mặt rây, lỗ
lớn và tròn bằng đầu ngón tay út, thấy lấy làm lạ quá.
Kế đến chỗ ngài để xâu chuỗi, còn dấu hột chuỗi mòn
lủng mặt đá và láng cuộn, bần đạo bèn đảnh lễ và
để xâu chuỗi của bần đạo trên dấu cổ tích, đoạn thỉnh
một miếng đá mẻ tại đó làm kỷ niệm. Kế đó, có một
vừng đá lớn có ba lỗ lở mỗi lỗ bằng miệng thúng giạ.
Samdhen thông ngôn rằng : Một ngày kia đức Ca-diếp, từ Nalanda
thần thông đi một ngày tới núi nầy, lấy tay xoi đá để
vào lỗ ấy một cái ốc-lị-pháp, rồi trở về Nalanda mà
hội chư La hán đặng chép tam tạng kinh. Lúc sau Hậu tổ Sungapa
tới núi nầy, bèn đến tại chỗ nầy nói với chư tăng chúng
rằng : Đức Ca-diếp trao ốc-lị cho ta, đặng xuy pháp lị
tại xứ Tibet nầy, sau trong lục thú chúng sanh ai nghe đặng
tiếng Pháp lị nầy đều đặng phước cả. Nói rồi bèn
lấy tay đập vào đá, đá giăng ra lòi ba lỗ, mỗi lỗ là
một con ốc, ngài lấy ba ốc lị ấy vuốt ra dài thành ba
cây kèn, để vào ba cảnh đại tự là : Dzêsbung, Séra và
Galden. Kế đến chỗ, ngày kia ban ngày Hậu tổ ngồi nhập
định, có một con quạ bay lại đậu trên vai kêu, thì ngài
nói ấy là tin mẹ ngài đến viếng, bèn lấy tay chỉ trên
đảnh núi thành hang có thạch bàn cho mẹ ngồi. Ông Lama già
chỉ chỗ ấy trên cao, ai ai đều ngó theo ngón tay lama thì
thấy chỗ ấy, có hang cạn có hình một vị đờn bà ngồi,
chung quanh đá dựng như vách không đường lên đặng. Kế
tới chỗ ngài ăn bột ngọ, xem chỗ ngồi láng cuộn chung
quanh đá cục lòn hòn dính nhau màu như bột sadou xám xám,
thật lạ quá, bột rớt thành đá… Kế đến chỗ hai cục
đá nằm dài hình như trâu li, nói rằng cặp trâu của ngài
lúc từ giã Khampa qua Lhassa. Sử tích ấy sau sẽ thuật. Kế
đến chỗ ngài thiền định, bị ma vương xô đá, xeo đá
ngã lăn, nhưng không chận ngài đặng, ngài biết nếu để
tới cục đá lớn nhào xuống triền, thì mất chỗ trụ các
đá trên đảnh phải nhào theo thì chùa sập ngã theo phía bắc
đó. Ngài bèn chú niệm dĩ Phật lực kề vai chỏi tay chống
ngăn cục đá đó lại, dấu bụng và tay còn y đó, sau tăng
chúng lập miễu nhỏ trên cục đá ấy làm kỷ niệm, huynh
đệ đồng theo chơn hướng đạo vào miễu đảnh lễ và cúng
tiền dầu, có hai ông đạo lama thường ở đó. Có lên cốt
ngài để thờ tại miễu. Rốt rồi, Samdhen chỉ hai lỗ tại
cục đá phía trong miễu cho bần đạo xem và nói : hai tay Hậu
tổ quấu vào đá kéo lại. Bần đạo bèn rờ hai lỗ ấy,
lạ thay còn dấu bốn ngón tay ở trong lỗ, còn một dấu ngón
cái ở ngoài, trải 2.000 năm mà còn y nguyên. Bần đạo ngẩn
ngơ tư tưởng rằng : Đá cứng mà sao có dấu đặng, y như
tay thọc vào đất mềm vậy. Đoạn hướng đạo đi ra, huynh
đệ đồng theo, đến chỗ ngài lấy đá làm thuyền đi khi
nước ngập, cục đá vẫn giống như chiếc đò da đời giờ
tại xứ Tây-tạng, tới chỗ ngài chỉ cho chư lama rằng :
Đó là tam tạng kinh ngài làm rồi sắp đó. Xem ra đá chồng
in như kinh Tây-tạng trong một tấm vách đá cao ước 100 thước,
lớn ngang ước vài trăm thước, đá nứt từ lớp từ chặn
y như từ cuốn kinh sấp chồng nhau vậy. Samdhen rằng : Ngài
có mắt thánh, xem là kinh, còn chúng ta còn phàm tục, tu chưa
thành thục nên xem ra là đá. Ông lama hướng đạo nói : Nơi
nào ngài ngồi cũng có sử tích, ngài biên vào lịch sử của
ngài, di tại đại điện. Đoạn đi thẳng qua xóm con buôn,
quẹo lại chỗ miễu nhỏ, ngó ngay qua chùa. Trong có ba tượng
rằng : Sơn thần miếu, nói trước khi đức Sungapa tịch diệt
ba ngày, thì ngày đêm phía nầy có luồng gió thổi qua chùa,
trong gió có tiếng nói : Thượng-tọa Thánh-tổ tiền Thích
Ca hậu Sungapa sẽ tịch diệt. Đoạn lên theo đường hẻm
cách 100 thước tới đường bằng, con buôn che trại vải buôn
bán đủ vật, nội hóa và ngoại hóa. Đi dọc xem, Sonnam đi
sau với Bần đạo bỗng gặp lama quen dừng bước nói chuyện,
lâu quá, bần đạo thừa dịp chờ huỷnh xem họ buôn bán,
thấy phần nhiều đồ Anglais lung, còn nội hóa chỉ có vải
sồi chút ít. Kế mượn Sonnam mua một cái hộp quẹt. Huỷnh
vát hất tuông vào trại quán, đi đá nọc cột dây chằn,
trại tróc lên, làm xê một mé trại vải, cô chủ quán cự
và bắt đóng nọc lại. Bần đạo đứng xem và than : tiểu
nhơn láo táo vô ý dường ấy thiệt khổ quá, đã mặc áo
Lama mà không đĩnh đạt, để cho đờn bà không cung kỉnh
y phục nhà đạo. Đóng nọc thẳng dây chằng rồi, huynh ra
trao hộp quẹt cho Bần đạo rồi đi thẳng lại chỗ Samdhen
đang đứng chờ. Sonnam tới, huỷnh rầy quở rồi cùng nhau
đi thẳng về liêu ngụ. Đến nơi thì 12 giờ rưỡi, trà bột
ăn ngọ rồi lo sắp đặt hành lý đặng về Lhassa. Ba giờ
trời mưa đi không đặng. Sai Isess che dù đi bắt con dê con
và trả tiền công nuôi mấy ngày. Bốn giờ có một vị lama
đưa đi và mang giùm valise. Đi qua khỏi chùa 100 thước, tới
đường quẹo dưới triền, dừng bước cho Sonnam thay y phục
thế gian, trả đồ lama cho huynh đi đưa đó. Kế Isess đi tới,
bọc con dê con trong áo, kế Choundouss xách bình Lạc nhũ tới,
hiệp nhau đi qua chùa nhỏ cách đây sáu ngàn, bảy ngàn thước,
7 giờ mới tới chùa, bần đạo hỏi tên thì Isess rằng Lốt-trắc
Bumpa, 7 giờ nhưng ở núi trời vẫn như 6 giờ còn sáng, xem
ra là cái Tháp xây bằng đá, chớ không phải chùa, cận bên
đó cất nhà cho lama ở giữ tháp. Vào đó, thì lama từ tiếp
rước trải đơn đặt tợ mời ngồi, một cô đầu bếp đem
trà cho huynh đệ giải lao. (Lúc dọc đường trời mua rỉ
rả, Isess cằn rằng và nói với Bần đạo rằng : Samdhen gấp
đi quá, để sáng đi cũng đặng. Ngủ nghỉ trà nước tại
Galden tốt quá, tối niệm kinh cũng quí, qua chùa nhỏ làm gì
bây giờ cực khổ, có đờn bà chớ có cái gì quí.) Khi thấy
cô đầu bếp thì bần đạo trực nhớ những lời Isess nói.
Thiệt vậy, tới nơi, hai huynh đệ tôi dùng trà, còn bốn
huỷnh ở dưới bếp uống xăng, nhứt là Choun-douss và Issê
mê mết với cô đầu bếp ấy, uống xăng tới khuya, mới
hết cười giỡn. Đồng ngủ thẳng giấc.
Ngày
4 Aouât 1936 – 18-6-â.l.
Thức
sớm ra suối nhỏ rửa mặt, đoạn vào điểm tâm trà vài
chén rồi đi nhiễu tháp. Thấy một tháp lớn ở giữa, còn
hai tháp nhỏ bên tả, hai cái nhỏ bên hữu, trước tháp lớn
có xây một tấm tường đá, giữa tường có xây cái điện
nhỏ, có chạm hình Tổ sư vào đá. Samdhen rằng : Tổ sư khi
còn sanh tiền tên là Nămkhá Gialsanh, ngài tu hang khi tới đây
áo không bâu, ngồi đây mà tịch diệt. Chỗ nầy thường
chư Lama các chùa thường đến nhiễu tháp, có kinh của ngài
để lại. Chốn nầy linh lắm. Tổ sư phù hộ kẻ nhiễu tháp,
trong kinh nói, đau thứ bịnh chi đến đây cũng thuyên giảm.
Trong tháp có hộp đựng tóc, xương và y phục của ngài. Nhiễu
bảy vòng, vào điểm tâm thì lúc ấy Lama từ lên mời ở
lại một ngày, thuận tình. Tám giờ có hai cô tới, một cô
Kalimpong chủ tiệm bánh quen trước, còn một cô cao lớn đen
đúa ở Calcutta mới biết lần nhứt nầy. Vào chỗ ngụ, Samdhen
tiếp rước nhượng đơn nhượng tợ phía Isess nằm ngồi
cho hai cô, trà nước giải lao rồi, hai cô đi lễ tháp, cách
họ lạy nằm dài dưới đất, giáp vòng rồi vào nghỉ. Trưa
ngọ bột với canh rau, ăn rồi ra ngoài kiếm đặng một tấm
bảng đá ardoise,(1) bèn đem vào lấy mũi dao chạm tên tự
di lưu tại tháp. Chiều nhiễu tháp rồi tối nghỉ. Không chi
lạ hơn là các huỷnh cả ngày ở nhà bếp uống xăng, Sonnam
say xiêu tó ngả ngớn. Samdhen cùng hai cô đàm đạo, lo làm
quen cùng cô Calcutta vì cô là người hào hộ, phòng ngày về
Calcutta tạm ngụ nương cậy… Tối lại huynh Samdhen muốn
nhượng đơn cho hai cô và gia quyến cô nghỉ. Song hai cô từ
rằng : Thầy và ông sư (là bần đạo) cứ việc nghỉ đó,
chị em tôi nội đơn nầy đủ rồi và bọn tùy tùng đều
có chỗ, không hệ chi.
Ngày
5 Aouât 1936 – 19-6-â.l.
Sớm
điểm tâm rồi 7 giờ từ giã Lốt-trắc tháp, kỉnh tiền
cho Lama từ rồi ra lễ tháp từ biệt lên đường, hai cô đi
ngựa, còn đang gác yên, bọn tôi thả bộ đi trước. Hôm
qua đi giày cao-su, cấn đá, nên đau cái gót bàn chơn mặt,
bần đạo ráng đi cà nhắc theo họ, đường đi cũng dễ,
nhờ qua ít cái suối, nước lạnh quá làm cho cẳng bớt đau,
lần hồi tới 10 giờ, thì hai cô đi ngựa đã đi kịp, bèn
chào và đi trước. Bọn gia quyến đi bộ sau với huynh đệ
tôi. Tội nghiệp có một con nhỏ con của cô ở theo, đi đường
rên mỏi như séo, réo kêu má mãi. Lần lượt cà nhắc, nhiều
lúc vấp đá đau thấu ruột, ráng theo các huynh, lên đèo xuống
ải, trải suối qua đầm 4 giờ đi tới Đê xanh vào nhà ngụ,
cô chủ chào rước vào đơn. Isess lo nấu trà, mua trước một
bình xăng, các huỷnh giải lao. Trà thục rồi, Samdhen và bần
đạo mới uống và ăn bột với lạc khô. Tối nghỉ vì mỏi
mê, cẳng ê đầu nhức, trọn đêm bần đạo ngủ vùi.
Hai
cô Kalimpong và Calcutta cùng gia quyến cũng đồng đi Lhassa.
Hai cô cỡi ngựa đi trước, tới Lổ-trắc ở nhà ngụ khác.
Ngày
6 Aouât 1936 – 20-6-â.l.
Sáng
thức sớm điểm tâm trà bột rồi 6 giờ rưỡi mang hành lý
đến bến đò cách chợ 2.000 thước. Đến bến chờ đến
8 giờ rưỡi mới xuống đò da, đi về Lhassa, đò trải qua
chỗ cạn chỗ sâu, chỗ nước chảy như cắt, chỗ nước
vận bình bòng, chỗ hẹp như rạch nhỏ, chỗ hà lản như
sông to, chỗ bị hàn nước đổ ầm ào, nổi sóng thấp cao.
Lần theo dòng nước, đò lần lượt xuôi dòng. Mười hai giờ
đã tới bến đò Lhassa. Đường bộ đi hôm nọ cả ngày,
nay về đường thủy trong ít giờ đã tới, đó là nhờ nước
xuôi đổ về Lhassa. Lên bến về nhà ngụ, Choundouss đã đi
đò về trước nên sửa soạn rồi. Có huynh đầu bếp giúp
nấu trà rồi. Về tới tọa đơn uống trà giải lao rồi ăn
ngọ bột với cải bông trộn salade, cải chua của đầu bếp
hộ, rồi tráng trà ngọt. Đầu bếp lăng xăng han hỏi, chùa
Galden thế nào ? – Rằng, tốt lắm, quí lắm. Tối nghỉ,
ra ngoài ngủ vì ở trong bỏ mấy ngày, rệp đói chích quá,
cả đêm tuy lạnh mà không hay ngủ vùi tới khuya, thức tiểu,
thì rờ lớp mền ngoài sương sa ướt mẹp. Ngủ đến sáng.
Ngày
7 Aouât 1936 – 21-6-â.l.
Điểm
tâm bột và cải bông xào rồi. Trời mưa rỉ rả, Samdhen bị
dột mưa, chạy vào liêu tạm nghỉ, đọc kinh mơi, bần đạo
ra ngoài ngồi, huynh đệ họ chuyện vãn lăng xăng, bỗng kêu
bần đạo rằng : Thầy cho tôi mượn 15 rupee đặng tôi có
việc dùng đem lại Quan lớn, đặng chăng ? Bần đạo rằng
: Tốt đặng. Trời cứ mưa riết cứ mưa hoài Samdhen sắm
sửa hoài mà đi không đặng. Vào đơn ngồi tụng kinh. Choundouss
và Isess lấy kinh ngồi trước cửa sổ tụng reo tuồng như
tụng kinh cầu bớt mưa vậy. Kế chập lâu, tụng kinh rồi
Samdhen nhắc sự mượn tiền, bần đạo nói, tiền lẻ không
còn, bèn móc giấy 100 rupee trao cho huỷnh, huỷnh bảo Choun-douss
đem đổi… Huynh trăm lia với bần đạo rằng : Để sau tôi
mua y phục lama, bình bát, trượng mão, giày cho thầy, tôi lo
đủ món cho thầy, đoạn hối Sonnam kêu Isess, Issê rót trà
cho bần đạo lăng xăng ân cần. Hai lần rồi, bần đạo biết
ý, lúc ở Ghoom hết tiền cũng vậy, lúc ở Bhutan cũng vậy,
hết tiền thì tỏ lòng ân cần thết đãi đặng mượn bạc.
Bần đạo thấy vậy cũng thương đời sống vì tiền. Trưa
bần đạo lo trộn salade, nửa cái bông cải còn lại hôm tuần
rồi của Đầu bếp hộ, lúc đi Galden cất trong nồi nhôm.
Nay về lấy ra còn tươi chong nhờ xứ lạnh, trộn với cải
chua ăn ngọ. Các huỷnh đồng ăn hùn, bần đạo hộ mỗi
vị một dĩa nhôm nhỏ. Ăn khen đẹp miệng. Lúc Choundouss đổi
bạc về thì bần đạo còn đang xắt cải. Samdhen sai đi mua
đồ. Ăn ngọ rồi, Sam-dhen trao cho bần đạo 40 rupee giấy
bạc Tây-tạng, gói trong giấy, bạch rằng : Đây thầy cất
40 rupee nầy đừng xài tới, còn 10 rupee là năm tấm giấy
bạc 2R Tây-tạng đây thầy bỏ túi xài. Trăm lia, ân cần
căn dặn như lời bảo trẻ nhỏ, bần đạo nực cười trong
dạ, ừ chừng. Huỷnh nói còn 30R nữa mai sẽ đem lại đưa
cho thầy. Đoạn Choundouss đem beurre về, hai thầy trò chuyện
vãn rồi nói với tôi rằng : 4 rupee beurre đó. Samdhen nói :
Chiều nay đi chùa có beurre sẽ đổ vào đèn đem vào chùa
chế mỗi điện cúng dường. Bần đạo trả cho huỷnh 4 rupee
mượn đi Galden. Đoạn 4 giờ rủ đi hành hương. Bữa nay đi
tới cửa chánh chùa, để ý dòm lên mới thấy tấm biển
chữ Tàu treo trên, đề bốn chữ : phước tư
vạn hữu , vào tới cửa nhì là biển : “Tây
Trước Chánh Tông” thấy lúc trước. Lúc mới đến ngốp
mặt đi cứ ngó ngay nên không thấy, nay quen mặt dòm cùng.
Vào cúng dường các điện y như mấy kỳ trước, tiền dầu
cầu phúc cho Đàn-na trong các điện. Trở về tới khúc quẹo
mua 1 trăng nga bánh bột-chiên, Choundouss nói, thầy thấy bánh
cũng mua in như con nít nhỏ đòi ăn, bần đạo rằng : Không
hiểu bánh ra sao, mắc rẻ, mua cho biết. Đem về tới nhà ngụ
chia cho các huỷnh và vợ chồng đầu bếp với hai con của
huỷnh, bần đạo còn tấm giấy không… Cười ngất. Đầu
bếp mời uống trà. Hoan hỉ ! Tối nay ngủ trong, trải lá
lót trên hai cánh cửa làm đơn ngủ, bỏ chỗ cũ trống, khá,
rệp không có nghỉ êm. Khuya thức đi tiểu thì trời mưa rỉ
rả. Samdhen ngủ lì mặc tình dột ướt.
Ngày
8 Aouât 1936 – 22-6-â.l.
Sớm
lo điểm tâm, sữa nấu với đường đỏ mượn mua hôm qua,
ăn bột khô. Bữa nay Isess thức trưa kêu ba quận mà còn dụ
dựa, nên nấu trà trễ vì bần đạo đợi lò trống đặng
nấu sữa đường, bỗng có đầu bếp qua thấy sữa trong xon
nhôm với đường đỏ, ngỡ trà sữa, hỏi trà ngon không ?
Thừa dịp, ý muốn đã lâu nên trả lời : Tôi không biết
cách nấu trà sữa nên chi bữa ngọt bữa lạt, bữa hôi khói
nên không bằng trà của huynh. Đoạn nói : Ý tôi muốn gởi
tiền cho cô nấu trà giùm cho tôi uống mỗi ngày. Đầu bếp
vui lòng nói đặng. Bần đạo bèn bước qua nhà lấy một
tấm giấy bạc Tây-tạng 2 rupee trao cho cô đầu bếp nói :
Tiền nầy cô cất mỗi ngày mua sữa, đường nấu giùm trà.
Cô nghe tiếng đặng tiếng mất, huynh đầu bếp nói lại,
cô bèn hiểu, vui lòng cất tiền. Trưa lại ăn ngọ, bần đạo
có mượn Issê Sonnam mua cải chua về chiên ăn với bột nhồi.
Ngọ rồi, lo nghỉ trưa vì xác tục bị mấy ngày đi đường
mỏi mê, 2 giờ thức dậy lo viết nhựt ký. Trọn ngày lo viết.
Bốn giờ huynh Samdhen lên rầm nhà kêu bần đạo lên xem chư
Lama cúng dường ngoài đồng cỏ gần đó. Bần đạo ngừng
viết, chìu ý lên rầm xem, một tốp Lama đứng một hàng,
có Lama cả tụng kinh chú niệm đứng trước, chư Lama sau cầm
trống và chập chỏa với hai cây kèn dài. Inh ỏi trống kèn
cúng dường, ấy là một cuộc xô giàn vì thấy một cỗ bánh
sadou dựng trước đó, cúng rồi bó rơm nổi lửa đốt. Samdhen
nói : Quan Thừa tướng cúng dường và Lama cả đó ở nhà
gần bên dinh quan, là em của tiền Quốc Vương Tả-lê Lama.
Hèn chi hổm rày nghe đàng dinh Quan kèn trống chập chỏa inh-ỏi,
trước khi đi Galden, lúc về hôm qua còn nghe cúng dường, bữa
nay xô giàn rồi việc. Y như Nam Việt cúng dường làm chay
nhỏ. Xem lối năm phút thì rồi. Xuống thang, vào đơn lo viết
nhựt ký. Samdhen khi qua nói còn 30 rupee, bữa nay sẽ có, mà
cả ngày không thấy, nhưng cũng không nói tới. Bần đạo
cũng không nhắc để xem cử chỉ tình ý cư xử của huỷnh
thế nào.
Sai-nha
đằng dinh Quan lớn sai đem beurre và trà hộ nội bọn.
Ngày
9 Aouât 1936 – 23-6-â.l.
Sớm
điểm tâm trà sữa và bột khô, đoạn đi theo Issê hành hương
nơi chùa Chô-khăng. Y lệ như mấy lần trước vào lễ bái
các điện và dưng tiền dầu chút ít, nghĩ vì mình ít đức
nên cầu ở nơi Phật cho Đàn-na có phúc hậu. Lúc trở về
ghé mua một cây cải bẹ xanh đặng về nấu canh, qua 11 giờ
cúng ngọ và ngồi tợ luôn. Lúc đang ăn ngọ, Choundouss đi
chợ về, có mua củi phân bò ít bao, nhưng Samdhen cũng đi chợ
chưa về nên không tiền trả phải hỏi bần đạo. Bần đạo
bèn luôn dịp ấy xuất 32 trăng nga mua phân củi ấy. Lúc Sam-dhen
về trả tiền lại cho bần đạo, nhưng bần đạo từ rằng
: phân củi ấy tôi mua. Nghĩ vì mình cũng có nấu chút đỉnh,
xử thế cho tròn cho sạch nghiệp trần duyên.
Ngọ
rồi nghỉ mùi chút ít, thức dậy Samdhen nói sáu bữa nữa
sẽ đi chùa Dzêsbung dự cuộc hát rằm. Bần đạo cũng ừ
ừ hoan hỉ. Ôi ! nhập giang tùy khúc chớ biết sao, phận nước
lòng sông, lớn ròng cong quẹo, tùy hỉ cho qua. Kế huỷnh khoe
hai chai xì yểu mới mua đặng Tết quan Thừa tướng. Còn 50
rupee trong số đổi bạc giấy cent hôm kia thì huỷnh mượn
luôn vì không thấy nói tới. Hoan hỉ, để đó còn đó, còn
ngày đối đãi hậu lai…
Nghĩ
vì, bần tăng lắm nhờ Phật lực, xuôi cho huỷnh đem đi Tây-tạng,
muôn điều xuôi xếp, lại đặng nhập Long-thiền đảnh lễ
Lama Quốc Vương, đặng vào các tự hành hương, đặng gần
Quan tứ trụ, thong thả vào ra, phố phường biết mặt, không
trở ngại một điều chi, không bị nhục ném đá quăng gạch
như người Anglais kia tự thuật trốn đi Lhassa cực khổ thân
hình, tốn bạc ngàn mà làm đầy tớ cho kẻ tùng nhơn Hindou,
mướn làm hướng đạo. Cực lực mà lúc đến tới Lhassa
chỉ dừng bước đặng có một ngày, rồi sáng ra phải theo
vòng binh xuất ngoại. Nghĩ vậy, bần-đạo so lại thân nầy
hèn mọn, nhờ Phật lực nên đặng vua quan dân-giả, tăng
tục đều hỉ kiến, cho phép các chùa hành hương, khắp nơi
thăm viếng. Thì dầu cho tốn hao chút ít thật chẳng phiền,
vui lòng nhịn ăn, nhịn mặc để tiền cúng dường cầu phúc
cho Đàn-na và xử sự cùng người thi ân cho mình, dường ấy
mới sạch nghiệp hậu lai, mới giũ trần bất nhiễm. Có câu
: Nhất trần bất nhiễm hà tham hà thọ. Đều có sự bắt
buồn cười là : Huynh Sam-dhen đã ra công khó đi đến Lhassa
đặng cầu Quốc Vương Lama giúp sức đặng cất nhà Thiền
tại Phật-đà-gia, kẻ công người của, phước hậu hưởng
chung, nhưng huỷnh còn đắm sự ăn, mặc quá, thấy vậy cũng
thương tâm cho kẻ tiểu-thừa. Tu hành không nên quá bảo trọng
kỳ thân, vừa đủ nuôi sống đặng bòn công đức, nhược
hữu chư phước thiện hồi hướng chúng sanh đồng cộng thành
Phật đạo, ấy mới phải Phật đệ tử. Phật tử chẳng
nên môi miếng, tỉ như huỷnh mấy bữa hết tiền, tiện tặn
và coi cử chỉ đối đãi với bần đạo rất ân cần bù
bặt, bảo uống trà ăn bột, ăn lung, ngủ thì bảo lấy thêm
vải đắp lăng xăng, ấy là ý muốn cậy mượn. Làm như vậy
một hai ngày trước khi hỏi cậy. Đến bữa hỏi đặng tiền,
thì ăn uống phủ phê quên mình là thầy tu… tội nghiệp.
Ngày
10 Aouât 1936 – 24-6-â.l.
Sớm
lo điểm trang y phục chỉnh tề, rửa mặt, súc miệng, tay
chơn tẩy uế, rồi uống một ca trà sữa, đoạn ra đi hành
hương. Khi tới Chô-khăng tự thì để ý coi cả thảy ba từng
chùa là mấy điện. Từng dưới cả thảy là mười bảy điện
trong và ba điện ngoài. Trước hết điện Tổ sư Lama, kế
điện Phật tổ Thích Ca, kế đó là điện chư Long-thiên Hộ-pháp
Bồ-tát, kế đó là điện chư Bồ-tát kiểu Tây-tạng, kế
đó là điện lớn thờ. Trong là tượng Phật tổ to lớn,
sau bàn chánh tượng Phật tổ nhỏ ngồi sau lưng một tượng
Bồ tát áo mão mỹ lệ nghiêm trang châu ngọc, điện chạm
rồng sơn son phết vàng pha lê lưu ly, ngọc thạch gắn cùng,
đèn lưu ly lớn nhỏ để dài phía trước toàn bằng vàng
và bọc khảm bông vàng. Chung quanh là chư vị Bồ-tát tượng
đứng, có hai vị Long-vương Hộ-pháp đứng hai bên gần cửa
điện. Trước cửa điện có bốn vị Tổ sư Lama, có treo
hai bên bốn, năm cái tiểu chung. Hỏi ra là : Phật tổ hậu
kiếp giáng sanh vị Bồ-tát Quốc-vương tại Lhassa nầy, nên
gọi Thích Ca nhứt thể. Chỗ nầy thiện nam tín nữ, tăng
tục hằng bữa tới cúng dường lung lắm. Đi khắp các điện
thì duy có điện nầy là lớn hơn hết. Thường có ba ông
sư Lama hầu sự tại điện. Có mâm cúng tiền, một vị lama
ngồi phía hữu trong góc trước điện, cầm tịnh bình hầu
rót vào tay mặt đàn na chút tịnh thủy gọi ẩm phước cam
lồ. Một vị đứng trước hàng đèn và bông hoa lễ vật,
đặng tiếp tô-du và lễ vật, một vị ngồi dưới một cái
ghế phía tả tay cầm tịnh bình cúng chư Bồ tát và một
tay cầm cái mâm cỗ cúng tiền cho đàn na tùy hỉ và cũng
rót vào tay đàn na chút nước cúng rồi trong tịnh bình ấy.
Đàn na hữu nhiễu rồi ra tới vị lama nầy là hườn tất.
Đoạn tới điện đức Phật mẫu Chuẩn-đề, tới điện
Tiền Tả-lê Lama vân vân… Các điện sau đó cũng là điện
Phật-tổ, Tổ-sư, Long-thần, Hộ-pháp, Bồ-tát. Từng nhì
cũng vậy, ban đầu là điện Tổ-sư, kế Phật-tổ, kế Long-thiên,
đoạn tới điện Phật-mẫu, chỗ nầy thiện nam tín nữ và
chư tăng hay đến cúng đông lắm, có gần bên điện một
căn trù phòng, có để sẵn xăng trong bình cây, đặng cho Đàn
na thỉnh lại điện cúng dường, rồi tùy hỉ từ 1 yogăng
(là giá một bình xăng) đổ lên tùy ý trao tay cho ông sư hằng
ở tại điện lo tiếp lễ cúng và tụng kinh cúng dường.
Rốt hết là điện Long-thiên, Hộ-pháp, thường có bốn, năm
sư Lama ngồi trước tợ phía trước điện kinh kệ cả ngày
và hầu tiếp lễ cúng bằng tiền. Đoạn lên từng thứ ba
có một chỗ rầm trống có xây tháp hương cho Đàn na thiêu
hương vì tục Tây-tạng, không có đốt hương cắm trong bàn
Phật như xứ Annam có lư để sẵn trên bàn điện, có chỗ
riêng trống trải ngoài trời trống để đốt hương, trầm,
tóc, lá mộc bá, lá thơm tùy hỉ, và bột sadou, lớp đổ
vào lò hương, lớp đổ chung quanh, rồi rải gạo quanh rầm
chim chóc hưởng hậu (nhứt là tại điện Phật-mẫu, chuột
lắc cả trăm, bò láng trên điện ăn gạo cúng, uống tô-du
mập tròn và tại điện chót Long-thiên cũng vậy).
Đoạn
đốt hương rồi, lại nhà trù lấy xăng đem lại điện Phật
mẫu, hai điện thờ Tổ sư và Quan âm, cũng có thầy Lama tiếp
lễ cúng. Tới đây hết, quanh lại thang xuống, quanh qua bên
tả chỗ đốt hương, xuống thang đi cúng xăng nơi điện Hương
vân Bồ tát, gần đó phía tả của điện có lò hương cho
Đàn na đốt hương. Chỗ nầy thường có kẻ bần nhơn ngồi
trước và dưới lầu chực của bố thí. Cúng rồi chỗ nầy
là hết ra cửa đi ra phường buôn, đi thẳng lại chùa nhỏ,
chỉ có một chỗ Tổ sư và Hộ pháp, vào cúng tiền xăng
rồi ra về luôn. Lúc về ghé mua 1 yôgăng khoai lang tây chín
về chấm muối ăn điểm tâm. Trưa lại cúng ngọ với cải
bẹ xanh xào với bột sết-sết. Ăn rồi lo đi xuống sông
giặt đồ. Chiều Samdhen rủ đi dạo phường rồi vào nhiễu
chùa,đi chung quanh xem các lớp vẽ trên vách tích Phật tổ
và tích tại Kỳ-thá-quất-sơn, Nalanda. Cách vẽ thiện nghệ
lắm và vẽ bằng màu dầu. Chung quanh chùa có ống lục tự
Quan âm cho Thiện-nam tín-nữ quây gọi là chuyển pháp luân.
Xong ra cửa chùa vào điện Phật mẫu lễ bái. Đoạn Samdhen
rủ vào chùa thì bần đạo từ chối vì mang giày da đóng
cúc vào chùa bất tiện, Sonnam cũng vậy. Huỷnh thấy hai, ba
phen từ hẳn, bèn bảo : thôi ra ngoài chơi đợi huỷnh. Ra
chùa, bảo Sonnam ở trước sân chùa đợi, bần đạo về luôn
đi vòng quanh phường về thẳng nhà ngụ. Sáu giờ huỷnh về
tới hỏi sao không đợi về một lượt cho vui, về một mình
rủi đi lạc mất ắt khó cho tôi phải thường mạng cho hội
Đại-bồ-đề, nói cợt rồi cười xòa. Tối kinh kệ rồi
nghỉ.
Ngày
11 Aouât 1936 – 25-6-â.l.
Sớm
cũng như hôm qua, trà một ca rồi cùng Issê và Choundouss đi
hành hương, hai huỷnh ra cửa rồi còn vô lấy tiền, bần
đạo đi luôn một mình riết tới chùa, vào điện Tổ-sư
lễ Tổ, đoạn qua điện Phật tổ vân vân… Hai huỷnh đến
đây theo kịp, đồng đi hành lễ các điện. Xong rồi qua chùa
nhỏ cúng tiền xăng rồi bảo hai huỷnh về luôn, một bần
đạo trở lại mua hàng bông. Choundouss rằng : Thôi để tôi
đi theo mua cho dễ. Cám ơn, tôi mua đặng, hôm qua cũng đi một
mình và biết nói chút ít, họ hiểu, thôi hai huynh về trước.
Đoạn đi quanh lại đường hẻm, lối 100 bước gặp Samdhen
và Lại quan thơ ký cùng đầu bếp với Isess đi đâu về không
rõ, hỏi tôi đi đâu ? – Mua hàng bông, Samdhen bảo Isess đi
theo mua giùm. Bần đạo rằng : Thôi, một tôi cũng đặng vì
biết mua, hai, ba lần từ chối, họ cười rồi đi về. Bần
đạo thẳng lại cô bán rau quen, đã có mua một lần, lại
mua hai cây cải bẹ xanh và trắng giá 1 yogăng, đoạn về ghé
quán mua 1 yogăng khoai lang tây chín rồi vòng qua đường hẻm
ngay cầu về nhà, đi lại tiệm bánh mua 2 trăng nga bánh in
China. Về ăn khoai chấm muối ớt điểm tâm, Samdhen thấy về
vào đơn bảo : Thầy lấy bột ăn. – Rằng có khoai lang đây,
huỷnh bảo Sonnam đem tương ớt vào bảo ăn. – Rằng có ớt
trái rồi. Họ trăm với nhau, ý nói bần đạo từ hôm qua
nay không ăn bột, mua khoai lang ăn. Đoạn sắp khoai cúng dường
tiểu trai rồi điểm tâm. Trưa lại lo xắc cải nấu như hôm
qua nhưng không bỏ bột. Samdhen bước vào lúc đang xắc cải
thì huỷnh bảo xào với cải chua đây, huỷnh để cải chua
trên tợ, ấy là cải mua khi nãy họ ăn bột với cải ấy
còn dư. Bần đạo ừ chừng chớ không dùng, vì đồ nấu
sẽ còn trước cúng dường, nên không dùng đồ dư của họ.
Đoạn tới lúc nấu rồi, huỷnh vào bếp dở vung xem với
đầu-bếp cũng có đó. Đầu bếp rằng : Không tốt, để
tôi mua giùm cải bắp tốt lắm. – Cám ơn, đặng vậy quí
lắm. Đoạn rồi việc, nhắc quánh vào đơn, lo cúng ngọ,
tội nghiệp Samdhen bảo lấy bột cho bần đạo ăn ngọ, thì
bần đạo rằng : có bánh China đây (parlếp) bữa nay tôi dùng
bánh, không dùng bột. Huỷnh nín thinh bảo chi cũng không đặng,
xem họ không mấy vui, trà không dùng, bột không dùng, chỉ
dùng riêng. Ngọ rồi, bần đạo nghỉ sơ lưng, đoạn 1 giờ
ra ngoài xem Samdhen cùng Choundouss Isess đánh hột theo Tây-tạng.
Mỗi người chín đồng tiền đặt cấp theo số hai hột lúc
lắc đã đổ, có 59 con ốc để làm số đặt tiền, ai nhảy
cấp mau, trọn số chín đồng tiền thì ăn. Kế một chập
Samdhen thôi, hai huynh kia đổ nữa, Samdhen rủ đi dạo phường
nhiễu tự như hôm qua. Bần đạo từ kiếu.
Ngày
12 Aouât 1936 – 26-6-â.l.
Bữa
nay không tiền lẻ, nên không đi chùa, để một mình Issê
đi. Điểm tâm trà sữa và bánh China. Đoạn một chập sắm
sửa đi chợ mua vật thực. Bỏ cái son nhôm nhỏ vào túi dết,
xách đi cho tiện. Đi ra tới đơn của Samdhen, có huynh đầu
bếp ngồi đó, thấy bần đạo xách dết, hỏi đi đâu ? –
Đi chợ mua hàng bông. – Thôi ngồi lại đây, để tôi hộ
bắp cải, đừng đi, bèn kêu vợ bảo đi lại nhà bếp đằng
dinh, lấy một bắp cải. Cô đi. Đoạn huỷnh nói với tôi
rằng : Đừng đi một mình không tốt… nói tới đó huỷnh
không biết nói Hindou nhiều, nên day qua Samdhen trăm tiếng Tây-tạng,
Samdhen cũng trả lời bằng Tây-tạng rồi day nói với bần
đạo rằng : Tôi bảo thầy đừng đi chợ một mình vì xứ
nầy có thứ người hì hợm, biết ai lạ biết có tiền thì
nó theo kéo niếu xin tiền, mà xin chẳng ít bốn, năm chục
bạc, không cho không thả, tôi có bị rồi một phen cho nó
5, 7 săng mà còn không chịu. Thầy không tin tôi, bây giờ đầu
bếp nói đó y như lời tôi nói… Bần đạo nghe qua lấy làm
bất bình cho xứ, tiếng gọi đất đạo Phật, sao còn thứ
dân hèn mạt ấy. Huỷnh có bảo đừng đi một mình, chớ
không có nói sự người xấu ấy. Bần đạo rằng : Có tiền
thì cho bằng không thì thôi… Phải, xứ bên Tàu cũng có một
thứ người, rình kẻ có tiền đi chỗ vắng lơ thơ một mình
thì bắt đem dấu trên núi trong rừng, rồi bảo viết thơ
cho thân tộc đem tiền chuộc bằng không thì nó bỏ khát bỏ
đói. Chuyện vừa dứt cô đầu bếp ôm bắp cải về trao
cho Đầu bếp, huỷnh bèn hộ cho tôi… Cám ơn huynh, bắp cải
quí quá, lớn và nặng quá. Kế đó huynh đầu bếp đi lại
dinh, Sam-dhen đi xóm, bần đạo muốn đi chợ, cô đầu bếp
nói Choundouss thông ngôn : Để cô đi giùm cho, bần đạo thấy
tình hai vợ chồng ở bù bặt quá, nên cũng thuận tình nói
: Tốt lắm. Bèn lấy giấy bạc 2 rupee trao cho cô rằng : Không
có tiền lẻ đủ, vậy cô mua giùm bánh China (parlếp) mua 3,
4 trăng nga cho họ thối và mua giùm cải chua với hành. Cô
bèn đi, chập lâu về, trao tiền 44 trăng nga, mua hết 6 trăng
nga (4A). Bần đạo bèn lấy cải bẹ xanh còn lại nửa cây
xắc nhỏ và thêm ít lá cải bắp xắc, xắc một tép hành
và một mớ cải chua, ớt, trộn salade cúng ngọ với bánh,
xong ngồi ăn ngọ luôn. Ăn rồi lấy dĩa sắp ba bánh in hộ
Samdhen, hai bánh cho cô đầu bếp, một bánh cho Issê. Chiều
như lệ.
Ngày
13 Aouât 1936 – 27-6-â.l.
Sớm
điểm tâm trà bánh, đoạn xem kinh, trưa cúng dường ngọ bột
và cải xào. Ngày không chi lạ, chỉ lo phận sự là rồi ngày.
Ngày
14 Aouât 1936 – 28-6-â.l.
Sớm
điểm tâm bột với cải xào bún. Đoạn mượn cô đầu bếp
mua giùm : bún, dầu, savon, hộp quẹt và thuốc hết thảy là
18 trăng nga. Đưa 2 rupee giấy, thối lại 32 trăng nga. Choundouss
mượn 10 trăng nga. Trưa ngọ cúng dường bột không với trà
rồi ăn ngọ với cải dưa còn dư. Nghe Samdhen bàn luận ngày
mai sẽ đi Dzêsbung đặng dự cuộc hát mặt nạ tại chùa,
ý bần đạo không hạp sự hí kịch, nên trọn buổi chiều
trùm mền cáo bịnh, vì bị ăn bột sình ruột. Tối lại,
Samdhen thấy bần đạo nằm cả ngày, cho rằng đau bụng, huỷnh
lo lắng lắm, lấy hương xông tẩy uế, coi cử chỉ huỷnh
lo giùm thì cảm tâm quá. Đoạn bần đạo nói : bây giờ bớt
rồi thì huỷnh với đầu bếp mừng vui. Samdhen rằng : Thầy
đau tôi buồn quá và lo sợ hết sức. Thầy đi đến Lhassa
chỉ quen với nội bọn. Thôi, tứ cố, thầy mạnh khỏe, anh
em tôi vui, thầy đau thì như cả thảy đau. Cả đêm an nghỉ…
Ngày
15 Aouât 1936 – 29-6-â.l.
Sáng
dậy nghe trong bụng hơi chứa no dẫy, ngồi vuốt chà bụng
một hồi rồi đi ngoài, vào nhẹ nhàng trong ruột, nhưng mỏi
mê cả mình mẩy. Uống hai chén trà sữa rồi nằm. Samdhen
và đầu bếp hỏi bớt chăng ? – Bớt, nhưng nhức mỏi lắm.
Bảo : Ăn chi không ? – Không, bụng không tốt, vỗ bụng bình
bình cho họ nghe, họ hết bảo ăn. Đoạn huynh Samdhen rằng
: Hôm qua tôi lo sợ quá, nếu thầy có gì thì tôi lúc trở
lại Phật-đà-gia, biết nói với hội Đại-bồ-đề làm sao
? Thầy rán ăn chút đỉnh mai đi Dzêsbung chơi. Còn hai chùa
tại Dzêsbung chưa hành hương, sẵn dịp đi cho hết vì năm
cái mà khi nọ đi có ba. Bần đạo rằng : Không sao, tôi đau
bớt rồi ở nhà nghỉ, còn chư huynh mai đi cũng đặng. Samdhen
rằng : Thầy không đi, thì bọn tôi cũng không đi, ở nhà
cùng thầy, nếu bỏ thầy mà đi, thì Quan Thừa tướng hay
đăïng ắt trách bọn tôi không hết lòng cùng thầy, vì tôi
khi mơi lại viếng Thừa-tướng có nói chuyện thầy đau, ngài
chắc hít thương thầy…
Bần
đạo thấy lòng huỷnh ân cần tưởng đến, thì lấy làm
thương, bước ra ngoài đơn huỷnh ngồi đàm đạo giây lát.
Huỷnh nói hôm qua Lama Lađặc thiền chủ tới đem chai dầu
ăn, hộ và ân cần mời, mấy bữa trước Lama nhà thiền Trzăng-pá
đem chuông và Phật biểu hiệu lại, cũng mời, họ ân cần
quá. Bần đạo ngồi chuyện vãn, hỏi thăm qua sự giấy tờ,
thì huỷnh rằng xong hết, còn đợi gởi đi các nơi đem tiền
đến, thì lãnh số bạc đi. Cả thảy là ba ngàn đồng. Bần
đạo bèn kiếu vào đơn nghỉ, uống vài chén trà. Đoạn mượn
Issê đi mua 2 yogăng khoai lang nấu, cúng dường rồi ăn ngọ,
ăn rồi, kế có tiểu Lama Lađặc tới, đặng mời mai đi Dzêsbung.
Samdhen bước vào nói : Đó thầy thấy không, họ sai tới mời
nữa. Vậy mai bớt thầy đi, tôi mướn hai con ngựa, tôi và
thầy cỡi đi. – Để mai coi trong mình bớt sẽ hay.
Chiều
lại Samdhen vào nói : Thôi bãi việc đi Dzêsbung, mai cho Issê
đi một mình với Lama Lađặc đặng trả lời hồi kiếu. Mốt
lối 9 giờ đi yết kiến Quốc Vương Lama, đặng lo việc của
chúng ta cho rồi. Tối lại còn mỏi mê, nhưng nhờ ơn Phật
tổ ủng hộ, sở nguyện đã toại, ý muốn đã thỏa, vì
đi Dzêsbung dự hí kịch, thật không vui lòng Thích-tử.
Ngày
16 Aouât 1936 – 30-6-â.l.
Sáng
nghe trong mình khỏe khoắn như thường, điểm tâm trà sữa,
đoạn mượn Sonnam mua giùm 2 yogăng khoai nấu đặng tiểu trai.
Issê và Lama Lađặc đã đi Dzêsbung. Samdhen nhắc lại, mai 9
giờ đi yết lễ Lama Quốc Vương (Gia-bô). Trưa ngọ khoai lang
nấu với cải xào. Kế đó Sonnam và Choundouss đánh lộn, Samdhen
ra đánh la cả hai, đoạn đuổi hết cả hai. Sonnam thì đi
Galden, Samdhen cho 2 rupee và bần đạo cho chút ít không ai thấy.
Issê về nghe thuật chuyện và thấy Sonnam quẩy gói đi coi
bộ mừng vui. Isess cũng vậy. Choundouss đi cả ngày không thấy
về. Rủi mà may, hai người đánh lộn xô ngã một cục đá
xanh vách rớt gần đầu con của Đầu bếp đang ngủ, đứa
nhỏ mới một tuổi. Thiệt phước nhờ Phật đỡ, cách đầu
đứa nhỏ chừng một tấc. Samdhen rằng : nếu rủi ro thì
bọn ta mang họa, lại lỡ vỡ việc Phật sự cả. Bần đạo
xem thấy cục đá cũng ngẩn ngơ. Tối lại không chi lạ.
Ngày
17 Aouât 1936 – mùng 1-7-â.l.
Sớm
điểm tâm bánh lạt với trà sữa đoạn sắm sửa 9 giờ đắp
y cùng Samdhen, Issê, Isess đem một giạ gạo, đi thẳng đến
nhà thiền Quốc Vương. Chờ một chập, có vị Quan-lại bước
đến hỏi han, rồi đi bạch giùm với Thượng tọa Lama Thiền
chủ hay. Ngài xuống lầu chào hỏi rồi bảo vị Quan ấy dắt
đến Long-thiền, giao cho Lama hầu cận tâu giùm. Huynh đệ
ngồi phòng trà chờ ước nửa giờ thì có lịnh triệu lên
Long-đơn. Samdhen đảnh lễ rồi, kế bần đạo, kế Isess và
Issê, mỗi người lại Long đơn dưng anh lạc. Quốc Vương
rờ đầu ban niệt điều rồi chỉ đơn trước phán : tọa
đơn. Đoạn lịnh Quốc Vương lấy kinh Phật-đà-gia tụng,
bốn huynh đệ cúi đầu bắt tay nghe, 15 phút thì xong. Trong
khoảng ấy Bần đạo lét xem kỹ lưỡng hơn kỳ trước, vì
khớp sợ luật nước người, phần lễ rồi thối liền. Nay
đặng 15 phút ngồi hầu thính kinh, nên liếc xem kỹ lưỡng.
Long đơn chạm trổ, rầm lót giá tị bản mỏng. Gần đơn
có tủ để bình sành Tàu chưng bông, có đồng hồ cẩm thạch
để trên, quanh vách sơn vẽ, có tủ đựng hình Di-lặc Tàu,
Phước, Lộc, Thọ bằng sành. Xong việc kinh thì Lama hầu mời
ba huynh đệ xuống phòng trà, còn Samdhen còn nán lại đặng
bạch mọi việc. Trong 15 phút, huỷnh xuống phòng trà hiệp
nhau đi về. Bữa nay đi trưa hơn khi trước, nên hai bên phố
chợ, họ xem bần đạo và trăm lia với nhau. Lúc về đi vòng
phố đường xá phố xá đông đảo, kẻ lạ người quen (biết
mặt) thấy đi chợ đã nhiều lần rồi, mặc sức họ ngó,
kẻ nói vầy người nói khác. Samdhen thông ngôn lại và cười
với nhau. Bần đạo cứ vững tâm đi như thường. Về tới
nhà thì có Đầu bếp nói : Quan lớn muốn xem cái máy chụp
hình. Bần đạo lấy trao cho huỷnh và ba cái film chụp ảnh
rồi Samdhen dành đem máy chụp ảnh đi lại dinh. Chập lâu
chừng 1 giờ về đem máy chụp ảnh về và sáu tấm hình nói
Quan lớn tặng hai tấm Quốc Vương hai tấm Tả lê Lama và
hai tấm nội gia quyến Quan lớn. Chia cho bần đạo ba và huỷnh
ba. Thiệt lòng người rất tử tế, lại còn cho ba cái film
mới và rửa film giùm. Đoạn ăn ngọ cải xào bún với khoai
lang. Qua 2 giờ Samdhen rủ đi xem rước cốt đồng tượng ở
phía đường đi Séra-tự. Đến đó thiên hạ đông đảo.
Chờ ước một giờ ngoài, thì thấy các quan và chư Lama chừng
mười vị cỡi ngựa, có kẻ cầm cờ giáo, mang mặt nạ đi
trước, kế các quan nhỏ, kế có một cái hình nộm cốt tướng
đồng, sau đó ít vị Lama và Quan đi thẳng đến Potala (đền
vua). Có bao nhiêu vậy mà thiên hạ coi chật đường. Về dọc
đường Samdhen rằng : Lúc nầy tại Lhassa thiên hạ đau và
chết lung nên đi rước cốt đồng Tả lê Lama về đặng trị
bịnh cho nhơn dân, cho mùa nầy lúa né ăn không bịnh. Về
tới ngõ quan lớn chừng 4 giờ, cô đầu bếp đón nói Quan
lớn mời Samdhen, huỷnh đi vào dinh, một chập về bảo bần
đạo rằng : Uống trà rồi đi cùng huỷnh lại dinh quan lớn
chơi, vì ngài muốn nói chuyện và xem hình rửa đã rồi. Đi
cùng huỷnh lên lầu, chào hai ông bà rồi, mời ngồi, ngài
lấy ba film chỉ và hỏi Samdhen chỗ nào chỗ nào và nói có
bốn, năm tấm xấu vì không rõ (ấy là ảnh Choundouss chụp),
đoạn ngài cắt ra từ tấm, bỏ vào bao thơ rồi trao cho Bần
đạo. Bỏ túi rồi, ngồi uống trà, đoạn ngài đem ra một
tấm hình chùa bên Burma, hỏi bần đạo biết chữ Burma chăng
? – Thưa không. – Samdhen có đi Burma nên biết chùa ấy, nói
chuyện và cắt nghĩa cho ngài nghe. Đoạn bà lớn mượn bần
đạo xem tay giùm, xem rồi, kế cô em của Quan lớn. Đoạn
chập lâu kiếu về. Samdhen nói : Thiệt hai vợ chồng Quan-lớn
tử-tế quá. Ngài có hứa sẽ ghi passeport của thầy và đem
lên Quốc Vương ghi nữa. Tôi có nói chuyện sẽ đi cùng thầy
đến nước Tàu, Nhựt, Annam, Cambodge, Xiêm, thì ngài hứa sẽ
tâu Quốc Vương cho passeport và ngài sẽ ghi bằng chữ Anglais
cho hai huynh đệ mình đi. Bần đạo rằng : Đặng vậy quí
lắm. Samdhen nói : Khi mơi Quốc Vương hỏi thăm thầy, thì
tôi đọc chuyện của thầy, nghe qua Quốc Vương khen thầy
lắm, và nói tướng mạo của thầy phải kẻ tu hành đắc
đạo. Tối không chi lạ, lệ thường.
Ngày
18 Aouât 1936 – 2-7-â.l.
Nhựt
thường lệ, điểm tâm trà sữa bánh lạt, đoạn ở không,
xin Samdhen miếng vải, may túi đựng hộp máy chụp ảnh. Trưa
ngọ cải bắp xào với khoai, hổm rày không ăn bột, chỉ
ăn khoai nấu với bánh lạt, nghe bụng êm ả. Một giờ Samdhen
rủ dạo chợ. – Không đi. – Mắc may, may rồi túi đựng
chụp ảnh, lại may thêm một cái túi đựng tiền Tây-tạng,
vì tiền Tây-tạng lút chút như sous xứ ta. Ngày nay Choundouss
về hòa hảo như thường. Không có Sonnam, thì ít sanh chuyện.
Bần đạo khuyên Choundouss rán ở nhà kinh kệ vì tuổi 31 (Ngọ)
năm nay xấu lắm, e đi ra sanh chuyện buồn. Tháng nầy qua rồi
bị buồn thì không đau. Đừng đi ngủ bậy nữa. Khá, ngày
nay huỷnh nghe lời ở nhà, tối tụng kinh và ngủ tại nhà
ngụ. Ngày nay hết củi phân. Samdhen mua.
Ngày
19 Aouât 1936 – 3-7-â.l.
Nhựt
thường lệ. Trà sữa và bột điểm tâm, đoạn ở không,
lấy vớ ra mạng mấy lỗ rách và khăn lông. Trưa ngọ bột
với bắp cải xào bún, nấm mèo. Chiều 3 giờ đi dạo chợ
vì ở nhà mấy ngày rày tù túng. Gặp tên bán dạo sữa khô
Tây-tạng (churi) thấy họ mua rẻ, cũng y họ mua 2 trăng nga
22 miếng, lệ quán bán 18 miếng nghĩa là 1 trăng nga chín miếng.
Tối lại ngâm nước tám miếng đặng sáng mai thử xào với
bắp cải.
Ngày
20 Aouât 1936 – 4-7-â.l.
Sớm
điểm tâm bột trà Tây-tạng. Mười giờ Sam-dhen bảo nấu
đồ chay, ăn ngọ rồi đi xem hát (tamô) của đức Quốc Vương,
hát bốn ngày. Y lời, lo xắc cải bắp, ngâm bún hùn với
họ, sẵn họ có nấm mèo ngâm, cho bần đạo chút ít, xắc
sữa ngâm, xào chung. Mười một giờ cúng dường với bột
nhồi. Sữa khô ngâm, xào ăn nghe cũng đặng, y như mì-căn
xứ mình, nhưng có mùi vị hơn, nhưng nay ngâm không đặng
mềm lắm, ngày sau sẽ biết ngâm với nước nóng. Đoạn 1
giờ rưỡi đi cùng huynh đệ, đến sân hát cách chợ chừng
một ngàn thước. Bần đạo có đem máy chụp hình theo. Đến
nơi thì tại nhà ngự, trên ba từng lầu chót (rầm) có che
nhà vải cửa vẽ rồng cho đức Quốc Vương ngự có Quan tứ-trụ
em của Talê Lama hầu cận. Từng giữa chư Lama quan và quan
Thừa-tướng, Nguyên-nhung, Thượng-thơ, một quan một Lama.
Từng dưới, Nhứt phẩm, Nhị phẩm, quan lại. Hai dãy lầu
hai bên và phía trước ngự hí kịch, lầu là chỗ chư Phu
nhơn và các quan nhỏ. Nhơn dân, tăng tục nữ nam lớn nhỏ,
lớp đứng lớp ngồi dưới đất quanh hai bên sân khấu. Khi
huynh đệ đến đó, thì Quốc Vương đã ngự đến rồi, các
quan đều đủ mặt. Samdhen cùng bần đạo, Issê và Isess cùng
nhau xúm một chỗ, ngồi dưới đất xem. Muốn chụp hình mà
chỗ ngồi bất tiện, nên bần đạo lần hồi mở túi máy,
đoạn đi lại chỗ khác, dấu máy chụp trong áo, đứng chỗ
ngách ngự lầu và sân khấu đợi lúc lính và quan tuần cảnh
đi chỗ khác mới ló mặt hộp chụp ảnh ra, không cho kẻ
đứng gần ngó thấy, bèn mở máy cách lẹ làng. Xong rồi,
lần đi lại chỗ Samdhen vì sợ lạc. Trời nắng chang chang
mà không dám che dù, ngồi lì mà chịu. Bần đạo muốn về
nhưng một mình không biết đường, còn mấy huynh kia thì mê
mẩn xem, mình không hạp nhưng cũng phải chờ họ. Cách hát
múa như con mên, ít người mang mặt nạ, ít người mặt vẽ
kiểu Tàu, ít người mặt thiệt, có đào, trên đầu kết
bông giấy. Hát một chập rồi múa, có một cái trống lịnh
đánh khi múa, dứt trống dứt múa tới hát, cứ bao nhiêu vậy
hoài. Có hai người mặc áo, nón kiểu Tàu, hai anh hề. Thật
không có chi khoái mắt phàm, hà huống là người tu hành. Bốn
giờ lối đó, có bàn vong đức Tả lê Lama đến, phan, cái,
kèn trống inh-ỏi, chư Lama mươi người cầm phan, thổi kèn,
còn bốn vị Quan lại khiêng kiệu vong, bốn vị Quan-hầu,
khi tới cửa, thì có Quan trong ngự lầu và bốn người kép
đào ra rước, đến sân khấu đi một vòng rồi để đó chập
lâu, đoạn đi ba vòng rồi khiêng thẳng vào ngự lầu, lúc
ấy bần đạo muốn chụp hình, nhưng không có thế hướng
và kẻ gần vai nhiều nên không dám. Lối 4 giờ rưỡi cùng
Samdhen đi về. Ôi đường sá bị mưa, lầy án dơ-dáy quá,
về tới nhà 5 giờ. Trà giải lao rồi lo niệm Phật rồi nghỉ.
Sáng sẽ hay.
Ngày
21 Aouât 1936 – 5-7-â.l.
Bữa
nay điểm tâm phủ phê, bánh mì chiều hôm qua đầu bếp hộ
1/3 ổ để dành mơi nầy xơi với đồ xào hôm qua còn lại.
Ăn rồi, hỏi vần Tibet học chơi. Samdhen rủ đi xem hát, từ
kiếu ở nhà, vì hôm qua bị nắng quá nhức đầu và xem một
ngày đầu cũng đủ biết. Huynh đệ họ đi hết. Samdhen rằng
: Bữa nay ngồi trong nhà không có nắng, thầy đi chơi vui,
tốt lắm, hay lắm, hay lắm, ngộ lắm. – Huynh đi, tôi xin
kiếu. Huỷnh nói : Thôi thầy ở nhà, chúng tôi đi, thầy ra
trước đơn tôi ngồi chơi mát mẻ. Đoạn họ đi. Một mình
ở nhà học vần Tây-tạng. Chín giờ mượn cô cư-sĩ ở gần,
đi chợ mua giùm 1 trăng nga khoai lang nấu (Nimola, sô-dỉ-xê,
nga alou gôgiu, sêrăng nhôla đôghêrê. Sô-dỉ-xê). Cô hoan hỉ
lấy tiền đi. Một chập về. Mười củ khoai cô nấu còn
nóng. Cô Đầu bếp hỏi sao chưa nấu đồ ăn ? – Bữa nay
hết cải bắp (longgôbêza) hết hàng bông (xớt-ma) nên không
nấu, để ăn khoai lang nấu (alou) cũng đủ, mai (săng-nhi) sẽ
đi mua hàng bông. Cô nói, có, có (nga longgôbêza têta doghêing).
Cô bèn ra dấu bảo coi giùm nhà, về khép cửa rồi đi lại
nhà bếp đàng Dinh, một chập đem về hộ cho Bần đạo một
bắp cải. Cám ơn. Cô bảo đi nấu đồ ăn. Cô nhúm lửa giùm.
Nga mé tăng sô dỉ xê ngả tăng. Đoạn lo xắc cải với khoai
nấu canh. Mười một giờ cúng ngọ rồi ăn với bột. Ăn
rồi học vần và tập viết, trọn ngày xong 30 chữ đầu bài.
Sáu giờ nghỉ, tụng kinh, niệm Phật. Sáu giờ rưỡi Samdhen
xem hát về, họ lo xơi bột. Chín giờ bần đạo nghỉ, họ
còn xầm xì chuyện vãn vì có huynh Thiền chủ Lađặc đến
ở nghỉ đêm đặng sáng xem hát.
Ngày
22 Aouât 1936 – 6-7-â.l.
Không
chi lạ, điểm tâm trà bột rồi lo hỏi thăm thêm ít chữ
vần, học mấy dấu. Huynh-đệ họ lo ăn bột rồi 9 giờ họ
đi xem hát. Samdhen rủ nữa. Từ quyết. Mười giờ nhúm lửa,
nấu chút nước lã, ngâm bún nấm mèo, rồi mượn đứa ở
của Đầu bếp đi mua khoai lang. Lo nấu đồ cúng ngọ. Nay
cúng dường canh cải, bún, nấm mèo và khoai. Ăn ngọ rồi
bèn nói với huynh Đầu bếp, đi giùm lại dinh chụp ảnh Dinh,
sẵn quan đi xem hí-kịch dễ chụp, huỷnh hoan-hỉ đem đi lại
trước Dinh chụp hai lần ảnh. Đoạn về, lo học chữ Tây-tạng,
mấy dấu, chữ khó học, nhưng bền chí cũng phải xong. Khó
vì cái giọng của họ trắc trở quá. Cô đầu bếp rót trà
Tây-tạng cho giải lao. Bần đạo trù nghỉ cả ngày nay không
có trà sữa, chắc số tiền đưa bữa 8 Aouât đã tất, vì
đã 15 bữa rồi, 2 rupee là 50 trăng nga, cho mỗi ngày tiền
trà sữa 3 trăng nga (2 annas) thì hết 45 trăng nga, tiền lửa
củi công cán thì còn đâu. Vì vậy, bần đạo chiều lại
đưa thêm cho cô 2 rupee nữa. Nghĩ vì vợ chồng huỷnh có lòng
giúp trợ, hộ hàng bông, mua chợ giùm từ ngày trú ngụ tại
dinh, nên tốn kém chút ít không phiền, của một đồng công
một lượng. Tối 7 giờ Samdhen mới về tới nhà, đoạn rủ
bần đạo mai đi chụp ảnh hí kịch, vì hai bữa rồi huỷnh
có chỗ ngồi mát mẻ gần sân khấu, không phải như bữa
đầu đâu phòng sợ nắng. Còn có một bữa chót, thầy đi
chơi. Thôi cũng hoan hỉ, e họ nói mình chê thói tục, lại
là hí kịch quốc gia, nên buộc lòng phải hứa đi.
Ngày
23 Aouât 1936 – 7-7-â.l.
Hôm
qua hứa đi xem hí kịch, sớm mơi nầy lo ăn lót lòng bột
với đồ xào hôm qua, vì biết ngày nay đi nên hôm qua xào
đồ ăn lung, để dành tới mơi dùng và chia các huỷnh ăn.
Đoạn 8 giờ đi, đến hí kịch lầu thì Quốc Vương chưa
ngự đến, lầu dưới các Quan hạ phẩm đã tựu đông đầy.
Từng trên Quan thượng phẩm chưa tựu. Issê đã đi trước
đặng trải vải ngồi choán chỗ gần sân khấu và hướng
tây mát mẻ. Lúc đi tới chợ, đưa tiền cho Isess 2 trăng nga
mua giùm bánh lạt, 1 trăng nga đường cát và 1 trăng nga đường
phèn đặng đến đó dùng lúc khát nước. Chín giờ Quốc
Vương ngự đến, khởi hát, các quan đủ mặt. Khán giả tăng
tục lần lượt đến chật, trên lầu ba phía các vị Phu nhơn
cũng đông chật lầu. Nay hát cũng có mặt nạ, mặt thiệt,
đào, múa hát y như bữa trước không chi lạ. Ngồi gần sân
khấu tới 1 giờ thì nắng đã tới, Samdhen bèn rủ đi lại
ngồi dưới cội cây cùng thầy ký của Quan Thừa-tướng cũng
ở gần nhà ngụ nên biết nhau. Ba giờ bốn giờ lối đó,
trời âm cang mát mẻ, kiếu thầy ký lại chỗ cũ ngồi đặng
dùng trà, vì Isess đã có nấu nhờ ở trong nhà Lama quen. Lại
ngồi uống vài chén trà ăn ít cái bánh lạt. Ôi ! Cả ngày
ngồi lì, không đi tiểu đặng. Tới 5 giờ bạn hát dâng lễ
hiến Quốc Vương : một bao gạo (một giạ), một cái ngà
voi bịt bạc, ba vóc gấm, một cái da beo, một cây cờ giảng,
lễ bái hườn cuộc đoạn Quốc Vương Lama đáp lễ : mười
bao bột, một vóc hàng bông trắng, rượu xăng và thịt trừu
quay. Đoạn sai quan lama và Quan nhơn đem niệt và anh lạc ban
cho mỗi kép hát rồi ban cho các chức sắc đại tiểu trong
sở tuần cảnh công khó giúp việc. Ban rồi các quan tuần
cảnh và sai nha sắp hai hàng nơi sân khấu đảnh lễ Lama Quốc
Vương. Đoạn 6 giờ, trên ngự lầu chỗ Quốc Vương ngự
quăng anh lạc xuống sân khấu (một đầu anh lạc có cột
tiền thưởng) rồi tuần thượng phẩm quan, tới trung, hạ
đều quăng anh lạc trắng sâu khấu. Kép hát ra lượm, rồi
đi chung quanh ba từng lầu, quyến thuộc các quan Phu nhơn đều
quăng anh lạc thưởng. Sáu giờ rưỡi hườn tất. Huynh đệ
về tới nhà 7 giờ. Samdhen hỏi ra thế nào ? ¬– Cũng đặng,
cũng tốt, cũng hay… chừng nào huynh đi các nước khác xem
hí kịch mới rõ, mới so sánh chỗ hay dở, tốt xấu. Bây
giờ không biết sao mà nói đặng chỗ tốt xấu, còn hay dở
tiếng hát thì không nói đặng, nước nào theo tục nước
nấy, chỉ có cách múa men, nhạc và y phục cùng rạp hát tốt
xấu, hay dở thì biết đặng nói đặng. Đoạn bần đạo
giải lao một chén trà sữa rồi lo tụng kinh rồi nhựt ký
sự đã qua.
Ngày
24 Aouât 1936 – 8-7-â.l.
Sớm
điểm tâm trà sữa bột rồi hỏi Isess vần học. Samdhen đi
lại Dinh về nói : Giấy tờ gần rồi, giấy tờ về tới
Quốc Vương rồi. Huỷnh mừng lòng. Bần đạo nghe cũng vui
dạ, vì ở lâu quá tốn hao. Samdhen cùng huynh đệ Issê, Isess
đi chợ và xem nhà nước Tibet rước bốn vị Quan Anglais. Choundouss
ngày hôm qua đi Séra Gompa thăm anh huỷnh, 2 giờ về tới. Trưa
nay ngọ bột với cải bắp nấu canh. Samdhen 4 giờ về tới.
Chiều Samdhen rủ đi dạo phường, đi hai vòng, lúc về ghé
mua 1 trăng nga khoai nấu. Mượn huỷnh thỉnh một bộ kinh chữ
Tây-tạng. Huỷnh nói : Sau huỷnh sẽ mua nhiều rẻ tiền rồi
chia cho thầy mấy bộ cũng đặng. Xuôi sự. Về lo tụng kinh.
Ngày
25 Aouât 1936 – 9-7-â.l.
Nhựt
thường lệ, điểm tâm bột, trà sữa, trà Tây-tạng. Chín
giờ rưỡi huynh Samdhen sửa soạn đi Dzês-bung với Isess. Huỷnh
đã đặng một tờ ban hành của bốn quan tứ trụ Tibet chịu
cúng dường cho huỷnh lo cất nhà thiền tại Phật-đà-gia
một số tiền là 3.000 rupee. Huỷnh mừng lắm, còn đợi một
tờ của đức Đại Lama Quốc Vương nữa thì rồi việc, lo
thâu số bạc tại Lhassa và các quận trấn dọc đường. Ngày
nay lo viết vần Tây-tạng. Mười một giờ nấu canh cải.
Mười một giờ rưỡi cúng ngọ, rồi dùng bột với canh.
Viết tới chiều rồi khoản dần. Nhựt ký, rồi lo tụng kinh
niệm Phật, tối nghỉ. Samdhen mai mới về.
Ngày
26 Aouât 1936 – 10-7-â.l.
Điểm
tâm trà Tây-tạng và bột, ăn rồi viết vần Tây-tạng. Mười
giờ rưỡi nấu đồ cúng ngọ. Mười một giờ ăn ngọ bột
với canh cải và khoai. Nghỉ một chập, 1 giờ không thấy
Samdhen về. Cho hai huynh đệ Choundouss và Issê 1 trăng nga mua
dưa cải ăn bột. Hai giờ đi chợ, hỏi thăm hình châu thành
Lhassa mua, nhưng hình xấu, có một tiệm hứa mai mốt sẽ có.
Bữa nay chụp ảnh cả vòng thành mặt tiền Sharông-zimsắcla
của quan Thừa tướng. Có hỏi thăm giá một cái nón thứ
Lama cả đội đi đường cỡi ngựa. Tiệm nói 8 rupee. Bần
đạo trả 5 rupee, thì tiệm nói giá ấy mua tại Calcutta còn
hết 5 rupee 8 anna. Nhờ vậy mới biết nón ấy của China làm
đem đến Calcutta, rồi đem đến Lhassa. Chừng về Calcutta sẽ
kiếm mua. Năm giờ rưỡi có Lama đằng Dinh chùa của Thừa-tướng
lại thăm. Chuyện vãn có Choundouss thông ngôn. Chiều thường
lệ : tụng niệm rồi nghỉ. Hết savon, đem cục savon đá ra
xài. Samdhen không về.
Ngày
27 Aouât 1936 – 11-7-â.l
Sớm
điểm tâm bột trà sữa, đoạn viết vần Tây-tạng. Mười
giờ đi chợ mua 1 trăng nga khoai, 2 trăng nga dầu ăn cho hai
huỷnh 1 trăng nga mua cải dưa ăn bột vì Samdhen không về,
họ không tiền. Mười giờ rưỡi có hai lama Thiền-chủ ở
Trzăngpá Khâmtrzanh đến thăm, nói : Hôm Dzêsbung hai anh em tôi
sắm sửa dọn dẹp, sắm đồ ăn, chờ thầy đến, đợi hoài
không thấy, huynh đệ tôi lấy làm buồn. Choundouss thông ngôn
: Tôi cũng đã sửa soạn trước rồi và Samdhen đã có bàn
soạn cùng tôi sự đi dự cuộc hí-kịch ấy. Ruổi thay đến
ngày ấy bị bịnh, nên đi không đặng, lấy làm tiếc lắm.
Qua bữa sau, tôi bớt đau, nói với Samdhen mướn ngựa đi,
ai ngờ Sandhen lại dinh thì Thừa tướng bảo đừng đi, vì
ngày mốt bữa ấy sẽ đi yết kiến Quốc Vương. Hai huỷnh
nghe qua chắc hít, dường tiếc lắm. Ba hồi trà, ba hồi hít
Nađặc rồi bèn kiếu về, hai vị nắm tay Bần-đạo dường
triều mến lắm. Mười một giờ nấu canh cải bắp, chiên
khoai lang. Ngọ cúng dường bột nhồi. Nghỉ một chập, một
mình bỏ máy chụp hình vào áo, đi thẳng đến choporé (lama
thầy thuốc) nơi đồng rộng chụp hình cảnh choporé, là nhà
dưỡng bịnh của Quốc Vương. Đi chụp rồi quây lại đường
cũ về, phút gặp một Tibetain nhỏ, quải giỏ và đi ngó theo
bần đạo, đến khi thấy bần đạo trở lại, thì ngỡ cho
bần đạo muốn đi đâu mà chẳng biết đường nên hỏi “Capa
phêghêung.” Biết nói sao, lắc đầu : “Minhdou” đi luôn,trẻ
thơ lấy làm lạ, cứ ngó theo. Muốn dừng bước nơi khoảng
trống chụp hình phía chợ vì thấy nóc chùa, nhà cầu, nhưng
bị thằng bé đó mà phải đi luôn, lại thêm nhà gần đó
có vài người đứng trước dòm cử chỉ bần đạo. Khổ
quá, về luôn. Lhassa lúc nầy, chiều lối 6 giờ khí hậu lạnh
lẽo như lập đông tại Bodhgaya, Sarnath. Tối đắp bốn, năm
cái mền mới chịu thấu. Chư huynh đệ nói rằng : trong tháng
tám tại Lhassa lạnh nứt da mặt, nên trong tháng bảy nầy
thu xếp công việc đặng cuối tháng về Bodhgaya, chớ ở trễ
tới tháng tám chịu không thấu. Lúc nầy sớm mơi tới 10
giờ còn lạnh, trưa tới chiều mặt trời thạnh vượng đỡ
đỡ, nhưng không ai rời áo cặp,(1) cả ngày nai nịch luôn.
Ngày
28 Aouât 1936 – 12-7-â.l.
Sớm
điểm tâm bột trà sữa Tây-tạng. Đoạn hỏi thăm vần cùng
thầy lại quan ở gần. Cho hai huỷnh 1 trăng nga, gởi mua 2
trăng nga khoai lang sống, 1 trăng nga cải 1 kama hành. Mười
giờ rưỡi, nấu chay cúng ngọ. Canh cải bẹ trắng, khoai chiên,
đoạn ăn ngọ 11 giờ rưỡi. Một giờ rưỡi Samdhen về. Tục
ở Lhassa thường có những người ở xa tới, như Khampa, Giangsê,
Nhạp rốc vân vân đến chùa Kinh-đô, thì họ thường sớm
mơi rảo khắp cúng kinh nhà nầy sang nhà kia đặng cầu vật
thực, nhứt là bột champa. Còn đờn bà hoặc Lama, hoặc cư-sĩ
đoàn năm, lũ bảy cũng khắp xóm nhà nào cũng vô ngồi trước
cửa, hoặc hàng ba, cùng nhau cúng kinh, tùy hỉ chủ gia, vật
thực, tiền ít nhiều. Từ đầu tháng bảy thì tục Tây-tạng,
bọn hát chập mang mặt nạ, đội mão tì lư, trống chập
chõa đi khắp châu thành, trước vào nhà các quan, hát múa,
thì cũng tùy chủ gia hoan hỉ. Coi cách phong tục ưa lắm, đám
nào cũng thấy chúng nam nữ, hễ nghe trống thì tựu coi đông
đặc, bần đạo ít để ý cùng bọn nầy. Nay mua cải, khoai
3 trăng nga 2 kama. Mua củi phân 28 trăng nga = 1R.2A.
Chi
xài chút đỉnh cho vui lòng người. Đều thấy lòng người
bắt thương thầm chỗ nghiệp lực, lòng tham dục không tắt,
cái ta là bản ngã khươi giữ chặt, bỉ thử ôn tồn. Huynh
Issê than rằng : “Củi phân còn chút ít không đủ nấu mà
thầy Samdhen không thấy về đặng xuất tiền mua.” Nghe qua
bần đạo rằng : “Đừng lo, có tiền đây, hãy đi mua củi
phân.” Một chập Choundouss ngủ ở đằng nhà tình nhơn cách
nhà Dinh vài trăm bước về, Issê nói lại, thì huỷnh lãnh
đi mua. Bần đạo đưa 2 rupee giấy bạc Tây-tạng, huỷnh đi
chập lâu về với một cô mang một bao củi phân. Issê hỏi
bao nhiêu ? – Nói 1 săng (10 yoyăng). Issê bèn nói với tôi
rằng : mua không có củi, nên mua có 1 săng. Choundouss bước
vào trả tiền cho cô bán phân rồi day qua nói cùng bần đạo
rằng : Bị trời mưa nên không có củi phân vì họ ở xa lắm.
Nói rồi vô ra, lẽ thì trả tiền còn dư cho Bần đạo, vì
1 săng củi nấu cũng đặng ít ngày đỡ, Samdhen về mua cũng
đặng. Vì hôm trước 9 Aouât bần đạo đã mua rồi 32 trăng
nga (1R.4A.2). Qua bữa 24 Aouât thì hết củi. Cũng Choundouss mua
lối 1 săng rưỡi vài săng, lúc ấy Samdhen đi lại Dinh về
rồi đi hoài, Choundouss không dám hỏi tiền, bần đạo bèn
hỏi cô ở gần mượn đỡ, vừa nói thì Samdhen bước vô
hỏi rồi trao tiền trả – trong bốn bữa hết. Nay bần đạo
mua nữa có lẽ người biết xét thì hẹp lòng cho Bần đạo,
cái nầy huỷnh bọc tiền vào ra, trả thì tiếc, còn bần
đạo không hỏi đều để xem tình ý. Cách lâu huỷnh đi nữa,
đi đôi ba lần, quận chót mua đặng củi phân đem về. Chửng
mới ưng lòng cộng là 28 trăng nga (1R.2A) còn lại 22 trăng
nga. Ấy là lòng tham, tiền chẳng phải của mình, mua cho lung…
cũng đặng, bần đạo vẫn giữ một lòng vững nhẫn, mặc
tình gió động tứ phương, tấm lòng Phật tử mực thường
không lay. Tiền của đàn na, bần đạo lo sợ từng chút, sợ
ít đức hạnh thọ tín thí cúng dường, nên ăn mặc đơn
sơ đạm bạc, để dành cần dùng trong sự hữu ích… Huynh
Samdhen cũng vậy, tu hành còn non quá, nên lòng còn ham hố tiền
tài, nhiều phen bần đạo thử… thấy vậy cũng thương…
Thôi, phận lưu linh đất khách như nước trong lòng sông rạch,
phải chiều lối quanh co, lần hồi xoi mấy chỗ doi đấp qua
khúc vịnh. Qua 1 giờ rưỡi, Samdhen về, huynh-đệ mừng rỡ
hỏi thăm nhau, xông.
Ngày
29 Aouât 1936 – 13-7-â.l.
Không
chi lạ, trà bột điểm tâm, lo học chơi cho qua ngày, ngồi
không, ngán nỗi thì giờ, kiếm nghĩa chữ Anglais trong cuốn
Guide Tibetan, English et Hindi mượn của huynh Dhammajoti đặng
học luôn ba thứ tiếng vì vần Tibet đã biết ráp đọc chút
ít. Trưa 10 giờ lo nấu đồ cúng ngọ, 11 giờ rưỡi ngồi
tiểu quả đường bột cải bẹ, khoai xào sơ. Ăn rồi học.
Lúc 2 giờ có tiểu lại đằng Dinh lại xin xem tay, hoan-hỉ,
tùng dịp khuyên người cầu phước cúng dường, niệm Phật.
Qua 5 giờ có bốn vị Lama Khampa ở Galden đến, cùng nói với
Samdhen, xin nói với Bần đạo xem giùm tay. Hoan hỉ xem, nhờ
Phật lực nói đâu họ đều đổi sắc mặt đó, quá khứ,
hiện tại niên, ngoạt, nhựt, thời, tánh tình đều hòa hiệp,
sang vị lai, dùng phương tiện theo thời khắc khuyên các huỷnh
tu hành. Bàn luận một hai chuyện Phật đạo. Rốt có một
vị lãng trí, hằng bị đại chúng hiếp đáp. Bần đạo thừa
dịp nói sự trả nghiệp tất, kiếp sau sẽ cao vị và thuật
lúc tiền kiếp Phật Như-lai làm một vị Tì kheo trả nghiệp
tên Bất-khinh bồ tát lễ bái khắp đại-chúng, bị họ đánh,
chửi mà không giận, tất lòng nhẫn nhục khư khư… Ba vị
kia, dường có vẻ để ý những lời mà cung kỉnh khiếm lệ.
Từ ngày đến Tây-tạng, bần đạo đi các chùa, không chùa
nào không coi tay, có hằng trăm người, thừa dịp khuyên lơn
tu hành. Chiều rảnh rang, tụng kinh niệm Phật, tối lo nghỉ,
vì không có đèn sáng mà học, có một cái đèn lồng của
bần đạo đem theo, nhưng Samdhen hằng chiếm cứ… Thôi, họ
dùng mình khỏi dùng. Xứ nầy, dầu hôi mắc lắm vì ở Calcutta
chở đến. Cả thảy dân đều dùng dầu trái cầy hay là tô
du (beurre) vì nhiều bò lắm. Đèn thép như xứ ta đời xưa.
Trọn ngày Samdhen lo giấy tờ dưng lên Thừa tướng đặng
Ngài đệ lên Quốc Vương. Ấy là giấy tờ cầu tài lập
nhà Thiền tại Phật-đà-gia không chi lạ.
Ngày
30 Aouât 1936 – 14-7-â.l.
Sớm
điểm tâm bột trà Tây-tạng rồi lo kiếm nghĩa cuốn Guide
tới 10 giờ rưỡi, nấu canh cải bẹ trắng, chiên khoai lang,
11 giờ rưỡi nhồi bột cúng ngọ. Rồi cũng lo viết học,
1 giờ bỗng có một vị Lama ở Dzêsbung đến nói với Samdhen
xin nói giùm với bần đạo xem tay. Samdhen nói thì bần đạo
hoan hỉ. Lama vào, để 2 trăng nga trên tợ, rồi sè tay xin
coi, đoạn người từ giã về. Bần đạo kêu trả tiền lại
nhưng người từ hẳn xin cúng dường rồi đi về luôn. Bần
đạo bèn đem 2 trăng nga ấy ra đưa cho Samdhen nói ấy là tiền
cúng dường nhang khói. Huỷnh cười và trăm với mấy huynh
kia lia rồi thâu số tiền. Lúc coi tay, Issê làm thông ngôn
mà không đặng hưởng tiền, coi bộ buồn, trọn buổi chiều
không ngó bần đạo. Kế lo viết nữa, Samdhen lúc 4 giờ rủ
đi dạo chợ, hoan hỉ đi, về viết học nữa, tối lệ thường
rồi nghỉ. Trời lúc nầy lạnh lẽo quá. Nhắc lại lúc 3
giờ Samdhen rồi việc sắp kinh cùng các huynh vào rương, thì
huỷnh kêu đem bột ăn, lúc ngọ thời bần đạo có để dành
cho huỷnh một chén canh cải bẹ và bún Tây-tạng với khoai
chiên, vì thấy mấy bữa rày huỷnh cứ bảo mua cải chua ăn
bột, sớm mơi, chiều cũng y lệ, không có thịt bò như mọi
bữa, nên chi bần đạo hộ cho huỷnh. Khi bưng chén ấy ra,
thì huỷnh đang nhồi bột, hỏi : “Cái gì đó thầy ?” Đồ
chay bần đạo để dành hộ cho huynh. – Cám ơn, tốt quá…
Mấy huynh kia trong bếp cũng đang nhồi bột ăn với cải, nước
trà, ngó bần đạo, có ý cầu thực, nhưng hết rồi, vì nấu
đủ ăn, 1 trăng nga cải mà ăn ba bữa, thì mỗi bữa có đâu
cho nhiều. Chập lâu Isess tổng khậu là tay bạo nhục thực,
ưa thịt sống, mà mấy ngày rày không thịt cùng vật thực
khác, cứ cải chua hoài nên có ý thèm, bèn vào hỏi xin bần
đạo. – Hết, có chút đó dưng cho Samdhen, không còn… Các
huỷnh đều có ý buồn. Gẫm các huỷnh làm biếng, chớ cải
dưa đó xào mà dùng thì ngon miệng lắm không ra công khó,
cứ để ăn sống thì ngán quá. Hai tháng trời họ ngồi không
ăn lụng, Samdhen cũng ngán vì ló đồng nào thì hết đồng
nấy. Lấy của bần-đạo ra 50R lớp lo lễ mễ đầu nầy,
đầu kia, đi chỗ nầy chỗ kia, lớp ăn uống. Nội một cái
uống trà, tiền beurre Tây-tạng cũng lung, 1 tháng ít nữa là
10 đồng rupee. Nghĩ lại 50R chắc gần tất nên huỷnh mới
bóp lại.
Ngày
31 Aouât 1936 – 15-7-â.l.
Điểm
tâm trà bánh ngọt Tây-tạng, rồi lo viết học cho tiêu ngày
giờ. Lúc mới tới còn lo đi đầu nầy đầu kia, đi chùa,
đi ra mắt các nơi, xem chỗ nầy, coi chỗ nọ, nay đã đủ
nẻo, hết muốn đi đâu, nên ngồi không chờ ngày về thì
cái không nhưng ấy làm cho thấy ngày giờ dài đăng đẳng,
nên chi bần đạo học chữ Tây-tạng, kiếm nghĩa cuốn Guide
là vậy. Nhờ đó mà ngày qua không hay, tới tối mà còn tiếc
không đủ thì giờ. Tối ngủ êm giấc.
10
giờ rưỡi lại lại dinh xem giùm một cô sai nha đau bệnh
rồi đi chợ mua cải bẹ. Ngọ bột canh cải.
Ngày
1er Septembre 1936 – 16-7-â.l.
Nhựt
thường lệ. Điểm tâm trà bột rồi học. Trưa ngọ bột
canh cải bẹ xanh khoai chiên. Mượn Isess mua 1 trăng nga dầu
2 kama hành. Cho hai con đầu bếp 1 trăng nga, thằng ở 1 yoyăng.
Chiều học, tối tụng kinh rồi nghỉ.
Ngày
2 Septembre 1936 – 17-7-â.l.
Nhựt
thường lệ. Điểm tâm rồi học. Trưa ngọ bột canh cải
bẹ trắng, khoai lang, có để dành hộ Samdhen một chén, chiều
học. Năm giờ rưỡi đi chợ một mình, mua bánh, viết chì,
hộp quẹt 4 trăng nga. Ghé tiệm chụp hình mua sáu tấm hình
48 trăng nga, đưa 2R thối 2 trăng nga. Tối lo tụng niệm rồi
nghỉ, trời lúc nầy tại Lhassa bớt mưa, khí hậu khởi sự
lạnh lần.
Ngày
3 Septembre 1936 – 18-7-â.l.
Điểm
tâm trà, bột, bánh rồi học. Trưa ngọ bột với ragouât khoai.
Bữa nay hết củi phân. Chiều cũng học, tối tụng niệm rồi
nghỉ. Tối bữa nay dông gió mưa rỉ rả, lạnh quá.
Ngày
4 Septembre 1936 – 19-7-â.l.
Sớm
thức, trời vẫn còn mưa rỉ rả. Điểm tâm trà sữa bột.
Học, trời lạnh lẽo, ngồi lì một chỗ học nghĩa chữ Tây-tạng,
quên ngày giờ, phút tới 11 giờ. Samdhen bị trời mưa lạnh
nên vô trong ngồi, huỷnh bèn nhắc : Đã 11 giờ mà thầy chưa
lo nấu chay ăn ngọ sao ? – Ý ! đã tới giờ mà quên phức.
Trời còn mưa rỉ rả, hôm qua nay hết cải rau, chỉ còn ít
mớ khoai lang, bèn gọt khoai nấu canh, rồi cúng ngọ với bột.
Hôm qua có để hộ cho Samdhen một chén ragouât mà huỷnh quên
ăn, nay bảo Isess hâm nóng cho huỷnh dùng. Ăn xong rồi cũng
lo học. Trời mưa thì đường xá khắp châu thành đều lầy
án đi chợ không đặng mua ăn. Hai giờ đi rảo chơn trước
đồng trống, có đem máy chớp ảnh theo, bèn chụp ảnh thành
thị Lhassa, rồi thẳng xuống mé sông chụp sông và đảnh
núi trên chót đảnh có một cái nhà thiền của Đại đức
Tả lê Lama tên là Bunpari, khi còn sanh tiền thì hằng lên đó
nhập định, cúng dường và truyền pháp cho chư Lama. Nay thì
đức Quốc Vương Lama kế thế, lâu lâu cũng đến đó nhập
định. Mưa một đêm, sáng ra dòm các đảnh bao quanh thành
Lhassa đều mù-mịt, mây trùm đoanh các đảnh, trời cùng núi
dính nhau, lúc ra chụp hình, thì thấy các chót đảnh đều
trắng phao, tuyết đóng như vôi, còn một hai đảnh núp trong
mây chỗ thấy chỗ không. Ấy là điềm tỏ lập đông, hèn
chi khí hậu lạnh lẽo quá. Samdhen rằng : Ngày nay giấy tờ
đã đệ lên Quốc Vương hầu ngọc ấn thì rồi chuyện, và
Quan Thừa tướng nay đi diễn thuyết về vụ nhà thiền Bodh
Gaya, có sai người lại lấy giấy lý lịch xưa nay tại Phật-đà-gia
và chủ yếu cất nhà Thiền tại đó. Xong việc mới tỏ sự
thâu tiền cúng dường phụ cất nhà thiền, vậy quan dân mới
rõ cốt yếu chỗ thâu tiền. Chiều 5 giờ đi chợ một mình
mua một sợi dây lưng kiểu Tây-tạng 3 trăng nga. Cô chủ tiệm
nói 5 trăng nga, trả 3 trăng nga cô đành bán, đoạn lại dãy
hàng bông thấy còn một anh bán cải, còn carotte mua 1 trăng
nga và 1 kama cải củ, về. Cô đầu bếp thấy nói thứ cải
đó không ngon, huynh đầu bếp nghe cũng qua xem, nói thứ carotte
nầy ít ngon. Bần đạo nói cũng khá và rẻ hơn ở Calcutta.
Đoạn chiều tụng độc niệm rồi nghỉ. Mấy ngày rày răng
cùng chuyển nhức, trời lạnh nhức khá khá.
Ngày
5 Septembre 1936 – 20-7-â.l.
Khuya
2 giờ trời mưa, bị nhức răng, nằm đó chịu lì không ngủ.
Sáu giờ chỗi dậy súc miệng mước lạnh tê tái, ê óc răng
cỏ nhờ đó mà bớt nhức. Đoạn trà bánh điểm tâm, lúc
sáng, tục người tu Tây-tạng thường tụng kinh mơi, bần
đạo cũng quen tục mấy tháng nay. Tám giờ hết mưa, Samdhen
đi lại Lama quan (em của Tả-lê Lama) cận thần, đặng hầu
lấy giấy tờ vì Ngài có cho hay trước rằng bữa nay rồi.
Học nghĩa chữ Hindou, Anglais và Tây-tạng. Chín giờ Samdhen
về nói : Lama quan nói giấy ấy viết không đúng, nên ngài
bảo thơ ký làm lại cho phải phép vì đệ lên Quốc Vương
chẳng phải chơi. Mười một giờ rưỡi ngọ bột khô với
trà, vì bị nhức răng quá, ba cái răng đồng một lượt chửa
chưn hành nổi hạch hàm, phần 10 giờ rưỡi tổng khậu còn
nấu mặn tới 11 giờ rưỡi còn nấu, nên bần đạo e quá
ngọ, bèn dùng sơ, lại hiệp với ba cái răng đau nhức, nhai
không đặng đồ rau nấu, bột trà mà nuốt còn muốn không
vô. Ăn ngọ, rồi ngồi lì viết học tới 6 giờ rưỡi nhức
đôn, bèn dẹp sách vở đi rửa mặt, vào ngồi tụng kinh niệm
Phật tới 8 giờ rưỡi bớt nhức, ngồi một hơi nữa tới
9 giờ hết nhức, nghỉ êm.
Ngày
6 September 1936 – 21-7-â.l.
Sáng
thức khỏe khoắn như thường, điểm tâm vài chén trà Tây-tạng,
vài chén trà sữa, rồi lo tập học. Trưa ngọ cơm với canh
cải carotte, cải trắng, khoai lang. Bữa nay hết bột, họ nấu
cơm có hộ bần đạo một dĩa, bần đạo hộ lại đồ ăn.
Ăn rồi học. Chiều 4 giờ đi dạo phường, mua 2 trăng nga
bánh, 1 trăng nga trái hạnh, 3 trăng nga bonbon. Về còn sớm
học tới 6 giờ rưỡi nghỉ tụng niệm rồi ngủ. Đêm nay
hết mưa không lạnh lắm. Phong tục người Tây-tạng và Bửu-tạng
khác nhau. Đờn ông Tây-tạng xỏ lỗ tai đeo hoa tai đá ngọc
xanh bên trái một cái hoa tai lớn hoặc tròn, hoặc dày, bên
hữu một cục nhỏ bằng chỉ, đeo sát nơi lỗ tai. Áo bận
thả dài chí mắt cá, mang giày đội nón, tay áo không xăn,
đầu để tóc, vóc một bính hoặc thắt củ tỏi, gắn ngọc
thạch-xanh (ấy là bực quan và nhà giàu), còn bính ở chính
giữa gắn ngọc là bực sai nha tiểu lại. Đờn bà cũng để
tóc vóc hai bính (có đám tiệc) thì đội cung ngọc là nhà
giàu, còn đội ngôi sao ba chia gắn ngọc là vợ con của nhà
quan. Tai không đeo bông tai, để không phòng lúc đội cung,
đội sao mới đeo hai tấm ngọc thạch xanh lớn lấp lỗ tai,
cổ đeo ngọc điệp, hộp vàng gắn ngọc xong, tòng tụi toàn
vàng ngọc. Đội ngôi sao thì có tóc mượn giắt lên hai chia
phía trước rồi vòng ra sau vóc bính cột chung với hai bính
tóc của họ, đoạn cột một sợi ngọc điệp chính giữa
hai cái bính, dưới bính tụi tơ đỏ thả tới gót. Áo mặc
thì dài nhưng không tay, như áo lá, trong mặc áo màu nhỏ có
tay đặng ló hai tay màu ra, nơi cườm tay đeo trọn một con
ốc trắng, khâu cà rá có ngọc xanh, mang giày, dưới cột
một tấm tã rằn màu, hai chéo trên chỗ kết dây lại có
hai tấm góc thêu kim tuyến. Tục của họ thường lấy thuốc
bột hòa nước vẽ mặt, coi kỳ quá, cách bôi thuốc trên
mặt nhiều kiểu, kẻ thì nơi sống mũi một lằn dài đen
thui, người thì hai con mắt, xa ngó ngỡ là đeo kiến đen,
kẻ thì hai gò má, người lại trên trán. Ngày bình thường,
họ đội ngôi sao không có dắt tóc trên hai góc, còn cần
cung thì không trang sức ngọc điệp và ngọc thạch lớn nơi
bản chính giữa cung. Đờøn ông phần nhiều lai kiểu Tàu,
tiếng nói của họ thì tựa