Ngày
30 Avril 1936 – mùng 10-3-â.l.
Như
thường lệ, viết thơ sơ thuật gởi cho anh mười. Samdhen
có bảo viết thơ cho Mr. Liu Ming ở Calcutta cho hay chúng ta đã
đến ải đồng Phariyong-Tibet, qua ngày sau nếu có ngựa thì
đi Bhutan và dặn có gởi thơ thì gởi cho quan trấn ải ngài
sẽ trao lại cho huynh. Đề như vầy :
Guru
Grawa Samdhen Lama
Karap
Dartrung Kushark
Phariyong
Tibet.
Viết
rồi giao cho Choundouss đem lại nhà Babon (quan) nhưng nhà quan
chưa mở cửa, đem về chiều sẽ đem gởi.
Đoạn
ăn ngọ với bột nhồi với canh cải xập xại phơi khô. Ăn
rồi một chập, bần đạo lên rầm nhà đi tiểu, vì cầu
tiêu ở trên rầm, cách họ làm bắt tức cười, lên rầm
rồi xuống thang có xây vách đất một chỗ để tiêu và đổ
rác, sau bán làm phân. Tiểu rồi, đứng trên rầm xem qua nhà
quan Karap, phải cách chụp hình làm kỷ niệm, nghĩ vậy bèn
xuống lầu nói với Samdhen, huỷnh cùng hai huynh Issê và Thinhless
đồng chụp ảnh, rồi kế bần-đạo cũng y hướng cho huynh
Samdhen chụp giùm.
[Hình
dán tại đây đã hư.]
Lên
rầm đứng một lát vậy mà lạnh run, thiệt xứ ở non Hi-mã,
từ Ri-canh-căng đi lần lên cao hoài nên tuyết đóng trắng
đảnh, hơi khí thở lần lần nghe mệt quá. Tại Phariyong nầy,
xem mấy đảnh núi thấp và bình địa lung, thì như trên núi
Điện, leo lần lên tới bình địa xem hữu đảnh thấy đảnh
thấp. Vì vậy nên nhà họ cất lúm túm ít cửa. Xứ lạnh,
vật chết tuy quăng ném cùng đường, xương, cốt, da, phẩn
đầy nẻo, song sự thúi nghe cũng ít hơi như thây vật chết
xứ ta.
Đây,
bần-đạo tự do đi xem các nơi, chư huynh đi dạo cùng bần
đạo lại ưa nói tiếng Hindi và Englis cùng bần-đạo, nhứt
là trải qua mấy chỗ đông người như tại chợ vào tiệm,
thì huynh Choundouss ưa nói Ăng-lê, vì bần-đạo có dạy huỷnh
chút ít tiếng thường dùng. Ấy là ý như khoe người đồng
ban, mình đi xứ thuộc địa Ăng-lê biết nói Hindi và Ăng-lê,
nói cho họ biết mình nhiều chỗ du lịch. Nghĩ nhớ anh phán
có nói : có đọc nhựt trình, trên khoản du lịch Tây-tạng,
có một bọn đi lên núi ấy, có nhà nước giúp sức cho tiện
sự đi, nhưng đi mà chẳng thấy về… Nay bần-đạo đi đây,
găïp khí tuyết lạnh-lùng, hơi thở mệt nhọc thì mới rõ
chút ít, định cho bọn ấy, một là bị bịnh ngộp thở và
bịnh trẩn máu (gangrène) hoặc bị trợt tuyết sa hào, hoặc
bị tuyết rã té xuống triền sâu, lạc đường chết đói,
nghĩ vậy bắt thương tâm cho kẻ mạo-hiểm. Nghĩ cho bần-đạo,
quả cả năm tại Trung thiên Ấn-độ, ấm lạnh hai mùa đã
chịu quen, như tại Sarnath và Bodh-gaya, trọn mùa lạnh ở đó,
sự lạnh xấp chín, mười lần trổi hơn xứ mình, lạnh đến
đỗi tối ngủ, mền đắp mấy cái cũng không phỉ. Mắc tiểu,
thì mình đợi sáng chớ không muốn tốc mền và ra ngoài tiểu,
nói vậy thì biết sự lạnh dường bao. Hết mùa lạnh thì
đã khởi đi Tây-tạng. Một tuần lễ tại Calcutta, mỗi ngày
hai bữa tắm, không giờ nào hở quạt. Nhưng lúc lên tại
non Hi-mã thành Ghoom, Darjeeling, chịu sự lạnh còn trối ngất.
Đó là Ghoom còn ở dưới thấp, hà huống trải qua các trạm
cho tới ải đồng Pharijong nầy, một ngày tấc đường một
lên cao, tháng nực ở các xứ mà đây lạnh thấu xương, tuyết
còn trắng núi lấp đường, hà huống là tới lập đông.
Theo ý bần đạo, bọn mạo hiểm ấy không biết thì giờ,
đi nhầm lối tuyết còn cao, gió còn lung. Họ lấy theo ngày
giờ nóng nực xứ mình, họ cho là hết lạnh, họ đi lối
tuần tháng giêng Annam thì họ lầm lắm. Tháng nầy là Avril
mà đường núi bần-đạo đã trải qua nhiều nơi tuyết còn
cao trên thước, lại đi cùng chư huynh đệ Tây-tạng, như
huynh lama Samdhen nầy, khắp các nơi đều có người quen lớn,
hoặc bổn-đạo của huỷnh. Đến đâu cũng có nhà ấm kính
mà đụt lạnh, có củi lửa nước nôi ấm áp mà tay chưn
bần-đạo còn lạnh như đồng thay, hà huống mạo hiểm như
bọn nói trên, không thuộc đường cao nẻo thấp, lánh tuyết
ẩn sương, không biết nơi đỗ đụt đợi thời giờ nên
đi. Đừng tưởng có mặt trời mà tuyết phải tan, bần đạo
vẫn thấy mặt trời chan chan nắng giọi mà tuyết vẫn trơ
trơ, chỉ lần hồi bắt ở dưới đất tiêu lần ra nước
rỉ rả chút đỉnh vậy thôi, chừng đủ thì giờ trời tối
cũng rã tan, chẳng lựa có mặt trời. Như tại Pharijong nầy,
cách núi tuyết chừng ngàn thước, thì ngày đêm bần đạo
vẫn thấy trắng như vôi, có bữa sớm mơi ra thấy núi xanh
um, chừng 10 giờ, 11 giờ thì tuyết xuống đã trắng đảnh,
vậy thì biết chưa phải mặt trời làm rã nó. Nước đá
đông đặc xem khác hơn tuyết đặc. Sự nầy bần-đạo nghĩ
chưa ra, như gần suối nơi triền núi, sao nước suối không
đông, mà trên mé suối tuyết đóng trắng bờ. Nước suối
lạnh thì có mà không đặc. Lạnh đến đỗi hốp vào thì
phun ra liền mà răng ê lưỡi quánh lận, thiệt quá đỗi lạnh.
Nghĩ vậy bần đạo cho rằng : nếu bần đạo đi một mình,
không có bọn Lama nầy, thì bần-đạo cũng phải chết lạnh
hay chết vì tuyết chôn thân.
Buổi
chiều độ 3 giờ, có một người Tây-tạng lại thăm Samdhen,
chuyện vãn nghe cách rành rẽ, giọng nói hưỡn-đãi, cứ một
chập liếc ngó bần-đạo, rốt lại người hỏi thăm Samdhen,
huỷnh bèn thuật chuyện Bần-đạo là thầy tu hội viên của
hội Đại-bồ-đề ở Calcutta, Bodh-gaya và Sarnath. Trải qua
trên ít tháng tại Phật-đà-gia ở hết lòng cùng chư lama
và các người Tây-tạng đến đó cúng dường, có nói Baha
lama Dromo thương bần-đạo lắm, thuật việc cúng dường chủ
tự Lama. Nghe qua người động lòng thương, bèn bảo khuyên
Samdhen phải tận tâm điều-độ bần-đạo và khi đến Lhassa(1)
dắt chỉ cho bần-đạo biết chư danh-thắng-tự và thắng
cảnh. Đoạn người bèn nói tiếng Hindou với bần-đạo, bảo
thầy phải ăn nhiều bữa như chư lama mới chịu nổi khí
hậu xứ Tây-tạng, nếu thầy giữ ăn một ngày một bữa
ngọ, thì yếu sức chịu lạnh lùng và khí hậu xứ chúng
tôi không nổi. Tôi nghe đức lama đây nói, mấy ngày rày xem
thầy có hơi mệt thở, thì tôi biết khí hậu đây, người
yếu rất khó chịu. Thầy rán ăn cho nhiều cơm và bột sadou,
tùy phong tục. Nói rồi người xá hai huynh đệ tôi mà đi
về. Đoạn Samdhen nói ông đó bảo tôi khi đến Lhassa phải
chỉ các thắng cảnh cho thầy và bảo tôi ăn cho lung cơm,
vì đường đi Tây-tạng cực khổ lắm, gập ghềnh đèo ải,
trải tuyết dầm sương, nếu ăn ít thì không đủ sức đi
cho đến nơi. Kế chừng 1 giờ thì người trở lại nữa,
bưng một nắp quả đường bột sadou đến nói tôi xin cúng
dường hai thầy và bật tiếng Hindi với tôi nữa, coi mòi
ưa nói chuyện, vui cười, khuyên lơn nhiều chuyện ích lợi
cho bần-đạo, đoạn chuyện vãn với Choundouss một chập rồi
xá kiếu về. Ấy là một người Tây-tạng thứ nhứt, lần
đầu mà bần đạo đặng thấy xá bần đạo một cách cung
kính. Sau đây Samdhen mới nói : người ấy là cha của hai cô
vãi nhỏ tại chùa Galinhkha, và bần đạo có hỏi tên người
ấy cùng huynh Isess, thì huỷnh cũng không biết, đoạn bà chủ
nhà nói tên là Gounduss-Targhess. Phật tổ cũng khiến cho gặp
người lành và đối đãi tử-tế, tuy vẫn là khách ngoại
bang.
Chiều
huynh Choundouss nói, mướn đặng hai con ngựa chở hành lý đi
Bhutan, nhưng không có ngựa cỡi, anh em tôi đi kiếm mướn
cùng làng mà không có. Samdhen nói : Thầy đau cẳng, sợ e đi
bộ xa đường khó nổi, thiệt tôi không an tâm. Tôi nói :
Không sao, bất quá đường đi như đường đi Népal. Bần đạo
còn đi thấu sáu ngày đường núi Hi-mã miền Népal. Thì đây
cũng trong dãy núi Hi-mã, không sao, có ngựa cũng tốt, không
ngựa cũng tốt. Bàn luận xong việc ngày mai lên đường, cùng
nhau các huỷnh ăn nước canh cải, mời tôi đôi ba phen, thôi
cũng hoan-hỉ ăn một chén cho hạp lòng chúng. Đoạn huynh Choundouss
nói với Samdhen rằng : Mai lên đường, vậy thầy xuất cho
huynh đệ chúng tôi và hai ông bà chủ nhà uống một bữa
nước cơm rượu xăng. Bần đạo nghe nói bèn nói : thôi để
tôi hiến cho huynh đệ một đồng bạc Tây-tạng, mặc tình
huynh đệ ẩm thực tùy hỉ ý muốn. Đoạn huynh Choundouss tiếp
lấy đồng bạc, mượn ông chủ nhà đi mua nước cơm rượu
ấy là tục của họ vậy. Cùng nhau xúm-xích họ nhậu. Thinhless
hát thanh thao vui cười, hai huynh đệ : tôi Samdhen nhậu trà
tới 10 giờ rưỡi rã tiệc của họ, hai huynh-đệ tôi nghỉ.
Ngày
1er Mai 1936 – 11-3-â.l.
Bữa
nay thức dậy, lo thu xếp đồ hành lý ngủ, rồi dùng trà
điểm tâm, đoạn 9 giờ ăn bột sadou với canh cải. Chín giờ
rưỡi lên đường, tạm biệt chủ gia Pharijong (vì còn trở
lại) đi Bhutan (Bửu-tàn). Huynh Issê và Choundouss ở lại đợi
Mã-tử đem ngựa lại chở hành lý. Bốn huynh đệ đi trước,
lần hồi lên dốc qua đảnh, trời đã lạnh lại thêm gió
thổi, đã lên dốc còn bị gió ngược, tạt vào mặt, thở
không kịp, phần hai lỗ tai bị gió lòn vào lạnh nhức thấu
óc. Bần đạo mệt run cả hình, thở hào hển muốn hụt hơi,
song cứ niệm Phật mà đi. Lên tới nửa dốc bèn cùng huynh
đệ tạm thạch bàn nghỉ. Thấy huynh Thinhless guồi nơi lưng
cốt đá Phật tổ, nặng 70, 80 kilos, lên dốc huỷnh thở ra
khói. Nghĩ sự cũng thân con người mà huỷnh phải thân anh
phụ trọng cực nhọc hơn các huynh đệ, nghĩ vậy bần đạo
bắt cảm nghiệp của huỷnh. Đi đường hằng van vái chư
Hộ-pháp, Long-thiên và chư sơn thần, thổ thần, chư quỉ
thần đặng xin ủng hộ huỷnh, thân đai Phật cốt nặng nề,
bần đạo xin niệm vãng sanh giúp chư thần đoạn nghiệp chướng
và vãng sanh Tịnh-độ mà đền ơn ủng hộ huynh Thinhless,
và hằng chú nguyện cho huỷnh kiếp nầy trả hết nghiệp
báo tiền khiên, kiếp sau sanh vào phước-đức tộc gia, hưởng
phước và thọ tam-qui ngũ giới làm thiện tác phước nhiên
hậu thành Phật đạo. Trong lúc tạm nghỉ nơi thạch bàn tư
duy và lòng chúc nguyện xong, bỗng trực nhớ tới sự lạnh
lọt vào hai tai, bèn lấy mão lama xuống xủ hai cánh đậy
trùm lỗ tai, và lấy khăn mouchoir bịt ngang lỗ mũi, đoạn
huynh Samdhen chỗi gót thì ba huynh đệ cũng đồng đi. Họ sanh
trưởng đất núi non, nên đi giỏi quá. Bần đạo lục thục
đi sau với huynh Thinhless. Nhưng, tuy huỷnh vai guồi thùng nặng,
nhưng hình vóc cao lớn bằng hai bần đạo, nên bước của
huỷnh bằng rưỡi bần-đạo, huỷnh đi cũng mau hơn tôi. Nhờ
đậy tai, bịt mũi đỡ gió, nên ít mệt như khi nãy, cứ xủ
hai tay áo tràng, đi bớt lạnh. Đoạn qua đảnh, mừng xuống
triền đỡ mệt, và đi và nghĩ cho cái xác tứ đại nầy,
biết bao nặng nề, mang nó như mang gông nặng, đi mới một
đôi giờ mà nó đã đuối và muốn nuỗng hơi. Bần đạo
tư duy thế sự bèn nói với xác tục rằng : Còn sống một
giờ, bần đạo cũng nguyện mượn thân tứ đại hành Phật
sự, thế thế hằng nguyện y như thử. Còn nay, như ngươi
có hết nghiệp thì cứ việc ngã-tử trên núi Hi-mã-lạp nầy
đặng ta tác dụng cái khác mà hành Phật-sự. Và đi và thầm
nói trong trí như vậy và so sánh với huynh Thinhless, thì lần
hồi thân tứ đại bớt mệt, song lúc xuống nửa dốc núi
lại gặp mưa tuyết, hột nhỏ như hột tiêu, áo mão ai nấy
trắng phêu, ngó hai bên đường trắng dã. Huynh Isess trao cây
dù của bần-đạo mà huỷnh đã cầm giùm lúc lên dốc, bần
đạo mắc chống gậy, nhưng mưa tuyết có ướt-át gì, thôi
để cho huỷnh che cho mát lòng đã cầm giùm cả vài giờ.
Bần đạo chịu gió mưa tuyết ấy ước trên một giờ, đoạn
huynh Samdhen bảo tạm nghỉ dùng trà, nhưng bần đạo sợ mệt
mà dùng nước nó lỏng bỏng đi không đặng, bèn từ chối
đi luôn, và lấy cây dù che đi, hai huỷnh và uống và đợi
Thinhless, lúc nầy huỷnh đã đi chậm lại rồi. Nhờ cây dù
che gió, bớt lạnh, bần đạo đi lần hồi, kế hai huynh theo
kịp. Lúc nầy bớt mệt lại bớt lạnh đi kịp hai huỷnh,
ráng đi, hai chưn mang giày đã ê chưn rồi, mấy đầu ngón
cẳng đau quá, họ quen mang từ nhỏ tới lớn, mình bỏ giày
đã bảy, tám năm, nay mang lại đi phải cáng-náng. Xứ nầy
không mang giày thì cẳng chịu lạnh không nổi. Phút đã tới
trạm Yasa, vào nhà quen của một ông Tây-tạng cư sĩ mà tạm
nghỉ. Nhà chật hẹp, song cũng xen nhau tạm ngồi. Cô con gái
của ông lật đật trải đệm để ghế nhỏ làm tợ cho Samdhen
và bần đạo ngồi, đem trà rót cho hai huynh-đệ tôi dùng,
kế huynh Isess nấu trà cũng chín rồi, đổ vào ống thục
(vì huỷnh bươn bả đi trước đặng nấu trà). Hai huynh đệ
dùng ước ba, bốn chén trà, thì huynh Thinhless đã tới, chó
sủa hồ hào thì biết huỷnh đã tới, liền mang thùng thẳng
vào nhà, an trí gần cửa trên sàng để củi, rồi vào chỗ
huynh đệ đang ngồi, liền ngồi thở hào hển, huynh Samdhen
bảo nhậu trà. Đoạn huynh Isess lo nấu canh cải đặng huynh
đệ dùng bột. Chờ hai huynh Choundouss và Issê tới 5 giờ mà
chưa thấy tới, anh em kẻ đi dạo đầu nầy, người đi nẻo
nọ, chờ đợi hai huynh. Bần đạo 6 giờ mới nghe chuông ngựa,
hai huynh bước vào thì Isess và Thinhless bước ra lấy đồ
hành lý, mới có bột sadou, chớ nãy giờ con gái của ông
chủ gia dưng một quảo nổ, mấy huynh đệ dùng đỡ đói.
Đoạn hai huynh thuật sự mã tử nầy không tốt, 2 giờ mới
đi là huynh đệ tôi cự với y lắm, chớ y nói để mơi mai
sẽ đi, lại không chịu chở valise nói nặng, nên huynh đệ
tôi phải mang.
Đoạn
mã tử bước vào nói chi không biết mà chỉ Choundouss, song
bần đạo biết ý, đó là nói huynh Choundouss cự với y. Đoạn
cãi nhau một hồi. Huynh Samdhen phủ ủy bảo uống trà, thì
hai bên đã êm và đưa tiền cho mã-tử, mã-tử uống trà rồi
ra nhà trạm nấu ăn và nghỉ. Xóm nầy chỉ có ba cái nhà
mà thôi, có một cái nhà để cho ngựa và mã tử ở, còn
hai cái nhà, tùy ý ai tạm nơi nào cũng đặng, miễn biết
xử điệu (trả tiền) thì tốt. Ấy là tiền củi lửa, dầu
đèn và chủ nhà nấu ăn uống giùm cho cả. Huynh Samdhen hối
mở rương lấy lễ vật. Một cái hình chùa tháp Phật-đà-gia,
một tấm vải in cẳng Phật và một tấm tượng Phật tổ
kiểu Burma, một cục xà-bong và một cục trà, một cái hộp
quẹt, dưng cho chủ nhà, tiếp lễ và coi bộ mừng lắm, vì
mấy thuở, xứ nầy mà có tượng Phật và mấy món dấu tích
kia. Bèn đem bột sadou đáp lễ. Huynh đệ ăn uống rồi đồng
lo ngủ.
Ngày
2 Mai 1936 – 12-3-â.l.
Ở
chỗ nầy cũng lạnh, nhưng lạnh ít hơn ở Phari-jong, nên huynh
Samdhen 5 giờ rưỡi còn trùm. Sáu giờ thu xếp hành lý, trà
đã chín, nhồi bột ăn rồi 8 giờ rưỡi lên đường. Tạm
biệt ông chủ và mấy cô em, đường xấu quá, hào hố, đá
cục chinh-chồng, mang giày mà đi cấn một hai cục đá thốn
thấu trong bàn chưn. Và đi và niệm Phật và niệm thần chú
nguyện cho loài vi tế côn trùng tại túc hạ tán kỳ hình.
Nhờ niệm vậy có lúc quên mệt, phút đã tới trạm Sinhgara,
chỉ có một cái nhà trạm mà thôi. Huynh đệ đồng vào uống
trà, mở hành lý cho ngựa nghỉ, trà còn trong chai thermo, uống
mỗi người vài chén. Đợi huynh Isess nấu trà rồi sẽ uống
tiếp. Trong khoảng đợi ấy, huynh đệ họ cùng một người
hành khách cùng nhau đánh bài cào. Đoạn huynh Isess kêu vào
uống trà và ăn sadou. Bần đạo xin kiếu vì sớm mơi ăn còn
no, khi các huỷnh no nê rồi thì 12 giờ rưỡi lên đường.
Bần đạo đi dở nên thường hay đi trước, đã cởi giày
lột vớ bỏ vào túi dết đặng đi cẳng không, bớt đau và
thong thả cẳng, đi chừng ngàn thước thì huynh Choundouss và
Issê theo đã kịp và nói : thầy thủng thẳng đi, hai anh em
tôi đi trước đặng trình thông hành (xin tại Pharijong : 8
người 2R.4A.) thì mới qua ải đặng. Nói rồi hai người đi
liền, bần đạo ừ ừ, nhưng nhị cẳng cũng bươn bả theo
họ, phải mang giày thì đi không kịp họ, đi tới khúc đường
quẹo kia, hai người bèn dừng chơn nói : Quan ải trước kia,
nghỉ đây, tôi đi trước rồi sau hai người sẽ đi. Issê
bèn mở valise ra, lấy lễ vật sửa soạn đàng hoàng, huynh
bèn ôm lễ vật ấy đi một mình thẳng đến Trấn ải quan,
bảo bần đạo ngồi nghỉ, chờ trình thông hành rồi đi mới
đặng. Đoạn Issê lúc khóa valise rồi, bèn bảo bần-đạo
đi, thì tôi nói : Choundouss bảo ngồi đây chờ huỷnh trình
rồi lại kêu đi, bây giờ huynh bảo đi, thôi đi thì đi. Lúc
ấy vừa mở túi dết lấy tập sổ nhựt ký và viết ra, vừa
mang kiến, ý nói ngồi đợi thì viết sự đã qua kẻo quên,
huỷnh bảo đi thì có ý không vui, vì chưa kịp viết chi hết.
Thôi, nhẫn tâm, kẻ bảo vậy, người bảo khác, bỏ đồ
vào dết thì huỷnh đã đi trước rồi, đoạn vừa bước
xuống thạch bàn thì huynh Samdhen và Thinhless với Issê đã
tới. Bần đạo thuật việc Choun-douss đã đi trình passeport
cho Babon, thì Samdhen bảo đi. Đi tới Quan ải địa đầu nửa
Bhutan, thì bần đạo thấy bên kia suối có một cái nhà, cất
theo kiểu lầu đài Tây-tạng mà bần đạo đã ngó thấy,
nhưng kiểu cửa có khác. Ngang qua suối, bắt một cái cầu,
trên lợp ván, hai đầu cầu có cửa cách chắc chắn. Khi qua
cầu thì huynh Samdhen kêu Issê hỏi chi nhỏ nhỏ không biết,
đoạn đi thẳng lại nhà hờ, lót sạp ván, huynh đệ đồng
ngồi nghỉ. Bỗng Choundouss trong nhà Trấn ải quan bước ra
đi thẳng lại Samdhen nói lia, đoạn thấy Sam-dhen lấy bóp
tiền ra lấy tiền đưa cho Choundouss. Lúc ấy Choundouss bèn
nói với bần-đạo rằng : Quan Babon đòi thêm tiền thuế hai
tên mã-tử 8 annas, xấu quá. Bần đạo nói không bao nhiêu,
đóng cho rồi. Đoạn huỷnh đi, mấy huynh-đệ rót trà trong
chai thermo uống rồi thả đi lần, chỉ huynh Thinhless ở sau
đợi mã-tử. Lúc ấy lấy réveil(1) ra xem đã 2 giờ. Huynh
Samdhen đi với các huỷnh trước, bần đạo bết chưn, lục
thục theo sau, đi tới một xóm nhà kia trên nổng, đường
đi ở dưới thấp, có một cái nhà cầu cất đầu lộ tại
nẻo bước lên xóm củi.
Huynh
Samdhen và Choundouss ngồi nghỉ. Bần đạo cũng nghỉ, cẳng
đã bết bát rồi, ước nghỉ tại xóm nầy là vừa, nhưng
huynh Samdhen nói, đây không có nhà quen, lần tới trước có
nhà quen. Đoạn đi, thì huynh Issê sụt sau với bần-đạo,
ba huynh kia đi trước. Thiệt bết bát, bước muốn hết nổi,
song biết sao, phải ráng hết gân cốt mà đi, đi tới khúc
đường kia thấy Samdhen và hai huynh ngồi chờ, hai huynh đệ
tôi đi tới thì Samdhen bảo ngồi nghỉ, chập lại đi trẽ
vào đường hẻm bên tả vào làng Chakha có trạm bèn vào một
cái nhà của người quen, đến cửa ngõ, huynh Samdhen và Choundouss
còn đứng ngoài cửa chờ người mở, trên lầu chó sủa vang
rân. Bần đạo thấy nhà ấy lòng mừng đặng nghỉ mệt,
đoạn thấy hai huynh bước vào cửa thì bần đạo cũng đã
tới cửa, bước vào thì thấy người chủ nhà mở cửa rồi
đứng nép một bên, chào hai huỷnh, đoạn hai huỷnh trèo lên
thang, thang ấy bằng một cái cây y mổ như máng heo ăn vậy
, bần đạo cũng lên thang vào căn phòng, có một chú nhỏ
lật đật quét. Bần đạo mỏi quá, đợi quét rồi bèn ngồi
bẹp xuống rầm không đợi trải chi hết, đoạn huynh Samdhen
lấy réveil ra xem đã 4 giờ 50, vừa móc khám và dù xong, thì
mã-tử đã đến, mấy huynh kia xuống lầu, đem hành lý lên
và sắp đặt nơi phòng. Phòng lớn rộng rãi, kế phòng có
nhà bếp cũng rộng rãi. Mở rương, valise, lấy lễ vật ra
dưng cho chủ gia, thì coi bộ anh chủ nhà mừng rỡ, ngồi chuyện
vãn một chập bèn kiếu bước ra thẳng vào phòng bên kia,
bưng trà và hột nổ với cốm dẹp lại dưng cho hai huynh đệ
tôi. Đoạn bưng lại một nồi xăng đãi mấy huynh kia. Chính
giữa cái nồi, có nhận một cái giỏ đương bằng hàng đen,
chung quanh giỏ ấy là nếp xăng hèm. Đổ nước nóng chung
quanh hèm ấy, nước hèm chảy lượt vào giỏ đoạn có gáo
cây múc đổ vào chén uống. Uống hết nước nhứt, tới nước
nhì, lấy giỏ ra, lấy nước nóng đổ vào nồi, có cây quậy
lộn hèm, rồi qua nước ba, thì lấy giỏ lên, lấy cây có
tiện đầu tròn như trái chùy tán nghiền hèm rồi
đổ nước nóng vào quậy đều, đặt giỏ lượt vào múc
uống, vậy mà cũng say vùi. Đoạn chờ huynh Thinhless. Tới
6 giờ tối huynh mới tới, coi bộ mệt ngất, bần đạo khi
ấy xuống lầu đi ngoài, thấy huynh đã tới, chạy lại hỏi
sao lâu trễ, huỷnh vừa thở vừa chỉ đầu nói nhức, chỉ
ngực nói tức, chống cây đỡ thùng đứng nghỉ, bần-đạo
rất thương và cũng than đường xa mang nặng. Kế hai huynh
đệ đồng đi vào nhà, để thùng lên lầu, thì huỷnh xề
ngồi nơi rầm, ngã dựa vào đống hành lý gần bên mà thở
dốc ôm đầu. Samdhen hối Isess rót trà cho huỷnh uống. Đoạn
bần đạo móc tiền bảo Choundouss mua xăng cho huỷnh uống
đặng giải lao, huỷnh từ chối, song bần đạo nói : có xăng
uống cho máu chạy bớt nhức đầu và tức ngực “Phai unhlờ
sitro Katêkha poudou, xăng xú giác poudou.” Huynh Choundouss tiếp
lấy tiền, nhưng nói, huỷnh không biết nói sao mà mua xăng.
Thinhless giỏi tiếng Bhutan, để huỷnh khỏe rồi lại phòng
chủ nhà nói mua. Đoạn trao tiền cho huỷnh, huỷnh bước ra,
qua phòng trăm lia với chủ nhà, đoạn một chập trở lại
ngồi như cũ. Bần đạo hỏi : “Xăng minh con ?” thì huỷnh
nói một lát sẽ đem lại, coi bộ huỷnh cũng còn mệt lắm,
kế xăng bưng lại một nồi như khi trước. Huỷnh đưa tiền
cho Choundouss, rồi trả lại cho bần-đạo nói : Chủ nhà không
chịu lấy tiền. Đoạn Choundouss uống với Thinhless. Thì Sam-dhen
rằng : có xăng coi Thinhless hết mệt mỏi, ấy là lời nói
giỡn. Uống xăng ăn bột tới 9 giờ rưỡi ngủ. Bần đạo
cũng mỏi mê ngủ vùi tới 1 giờ thức đi tiểu và o bế bóp
cẳng. Tại xóm trọ Chakha nầy ít lạnh vì ở dưới triền
thấp.
Ngày
3 Mai 1936 – 13-3-â.l.
Sáng,
lúc 3 giờ thì Samdhen đã thức, kêu Isess thức nấu trà, nhưng
huỷnh còn mê ngủ, đoạn một chập lâu Samdhen bèn kêu nữa,
nói đã 4 giờ rồi, thức nấu trà. Bận nầy Isess thức lo
đi rửa mặt rồi nấu trà. Bần đạo cũng chỗi dậy, thu
xếp đồ ngủ rồi cũng đi rửa mặt. Isess kêu mã-tử. Ai
nấy đều xúm lại uống trà ăn sadou rồi 6 giờ tạm biệt
chủ gia Chakha lên đường. Bần đạo đã xuống lầu đi theo
Choundouss và Isess, ra tới đường thì Choundouss bảo, thầy
thủng thỉnh đi sau, cứ một đường đi tới. Hai anh em tôi
đi trước đặng sắm sửa chỗ trú ngụ. Nói rồi hai huỷnh
đi như dông. Bần-đạo thỉnh thoảng đi, vì hôm qua đã bết
rồi, nhờ đêm nay bóp cẳng nên mang giày đi cũng khỏe. Kế
huynh Samdhen đã đi tới gặp bần đạo, đến một khúc đường
kia không có xóm nhà ở gần, huỷnh nói : tạm nghỉ đây dùng
trà. Tôi nghe nói dòm lại chỗ huỷnh ngồi không thấy khay
trà, sao huỷnh nói dùng trà. Huỷnh cởi bớt y phục (vì đã
nực rồi) để nơi thạch bàn gần lộ rồi đi tiểu, trở
lại ngồi nghỉ, thì huynh Isess và hai mã-tử với hai ngựa
đã tới, nói đi tới trước kia có nước, nghỉ nấu trà
mới đặng. Xách đồ đi chừng 50 thước, bèn thấy có chỗ
cũ của hành khách lấy đá làm táo nấu ăn. Thì Samdhen bèn
bảo Isess mở gói lấy khảm cụ trải bên lộ ngồi. Mã-tử
mở hành lý thả ngựa cho ăn. Hai mã-tử quơ củi, Isess lại
khe múc nước. Kế Thinhless tới, để thùng xuống nghỉ, rồi
huỷnh cùng tôi đi lại khe nước. Tôi lau mình vì chốn nầy
không lạnh, tiện dịp lau mình, giặt vớ và khăn. Rồi việc
lên phơi đồ và đồng ngồi uống trà ăn bột sadou (ăn với
đường). Qua 10 giờ rưỡi lên đường, lúc nầy bần đạo
đã cởi giày đi cẳng không, thật khỏe cẳng, và cặp vớ
chưa mấy khô, lấy kim (surêté) ghim trên nóc dù và che và
phơi vớ vì trời nắng chan chan. Đi tới 1 giờ chiều, cũng
tạm nghỉ bên đường như trước, nhưng không có uống trà,
chỉ lo lại mương kế đó rửa mặt. Bần đạo thấy nước
nhiều chảy mạnh, tiện việc gội cái đầu, đoạn lên ngồi
nghỉ, kế huynh Thinhless đã tới cũng ngồi nghỉ, huynh Samdhen
chỉ cái nhà lầu vách sơn vôi trước kia đã thấy và nói
: Đó là nhà Quốc-tự và nhà công sở Trấn quan Bahalama xứ
Bhutan, còn chừng ba cây số ngàn nữa thì tới. Đoạn 2 giờ
đi, trước mắt thấy nhà cửa lầu đài, nhưng đi bết cẳng
mà không thấy tới, lần lượt đi riết xế qua đã tới thành
Patrô, quan ải nước Bhutan (là Kinh-đô cách đây 10 cây số)
thì đã có Issê chực sẵn đón, rồi cùng nhau hiệp hành đi
vào cửa kinh-đô là một cái cầu bắt ngang qua suối sâu như
cầu quan ải Xana-Chamba nhưng tốt hơn, trên nóc nhà cầu sơn
vẽ có viết chữ bùa “Âm-ma-ni-bát-mê-hồng” trên đó,
đoạn qua cầu ấy rồi lên dốc, đường cẩn đá núi láng,
đã mệt mà gặp cái dốc nầy thêm duyên mệt uối, nghỉ
hai lần vậy mới tới nhà thiền của Baha-lama, thì có huynh
Choundouss, đứng chực đón, lúc ấy đã 3 giờ rưỡi chiều,
gặp nhau họ trăm lia rồi dẫn lại cái nhà lầu gần nhà
Baha, đem đồ hành lý lên và tạm nghỉ ngoài hàng ba các từng
lầu thứ nhì đã sắp đặt đàng hoàng, bèn khui thùng đem
ba tượng Phật nhỏ ra và lấy đủ lễ vật : trà, đường,
savon, nước sông Gange, tượng lớn Bodh-gaya và tượng Phật
tổ kiểu Burma và anh lạc, rồi mấy huỷnh đồng bưng lại
Baha-lama, xa nhà ngụ ít chục thước. Bần đạo ở coi chừng
đồ đạc và huynh Isess lo nấu trà. Bốn huynh lại Baha dưng
lễ ra mắt rồi một chập lâu huynh Thinhless về guồi thùng
Phật cốt lớn đem lại Radja. Bần đạo rảo mắt xem qua khóm
Kinh-đô Bhutan, thua Népal lung lắm, nghĩ cho là một cõi Viên-ngoại
dân giã mà chưa tấn hóa. Đoạn mấy huỷnh rồi việc ra mắt
Bahalama, bèn trở về chỗ ngụ, bưng lễ vật đi ra mắt Đại
vương và các danh tự tại kinh đô, tới tối 8 giờ mới dùng
sadou. Bần đạo mỏi mệt lắm, cả ngày đi đường không
cơm, nên cũng dùng bột với muối, rồi 9 giờ ngủ.
Ngày
4 Mai 1936 – 14-3-â.l.
Sớm
thức dậy, Samdhen và Choundouss dẫn nhau đi đem lễ vật lại
Baha nữa, và trở về bưng lễ vật đi viếng các chỗ nữa.
Bần-đạo và Thinhless ở nhà coi đồ, còn Isess thì lấy đồ
lama mặc đi dạo phố. Mười một giờ rưỡi, họ về. Đoạn
có người lại mời Samdhen lại nhà Radja hầu chuyện, tục
của họ, đi đâu phải đem chén riêng của họ theo đặng
dùng trà. Samdhen có nói với bần-đạo, ngày mai sẽ đem bần-đạo
đi ra mắt Baha. Các huỷnh đi, kẻ đi đầu nầy, người đi
đầu kia. Bần đạo ở nhà viết nhựt ký, rồi lấy máy chụp
hình bỏ vào áo xuống lầu đặng lén chụp hình nhà Baha và
đền đức Đại-vương với nhà trên đảnh. Đoạn trở về
chỗ ngụ rủ Isess đi dạo phố phường. Huỷnh bảo Thinhless
coi đồ, hai huynh đệ xuống lầu đi, xuống tới đầu dốc
đường qua nhà cầu chùa Kinh-đô phút gặp huynh Issê đi về,
có người bưng nổ và các vật thực đi với huỷnh. Huỷnh
bảo Isess trở về sắp đặt thâu đồ nấu ăn, nên huỷnh
phải trở lại. Thì Issê nói : Lama và Choundouss đã về tới
cầu kia, thầy đi thẳng lại đó sẽ gặp, bần đạo đi thẳng
xuống dốc thì thấy hai thầy trò về. Samdhen hỏi : Thầy
đi đâu ? – Tôi muốn đi dạo xem phố phường. Huỷnh bèn
bảo Choundouss dẫn đi. Tới chỗ họ bày hàng bán theo lề
đường, chớ không có chợ thì Choun-douss dừng bước, bần
đạo cũng y theo huỷnh, đặng xem dãy bán đồ, thì phần nhiều
là vật ăn, lê lần bước tới người thứ tư thì Choundouss
có quen nên ngồi xuống, thì tên bán đồ kêu cô bán xăng
lại mua đãi Choundouss. Bần đạo dòm thấy một cái đãy(1)
kiểu Bhutan, bèn hỏi mua, Choundouss hỏi giá cả thì tên bán
đòi 1 rupee anglais, tôi nói mắc, bèn trả tới 12 annas, chịu
bán, bèn lấy tiền trả và mua thêm sợi dây cột giày Bhutan
giá 10 annas Tây-tạng. Đoạn xem một hơi nữa thì không vật
chi đáng mua làm kỷ-niệm. Huynh Choundouss uống thêm một ống
tre xăng nữa rồi đi chỗ khác. Lên dốc chùa gặp một người
ngồi bán sau chùa, thấy cái ống khóa Bhutan, muốn mua, hỏi
giá đòi 1R.8A. anglais, mắc quá, thôi đi. Choundouss bèn dẫn
đến xem chỗ nữ-công, vào đó thấy bốn cô dệt vải, hàng,
gấm, thiệt bỏ màu tốt đẹp, nhưng tơ chỉ thô lắm, song
cũng đáng khen, vì xứ ta nữ-công thua xứ người, chỉ xuất
tiền mua mà thôi, đoạn về, thì huynh Samdhen bảo ngồi nhậu
trà ăn nổ. Kế huỷnh bảo thôi sẵn dịp Choundouss đi lại
Bahalama thầy hãy đi với huỷnh lại ra mắt Baha cho rồi, vì
tôi có nói trước với ngài rồi, chớ mai sẽ nhiều người
lắm. Theo chơn Choundouss lại nhà thiền Baha, vào đó thì huynh
Choundouss đảnh lễ, bần đạo bước tới trước Đại-đức
cũng đảnh lễ và bước lại cúi đầu trước pháp tòa của
ngài, ngài bèn cúi đầu đụng đầu bần-đạo mà đáp lễ.
Đoạn thối lui đứng một bên Choundouss, thì Đại-đức hỏi,
Choundouss thuật việc bần-đạo là hội-viên của hội Đại-bồ-đề
ở Bodh Gaya theo Samdhen đi Tây-tạng, thì Đại-đức nhìn bần-đạo
và chắc lưỡi có ý thương và khen ngợi (ấy là tục của
họ, chắc hít là tỏ ý chịu và thương). Đoạn Choundouss
chỉ qua phía tay trái, bần đạo dòm theo, bèn thấy chỗ thờ
Phật thì thẳng lại lễ bái, đoạn Baha bảo trị-sự rót
nước sửa soạn nơi bàn cúng dường Phật, thì Choundouss biết
nên bảo bần-đạo lễ bái nơi ấy nữa, rồi cũng thối-bước
đứng bên Choundouss dòm xem Baha, thì tác còn nhỏ, lối 40 ngoài,
tôi vẫn nhớ mặt ngài có đến Phật-đà-gia. Đoạn ngài
bưng bát cơm trước tợ ngài, kêu Choundouss bảo dùng, Choundouss
bước tới bợ tay vào khều chút ít vào tay rồi thối lui
bỏ vào miệng, rồi bảo bần-đạo bước tới thọ thực,
thì bần-đạo cũng làm y theo huỷnh. Rồi hai huynh đệ xá
kiếu đi về, ra tới căn phòng trống thấy một vị lama đương
ngồi vẽ, trước mặt có căng bố trắng, trên bố có vẽ
họa đồ (plan) chùa tháp Phật-đà-gia. Coi cách vẽ là kiểu
âu-châu, ngay thẳng bằng nét, khen thầm. Đạo huỷnh đi lại
phòng kế đó, bước vào thấy hai vị lama ngồi may đồ y
phục, kế đó có cái đơn một vị lama (chắc là thơ ký)
nên thấy ngồi viết kinh. Trước đơn tợ có khám(1) thờ
đức Chuẩn-đề. Xem rồi bèn xá kiếu về… Samdhen hỏi đã
ra mắt Baha rồi hé. – Rồi. – Thôi uống trà và dùng bột
sadou. Vưng theo ý người, ăn rồi nằm nghỉ 15 phút, kế chỗi
dậy bóp cẳng, còn nhức mỏi quá. Đoạn 4 giờ trời mưa
rỉ rả, hơi lạnh đã thấm, mình mẩy rởn óc cả. Tối lại
8 giờ huynh-đệ họ ăn cơm, bảo bần đạo dùng, bần đạo
từ hẳn. Đoạn họ đánh phé ăn đột bàn tay tới 10 giờ
rưỡi ngủ. Đêm nay bần-đạo ngủ vùi vì sự mỏi mê ba
ngày đường.
Ngày
5 Mai 1936 – 15-3n-â.l.
Sáng
5 giờ thức dậy nghe cả xác tục nhức nhối. Samdhen bèn lấy
một hộp thuốc của Baha-Ghoom cho, đưa cho bần-đạo bảo
nhai uống hết đau đớn. Song hột thuốc cứng quá, bần đạo
lén bỏ vào đãy chớ không uống.
8 giờ
rưỡi, dùng nổ lót lòng. Chín giờ rưỡi Sam-dhen sắm lễ
đi viếng danh tộc, trước khi đi có hai người khách đem dưng
cho Samdhen một xấp đũi(2) đỏ, đeo Choundouss một xấp đũi
trắng, ấy là sự đáp lễ nhau, mời ăn nổ dùng trà, đoạn
hai người xin thỉnh hai cốt Phật nhỏ về cúng dường bữa
rằm rồi đem trả lại, tục của họ vậy. Đoạn Samdhen cùng
Choundouss với Issê khuân lễ vật đi viếng danh tộc. Bần
đạo ở nhà, muốn viết thơ gởi về đạo-tràng cho hay rằng
đã đến nước Bhutan, nhưng hỏi thăm thì không có nhà thơ,
không có cò riêng. Các thơ từ xứ nầy muốn gởi ra ngoại
quốc đều đi qua Pharijong, dùng cò Inde-Anglaise mà gởi. Nghe
vậy nên không muốn gởi, tưởng có cò riêng nước họ thì
gởi, bằng cũng dùng cò India thì có quí gì. Qua 11 giờ bần-đạo
ăn ngọ một mình, vì mấy huỷnh chưa về, ăn gần tàn bữa,
thì mấy huỷnh về, ăn cơm rồi. Samdhen thấy bần đạo có
hơi bần thần, bèn rủ đi dạo, bảo đem máy chụp ảnh theo,
đặng lén chụp Pháp đường (là nơi Bahalama mỗi tháng 1er
và 15 thuyết pháp, cả nam nữ xuất gia và cư-sĩ đều đến
nghe). Đoạn đến nơi, ở xa xa lén chụp rồi trở lại gần
tới cầu-chùa, thì Samdhen bảo Choundouss và bần đạo đứng
gần ngũ-tháp trước cửa cầu, huỷnh chụp ảnh xong, bước
lại chỗ bán đồ đương(1) bằng tre của Bhutan nội hóa,
xem và hỏi mua một cái mủng có nắp (của chư tu hành ăn
cơm) đòi 1 rupee Ăng-lê. Samdhen nói mắc quá, để mủng xuống
chỗ cũ và rủ nhau lại ngồi nơi Ngũ-tháp hứng gió mát.
Chập lâu về đến chỗ ngụ, thì bần-đạo nghe mỏi mê và
lạnh quá, bị mửa, mở đồ ngủ lấy mền trùm, nằm mê
mệt tới 1 giờ khuya mới thức.
[Hình
dán tại đây đã hư.]
Ngày
6 Mai 1936 – 16-3n-â.l.
Cả
đêm hôm qua vùi vẫn không hay biết chi cả, có lúc mở mắt
thấy mấy huỷnh chơi bài ăn đột cười giỡn với nhau. Đoạn
khuya 1 giờ sáng thức giấc, nghe bớt mỏi mê, nhưng sôi ruột,
đoạn nghe huynh Samdhen kêu hỏi : Thầy bớt không ? ¬– Bớt.
– Quá 3 giờ đi đại thì tả rất nhiều. Kế sáng 6 giờ
còn đi tả một lần nữa. Huynh Samdhen bảo nấu trà sữa cho
bần-đạo dùng, sẵn huỷnh có mua tại Calcutta một hộp sữa
đặc Ăng-lê. Choundouss khui rồi rót ra cho Isess nấu trà cả
huynh-đệ đều dùng với nếp dẹp, rồi Samdhen bảo Isess nhồi
sadou cho bần đạo dùng với buerre Bhutan, nhưng bần đạo mới
ăn cốm dẹp nên dùng ba vắt bột rồi thôi. Samdhen ép ăn
thêm, song no quá phải từ kiếu. Issê hầu tàn với chư huynh
đệ. Ăn rồi Choun-douss và Issê khuân lễ vật đi viếng danh
tộc nữa vì ba bữa rồi đi chưa hết. Nghĩ vậy, rất có
túc thế nhân duyên cùng huynh Samdhen quá, nên chi huỷnh hết
lòng lo cho bần-đạo từ chút, khi mạnh lúc đau huỷnh đều
đối đãi rất tận tình.
Trưa
dùng ngọ, chiều cũng dùng trà sữa, chớ không dùng sadou.
Tối 8 giờ cũng dùng trà sữa rồi nghỉ. Đêm nay ngủ êm
ả, nghe trong mình đã hiện khí hậu ấm áp, không phải mê
mệt như hôm qua, nên chi cởi hết y phục, ngủ không xót xái
lại êm giấc.
Ngày
7 Mai 1936 – 17-3n-â.l.
Ngủ
luôn đêm thức giấc có một lần đi tiểu, rồi luôn một
giấc tới sáng. Đi lại máng nước lau mình, rửa mặt, súc
miệng xong nấu trà sữa dùng với nổ điểm tâm. Đoạn huynh
Samdhen mượn viết thơ gởi tên Bhagwondos ở Bodh-gaya mua 80
hình postal Chùa tháp và hình Phật tổ, vì đến đâu dưng
lễ ra mắt cũng có hình nầy, cả thảy đều ưa chịu. Nhờ
cách đối đãi cùng quan dân danh-tộc hào-phú các nơi nên
huynh đi đến đâu cũng dễ chịu, cả thảy hoan nghinh, vì
vậy mà bần-đạo đặng tùng hưởng sự êm ả, thảy đều
vui lòng cùng bần-đạo không điều chướng ngại. Nếu cùng
ai ắt có sự trành tròn khó dễ, không dễ để bước vào
xứ của họ đâu. Nay huynh thân-hành đi viếng một người
danh tộâc Bhutan tuy không làm quan chớ cũng là một tay Bổn-đạo
danh tiếng trong xứ Bhutan.
Lúc
nầy rảnh hỏi thăm huỷnh cái cơ-sở tôn chỉ của nước
Bhutan nầy. Bần-đạo xem người Bhutan và Tibetain không khác
tiếng nói mường tượng, hai đàng chuyện vãn cũng thông hiểu,
hay là người xưa gốc là Tây-tạng nhơn đến đào tạo xứ
nầy, nên chi cách ăn mặc không khác bao nhiêu, cũng một thứ
áo, đều mặc khác là áo cụt hơn, bận thì trôn áo chí gối,
quần xà-lỏn. Đờn bà áo cụt quần dài, trước mang tã (dệt
màu). Chư tu-hành ăn mặc y như Tây-tạng Lama. Huỷnh đáp rằng
: Lời thầy luận đó phải rồi, sáng ý lắm, xứ nầy chư
lama cũng thọ phái chùa Tây-tạng, Đại-đức Baha-lama tôn
chức cho và viên quan chức sắc đều thọ ấn sắc nhà vua
Tây-tạng, y một luật nước Tây-tạng, tiếng nói của họ
trọ-trẹ chút ít, nên người Bhutan và Tây-tạng chuyện vãn
cũng phổ thông vậy. Kinh kệ sách vở đều thỉnh mua tại
Lhassa. Xứ Bhutan cũng rộng đất đai chớ chẳng phải một
khóm nầy (là nơi huynh-đệ mình đến ở ngụ đây) thôi đâu,
cách đây chừng năm, sáu ngàn thước cũng chùa, cũng phố
xá lầu đài như đây, cũng có trấn quan, dân cư cũng rải
rác như đây, rồi cách chín, mười ngàn thước từ thành
phố ấy cũng còn có thành phố khác vậy. Chỗ nào cũng có
Quốc-tự, Quốc-miếu, hễ có một quan trấn thì có một vị
Bahalama đồng cùng nhau chia mối trị dân, trong đạo ngoài
thế. Bần-đạo nghe qua thì nghĩ cho giống như nước nhà ta
tam-kỳ dân tộc vậy, tiếng nói trọ-trẹ cùng nhau. Thiệt
họ khéo lựa chỗ đóng đô, chung quanh núi bao như hàng rào
đá, có suối nước chảy khắp nơi, cây cối thạnh mậu.
Súc vật sung túc, gà vịt như xứ ta, chỉ có con heo thì ròng
loại heo rừng chẳng thấy heo cụt mỏ bông lan như xứ ta.
Tục họ không chịu ở dưới đất, nhà cất lầu cất gác
mà ở, còn ở dưới chứa khí cụ và súc vật. Họ ở núi
non, mọi vật đều kém, nên mắc mỏ lắm. Nhà cửa vẽ vời,
cách vẽ thì theo kiểu vở của Tàu. Trong xứ họ chỉ có
nghề dệt, kỳ dư không thấy xưởng chi cả, có thợ rèn,
thợ đúc chút ít, đồ nội hóa còn thô tháo, cách ăn ở
như người Cao-man, còn dơ dáy lắm. Thí như một bọn năm
người, thì bần đạo chỉ sợ cách ở dơ của huynh Isess,
quần áo, đầu cổ, mình mẩy, tay chơn, chẳng có chỗ nào
là sạch, mỡ dầu, mũi dãi bôi quẹt khắp nơi. Họ ưa lấy
beurre thoa mặt bôi môi và râu tóc. Cách của họ là người
rừng núi mới tấn hóa, họ ở theo miền Hi-mã-lạp-sơn, kém
dân nên xứ trồng tỉa đủ nuôi thân. Còn đồ mà bán ra
ngoại quốc chỉ có món đường đỏ và lông thú, nhứt là
lông con trâu (là mao ngưu), trừu, dê, chó. Bởi xứ lạnh,
tạo-hóa phải sanh vậy, chúng thú đều phải lông lá sum-sê
đặng chịu khí hậu. Như loài chim, loài có cánh, đều có
lông nhiều, đến đỗi mộât con quạ, sáo, két, nhồng, se-sẻ,
bồ câu, gà vịt, xem hình lớn bằng hai xứ ta, nhưng họ bắt
đặng làm thịt nhổ lông rồi thì không lớn hơn, chỉ nhiều
lông mà xem ra lớn vóc. Bần đạo thấy một con ó, coi hình
lớn bằng hai, ba lần con ó xứ ta, trái cây cũng vậy lớn
mã lắm, như trái ớt sừng trâu bằng cườm tay, phơi khô
rồi còn bằng ngón cẳng cái vậy, vân-vân…
Ngày
8 Mai 1936 – 18-3nh-â.l.
Như
thường lệ, điểm tâm rồi huynh Choundouss rủ đi lại nhà
thiền Baha-lama, bèn theo chưn huỷnh, đến hai huynh-đệ đảnh
lễ Đại-đức, đoạn ngài cụng đầu đáp lễ. Xong mời
ngồi. Ngày nay tại nhà thiền, ngài có lễ cúng dường, chư
tăng-sư lo chưng dọn bàn tam cấp, nhang đèn, bình tịnh thủy,
cỗ bột có nắn bông màu gắn vào cỗ, bày bố y phong tục,
cặm cờ, treo phan, cái. Huynh Choundouss hỏi : Xứ của thầy
có giống sự chưng dọn cỗ bàn vậy chăng ? – Phan, cái,
nhang, đèn, giống, cỗ bàn lại giống kiểu người Tàu. Đoạn
Đại-đức mời dùng xăng, huynh Choundouss dùng một chén đoạn
kiếu về. Ra ngoài, bần đạo về trước, Choundouss còn trẩn
lại đi viếng thơ ký liêu kế đó. Đoạn về lo lấy kim,
chỉ, mạng vớ, kế một chập huynh-đệ đồng dùng ngọ.
Ăn ngọ rồi, huynh Isess nghe lời bần-đạo khuyên lơn, chịu
thế trừ tu-phát, bần đạo thế phát giùm. Sam-dhen và Issê
đi mua vật thực, cải, gạo, beurre. Lúc bần đạo đang cạo
râu, bỗng có tên Tênzi là tên giúp sự cho Samdhen lúc tại
Bodh-gaya, nay ở Ghoom đi đến xứ Bhutan, thấy bần-đạo thì
mừng rỡ chào nhau. Đoạn bần-đạo hỏi : Đến đây rồi
đi Tây-tạng chăng ? Huỷnh rằng : Đi chớ. Đoạn Choundouss
về, đem vật thực về. Kế Issê đem gạo về. Chiều lối
3 giờ, người nhà quan trấn sai đem gạo hiến cho Samdhen thì
Samdhen có hiến cho người ấy một tấm hình chùa tháp Phật-đà-gia.
Người tỏ dấu cám ơn rồi về. Một chập lâu, đem lại
một bao vật thực (đồ chay phơi khô và thịt khô), đoạn
Samdhen tặng cho một gói thuốc bá bịnh. Kế người ngồi
chơi, chuyện vãn, Samdhen nói : Tại chùa Chuẩn-đề nầy ở
không an, vì nhiều người ra vào, đồ đạc khó giữ chẳng
tiện vì ở ngoài hàng ba. Người ấy liền bảo huynh Samdhen
cho người theo lại chùa Quốc-tự, người bẩm với quan, rồi
chọn phòng liêu, dọn đồ lại ở. Đoạn sai Issê đi với
một người đồng xứ cùng Samdhen (đến ngụ tại Bhutan).
Ba người đi, một chập trở lại nói quan từ hàng cho một
bên sạch sẽ trên lầu và bảo dọn đi lại ở. Đoạn huynh
đệ đồng mang đồ hành lý lại Quốc-tự. Đêm nay huynh-đệ
ngủ ấm áp, nhưng nước nôi không tiện, chỗ tiêu, tiểu
hôi hám lắm.
Ngày
9 Mai 1936 – 19-3nh-â.l.
Nhựt
thường, sớm thức lo súc miệng, rửa mặt, ít nước, huynh
Isess pha cho cả huynh đệ một nồi nước rửa mặt. Bần đạo
thấy vậy, súc sơ rửa sơ, đoạn lấy cây chà răng và tấm
tre nạo lưỡi, khăn đi thẳng lại chùa Chuẩn-đề (chỗ cũ)
có máng nước, đi tiêu rồi lại máng xối chải răng nạo
lưỡi, rửa mặt, lau mình. Trở về Quốc-tự điểm tâm trà
và nổ. Đang khi ngồi điểm tâm, thì bỗng có một người,
mặt áo Bhutan tới gối, đi cẳng không, lưng đai gươm, hình
đẫm thấp, râu cụt, bước vào, thì cả thảy huynh-đệ đồng
đứng dậy, bần đạo y theo. Người bảo “Xú, xú.” : ngồi,
ngồi. Đoạn người bước lại chuyện trò với Samdhen một
chập, thì Sam-dhen gởi mấy phong thơ (gởi qua Pharijong). Người
lấy rồi bước ra. Bần-đạo hỏi thì mới rõ người ấy
là Quan chánh-từ-hàng của Trấn quan, quản xuất cả thảy
việc thâu xuất tiền tài, lương phạn, kho tàng trong quận
nầy. Hỏi thăm Tênzi, thì Choundouss nói : Nó về nhà nó cách
đây hai ngàn thước, ấy là đồng quê vợ của huỷnh, chừng
bọn ta đi Tibet thì nó sẽ đi theo. Đoạn một lát Samdhen nói
: Bữa nay có lễ cúng dường lớn, có Bahalama và Babon Radja,
vậy huynh đệ mình cũng đi, mặc đồ tử tế. Huynh Samdhen
trao cho bần đạo một cái áo lá hàng tàu của huỷnh bảo
bận và huynh Isess phụ bận đồ lama giùm. Chín giờ huynh đệ
đồng ăn cơm, rồi đi đến Pháp-đàn. Thấy chư tăng-sư,
nào bổn đạo cư sĩ, nữ nam lão ấu lần lượt tới đạo
tràng. Huynh-đệ còn rảo bước ở ngoài, chập lâu mới đi
đến cửa nhà Pháp-đường, huynh Samdhen và bần đạo vào
lạy, thì thấy ở trong Pháp-đàn đã có đôi ba trăm người
đang lạy. Trong Pháp-đàn chưng dọn một cái bàn Pháp tọa
chính giữa, trước Pháp tòa có bàn án trang trí một cốt
Phật tổ Thích-ca lớn 0m.50 và hai cốt nhỏ hai tấc hoàn bằng
bạch thạch của Samdhen thỉnh giùm cho Trấn quan, và trước
có một bàn cúng dường lễ vật, tịnh bình và các món khác
theo tục lệ của xứ Bhutan. Phía tả có một Pháp-đàn bày
bố vật thực cúng dường, cũng chưng dọn tử tế, có tràn
phan, bửu cái lớp treo, lớp cắm trên bàn. Lạy rồi hai huynh
đệ tôi thối lui ra ngoài đi hữu nhiễu Pháp đàn như chư
Lama Bhutan và Bổn đạo nữ nam. Tới trời đã gần đứng
bóng mà Hòa-thượng Pháp-sư và Trấn quan chưa tới, nắng
nực quá, huynh đệ đồng đi kiếm chỗ đụt mát. Ước lối
đúng ngọ, có tuần-cảnh-nhơn mời mấy huynh đệ vào Pháp
đàn ngồi vì đã gần tới giờ cúng dường, chỗ huynh đệ
ngồi gần Pháp tòa chung với chư Tăng sư. Ngồi ước nửa
giờ thì nghe kèn trống inh ỏi, bỗng thấy chư Tăng phò Hòa-thượng
vào Pháp đàn, kế đại đức là Trấn quan, chư tăng phò Hòa-thượng
pháp sư lên Pháp tòa, ngài tuổi tác mới 60 ngoài, râu bạc
(tục Bhutan, Tây-tạng chư tăng tự ý cạo râu hay để cũng
đặng), mặt tròn, hình tích gương mặt râu ria in như ông
chủ Có Phú Cường, ngồi đội mão Tỳ-lư đắp y hàng tím
(hàng Tàu có bông chữ thọ). Đoạn Trấn quan lại ngồi trên
tấm nệm cao ở trước bàn án Pháp tọa cùng chư tăng sư
sáu vị, ngồi dài theo đó, đồng day mặt ngó vào Pháp tọa.
An tọa rồi, thì Hòa-thượng xướng… tụng kinh một chập
bỗng kèn trống nổi lên inh ỏi. Có bốn vị mang mặt nạ
Rồng, cầm đuốc bước tới trước Pháp đàn múa (hỏi ra
là Hỏa long thần dưng lửa). Bốn vị hỏa long-thần múa,
ước nửa giờ, rồi phà lửa khắp nơi Pháp đàn trong rồi
ra ngoài, ước nửa giờ phà lửa khắp rồi (ấy là đem lửa
đốt nhơn tâm các tật xấu xa), bèn vào Pháp đường múa
một hồi nữa thì vô buồng. Đoạn cả thảy lẳng-lặng nghe
Hòa-thượng tụng kinh cúng dường. Ban đầu dưng hương, có
đủ thứ hương : thiên hương, đồ hương, trần thủy hương,
tô lạc. Mỗi món dưng cúng rồi, thì chủ đàn là Trấn quan
bèn đem cho chúng hội Tăng sư và bổn-đạo đều huệ hưởng
hơi các vật. Trấn quan là người biết kinh kệ lung lắm,
nên trong dịp cúng dường người thạo quá. Ngài đẫm thấp
mập mạp trắng trẻo, mày rô, râu mép, râu cằm đen trại,
đầu sói trước mỏ ác tới đảnh thượng, từ tai chí ót
tóc đen huyền. Tướng mạo quang minh, mặc tròn như trăng rằm,
tốt tướng lắm. Mới ngó xán qua như Khuê-lạc-tử lúc còn
râu. Ngài mặc ở trong áo hàng trắng, ngoài áo lá hàng kim
tuyến kiểu Lama, ngoài đắp y tím trơn. Trong cơn cúng dường
từ món, mỗi món ngài thay y khác hết. Tục cúng Phật rồi
thì dưng cho chư tăng và chúng hội, nên mỗi món mỗi thay
y cúng dường. Có y kim tuyến (hàng Tàu, người Tây-tạng và
Bhutan ưa dùng), y hàng tím chữ thọ. Cúng rồi tụng kinh. Đoạn
gần rốt cuộc, ngài mặc triều phục võ tướng, đội mão
lớn cúng dường rồi thì mặt trời chen lặng. Mang giỏ phát
cơm và vật thực trộn lộn, phát khắp cả hội chúng trong
ngoài. Ăn rồi, tụng kinh một chập, đoạn có người bưng
trên mâm nhiều chén chung bằng thau, trong chén có năm viên
bột ngọt, đem đi khắp pháp đàn, ai muốn dùng thì kêu, vì
dùng rồi thì bỏ tiền cúng dường trong chén mà hườn lại.
Nên bưng đi, tùy ý ai muốn thì kêu, bằng không thì thôi.
Đó là rốt cuộc cúng dường, đoạn cả thảy hội chúng
đồng tụng kinh tán công-đức chủ đàn, rồi rã cuộc là
7 giờ tối. Bần đạo cúng 6 anna Tây-tạng.
Huynh
đệ về chỗ ngụ, huynh Isess về trước hồi mặt trời xế
lối 4 giờ, nấu trà và cơm, nên lúc về tới liêu ngụ thì
đã có trà dùng, kế 8 giờ rưỡi dùng cơm. Cơm nước rồi,
tụng kinh một chập rồi ngủ.
[Hình
dán tại đây đã hư.]
Ngày
10 Mai 1936 – 20-3nh-â.l.
Nhựt
thường. Điểm tâm hột nổ với trà. Vào ra quan sát cử chỉ
người Bhutan, không chi lạ, bèn vào liêu ngồi vá quần, ngày
giờ như thoi đưa, phút huynh Isess bưng cơm, mời ăn ngọ. Đang
khi ngọ thời, bần đạo dâng chén lên trán cúng dường, ngó
qua Isess thấy huỷnh cũng bưng chén cơm của huỷnh ngang trán
nhái bần đạo. Đoạn bần đạo cúng rồi, để cơm xuống
nói với huỷnh rằng : Sự cúng dường đừng nhái không nên,
huynh không phải người tu hành, huynh không biết sự cúng,
thì cứ việc ăn, còn bần đạo cúng thì là lẽ thường,
huỷnh đã ngó thấy thường ngày, từ ở Ghoom tới đây là
hai tháng ngoài, biết rồi còn nhái chi. Đoạn huynh Samdhen nói
: Y thường kiêu ngạo tới tôi nữa, y có tật đó xấu lắm.
Bần đạo bèn dã-lã nói rằng : Không sao, hậu kiếp sẽ cúng
dường lung lắm, trong kinh Phật có nói : Lúc Phật đi khất
thực, đi ngang qua đám trẻ chơi, thì trong đám trẻ nhỏ ấy
có một đứa hốt một nắm cát cúng dường bỏ vào bát của
Phật. Phật vui thọ, đoạn nói với Xá Lợi Phất rằng :
Kiếp sau sẽ có một vị vua tên Asoka cất 80.000 tháp Phật,
ấy là đứa nhỏ ấy. Đoạn huynh-đệ cười nói, Isess hậu
kiếp sẽ cúng dường lung lắm y như thầy nói, huynh-đệ đồng
ăn ngọ. Ăn rồi, nghỉ ngơi, bần đạo đi chùi cái nồi nhôm
để dùng cơm, đoạn cũng nghỉ như họ.
Ngày
11 Mai 1936 – 21-3nh-â.l.
Nhựt
thường không chi lạ, vào ra Quốc tự, thấy chính giữa là
chùa cất riêng cao lớn, xây tường đá núi, trên nóc lợp
tôle, đảnh tự bằng đồng. Chung quanh cất phòng liêu khám
thất, có chỗ công-thính, khám tù. Có hai người tội nhơn
xiềng cẳng. Đêm có vọng canh, khắc sanh hai. Ngày thiên hạ
vào ra như đi chợ, lớp thầy tu (100 vị) lớp thầy thợ làm
công, thợ mộc, thợ hồ, coolie. Thợ hồ không thiện nghệ
như xứ ta, chỉ biết xây tường xây cột, vậy nên không
thước tấc chi (không biết làm tráng đắp bông, họa hoa tế
kiển, những fronton), trần lộ thì dùng cây. Thợ mộc, thợ
chạm còn thô dụng chỉ niển, không biết bắt cho rành, chạm
sơ sài như trẻ mới học xứ ta. Lấy màu son vẽ làm lịch.
Chùa miễu lầu đài nhà cửa đều làm trang cửa lộ rồi
sơn vẽ làm như lồng bồ câu xứ ta. Hồ thì chỉ lấy đất
sét có cát pha, đập rồi đãi nhuyễn mà làm hồ có trộn
vôi tro chút ít. Nói tắt là họ mới tấn hóa công nghệ còn
vụng-về. Nhưng cả nước đều là đạo Phật, lòng dạ phần
đông tốt, hảo tâm. Theo sự tham lam vật chi ai bỏ quên hay
đổ ngoài sân trước ngõ thì đâu cứ y nguyên đó, đến
trẻ nhỏ cũng vậy, không bò què bò quẹt ăn cắp ăn kiêu.
Tuy họ mới tấn hóa vật chất, chớ trí não của họ thật
sống bằng tinh thần. Thân thể không cần, có tiền thì nửa
phần ăn, nửa phần cúng dường, ngộ thiệt. Ăn lấy no chứ
không lấy ngon. Mặc cho ấm chứ không cần tốt, mình mẩy
không lo cho sạch, chỉ lo sạch cái tâm. Ăn uống sạch hơn
Miên, Mọi xứ ta mà cách ở y Cao-miên, tấn hóa hơn Mọi,
ăn trầu cũng với cao tầm dung, hút thuốc cũng còn y lá chớ
không xắt. Cả thảy nhơn-dân đều mặc đồ vải bô, thao
đuổi nội hóa có mỗi nhà quan nhà giàu thì sắm đồ hàng
toàn để dùng trong đám tiệc. Cách họ ở cũng như Cao-miên,
không ngồi ghế ván, chỉ ngồi dưới đất hay trên rầm.
Sự cung kỉnh thầy thì thua xứ Cao-miên. Đờn bà còn xen lộn
vào đám thầy tu hoặc thấy thầy tu như người thường, không
mọp, không tránh đường như Cao-miên.
Ngày
12 Mai 1936 – 22-3nh-â.l.
Nhựt
thường. Ngọ thực rồi, huynh đệ rủ nhau đi xuống suối
giặt y phục. Bần đạo giặt diệm rồi, bèn tuốt hết quần
áo, vận chăn nhỏ, xuống suối tắm. Từ ngày xa Phật-đà-gia
tới nay không có tắm, chỉ lau mình mà chịu. Nay tắm phỉ
xác phàm lắm, khỏe khoắn, tuy là nước suối lạnh không
thua nước đá, nhưng giờ trưa nầy, mặt trời cũng thạnh.
Tắm rồi nhờ có nắng cũng đỡ, tắm gội rồi lên phơi
nắng một giờ nghe trong xác tục nhẹ nhàng hết sức. Mấy
huynh kia không ai dám tắm, chỉ gội đầu rửa mặt là cùng
sự, họ sợ lạnh lắm. Tắm rồi, còn đợi đồ phơi cho
khô, trong khoảng ấy hỏi thăm Issê mới biết nước Bhutan
có ba thành mà thôi. 1o Kinh đô là Damtang cách cả thành Patrô
nầy mười cây số ngàn và một Quan-ải nữa, kế ranh Kalimpong,
tên là Hắc cũng có một trấn quan như đây mà nhỏ hơn. Đoạn
đồ khô, thâu y phục. Về.
Ngày
13 Mai 1936 – 23-3nh-â.l.
Nhựt
thường, lúc ăn ngọ rồi, cũng rủ nhau đi xuống suối tắm
rửa tùy ý. Bữa nay có Samdhen rủ đi lên khúc suối trên xa,
không có ai, nhiều kẻ lộn xộn. Đoạn tới một khúc suối
vắng vẻ, trên bờ có đồng cỏ và một cội cây. Huynh đệ
đồng ngồi trên cỏ chơi một chập rồi mới tùy ý tắm
giặt. Bần đạo đi dọc theo mé suối lượm vài cục đá
bạc làm kỷ niệm. Đoạn Samdhen ra tắm, bần đạo bèn tắm
với huỷnh còn Choundouss,
Issê
và Isess sợ nước. Samdhen lạnh run, tắm sơ lên trùm áo phơi
nắng. Ấy họ đã quen phong thổ mà còn lạnh hà huống bần
đạo, nhưng phải tắm cho khỏe xác phàm. Tắm rồi, phơi khô
y phục, huynh đệ họ chơi carte cho qua buổi. Samdhen trải vải
dưới cội cây ngủ. Bần đạo rảo bước ra suối lượm
đá. Khi đồ khô rồi, huynh đệ thu xếp đi về. Lúc về đến
phòng liêu thì cùng nhau nghỉ ngơi rồi uống trà. Đoạn một
huynh Bhutan Lama say xăng vào liêu đi xiên tó, nói nhầy nhựa
cằn rằng chi đó. Mấy huynh kia trả lời lại. Lúc họ vào
mở tủ của họ, lộn xộn bần đạo mất cái hộp đựng
xà bông. Thôi họ cứ việc dùng, ta cũng vui lòng hết cực
cùng vật chất một món.
Ngày
nay thấy dân nam-nữ nạp thuế gạo như mấy bữa trước.
Tối xem kinh rồi ngủ.
Ngày
14 Mai 1936 – 24-3nh-â.l.
Nhựt
thường lệ. Bữa nay cũng đi tắm. Đây thuật về cách cư
xử của chư tu hành Bhutan : mỗi ngày có một Lama trị nhựt,
quản xuất chúng tăng vào ra phải trình, người thế có việc
chi can thiệp với đại chúng, hoặc thăm viếng, hoặc đem
dưng lễ vật ẩm thực, cũng phải trình cho Trị-nhựt. Người
có phép cầm roi da phạt đòn đại chúng, nếu có ai sái phép.
Mỗi ngày, phần chánh phủ, thì chiều 6 giờ có cắt vọng
canh, hễ tới giờ thu không thì người cai quản vọng canh
lấy roi da nẹt trên thạch bàn ba tiếng, thì dân canh biết,
liền khắc một chập sanh lại hai tiếng. Cả đêm phân nhau
canh gác, khắc sanh hai.
Thấy
họ đắp cốt Phật đất giã nhuyễn. Xứ núi đá, nhưng họ
còn chưa thạo nghề trổ đá, cách đắp cốt cũng khéo coi
cũng đặng.
Ngày
15 Mai 1936 – 25-3nh-â.l.
Nhựt
thường, bữa nay ăn ngọ rồi đi dạo đồng ruộng. Xứ nầy
có cấy thứ lúa bông như bông cỏ. Có hai thứ : một thứ
lông đuôi cụt gọi là Nễ, thường nhơn-dân dùng làm hèm
rượu xăng ; một thứ lông đuôi dài gọi là Trô, thường
nhơn-dân dùng làm bột sadou, rang rồi xay, đi xa đường đem
theo khỏi nấu, phương tiện lúc hết gạo dùng cũng đỡ lắm.
Cũng có cấy lúa, gạo đỏ là phần nhiều. Nấu cơm cứng
ít nở. Đoạn huynh đệ trải vải ngồi chơi một chập. Kế
có huynh đồng xứ (Lađặc) cùng Samdhen (huynh Isess đi lại
nhà kêu) đến ngồi chuyện vãn một chập, bèn lấy túi trà
(Issê về liêu lấy trà, beurre và chén) đi về nhà gần đó
nấu trà thục. Huynh đệ một giây lát đồng đi đến nhà
của huỷnh. Chỗ ở trên lầu thứ ba của cái nhà lầu ngoài
hàng ba phía tả, chật hẹp, bề dài lối ba thước, bề ngang
lối một thước, chỗ nấu ăn lại ở nơi lầu thứ nhì.
Đến đó thì hai huynh đệ tôi và Samdhen vào ngồi nơi chỗ
phòng chái, còn các huynh đệ ở dưới nhà bếp. Chập lâu
con gái của huỷnh đem trà lên rót mời dùng. Còn chư huynh
đệ ở nhà bếp uống xăng. Bữa nay bần đạo nghe êm bụng,
bần thần mỏi mê cả châu thân, nhứt là cái cẳng đau nhức
mỏi lắm. Chiều 4 giờ về, bần-đạo mê mết nhưng cũng
gắng gượng. Tối ngủ nghe trong mình nóng nảy lắm, nhức
mỏi cả đêm, song sáng cũng bớt. Huynh Samdhen nghe rên, huỷnh
hỏi hoài : nhứt đầu bớt chăng ? Bần đạo nhức đầu vì
nhiều điển âm nhập thấp (cẳng đau). Vuốt đều, đem âm
thấp ra thì tự nhiên hết các chứng bịnh.
Ngày
16 Mai 1936 – 26-3nh-â.l.
Nhựt
thường lệ, trong mình còn nóng lạnh, mỏi nhức bớt chút
ít. Ngày nay phải nằm hoài. Đưa cho Samdhen 10 rupee đặng chi
phí. Huỷnh bảo Choun-douss đổi tiền Tây-tạng, đoạn huỷnh
bảo bần đạo bỏ túi chút ít, phòng có lúc dùng hữu dụng,
tôi lấy phân nửa số huỷnh trao là 29 đồng 2 sous. Chiều
Choundouss đi độ lương phạn nơi dinh Trấn quan. Khuya thức
giấc nghe bớt mỏi mê.
Ngày
17 Mai 1936 – 27-3nh-â.l.
Thường
lệ, song bữa nay Samdhen sớm mơi chưa điểm tâm, lo sắm sửa
lại viếng Trấn quan, cám ơn vật thực ngài hộ và nói ở
lâu cảm khí hậu nhức mỏi. Trấn quan bảo đi dầm nước
nóng. Ngài cho người lo vụ đó và cho mượn chòi bố (tente).
Đoạn 8 giờ, huỷnh về, thì ở nhà đã dùng điểm tâm rồi,
huỷnh bảo lo khuân đồ ngủ đồ nấu ăn đi ra mé suối.
Đoạn huynh-đệ lo mang đi, đến mé suối dựng chòi, có người
của Trấn quan phụ giúp. Đoạn Isess lo nấu ăn, còn hai người
của quan lo ôm rơm rải trong chòi rồi đem đồ vào, rồi lo
đi hầm đá hòn, đổ nước vào máng. Đến khi đá đã đỏ,
thì gắp đá (bằng kềm sắt spécial pour…) bỏ vào máng,
sôi ục-ục, nước nóng lối 36, huynh Samdhen dầm trước
nửa giờ, vào trùm (uống một chén nước cơm rượu) trùm
một hơi mồ hôi ra lai láng như xông. Kế bần-đạo cũng đi
dầm, khi vô chòi huỷnh cũng bắt uống một chén xăng rồi
trùm. Huỷnh nói : như vậy khí độc, nước độc sẽ xuất
ra hết, hết đau, mời bần đạo trùm một chập, mồ hôi
ra, lau mình, nghe nhẹ nhàng xác tục. Bần đạo nghĩ cho, nhờ
đá đốt đỏ, bỏ vào nước, ra khí đá, nên gân cốt đặng
mạnh. Cách họ bày theo tục lệ của họ ở nơi núi non, nhưng
thiệt tốt lắm, song tốn củi lắm. Đoạn chiều 6 giờ dầm
một lần nữa. Trọn ngày chư huynh đệ và mấy người quân
sai đều dùng xăng, vui cười, hò hát chơi tới khuya. Tội
nghiệp Issê say xăng bị đòn. Đêm nay ngủ khỏe không nhức
mỏi. Khuya thức giấc, nghe trong mình như cựu lệ không còn
mê mệt.
Ngày
18 Mai 1936 – 28-3nh-â.l.
Sớm
mơi uống xăng ăn sadou, đợi đốt đá đỏ rồi sẽ đi dầm.
Bần đạo lấy valseline mentholée thoa mặt cho Issê bị té sưng
mặt mày, đoạn lo đi dầm nước đá nóng, mơi một lần,
chiều một lần. Cả thảy huynh đệ đều dầm, trừ Machen
Isess không chịu dầm. Đêm nay ngủ khỏe khoắn. Ngày nay cạo
đầu. Ăn ngọ rồi, bần đạo ra bóng cây ngồi cạo đầu,
cạo nửa cái đầu, thì Issê Sonnam ra thấy bèn cạo giùm.
Hoan-hỉ.
Mấy
ngày rày chiều rảnh học thêm tiếng Tây-tạng.
Ngày
19 Mai 1936 – 29-3nh-â.l.
Nhựt
thường, sớm điểm tâm rồi lo đi dầm nước đá nóng. Đoạn
9 giờ ăn bột với canh, ăn rồi đi ra bóng cây nằm nghỉ.
Một giờ lo sắm sửa thu xếp đồ đạc đặng trở về Quốc
tự, chờ coolie tới mang đồ. Hai giờ trời mưa bộn, lạnh.
Bần đạo nằm ngoẻo dựa trên gói hành lý, qua 3 giờ rưỡi
trời bớt mưa, đoạn huynh Samdhen bảo Issê Sonnam, Isess và
bần đạo, bốn huynh-đệ về trước, để Issê và Choundouss
ở lại đợi coolie. Trời còn mưa rỉ rả, huynh đệ thả
về lần. Tới Quốc tự vào liêu nghỉ ngơi. Isess lo nấu trà.
Đoạn có Tênzi đến, bần đạo bảo ngồi nghỉ, huỷnh ngồi
rồi mở khăn gói cơm ra ăn, bần đạo còn bột sadou và đồ
ăn phát hồi 1 giờ rưỡi không ăn, cho huỷnh ăn. Đoạn trà
đã khuân lên, uống trà. Qua 6 giờ, coolie vác đồ về tới,
trời vẫn còn mưa lâm râm, lạnh lắm. Tám giờ tối mới
ăn cơm. Đêm nay ngủ khỏe khoắn.
Ngày
20 Mai 1936 – 30-3nh-â.l.
Nhựt
thường, điểm tâm rồi tụng kinh. Kế có một cô lại xem
quẻ cùng Samdhen, rồi việc cô lãnh phép và thuốc về. Đoạn
10 giờ rưỡi. Isess, cơm khuân lên, chư huynh-đệ đồng cúng
dường rồi ăn ngọ. Đoạn 1 giờ chư huynh-đệ sắm sửa
đi Pháp đàn, rủ bần đạo, bèn từ kiếu xin ở nhà. Vì
đã có đi một lần rồi, đã dự biết phong-tục hữu-vi pháp
của chư tu hành Bhutan rồi, nay có đi cũng vậy. Isess cũng
ở nhà. Đoạn các huỷnh đi, hai huynh-đệ ở nhà nghỉ ngơi.
Ba giờ thả đi ra cầu chùa đi tới ngũ tháp Trấn-quan cựu
thì hai huynh đệ dừng bước xem chơi, huynh Isess bèn nói :
năm tháp đây là : tháp lớn ở giữa là Trấn-quan cha, bốn
tháp chung quanh là Trấn-quan con. Bần-đạo hỏi : còn Trấn-quan
hiện tại phải là con không ? – Không, cha của ngài đang
làm quan tại Kinh-đô Bumtăng. Đoạn hai huynh-đệ rủ nhau đi
hái rau húng-lủi theo bờ ruộng ở gần đó. Hái rồi trở
ra ngũ tháp, Isess rủ đi lại mé lộ xem trẻ nhỏ thảy lỗ
bằng đá hòn. Chập lâu đi về, bần đạo nghỉ ngơi, còn
Isess lo nấu trà đợi Samdhen về uống. Kế 6 giờ huynh-đệ
nơi Pháp đàn về uống trà nghỉ mệt. Tám giờ họ dùng cơm
mời bần-đạo song bần đạo rằng êm ruột không dùng. Ngủ.
Đêm nay thức tới khuya chưa ngủ, đến lúc ngủ lại chiêm
bao thấy chú cả Êm và ông nhạc-gia, hai người đồng đi
cúng dường nơi một cái nhà của một ông thầy pháp. Thức
giấc rồi ngủ lại.
Ngày
21 Mai 1936 – mùng 1-4-â.l.
Nhựt
thường, tụng kinh mơi rồi điểm tâm cơm nguội với nước
muối ớt. Ăn rồi một mình bần đạo thả đi xuống suối
qua cầu lại Pháp-đàn, thấy dân sự dọn dẹp Pháp-đàn,
cờ xí hạ hết, ấy là hết cúng dường đủ số của Trấn-quan
vái cúng. Thả lần ra suối ngoài xem rồi trở lại ngũ quan
tháp, trẽ vào ruộng hái rau húng đặng đem qua Pharijong vì
tại đó không có, để dành bỏ canh, hái rồi trở về lượm
vài cọng lúa Nê và Trô khô để đem về xứ cho biết lúa
xứ Bhutan. Về đến liêu, huynh đệ đã dùng cơm rồi, bần
đạo bèn nghỉ một chập rồi ăn ngọ. Ăn ngọ rồi, Samdhen
rủ ra ruộng chơi cho qua ngày giờ, hoan hỉ đi ra đó, huỷnh
bảo mua xăng uống, uống rồi về. Về đến nơi, huỷnh rên
đau mình, mua một ống tre xăng. Tối 7 giờ nấu xăng với
hột gà và bỏ hột the (thuốc) uống. Cả thảy huynh đệ
đồng dùng. Đoạn huỷnh trùm, rên và bỏ ăn cơm chiều. Bần
đạo cũng uống vài chén cây xăng, khó uống quá, song huỷnh
bảo uống cho khỏi đau mình vì khí hậu xứ nầy, uống xăng
rồi nghỉ.
Ngày
22 Mai 1936 – mùng 2-4-â.l.
Nhựt
thường lệ 9 giờ điểm tâm rồi bần đạo một mình thả
ra suối lựa nơi vắng-vẻ tắm. Tắm vừa rồi thì trời chuyển
mưa, mây trùm đảnh núi phía tây đen mịt. Kế mưa đã rớt
hột, bần đạo về, về đến phòng đã 11 giờ rưỡi. Samdhen
hỏi có tắm không ? – Có, trời chuyển mưa phải về, tắm
sơ sịa vậy thôi. Trải đồ ngủ nằm nghỉ. Hai giờ thức
thấy trời mưa lớn. Ba giờ qua có cô xem quẻ bữa 30-3-â.l.,
dẫn mẹ tới, có bưng một quảo nổ đem dưng đáp lễ. Thấy
bà mặt mệt biết đau, nên bữa nọ cô con xem quẻ cho mẹ
và thỉnh phép bùa và thuốc. Nay bớt nên trả lễ. Samdhen
chuyện nầy cũng hết đau, tối huỷnh dùng cơm rồi nghỉ.
Ngày
23 Mai 1936 – mùng 3-4-â.l.
Nhựt
thường, lúc sớm đang khi dùng trà thì Choundouss bảo bần
đạo, bữa nay đi ghi passeport, viếng Bahalama rồi qua Trấn
quan. Đoạn huỷnh dặn : Trấn quan ngài biết tiếng Englis,
nếu có hỏi cốt Phật tại xứ của thầy phải không ? –
thì nói phải. Bởi anh em tôi nói thỉnh tại chùa nơi xứ
Ceylon Langka là quê quán của thầy. Có hỏi giá thì nói cốt
lớn 500 rupee, hai cốt nhỏ 200 rupee, phải nói ở trong chùa
chớ ngoài không có… Đoạn 8 giờ điểm tâm rồi, huynh Samdhen
nói. Ngày mai thầy đi cùng tôi dễ hơn vì thầy không thạo
nhiều Hindi. Kế 9 giờ huynh Choundouss bảo đi cùng huỷnh lại
Hòa-thượng. Đến đó thì không có ngài, ngài đi qua Trấn
quan, lúc lên lầu Baha, lại gặp Phán quan của Trấn quan. Choundouss
chào và nói chuyện ghi passeport, thì ngài xin coi passeport, bần
đạo trao cho ngài coi. Kế ngài xem rồi giao lại và nói : Để
bữa đi viếng Trấn quan và từ biệt ngài rồi sẽ xin ghi
luôn thể, vậy tiện hơn. Ngài về, thì huynh đệ rủ tôi
ra phường buôn bán chơi, đi xuống dốc gần tới cầu, phút
gặp Bahalama, ngài cỡi ngựa đi về tới đó gặp huynh đệ
tôi và hỏi, anh em chào ngài rồi Choun-douss nói sự ghi passeport.
Ngài bèn nói đặng. Ngài đi về. Hai huynh đệ nói thôi đi
luôn ra cầu chơi một lát, để cho Đại-đức về uống trà
nghỉ mệt một lát rồi huynh đệ sẽ trở lại liêu ngài
mà ghi passeport. Anh em đi ngang phường con buôn, qua cầu, rảo
quanh ngũ tháp, đứng nơi bóng mát chơi, thì huynh Choun-douss
bèn nói : Tôi bây giờ không có tiền, bởi từ ngày Samdhen
thâu Lama nhỏ tới nay thì lấy chìa khóa giao cho Lama nhỏ,
lại gọi huynh đệ tôi không tốt. Thầy cũng thấy, từ ở
Bodh-Gaya cho tới Bhutan nầy, một tay tôi đi nói đầu nầy
đầu kia, hội hàm bổn đạo, chỗ 5 đồng, 10 đồng, chỗ
dưng lễ nầy vật nọ cũng tôi, nay Samdhen gọi tiểu lama tốt,
anh em tôi không tốt. Thôi ! đi và bần-đạo nói : Tôi thấy
và cũng có để ý biết chút đỉnh trong ấy… Huỷnh nói
: Như xâu-chuỗi trường của tôi đã dưng cho Trấn-quan, tôi
hỏi xâu chuỗi khác thì Samdhen không cho, lại cho tiểu-đạo.
Bao nhiêu đó thầy biết, nhưng tôi không lo, không sợ chi,
ăn rồi tôi thả đi, có đêm ngủ nơi khác… Thầy thấy mọi
việc tôi lo tại Bhutan nầy, hết gạo, hết lương phạn vật
thực vân vân… thì cũng một tay tôi, đến Trấn quan bẩm
gởi rồi cấp cho… Đoạn hai huynh đệ trở lại nhà thiền
Baha, đến nơi ra mắt đảnh lễ rồi ngồi. Ngài bảo đưa
passeport, bần đạo trao cho Choundouss dưng lên, đoạn ngài ghi
và nhận ấn của ngài. Uống trà rồi, từ kiếu về…
Về
tới phòng Samdhen hỏi đi đâu ? Tôi nói đi Baha ghi Passeport,
coi bộ huỷnh không vui và nói : tôi nói để mai đi với tôi
lại Trấn-quan ghi. Bần đạo nói : bây giờ Bahalama ghi, sau
sẽ đến quan, nói rồi trao passeport cho huỷnh xem, huỷnh thấy
và hiểu ý của tôi muốn có hai đàng ghi, nên vui lòng và
nói. Vậy tốt lắm… Chiều lại Choundouss đi ngủ chỗ khác.
Samdhen mới vui cười chuyện vãn.
Ngày
24 Mai 1936 – mùng 4-4-â.l.
Nhựt
thường lệ. Sáng Choundouss về. Samdhen nghe nằm lì, chập lâu
dậy, song không nói tới Choun-douss. Trà điểm tâm cũng không
dùng, ngồi day mặt nơi khác. Đến lúc Choundouss bước ra thì
huỷnh mới chuyện vãn. Bữa cơm 9 giờ, huỷnh không dùng chỉ
uống chút xăng, khi Choundouss đi thì huỷnh mới trò chuyện.
Thôi sự của người ta mình không nên xen vào và cũng không
nên động tâm, mặc tình huynh đệ họ, để coi cách họ đối
đãi nhau sao. Bần đạo lãnh phần cơm rồi giặt hậu (áo
hậu) chờ tới 11 giờ ăn ngọ. Ăn ngọ rồi nghỉ trưa.
Ngày
25 Mai 1936 – mùng 5-4-â.l.
Nhựt
thường lệ, bữa nay Samdhen và Choundouss đã hòa, bần đạo
mừng lòng, họ vui mình mới an lòng. Buổi cơm 9 giờ cũng
lãnh phần cơm để chờ tới ngọ mới cúng dường và ăn.
Huynh Samdhen sình ruột phải uống xăng, mời bần đạo dùng,
nhưng bần đạo từ chối.
Ngày
26 Mai 1936 – mùng 6-4-â.l.
Bữa
nay ăn ngọ cơm và muối vì không có rau. Họ ăn lúc 9 giờ,
bần đạo cùng lãnh phần cơm chờ tới ngọ mới cúng dường
rồi ăn. Ngày nay Trấn quan sẽ đến ngụ tại phòng tư của
ngài nơi Quốc-tự. Quan lại và dân lo dọn dẹp quét tước
tưng bừng. Chiều ngài thân hành đến. Ngài khi nào muốn hành
đạo (tụng kinh) bất câu mấy ngày, thì đến liêu riêng của
ngài nơi Quốc-tự. Bình thường thì ở nơi quan nha cách chùa
chừng một cây số ngàn.
Ngày
27 Mai 1936 – mùng 7-4-â.l.
Nhựt
thường lệ. Chín giờ cũng lãnh phần cơm chờ tới ngọ cúng
dường rồi dùng. Bữa nay có cải bẹ xanh, bần đạo chấm
muối ăn sống, lâu ngày đạm bạc thật vừa miệng. Ăn ngọ
rồi không chi vui dạ, bèn ra hàng ba làm quen với Lama họa
sư ngồi cho màu giùm cái họa đồ của huỷnh. Huynh đệ thấy
bần đạo cho màu, đều xúm lại xem, trầm trồ gọi tốt.
Lama mời xơi trầu cùng cao tầm dung.
Ngày
28 Mai 1936 – mùng 8-4-â.l.
Nhựt
thường lệ, điểm tâm nổ với trà, đoạn ra ngoài cùng cho
màu họa đồ chơi cho qua buổi. Đoạn 9 giờ Samdhen dùng bột
sadou với beurre bỏ muối, chia cho bần đạo và Choundouss ăn.
Còn mấy huynh kia xơi cơm. Đến giờ ngọ, không có cơm, bần
đạo dùng bột xú còn dư với muối. Lúc 9 giờ rưỡi có
cô xem quẻ hôm nọ dắt lại một cô có con, xem quẻ cho đứa
con, xem rồi thỉnh Samdhen đến nhà cúng giùm. Mười giờ Samdhen,
Choundouss, Issê Sonnam đồng đi. Bần đạo khi dùng ngọ rồi,
một mình thả xuống suối tắm sơ vì nước lạnh quá, bị
mưa luôn cả đêm nên ngày nay, trời ấm cũng lạnh hơn các
bữa. Tắm rồi thả dọc lối Quan nha rồi về đã 2 giờ,
nghỉ mệt.
Tối
nầy Samdhen không về, thầy trò ngủ tại thân chủ gia.
Ngày
29 Mai 1936 – mùng 9-4-â.l.
Nhựt
thường lệ, điểm tâm trà với nổ. Trưa ăn ngọ cơm với
mước muối ớt. Mười giờ rưỡi thầy trò Samdhen về tới
xơi bột xú. Chiều ra cho màu họa đồ giùm cho Bhutan Lama.
Đây là kiểu họ vẽ đặng kết vào chính giữa tấm che trên
bàn án của Phật như plafond.
Ngày
30 Mai 1936 – mùng 10-4-â.l.
Nhựt
thường lệ, điểm tâm trà với nổ, đoạn ra cho màu họa
đồ. Chín giờ huynh đệ họ dùng bột xú, 11 giờ bần đạo
ăn ngọ cơm với nước muối ớt và cải (ganga) chiên, đoạn
rồi nghỉ. Chiều lại, họ dùng cơm nước rồi. Choundouss
nói : bữa nay tôi phải đi ngủ nơi nhà tình nhân cho vui lòng
ân nghĩa. Đoạn huynh-đệ tôi ngủ.
Ngày
31 Mai 1936 – 11-4-â.l.
Nhựt
thường lệ, điểm tâm rồi, kế huynh Samdhen sai Issê đi vận
lương nơi Trấn quan, bần đạo liền theo chơn Issê, nói đi
ra cầu nơi nhóm chợ mua hộp quẹt và thuốc. Đến nơi mua
một cái hộp quẹt lớn 4 đồng 2 paisa = 8 sous Tây-tạng. Đoạn
hai huynh đệ đi thẳng lại nhà tình nhân của Choundouss, đến
nơi lên thang lầu, thấy huỷnh đứng nơi cửa đón rước.
Issê muốn nói cợt, song huỷnh nháy và nói : “Ghơ hơ rờ
mêdoucera adun hay nải khelta : có khách chẳng nên nói cợt.”
Huỷnh mời vào, trải thảm nơi sàn mời ngồi, thì liền cô
bạn của huỷnh rót xăng mời uống, huỷnh mời bần đạo,
hoan hỉ uống một chén rồi dự kiếu. Hai huỷnh và người
khách uống xăng với nhau. Uống rồi đồng ra đi. Đến ngay
chỗ núi có cái hang còn thấy khói đóng đen, huỷnh bèn chỉ
và nói rằng : ấy là nơi quan xử tử kẻ sát nhơn. Cách xử
tử xứ Bhutan lạ quá : Đem người tội sát nhân đến mé
suối và cái thây bị sát tử cũng khiêng đem đến đó, rồi
nấu cơm đồ ăn cho tội nhơn ăn no nê, đoạn cột bó người
tội nhơn với cái tử thi của nó đã sát hại, cột bó hẳn
hòi rồi quăng xuống suối. Ấy là hai mạng đồng đi âm-ti…
Bần
đạo hỏi, vậy Tibet luật ấy cũng xử một cách đó phải
không ? – Không. – Tây-tạng khác hơn, bỏ tù, rồi mỗi
ngày đánh đòn hoặc 10, 20, 30, 40, 50 roi tùy án nặng nhẹ.
Đoạn
tới ngũ tháp, thì hai huỷnh đi thẳng lại nhà Trấn quan,
còn bần đạo đi về Quốc tự, về tới nơi ra cho màu họa
đồ chơi rồi 11 giờ ăn ngọ, kế Samdhen rủ đi ra mé suối
chơi, đến nơi ngồi nơi mé suối uống rachi với Isess, uống
rồi thì trời mưa tới, đi về. Bần đạo nghỉ. Kế 2 giờ
có Khố quan đến liêu nói với Samdhen : gạo và nổ đã bỏ
bao rồi và đem để tại hàng ba trước đây : 20 bao da gạo
và 5 bao nổ. Samdhen theo chơn ra xem và nói cám ơn rồi mời
Khố quan vào ngồi và lấy hình lớn nhỏ (Phật) tặng cho
Khố quan. Thiệt huỷnh xử thế khéo léo, làm cho mọi người
kính mến. Quan thọ lãnh cám ơn rồi xuống lầu. Huynh Samdhen
bèn nói với bần đạo rằng : Trấn quan đã cấp gạo và
nổ 25 bao, còn cấp đồ ăn, đồ chay đồ mặn rồi đợi
đưa tiền giá 4 cốt Phật thì sẽ lên đường. Quan nói 4
cốt Phật giá đáng 2000 R, song tôi nói 1000 R là đủ giá cả
các hạng. Thiệt huỷnh lanh lợi để ân hoàn. Nhờ có huỷnh
mà bần đạo đặng người ngoại bang cung kỉnh và dựa hơi
huỷnh mà đặng tử tế an ổn, đến đâu cũng đặng người
hoan nghinh, vào ra đất khách dễ dàng như ở xứ mình.
Ngày
1er Juin 1936 – 12-4-â.l.
Nhựt
thường lệ, điểm tâm rồi ra cho màu họa đồ. Kế 11 giờ
ngọ thực rồi đi cùng Samdhen đến quan nha xin ghi thông hành.
Đến đó vào thơ ký phòng việc thì thầy ký đang đánh lúc-lắc
(đổ-hột) với bọn họ. Chờ ước 1 giờ mới có thầy ký
phụ, ghi tên họ trước vào thông hành, đoạn chờ tới 2
giờ thì thầy đem lên phòng việc quan nha đặng hầu ký tên
và đóng dấu. Về đến Quốc-tự 3 giờ, dùng trà rồi tối
họ dùng cơm rồi nghỉ.
Ngày
2 Juin 1936 – 13-4-â.l.
Nhựt
thường lệ, điểm tâm trà nổ, khi rồi việc thì Samdhen nói
: Ngày mai 14 xấu ngày quá, nên để cho bọn coolie chuyển lương
phạn đi trước, mốt rằm, huynh đệ mình sẽ lên đường
tốt hơn. Bần đạo nói : ngày nay đã đúng ngày giáp một
tháng ở Bhutan. Trưa ăn ngọ với canh cải dưa. Trọn ngày
lo sửa soạn hành lý. Chiều lại có một cô Tây-tạng đến
dưng xăng và thỉnh thuốc và chiều có hai huynh Tây-tạng đến,
đem dưng xăng và rachi, huynh đệ đồng dùng. Bần đạo dùng
xăng chớ không dùng rachi.
Tối
hai huỷnh ngủ tại liêu cùng huynh đệ ta, còn Choundouss và
Issê đi đến nhà quen nghỉ. Trọn ngày nay lo sắp đặt hành
lý.
Ngày
3 Juin 1936 – 14-4-â.l.
Nhựt
thường lệ. Điểm tâm rồi, bần đạo nói với Samdhen rằng
: “Hom thoda paisa manta hai”, bần đạo hỏi Samdhen chút ít
paisa. Huỷnh bèn đưa cho bần đạo phân nửa rupee Tây-tạng
= 15 annas de 4 paisa (15 cắc Tây-tạng = 4 sous). Bỏ túi đi chơi
ngoài cầu, đoạn Sonnam ra tới gặp, rủ đi lại nhà quen của
Choun-douss đặng kêu huỷnh đi ; Choundouss và Issê nơi nhà quen
đi ra gặp nhau, đồng về Quốc-tự. Bữa nay ăn ngọ với
cà chiên, Issê đi xóm đem về năm trái cà, ăn một trái.
Trọn
ngày lo thu xếp hành lý. Trấn quan có cho quan lại đến lo
phần việc bảo dân mang gạo và các vật nội bọn. Quan lại
biên tên chia phần cho coolie. Samdhen nói : Trấn quan trả 800
rupee bạc mặt, còn 200 trả bằng gạo 20 bao, với nổ và vật
thực khác. Phần coolie chuyên gạo thì về phần Trấn quan,
còn vật của chúng ta (hành lý) thì sở phí mình chịu. Trấn
quan có cho hai con ngựa cỡi. Ăn uống của Lại quan mình phải
chịu.
Ngày
4 Juin 1936 – 15-4-â.l.
Bữa
nay là ngày từ giã nước Bhutan, nên sáng thức sớm, lo trà
nổ điểm tâm, bần đạo lo xếp đồ ngủ lại, rồi 8 giờ
rưỡi, Isess đem cơm lên, huynh đệ ăn cơm với Quan lại ba
người, một người lo việc chở chuyên hành lý qua Pharijong,
còn hai người mã-tử ăn rồi 9 giờ, mã-tử lo đi xuống trạm
ngựa gác yên hai con ngựa. Chín giờ rưỡi Samdhen và bần
đạo đi lại viếng Baha-lama đặng từ giã ngài mà lên đường.
Ra mắt Đại-đức, ngài đãi xăng cho Samdhen và Choundouss còn
bần đạo không dùng. Ngài kỉnh lễ lên đường, một bao
nổ, vải vàng, vải xanh, vải trắng và mỗi món ít thước
cho hai người. Đoạn xá từ lên đường. Qua khỏi ngũ tháp
có tình nhân Choundouss đón dưng xăng nhưng Samdhen trả tiền
xăng. Đoạn hai huynh đệ tôi lên ngựa. Mười một giờ rưỡi
đến chùa Kết-xú-la-khăn (chùa có mội nước). Có bọn Tibetain
nam nữ vài mươi người chực đón thỉnh Samdhen và nội bọn
vào chùa. Họ cúng dường tùy hỉ chút ít (đôi ba cắc Tây-tạng),
Samdhen đãi xăng cho bổn đạo. Bần đạo đãi trà nội bọn.
Đoạn thầy trò họ tụng kinh, phát niệt cùng nhau, còn bần
đạo rảo bước xem cảnh chùa, đi lại chỗ nhà thác nước,
thấy chính giữa cái miễu ấy có cái ống-che(1) lục tự
“Án-ma-ni-bát-mê-hồng” cắm giữa chỗ đường nước chạy
tròn (ấy là luân chuyển pháp luân) xem rồi đi quanh chùa thì
thấy cũng có ống pháp luân để cho bổn đạo đến chùa
quay và niệm lục-tự Quan-âm. Trước cửa chùa cho hai cái
máy ấy, hằng ngày có người ngồi đó mà quay cái máy lục-tự
ấy.
Qua
tới 1 giờ, rồi việc cúng dường, vào điện lễ Phật và
bần đạo cúng 6 cắc Tây-tạng. Kiếu sư chùa ra đi. Bốn
giờ tới trạm quan ải cất cao lớn, trong quan ải cũng có
chùa Quốc-tự có một vị Lại quan cai quản, trạm ải tên
Doncguêss-zon. Vào quan ải thì có người dắt vào điện Phật
Quan-âm, huynh-đệ đồng nghỉ. Lại quan đãi trà nổ. Tối
lại cũng hộ cơm. Tối nghỉ an.
Ngày
5 Juin 1936 – 16-4-â.l.
Thức
sớm sắp đặt hành lý. Bảy giờ Lại quan hộ trà và cơm
lạt lót lòng rồi thì từ biệt Doncguêss-zon đi, 10 giờ rưỡi
tạm mé lộ dùng trà, bột xú với canh cải bẹ, 11 giờ rưỡi
đi tới 1 giờ 20 gặp xóm vào đụt mưa, mua xăng uống. Issê,
Choundouss và Isess đi luôn không ghé. Uống xăng rồi, mã-tử
gác yên ngựa, từ biệt chủ nhà, đi riết tới 4 giờ thì
đã tới trạm nhỏ Sinhgarap. Vào nhà gần trạm nghỉ, vì trạm
nầy nhỏ không có Lại-quan nên ngụ nhà dân. Lính mã-tử
và Lại quan bảo chủ gia phải cho cỏ ngựa ăn và cơm nước
cho họ, chủ nhà có ý co cự thì bọn nhà quan nói : Người
ngựa quốc gia, dân sự phải châu cấp, bằng không thì dỡ
nhà đi, chớ ở trong Quốc-vương thủy thổ làm chi không lợi
ích nước nhà. Hai đàng cãi cọ
nhau
hoài rốt việc chủ gia cũng phải chìu theo Lại quan, tối
cơm nước rồi nghỉ.
Ngày
6 Juin 1936 – 17-4-â.l.
Thức
sớm trà nổ điểm tâm. Samdhen cho chủ gia nổ và chút ít
tiền. Bảy giờ lên ngựa đi, từ giã Sinhgarap trạm đi, đường
đi lên dốc núi lần lần trời lạnh, lên cao chừng nào thì
sự lạnh càng tăng 9 giờ rưỡi tới tiểu trạm Yasa, vào
nhà nghỉ lúc trước đặng nghỉ, ông chủ nhà đi khỏi, chỉ
còn cô gái con của ổng ở nhà và ít người đờn ông lạ
mặt. Vào đó trà nước rồi nấu cơm. Khi đến trạm, thì
con ngựa của huynh Samdhen bị lên dốc, nên mệt té nhào chết
giấc. Mã tử kêu nói, thì huynh đệ đồng ra lo xông thuốc
cho uống nước muối, lần hồi con ngựa khỏe lại, bần đạo
thấy trên lưng ngựa có một mụt ghẻ lớn bằng đồng bạc,
thì xin vôi xức ghẻ ấy và nghĩ rằng : Con ngựa nầy bị
có ghẻ chính giữa chỗ gác yên, bị yên đè cấn mụt ghẻ,
phần Samdhen cao lớn nặng cân, phần lên dốc đảnh nên ngất
đuối. Lúc Samdhen ra thấy ngựa như vậy thì hỏi lăng xăng,
bần đạo nói ngựa lên dốc nhiều mà ít nghỉ chơn, phần
bị mụt ghẻ đau nên tới đây đuối mệt mà té. (Bị Samdhen
ép đi quá và tánh huỷnh nóng nảy lắm, bần đạo biết ý
người và có lúc động lòng cho loại vật bị ép đi không
đặng nghỉ, có lúc ngựa đứng nghỉ mệt, huỷnh đánh đi
không kịp nghỉ.) Cơm nước rồi 11 giờ rưỡi lên đường
thì hai huynh đệ đi bộ một đỗi cũng xa, cứ lên dốc riết,
đến hai phần đảnh thì tuyết còn trắng núi, trời gió,
mưa tuyết lạnh quá. Khi ấy hai con ngựa đi đã tới. Samdhen
hỏi, sao con ngựa nầy cỡi đặng chăng ? Bần đạo nói :
huynh nặng cân, cỡi con ngựa của tôi vì nó khỏe mạnh, để
tôi cỡi con ngựa của huynh. Thuận tình, lên yên, bần đạo
không vui mà cỡi ngựa, song nếu bần đạo không cỡi thì
Samdhen không cỡi và e sanh buồn. Lên lưng ngựa đứng thẳng
cẳng trên chưng đứng cho hổng đít vì sợ cấn ghẻ nơi
lưng ngựa, cỡi cách nầy con ngựa đi dễ dàng và coi bộ
nhẹ nhàng vì thấy nó đi lung, song bần đạo gò cương không
cho đi lung, đi một đỗi tới nơi đường bình lộ, bần đạo
bảo mã-tử ngừng ngựa đặng xuống đi tiểu, ấy là ý không
đành cỡi mà bảo mã tử dắt ngựa đi, bần đạo đi bộ,
tới một chỗ đất cỏ, có một cô Tây-tạng chăn bò, kêu
dưng Lạc (Dhahi), bần đạo đi tới, Samdhen hỏi ăn Dhahi không
? – Không. – Đoạn mấy người quan sai, họ uống ăn cùng
nhau, bần đạo thả bộ đi trước, lên nhiều dốc rất mệt,
nhưng thầm tưởng : thà ta chết mệt chứ không đành thấy
con ngựa chết mệt vì ta, tư duy suy nghĩ rồi cứ đọc kinh
cầu nguyện vừa tụng vừa đi, đi như vậy chừng vài cây
số, thì người ngựa đã theo kịp, thì thấy Samdhen cỡi ngựa
huỷnh, còn Choundouss cỡi con ngựa của tôi. Khi thấy thì động
lòng cho cái nghiệp lực của con ngựa, lúc gặp họ thì bần
đạo bảo Choundouss cứ việc cỡi, bần đạo đi bộ một
hơi nữa, tuy mệt nhưng vì sự thương con ngựa, làm cho bần
đạo thêm lực mạnh, đi riết, bỗng gặp Isess, huynh đệ
đồng đi sau, thủng thỉnh đi hoài, lên nhiều cái dốc le
lưỡi bỗng đã đến bình địa, ngó xuống xa xa thấy người
ngựa đều nghỉ. Lần hồi xuống dốc khỏe chơn, trước
mặt đã thấy thành thị Pharijong. Lúc tới chỗ họ nghỉ,
Samdhen kêu bần-đạo bảo nghỉ và uống trà. Thuận tình,
ngồi nghỉ uống một chén trà. Kế mã-tử bắt kế ngựa,
bần đạo bảo Choundouss cỡi, nhưng huỷnh từ chối. Bần
đạo sợ sanh buồn nên lên yên đi. Bốn giờ đã tới Pharijong
chuyến nầy ngụ nhà khác, chớ không ngụ tại nhà của hai
vợ chồng già lúc trước.
Vào
nhà của một cô Tây-tạng, ngụ, hành lý lần lượt đã tới,
nhưng gạo và vật nặng nề chưa tới. Nhà nầy rộng hơn
nhà chuyến trước. Trà nước rồi nghỉ ngơi. Song nghỉ đâu
đặng, Samdhen có đơn riêng nghỉ đặng, phần bần đạo bị
ba người Lại quan ăn uống hoài, một lát xăng, một lát trà-nổ,
cứ vậy riết tới khuya, họ lại trạm ngựa nghỉ, thì bần
đạo mới nghỉ đặng.
Ngày
7 Juin 1936 – 18-4-â.l.
Nhựt
thường lệ, điểm tâm, ăn ngọ, rồi cùng Issê rảo ra chỗ
nhóm chợ, mua 6 chiêm đường cát, phút gặp huynh Tanzine Guêgane
mời về chỗ ngụ, đãi xăng, bần đạo uống một chén với
đường, còn Issê cứ gầm uống, bần đạo hối về. Ra về
Issê ghé các tiệm mua thuốc hút, song họ sợ lính kín của
quan nên không bán, về tới chỗ ngụ, nói không thuốc Nađặc
mà cũng không có thuốc hút, bỗng có một người quen lại
thăm nói : để tôi mua giùm cho, không quen mặt mua họ không
bán đâu. Đoạn Issê đưa tiền cho người ấy đi mua, một
lát trở lại đưa nửa gói 5 điếu nói : còn có 5 điếu giá
6 sous Tây-tạng. Trọn ngày lần lượt bọn coolie mang gạo
và rương, gói đến. Ba sai quan cứ ăn uống tới tối, lúc
6 giờ thì bọn coolie đã đến đủ hết.
Xong
việc, họ cơm nước và uống xăng tới 8 giờ, rồi tiệc,
họ lui, bần đạo trải đồ ngủ, nghỉ.
Ngày
8 Juin 1936 – 19-4-â.l.
Sớm
điểm tâm, kế mua xăng đãi ba người Sai quan vì bữa nay họ
trở về Bhutan, Samdhen kêu ba người vào đơn hiến cho mỗi
người một xấp vải trắng (2R.) một cục trà, và 1 đồng
bạc Tây-tạng, cấp cho gạo, muối, đường, bộng sườn bò,
nổ, beurre, đủ vật, họ lãnh rồi từ giã ra về. Ăn ngọ
với nước muối ớt. Đoạn một chập lúc rồi ngọ, có hai
người đến lãnh bao ngựa chở gạo và hành lý, đòi giá
15 rupee mỗi con, cả thảy 18 con. Lúc họ về, bần đạo hỏi
Samdhen thì huỷnh nói : mắc mỏ quá, vậy chở gạo sao thấu,
thôi để bán gạo rồi lấy bạc còn tốt hơn là mướn ngựa
chở. Chập lâu bỗng có huynh Ngô-trúc, đồng hương với Samdhen
ở Bhutan qua, tay cầm một con chồn dồn rơm bước vào thăm
Samdhen, chào hỏi nhau xong, Samdhen cầm con chồn nộm ấy nói
với tôi rằng : thầy mua nó đem về xứ bán chắc đặng tiền,
bần đạo nghe thấp thố tưởng huỷnh nói huỷnh đem về
xứ huỷnh, mới hỏi : Sao ? ¬– Huỷnh nói lại nghe mới rõ.
Bần đạo hỏi ? – Giá bao
nhiêu
? – Thì Isess nói : 3 rupee – Issê nói 10 R, rốt nghe huynh Samdhen
nói bên Bhutan giá 4 R. Tôi bèn nói : tại xứ tôi giá 5 cắc,
không thiếu gì, có ai thèm dùng. Nghe nói vậy huỷnh chưng
hửng, huỷnh nói tiếng Tây-tạng với các huynh kia, rồi đồng
nhau xẻn lẻn hơi mắc cở. Ấy là ban đầu họ cầm bần
đạo là điên, thôi cũng nhẫn tình. Nội buổi chiều họ
uống xăng, cô chủ gia đem về một cô, đã say mèm rồi, cùng
nhau họ giao bôi tới tối. Ca hát, tha hồ ôm ẩm rất thô.
Đến tối 8 giờ qua mà còn chén thù chén tạc, bần đạo
ngồi trơ đó niệm Phật, mặc tình gió dục bốn bên, cầm
tâm nhẫn nhục. Nhà chật hẹp, chỗ ngủ của bần đạo là
nơi đón khách, họ còn cụng chén, thì bần đạo vẫn ngồi
lì chờ đến mãn tiệc mới nghỉ đặng, cả ngày luống ngồi.
Khuya rồi mà Choundouss vẫn còn ôm ẩm nữ khách là người
ban đầu huỷnh khinh là loạn phụ dâm nữ. Đến lúc nhiều
chén quên hết, lửa dục đốt tiêu tâm tánh. Bần đạo thấy
khuya rồi bèn nói, thôi đem nhau chỗ khác chơi. Kế huynh Ngô-trúc
ôm chồn đến, say mèm, kêu nói om sòm. Chừng huynh Samdhen nơi
liêu huỷnh cất tiếng rầy Issê và Ngô-trúc, nhờ vậy họ
mới chịu nín và ngủ. Phong tục của xứ người như vậy,
mình là khách lạ, như nước lòng sông, tùy tục chớ có biết
nói sao. Mọi việc nhờ Phật lực mà mình tập đặng tánh
nhẫn nại, chớ chi mình là kẻ ngoài trần, ắt chịu không
nổi cái thói nhơ nhớp huê nguyệt của dân nam nữ Tây-tạng.
Thiệt họ ăn ở không ngại ngùng, cái tục tệ đó thật
là dã man, họ ăn ở còn theo thú vật, thân thể dơ dáy, dâm
dục hỗn loạn, chỉ có lòng nhẫn nhục mới chịu nổi, trối
thây.
Đây
thuật chuyện huynh Ngô-trúc, người tuổi lối 50, vốn là
người xứ Ladakh, là người đồng hương cùng Samdhen, Isess
và Issê, còn Choundouss và Issê Sonam là người xứ Khâmpá.
Xứ Ladakh là thuộc địa… Xứ Khâmpá là thuộc địa Tàu,
hai xứ đều trong vùng Hymalaya Tibet.
Huynh
Ngô-trúc khi nhỏ chịu thọ của nhơn dân trong xứ cấp cho
đi đến Lhassa tu. Sau lớn lên ra thế, không dám về xứ, qua
Bhutan đỗ ngụ. Ấy là phong tục xứ người, thọ của xuất
gia, nếu không xong thì đi xứ khác lập gia đình chớ không
trở về xứ đặng, nếu về xứ thì nhơn dân cũng đuổi
vân vân…
Ngày
9 Juin 1936 – 20-4-â.l.
Nhựt
thường lệ, bữa ngọ nay ăn sadou (Cham-jpapáp) với cải bẹ
xào. Pharijong lạnh quá, tuyết còn đóng đầy núi, bần đạo
bị hôm qua nay ho quá.
Ngày
10 Juin 1936 – 21-4-â.l.
Nhựt
thường lệ, ngọ cơm nguội hôm qua hấp lại ăn, rồi lo sắp
đặt hành lý đặng mai lên đường. Có mượn Choundouss đổi
giùm 20 rupee tiền Tây-tạng. Bần đạo lấy ra ba tấm giấy
bạc 10 rupee, nói với Samdhen rằng : Chỉ còn có bao nhiêu tiền
để đi về đủ không ? – Huỷnh rằng : Thầy đừng lo, tôi
có hiếm(1) đây, hết thì lấy dùng. Tôi nói, vậy tốt lắm,
chừng về Calcutta sẽ tính trả lại cho huynh. Chiều bữa ấy,
huynh đệ lo hành lý rồi cùng nhau uống xăng, theo tục họ,
hễ gần từ giã thì làm tiệc xăng, không thịt cá chi hết,
uống như uống dấm chua son, song họ ưa quá, vì xứ lạnh,
uống nó lần hồi ấm áp. Bần đạo cũng tùy hỉ một hai
chén.
Rồi
tiệc bần đạo cho cô chủ nhà 2 rupee vì thấy mấy bữa ngụ
tại nhà cổ, cực khổ không nài, mang nước xa năm, sáu trăm
thước bằng một cái thùng lớn chứa ước hai thùng dầu
hôi. Cô từ chối, nhưng bần đạo nói : Tôi là kẻ tu hành
không nói chơi, cô cứ thọ lãnh, huynh-đệ cũng đồng ép,
cô thọ lãnh và cám ơn, và mừng rỡ.
Ngày
11 Juin 1936 – 22-4-â.l.
7 giờ
uống trà rồi, tạm biệt Pharijong, lên ngựa đi tới 12 giờ
gặp quán tại xóm Dark, ghé uống trà rồi ăn ngọ bột với
nước muối. Qua một giờ lên ngựa đi tới làng Tuy-na vào
nhà quen đỗ ngụ, người chủ nhà cũng tử-tế. Samdhen hiến
cho trà và một tấm hình Tháp Bodh-Gaya, đoạn chủ gia cũng
có đáp lễ. Họ cơm chiều, bảo bần đạo dùng, bần đạo
rằng : Ăn ngọ bột còn no lắm. Samdhen cằn rằng : Nếu thầy
giữ lệ ngọ, e yếu sức chăng ? – Không. – Đêm ấy ngủ
khá vì mê mệt sự đi đường. Tới đây phải đổi ngựa,
mướn ngựa khác. Lúc ra đi thì có hai người của đức Bahalama
Bhutan sai đi Tây-tạng cũng đồng nhập bọn đi, vì Samdhen
cho đi chung. Khi đi tới Tuy-na thì bên mé hữu đường có một
cái hồ nước lớn và dài thăm thẳm, hồ ứ, nên muỗi lung
quá.
Ngày
12 Juin 1936 – 23-4-â.l.