Ngày
giờ thấm thoát, phút đã qua năm Ất Hợi (1935), tháng hai,
ngày mười chín, dương lịch là 1er Avril 1935. Nghĩ rằng :
tiền lo cũng đủ đủ, tham học cũng vừa thông thông. Nay
cũng nên nhất định, bèn làm đơn trình quan Chủ-tỉnh, xin
giấy xuất dương. Sự tích Tây du Phật quốc sơ dẫn vậy.
Xin
giấy xuất dương
Ngày
1er Avril 1935, tôi cầm đơn đến dinh quan Chủ-tỉnh, lại phòng
việc trình đơn. Quan phủ cho thầy thông coi về vụ xuất
dương ; thầy hỏi tên họ, nhựt ký vào sổ và biên số hiệu
giấy căn-cước. Thầy làm giấy cho phép xuất dương, đem
hầu ký tên và đóng dấu quan Chủ-tỉnh. Đoạn thầy trao
cho tôi, bảo đem đến phòng việc sở Thông-hành (ở Saїgon,
tại đường Catinat) mà trình và xin giấy Thông-hành. Cám ơn
thầy, lấy giấy đi ra chợ, tìm tiệm chụp hình, chụp ba
tấm hình nhỏ, y kiểu hình gắn vào giấy Căn-cước, đặng
đem đến phòng việc thông hành, dán vào thông hành. Ba ngày
mới rồi.
Xin
giấy Thông hành
Ngày
3 Avril, tôi đem giấy cho phép xuất-dương và ba tấm hình,
thẳng xuống Saїgon, lại phòng Thông hành trình cho quan đầu-phòng.
Ngài xem rồi, phủ cho thầy thông coi việc ấy. Thầy lấy
giấy in kiểu (imprimé de déclaration) bảo tôi khai lý-lịch,
y theo lời hỏi trong giấy, đoạn thầy hỏi giấy thuế-thân
và căn-cước. Thầy bảo, thôi để giấy tờ ấy lại đây,
ông về nghỉ và trước khi đi một tuần lễ, thì lại đây
lấy giấy thông-hành. Tôi chào thầy, ra về, và đi và nghĩ
: “Đó là kiểu của sở Thông-hành, trước khi cho người
bổn-xứ xuất dương, thì cho lính mật-thám dọ xem tánh-tình,
vân vân…”, đi luôn về thảo-thất.
Đến
bữa 8 Avril, tôi thẳng xuống tại Nhà-rồng, hãng tàu, lại
tại phòng việc hay về sự tàu đi (bureau de départ), tàu về
(arrivée), đặng hỏi thăm. Vào đó, có mấy thầy Annam và
Ấn-độ làm việc. Tôi chào và hỏi thăm, chừng nào có tàu
đi qua Madras ? Thì có thầy Ấn-độ, xem sổ và lấy giấy
in, biên tên tàu và ngày giờ đi, rồi trao cho tôi và nói :
“17 Avril có chuyến tàu đi về Tây, sẽ đi ngang Ấn-độ
và đáp bến Madras ; thầy đem giấy nầy đến sở Thông-hành
mà trình thì tiện việc.” Chào mấy thầy, đi qua sở Thông-hành,
trao giấy cho thầy thông, thầy xem rồi bảo đóng 3.$00 tiền
giấy thông-hành. Thầy thâu bạc rồi, bảo 15 Avril lại lấy
đủ giấy tờ. Chào thầy, trở về nghỉ.
Đúng
7 giờ rưỡi mơi ngày 15 Avril tôi có tại sở Thông-hành kỳ
chót. Thầy thông thấy tôi, bèn lo làm giùm giấy thông-hành.
Tôi thấy bữa nay thầy mới chịu làm thông-hành, thì biết
rằng : “Không điều chướng ngại, vì sở mật-thám đã
cho tin lành rồi. Ăn thua bữa nay, nếu có điều ma chướng
thì không trông đi đặng.” Thầy bảo đưa 40.$00 đăng tiền
thế-chưng quận về. Tôi trao rồi, thầy bèn làm giấy đăng
kho, đem qua thượng-thơ ký tên và đi đăng kho giùm. 10 giờ,
thầy về sở, trao giáp lai kho cho tôi và nói : “Số tiền
nầy, lúc trở về sẽ lãnh lại, phải giữ giáp lai.” Buổi
sớm mơi, hầu ký tên chưa đặng. Chiều 3 giờ trở lại sở,
chờ tới 4 giờ, ký tên rồi, thầy giao giấy thuế-thân, căn-cước
và thông-hành cho tôi. Cám ơn thầy và từ giã ra về, hai cẳng
nhẹ nhàng, vì bữa nay mới chắc xong việc và phỉ-nguyện.
Đêm nay mới hả hơi và ngủ êm-đềm.
Tại
Lãnh-sự Ăng-lê
Sớm
mơi bữa 16 Avril, tìm đến phòng quan Lãnh-sự Ăng-lê, đặng
hầu ghi trong Thông-hành. Trước phòng-việc Lãnh-sự có một
thầy Ấn-độ để lo về vụ ấy. Lại bàn viết của thầy,
trao thông-hành. Thầy bảo đóng 5.$00. Thầy thâu tiền rồi,
gắn con niêm, nhựt ký, đoạn đem vào cho quan Lãnh-sự ký
tên, đóng dấu rồi trao cho tôi. Cám ơn, chào thầy, ra đi
thẳng nhà-rồng. Lại phòng bán giấy tàu, nhưng thầy bán
giấy nói, mai mua đặng, trở về am nghỉ. Nghĩa là : giấy
tàu hạng chót không cần mua sớm, trước hai giờ tàu chạy
còn mua đặng.
Một
đêm chót cùng huynh đệ
Từ
khi lấy đặng giấy thông-hành rồi, thì trong huynh-đệ và
chư cô : xuất-gia, cư-sĩ đều có vẻ ưu-bi vì sẽ xa cách
một người Thiện-tri-thức. Tôi thấy vậy thì an-ủi mà rằng
: Sự du-lịch đất Phật đây chưa phải là một sự hằng-hữu.
Nước nhà của mình, mới một mình bần tăng, là Thích-tử
Việt-nam, ngày nay đi lễ-bái Thế-tôn thánh địa, nơi Trung-thiên-trước-quốc.
Cổ-kim, mới một lần thứ nhứt có cái hạnh-phúc nầy, sao
lại không vui, mà lại có sắc buồn-bã là cớ sao ?
Sớm
mơi mai, tôi muốn một mình tôi đi êm-ả, xin chư huynh, cô
đừng mất công đi đưa làm gì. Tối lại tôi lo ngơi nghỉ,
vì mấy ngày rày chạy sở, chạy tần mỏi mê thân-tâm. Tôi
cũng có cái ý lánh sự bận bịu. Đến khuya, tôi thức giấc,
nghe trống điểm canh ba. Lên chánh-điện, đèn nhang lễ Thánh-tượng
và cầu xin để pháp-phục lại Đạo-tràng. Nguyện mặc một
cái áo tràng vải dà, theo tục-lệ nước nhà mà đi. Qua đến
Tây-thiên sẽ tùy cơ ứng-biến. Đó là đề phòng Ngoại-đạo,
e biết pháp-phục mà sanh khó.
Tạm
biệt lên đường
Sáu
giờ rưỡi mơi, bữa 17 Avril, có xe hơi của cô Diệu-nhẫn
ở Lái-thiêu (bà ba Thu) đem đến tiễn-hành. Mở cửa chánh-điện,
lễ Thế-tôn thánh-tượng, đoạn ra xe hơi, chư huynh-cô đứng
hai bên xe, mà làm lễ tiễn-hành. Tôi và huynh Chí-thông lên
xe, có mượn một người Ấn-độ quen ở Lái-thiêu đi xuống
Saїgon đổi bạc Ấn-độ giùm.
Xe
hơi đi tới đường Catinat là 8 giờ. Anh sáu chà đem vào nhà
đổi bạc Ismaёl, đổi. Đoạn gặp một người Ấn-độ trạc
lối hai mươi ngoài tuổi, mặc âu-phục, đi ngang qua đây,
thấy bọn tôi ăn mặc đồ thầy-tu Ấn-độ, nên dừng chưn
hỏi anh sáu chà.
Hai
đàng nói chuyện với nhau rồi, thì thầy Ấn-độ âu-phục
nói với tôi rằng : Ông đi Madras, không có ai quen, để tôi
đem ông lại một người anh em của tôi, đặng nói với y
gởi gấm ông tốt hơn. Hạnh-phúc thay, cám ơn người có lòng
tốt, đoạn theo chưn ông ta đi lại đường Ohier, ông ta đem
tôi vào căn phố 27, thì thấy có một người Xả-tri ngồi
nơi bàn-viết, xem người tuổi lối ba mươi. Hai đàng gặp
nhau, chuyện vãn, rồi kêu tôi lại gần mà nói rằng : “Ông
nầy là Mr. Ramassamy, là phó-hội-trưởng của hội Xả-tri
Madras, ổng vui lòng mà gởi gấm ông, ông đừng lo sợ.”
Nói rồi, ông ta nói : “Tôi mắc đi làm việc, ông ở đây
nói chuyện, đoạn chào mà đi. Ông Ramassamy vui-vẻ mời ngồi,
đoạn kêu một thầy Annam làm việc cho hội đến thông ngôn.
Đoạn ông Phó-hội-trưởng viết hai cái thơ, viết rồi trao
cho tôi và nói với thầy thông-ngôn một chập. Thầy thông
nói : “Hai cái thơ một cái trao cho ông Chánh-hội-trưởng
khi tàu tới Singapore, vì ổng cũng về Madras, mà ổng đi trước
qua Xiêm vì có việc, rồi ổng xuống Singapore mà đáp chuyến
tàu nầy mà về Madras. Còn một cái, thì khi ông đến tại
thành Ba-la-nại (Bénarès city) tìm lại nhà hội cho vay Madras
mà trao, thì ông sẽ đặng an-ổn.” Nói rồi thầy thông chào
mà đi lo phận sự. Vì sao mà thầy Ấn-độ âu-phục khi nãy,
sẵn lòng đem tôi đi gởi gấm ? Bởi khi nãy, thầy nghe nói
ông chủ nhà đổi-bạc Ismaёl không chịu gởi-gấm giùm, vì
tôi là thầy tu khác-đạo. Do đó thầy Ấn-độ âu-phục thương
đến, nên đem đi gởi gấm. Ismaёl là đạo Hồi-hồi, đối
với các chi đạo, thì đạo Hồi-hồi vẫn công kích hết,
chẳng một mình đạo Phật mà thôi đâu.
Nhắc
lại, ông phó-hội-trưởng Ramassamy có lòng sốt sắng lo thơ
từ gởi gấm giùm rồi, ông lại mời ở lại ăn-ngọ, vì
ông cũng ăn chay. Căn phố của ông ở cũng gần bên. Ông dẫn
lại nhà, thì thấy có bốn người chà ở trong, ông bèn chỉ
mấy ảnh mà nói với tôi rằng : “Mấy người nầy cũng
về Madras chuyến tàu nầy.” Đoạn cơm đổ vào lá chuối
rồi ông mời ngồi lại ăn cơm. Cùng mấy anh chà ăn cơm rồi
thì các ảnh lo kêu xe lại chở đồ đi xuống bến tàu.
Chào
ông Ramassamy và cảm ơn ông, đoạn ra xe đi với bốn anh chà,
và đi và ngó thành phố Saїgon mà từ giã tạm biệt. Tới
cầu tàu nhà rồng, bước xuống xe, thẳng lại mua giấy tàu.
Thầy bán giấy, xem thông hành y theo luật-lệ, thầy mới dám
bán giấy. Trả 70.$00 tiền tàu, lấy giấy quày ra cầu, thấy
chư huynh-đệ đứng chực đưa. Tôi thẳng lại, chào nhau và
nói : “Chư huynh-đệ không ở Đạo-tràng an-ổn, đi đưa
làm chi cho mất thì giờ.”
Đoạn
tạm-biệt nhau, tôi lại thang cầu lên tàu, trình giấy cho
người gác thang, đặng lên bông tàu.
Tám
ngày dưới tàu
Thẳng
lên bông tàu, xuống một cái hầm, phòng hạng chót, đồ hành
lý chỉ có hai túi-dết, một túi đựng kinh, một túi đựng
y-phục. Choán một cái giường, để đồ hành-lý, đoạn thay
pháp-phục, trao cho huynh Chí-thông đem về đạo-tràng. Huynh
Chí-thông từ-giã lên bờ, tôi leo lên giường ngồi, quan-sát
chung-quanh chỗ tạm. Thấy mấy anh chà quen, cũng choán giường
gần bên mình. Trước tôi, lại có một người bồi Bắc-kỳ
theo chủ về Tây, nằm cái giường đó. Còn bao nhiêu giường
kia, đều là người Ấn-độ. Kế cái hầm-phòng nầy là cái
căn lò-bếp, để nấu ăn cho hành-khách Ấn-độ. Anh bồi
Bắc-kỳ, mỗi khi ăn cơm, lại đến ăn bên phòng bếp An-nam
kế bên. Còn tôi, thì đang lúc phải tập ăn cơm theo Ấn-độ,
nên tiện bề khỏi đi đâu, lại tiện bề học tiếng Chà
và Ăng-lê.
Năm
giờ ngoài, tàu xúp-lê mở đỏi. Ai nấy đều lên bông mà
chào cảnh-vật Saїgon, tỏ lòng tạm-biệt hay từ-giã. Còn
tôi, nằm êm trên giường, nghe tiếng máy chạy ầm-ì và dòm
ra lỗ-bô, thấy cảnh-vật thay-đổi như hình rọi trên vải
hát-bóng. Khuất gian nhà nầy, tới dãy phố kia, hết tốp
người nầy, tới đoàn người nọ. Lầu-đài, nhà-cửa, nhơn-vật,
cầu-bến, sông-rạch, cây-cỏ, ruộng-vườn, đường-xá, nói
tắt cảnh-vật đều đổi-thay trong nháy mắt. Toại chí, kệ
rằng :
Cửa
sổ ngựa qua, đời mấy lát,
Lỗ-bô
tàu chạy, cảnh thay liền.
Hỏi
thăm giả thiệt, vùng hoàn-vũ,
Giấc
mộng trả lời, dứt đảo-điên.
Kệ
rồi, để mắt hai bên lỗ-bô, thấy cỏ xanh đồng, ruộng.
Biết tàu đã xa phong cảnh Saїgon, bèn nói trong bụng rằng
: “Từ đây, yên hà vân-thủy, phóng thang giang-hồ. Mặt nước,
chơn-trời, ra rồi lồng, chậu.” Trong tàu, đèn khí nổi
ngọn, ngoài trời trăng ló bóng. Nằm nghỉ, vì mỏi mê cả
ngày, phút êm-đềm giấc-ngủ. Chừng giựt-mình thức dậy,
thấy quanh giường bạn lữ khách ngáy pho-pho. Xuống giường
êm-ái, lại máy nước rửa mặt, rồi lại thang lên bông-tàu.
Vắng-hoe, người người đều an-giấc. Gẫm giờ nầy, không
ai thức làm gì, ngoài ra người coi bánh lái và bọn chụm
lửa và người coi máy, thì không còn ai thức nữa. Tôi đứng
dựa song-ly bong-tàu, dòm mặt biển. Mùa nầy, gió lặng sóng
êm, tàu không chao-lắc, hèn chi lời tục nói : “Tháng ba,
bà già đi biển” phải lắm. Gặp lúc trăng rằm, tỏ-rạng,
mặt nước không nhăn, bóng trăng soi tận đáy. Toại kệ rằng
:
Gió
êm, biển lặng bóng trăng lồng,
Đáy
nước, bầu trời, một Hóa-công.
Đuốc
nguyệt, đèn sao trên dưới tỏ,
Thiên,
Long hội yến tiễn bần-tăng.
Kệ
rồi, xây lưng, sắp xuống hầm, trực ngó một lớp lính sơn-đá,
nằm ngủ trên bong và khách Ấn-độ, một đôi người sắp
lớp, kẻ ngang, người dọc ngáy ro-ro. Tôi dừng bước, nhìn
đó mà nghĩ rằng : “Kiếp con người đến bao nhiêu đó là
cùng. Ngày thức, như kiếp sống, bôn ba tranh cạnh, bỉ-thử
lấn-xô, hồ, cáo cấu xé, bất quá bảo tồn cái ngã và ngã-sở,
nuôi sống xác-thân. Đêm ngủ, như giấc chết tạm, xả rồi
mọi sự, ngã ấy bất quá bản-thân, cũng quên, cũng bỏ.
Kẻ nghịch, đến giết cũng không hay không biết. Hà tất
ngã-sở, vợ con, nhà cửa, của tiền, vân vân…
Tuy
thân còn tại thế, mà trong một giấc ngủ, đủ rồi buông
bỏ ; sự mất còn, phú đó cho rủi-may. Huống chi là trong
giấc ngàn thu của xác thịt… Một mình nghĩ đến đó, một
mình thở ra, rồi thẳng xuống phòng ; thấy đồng hồ đã
quá 3 giờ. Lên giường nằm nghỉ, chưa kịp nhắm mắt, nghe
đằng chỗ nấu ăn, mấy người chà đầu bếp đã thức dậy,
tôi cũng còn nằm nghỉ mệt.
Sớm
mơi, điểm tâm lúc 7 giờ, một ly café sữa với bánh mì.
No-nê rồi lấy cuốn sách trợ khách (guide) chữ Tây và Ăng-lê,
học ít câu để đi đường. Rồi cũng hỏi mấy anh chà tiếng
Ấn-độ mà học. Họ nói đâu thì biên vào sổ tay tiếng
nấy, vì tiếng Tamil khó nói và khó nhớ lắm.
Trưa
11 giờ ăn cơm với cà-ri chay, chiều họ ăn, mình nghỉ. Ngày
nào như ngày nấy. Ngày nào không có cà-ri chay thì tôi lại
có cà-na muối, đậu phộng nấu mặn, sẵn dành trong túi-dết.
Bảy
giờ mơi ngày 20 Avril 1935, tàu đã tới Singa-pore. Tàu cập
cầu rồi, thì khách trên bờ, khách dưới tàu, kẻ lên người
xuống. Tàu đậu tới 1 giờ chiều, mặc-tình hành-khách đi
xem thành-thị và mua vật-dụng.
Khi
ấy, tôi thấy nhiều người Ấn-độ xuống tàu, hỏi thăm
anh Bảy Venugopala, ông nào là Tào-kê([5] chủ hội Xả-tri ?
Anh ta chỉ rồi, tôi đem thơ của ông Ramassamy đưa cho Tào-kê
chủ. Ông ngó tôi một cách sửng-sốt, như kiếm trên gương
mặt tôi coi có vẻ quen hay không. Anh Bảy Venugopala bèn trăm(6)
lia với ông. Ông lấy thơ ra xem, rồi tươi cười và xá-xá
tôi, đoạn nói : “Tốt quá, tới Madras có tôi không sao mà.”
Ông xếp thơ bỏ vào túi rồi hỏi tôi : “Ông đi lên chợ
chơi, coi chơi.” Tôi lắc đầu, nói không đi. Mấy ảnh kéo
nhau đi, còn tôi thì lên mé bực thạch coi người mua bán.
Đoạn thả theo đường lộ, một nẻo cho dễ nhớ, không dám
quẹo qua đường khác, vì sợ lạc đường. Singapore thì vui
rồi, phố xá, lầu-đài, dinh-thự, ngó xán-qua thì cũng biết
đẹp xinh. Người Tàu ở đây đông đảo lắm. Ấy là một
cái hải cảng to lớn. Trở lại cũng một con đường đó,
xuống tàu, lên giường ngồi, sực nhớ cặp mắt sửng-sốt
của anh Tào-kê xả-tri ngó mình khi nãy, và những mắt người
gặp trên đường ngó mình, trong lúc dạo xem thành-thị. Bèn
toại ý kệ rằng :
Không
kim, không cổ, vẫn quen nhau,
Cảnh
huyễn mài bôi, ngũ thể màu,
Mắt
huệ toàn xem, nào có lạ,
Nơi
mô cũng gặp, ngảnh là sao ?
Là
sao bỉ-thử, buổi hôm nay ?
Ngũ
dục tranh mồi, quên lửng ai ;
Nhượng
hết cho đời, tay rũ sạch,
Xin
đừng chia rẽ, nói là hai.
Một
giờ ngoài, tàu xúp-lê mở đỏi. Hành-khách xuống tàu, trong
tay ai nấy cũng có ôm xách, không nhiều thì ít, những vật
mua trên thành phố Singapore. Vì ở đây đồ đạc rẻ lắm,
ai cũng ham vật tốt mà giá rẻ. Đem xuống tàu, phô-trương
trầm-trồ, so-sánh cùng nhau.
Tôi
lên bong, đứng ngắm cái cảnh hải-cảng Singa-pore. Vì một
lần thứ nhứt mới thấy, chớ bấy lâu nay nghe tiếng vậy
thôi. Đi một con đường không thấy hết, đứng cao xa thấy
trọn mặt châu-thành, thiệt là :
Lầu-các,
phố-phường cao chất-ngất,
Trên
bờ, dưới nước chật tàu xe.
Dân-cư
đủ sắc, nhiều phe,
Bán-buôn
đủ vật, dưới ghe trên phường.
Xắt-xẻ
phân, nhiều đường lắm nẻo,
Khách
lại qua kéo tốp, kéo bầy.
Trông
xa đảnh núi đụng mây,
Đỡ
trời ngăn bể hộ bầy sanh-linh.
Thủy-long
choán thinh-thinh ba hướng.
Ngăn
cõi bờ chẳng nhượng con trời.
Hằng
ngày hầm-hét khắp nơi.
Đùng
đùng binh sóng ngoài khơi áp vào.
Mặt
thành rấp xôn xao muốn hãm.
Quyết
trả thù cho đám cá tôm.
Con
trời đoài buổi đoài hôm.
Mưu
câu kế lưới chẳng nhờm sát-sanh.
Bao
giờ sóng lặng người lành.
Ta-bà
vàng trải đã thành Lạc-bang.
Ngẫm
nghĩ rồi cảnh vật, tàu chạy đã xa, còn thấy mờ-mờ, dạng-dạng.
Bèn quày quả xuống phòng, xem kinh đọc sách, học tiếng chà
đủ mửng, tiêu khiển ngày giờ, chờ ngày đến Ấn-độ.
Ngày ăn, đêm ngủ không bỏ đặng.
Bước
đầu trên đất Tây-trúc
Ba
ngày nương tại thành Madras
Bảy
giờ sáng ngày 25 Avril, tàu đã tới hải-cảng Madras. Quảy
gói lên bong, ngó lên thành-phố, có ý sốt-lòng và nghĩ thầm
trong trí : “Ngờ đâu mà Thành-phố xứ Ấn-độ đặng lịch-lãm,
đồ-sộ như thế.” Ngó dài theo bến bực thạch, cũng đủ
ngưng tròng.
Tàu
cập cầu, anh Venugopala kêu tôi bảo sửa-soạn đặng trình
thông hành rồi lên bờ. Lính xuống tàu, đứng tại cửa thang
tàu đã thòng đụng mặt cầu. Ai lên tại đây đều lại
trình giấy tờ mà lên. Tôi theo anh bảy lại trình thông hành
rồi, bèn xuống thang, đứng nơi cầu đặng chờ mấy anh bảy.
Họ còn đồ-đạc, rê ở xứ Annam, đem về Ấn-độ lung lắm.
Cả năm mười rương. Nên tôi đứng đó coi chừng giùm và
để mắt xem tốp người trên cầu. Ròng là người bổn-xứ,
mà tôi nghĩ sao lạ quá, vì không thấy một người Hoa-kiều
nào cả. Mấy ảnh đem đồ hành-lý lên đủ rồi, kêu xe chở
lại sở Thương-chánh. Xét rồi, đóng thuế rồi, xe lần-lượt
ra cửa sở. Đụng đường-lộ lớn, láng-bóng không một miếng
rác. Càng đi vào thành-thị càng thấy nguy-nga, trẽ qua một
con đường hẻm lớn, đi ngang qua một đống rác và tro. Tôi
để ý khắp nơi, ấy là đầu-óc người lữ-khách. Đến
xứ người, không một sự việc chi trong cảnh-vật, quanh mình,
dầu lớn dầu nhỏ, cũng có thể dạy ta đặng những sự
ta chưa từng thấy. Vì vậy nên mới thấy đặng một gã trai
ốm yếu, đầu cổ chôm-bôm, trạc chừng hai mươi tuổi, nằm
lăn nơi tro rác. Mình mẩy trần truồng, chỉ có một rẻo
vải che chỗ kín. Lạ thay, không ai chiếu cố, để mắt chia
giùm cảnh thảm ấy. Tôi bèn hỏi huynh Venugopala (anh bảy nầy
biết nhiều tiếng Annam, nên hay lân-la với tôi, hơn hai chú
nhỏ Tampi), nên mới rõ là một người tu-hành trong đạo Phá-kích
(Fakir). Hành khổ hạnh, lấy tro ướp thân, trần truồng chịu
mưa, nắng, tuyết, sương. Bấy lâu nay nghe trong kinh nói, chớ
chưa từng thấy. Nay đặng tận mắt, thì phá tan đặng một
màn tưởng-tượng. Xe quẹo qua một con đường không mấy
rộng, ngừng trước một cái nhà hai từng, rộng lớn nền
cao. Đây là nhà hội Xả-tri cho vay đó, tôi theo chưn ông Tào-kê
bước vào. Thì cả thảy cặp mắt tròng trắng như bạc kia,
đều nhắm qua hướng của tôi, cách sững-sờ tự-nhiên. Tào-kê
biết, trăm lia, ai nấy gật đầu, tôi cũng chào họ. Chôi
cha, dưới tàu học được ít tiếng chà miền-dưới, như
con nít mới học nói. Phúc gặp đám mừng bạn đường xa
mới về, nghe qua như vịt nghe sấm. Tôi đem thẳng cái gói
hành-lý lại một cái góc-xó, cận tường mà rộng-rãi. Để
đồ đó, ngồi đó mà nghỉ một cách không e-lệ. Vì đã
quen mắt dưới tàu, vào ra cùng người da đen nầy. Ngồi nghĩ
rằng : “Ta nay mới hạ sanh trên đất Ấn-độ, phải chịu
câm, điếc một ít lâu, như con trẻ mới ra khỏi lòng mẹ.
Có tai không biết nghe tiếng người là điếc, có miệng không
nói đặng tiếng người là câm. Nhưng, ta khá hơn trẻ bé,
vì biết ra dấu, đỡ lắm. Mở gói, lấy dết đựng trang
phục, lấy cái chăn nhuộm già, có đem theo phòng lúc tắm
rửa. Thay quần áo, vì tám ngày ở dưới tàu chịu lì. Đoạn
trải cái mền ra, trên nền tráng xi-măng, nằm nghỉ như mấy
ảnh, trên đệm trên chiếu đó. Chớ họ có bàn, ghế, ván,
giường chi đâu. Mấy anh kia đem đồ vô rồi, họ cũng đi
chào bạn cố hương của họ. Mười giờ rưỡi, mấy ảnh
hô : “Côlick borème” tôi nghe biết họ đi tắm. Tên Tampi
cháu Tào-kê, lại bảo tôi đi tắm. Tôi nói không tắm, thì
y nói : “Không tắm ăn cơm không đặng mà.” Tôi hiểu đó
là phong-tục của họ. Thôi thay chăn đi tắm, có hồ nước
phía sau, lớn và đầy nước. Cả thảy đều đứng quanh hồ,
múc nước xối tắm. Mình cũng chẳng nên ngại, chen với họ
mà tắm, mà coi họ vui lòng. Có một người xả-tri đứng
gần tôi, nói : “Hồi trước tôi có ở Saїgon hai ba năm.
Về miền-dưới lâu rồi, quên tiếng Annam lung lắm.” Anh
nói còn sửa quá. Đây là thêm một bạn tại Madras đó. Tắm
rồi, giặt đồ dơ. Đoạn thay áo sạch, quần sạch, theo họ
đi ăn cơm. Đồ ăn chay, cà-ri và vài món cũng cà-ri chua, cà-ri
khô không có nước. Họ nấu khéo, ngon, nhưng cay xé họng.
Mới tắm đó, mà muốn tuôn mồ-hôi. Dưới tàu ít cay và
không ngon bằng. Có sữa chua, mỗi người một thố đất,
y như thố ô-môi khách-trú bán trong xứ mình. Họ trộn cơm
họ ăn, thiệt chua quá lẽ. Song họ nói nó kỵ ớt, mát tì
và không bón. Tập ăn cho quen, ớt lung lắm, nếu không dùng
nó thì sẽ đau bao-tử. No nê rồi, lên nghỉ trưa, chiều thả
rểu ra phía trước. Ngó qua phía trước gian phố bên kia, thấy
một người không giống bọn xả-tri, vì nước da màu bánh-ít,
hồng-lợt, tóc bạc, râu dài, trên trán có vẽ một cái chỉa
ba hai bên trắng, ở giữa đỏ. Trong cổ đeo một
xâu chuỗi hột kim cang. Tôi lấy làm lạ, không biết thuộc
phái đạo nào. Kế anh bảy Venugopala bước ra, rủ đi nhà
dây thép. Tôi hỏi ông già ngồi bên kia, trên trán vẽ chi
vậy ? Anh ta nói : “Thiếu gì đạo, cũng thờ Ông Phật, Ông
Trời.” Tôi hỏi : “Đạo gì ?” Ông nói : “Đạo Brahmana.”
Tôi mới hiểu đạo Bà-la-môn. Đã biết đặng hai đạo rồi.
Như đạo-sĩ nhỏ khi nãy, thì trong kinh có nói : Lục chưởng
tà-sư, các hữu khổ-hạnh giái. Lục khổ-hạnh Phá-kích vi
đệ tử. Trong kinh luận ngoại-đạo lục sư rằng : “Tứ
giả : Tự-tòa-ngoại-đạo, thường vi lõa hình, bất câu hàn
thử, tọa ư lộ địa giả.” Còn bọn Bà-la-môn nầy, là
nòi giống đặng người đời tôn-kính, quí-trọng hơn hết.
Bởi dân Ấn-độ có bốn giai-cấp, phân biệt trong nhơn-dân
: 1. Bà-la-môn (Brahmana) là nòi giống người tu-hành ; 2. Sắc-đế-rị
(Ksatrya) dòng vua-chúa ; 3. Phệ-xá hoặc Tỉ-xá (Vais’ija) dòng
thương-mãi ; 4. Thủ-đà hoặc Thủ-đà-la (Sudra) nông-phu, tôi
tớ, chuyên nghề hạ-tiện.
Trong
bốn cấp dân nầy, đến nay, tuy hết hàng vua chúa, nhưng họ
cũng còn y phong-tục tôn-kính vậy. Ngoài thị-tứ thì lợt-lạt
hơn ở trong xóm, làng, đồng-bái ; nhơn-dân còn tôn-kính mấy
sư Bà-la-môn, cư-sĩ hay xuất-gia lắm. Mà nòi-giống ấy, còn
là người thế-gian, cũng đặng yêu-mến kính nể vậy, vì
họ có cái tánh-tình thuần-hậu, ngay-thẳng.
Lúc
đang suy nghĩ cái giai-cấp, bốn bực loài người nầy, dường
như đã định kiếp ban-sơ, trong lúc sanh nhơn-loại. Do đức
Phạm-thiên-vương từ miệng, tay, hông và cẳng mà sanh bốn
bậc người. Cùng hữu-mạng, vô-mạng, vạn-vật đều ở
tay của ngài sanh-hóa cả thảy. Toại kệ rằng :
(Do
tích Tỉ-nửu-thiên cỡi Ca-lầu-la điểu)
Tỉ-nửu,
Ca-lầu cỡi khắp bay.
Na-la-diên
rúng, trổ liên hoa.
Phạm-vương
từ đó, sanh nhơn-loại.
Bốn
giống, muôn hình của Thích-ca.
(Xin
xem trong Đại-nhựt-kinh sớ thập)
Viếng
châu-thành
Đã
hai giờ ngoài, anh Venugopala hối đi nhà dây-thép trước, theo
chưn ảnh, và đi và xem thành-phố, nhơn-vật. Cũng để mắt
xem coi có người đạo-Phật hay chùa Phật không. Phút tới
bến xe điện, anh cùng tôi lên xe điện, rảo xem cảnh-vật,
tả hữu ngó liền-liền, xe ngừng nhiều bến. Đoạn tới
nhà thơ, xuống xe, thẳng vào, thấy rộng lớn, nhiều phòng,
nhiều gui-chet, sạch-sẽ, ghế bàn láng-bóng. Có salle d’attendre
(phòng chờ của khách) trong có bàn ghế (salon meublé) đẹp-đẽ.
Hai anh em gởi thơ về Saїgon và anh ta cũng gởi về nhà ảnh
một cái dây-thép. Xong việc đi ra, thả qua nhà băng, anh ta
lãnh bạc, nhà băng lớn hơn nhà băng xứ mình, có vẻ đẹp-đẽ
hơn. Ảnh lãnh xong bèn trở ra đường, thả bộ lần theo nẻo
nào chưa đi. Ngó xem không mãn-nhãn. Mình mặc áo tràng vải-dà,
nên khêu mắt mọi người. Trối ai xem ta rằng lạ, mà thật,
tự-cổ chí-kim họ chưa từng thấy, cũng như ta mới lần
đầu, mới thấy cảnh trạng và nhơn vật của thành Madras
của nước Tây-thiên. Ôi thôi, ta ngó phố phường, tiệm hãng,
dinh-thự, lầu-đài không mãn-nhãn. Số người lại qua, đếm
không hết. Họ lạ mắt, mà ta cũng chẳng quen ngươi, ngó
ngang, ngó dọc dưới cùng trên. Thiệt là :
Mỏi
mắt cảnh-mầu, người tạo đó,
Nguy-nga
thành-thị, ngó không cùng.
Xe-hơi,
xe-điện cũng lung,
Chở
không hết khách trong vùng Trời-tây.
Nam,
nữ đó toàn bầy Hắc-tộc.
Số
lại qua lốc-cốc muôn-ngàn.
Lộn
trong một mỗ da vàng.
Chen
cùng anh chị một đoàn huyền-mun.
Chưn
đã mỏi, chưa cùng đường-xá.
Phường
phố kia xem lạ, quên thôi.
Thịt
buôn, cá bán làm mồi,
Lẫy
lừng sát-khí, làm hôi khí trời.
Mắt
Thích-tử thầm rơi nước lụy.
Tủi
đoàn em, anh chị cường quyền.
Hoàn-cầu
giặc-giã nhân-duyên.
Thần
kinh, quỉ khóc, đất nghiêng, trời gầm.
Than
ôi ! giống nghiệp gieo-giâm.
Con
Trời có biết lỗi lầm hay chưa ?
Mặt
nhựt xế, chẳng thưa dạng khách.
Đoàn
nam-thanh trắng-bạch áo chăn.
Xông
pha nữ-tú lăng-xăng.
Má
huyền, mũi ngọc, môi ngâm, răng ngà.
Áo
xiêm phủ màu da sậm tím.
Chéo
chăn hồng, đậy điệm tóc xanh.
Đỏ,
vàng, hàng vải đành rành.
Neo,
chuyền, kiềng cẳng đã thành thuyền-quyên.
Trâm,
hoa, cũng tùy duyên thủ phận.
Vàng,
ngọc đầy là phẩm giàu sang.
Hột
chai, đồ bạc, bần-hàn.
Salon,
ngọc-điệp là đoàn trung gia.
Đừng
khinh đó chà-và…
Đã
về tới nhà-hội ngụ. Năm giờ rưỡi, anh bảy vô, tôi đứng
lại cửa xem tấm bảng đồng gắn nơi cột tường. Lấy cuốn
nhựt-ký ra biên mấy hàng chữ khắc trên đó “Nagara Viduthi
No. 4 Coral Merchant. Street Mannady – Post Madras”. Bước vô nằm
nghỉ mệt. Chập lâu họ kéo nhau đi ăn cơm. Một mình nằm
suy nghĩ, chốn nầy không có chùa Phật, ở lâu không ích ;
mình gấp đi Ba-la-nại, mà nói với Tào-kê đặng mai đi, mà
ổng nằng nằng nói mốt sẽ đi, vì mốt ổng và ba người
kia cũng đồng về nhà hết.
Họ
ăn cơm rồi, kéo lên rần-rộ, nổi đèn khí sáng trưng. Lấy
cuốn guide ăng-lê ra tập đọc, vừa đặng vài câu, anh bảy
và hai chú Tampi lại kêu tôi, bảo đi coi chợ đêm, rồi đi
coi hát ông Phật, ông Trời. Tôi nói không coi hát, anh Venugopala
nói : “Hát ông Phật, thầy đi coi tốt, tôi mua giấy rồi.”
Tôi không hiểu sao, chỗ không có chùa Phật mà có hát Phật.
Mà sao mình lại có duyên bói tuồng hát Phật. Thôi tùy thuận,
bận áo tràng theo mấy ảnh. Chín giờ mới hát, nên mấy ảnh
còn có ý dẫn tôi đi xem chợ đêm mà khoe bổn-xứ. Mấy nơi
thắng cảnh họ đều trải-sang. Thiệt là :
Đèn
sáng chói, trời hôm cảnh lịch.
Người
dạo đêm, chẳng ít hơn ngày.
Từ
lớn lên, mới có bữa nay.
Mắt
xem trần thế, lối ngoài bổn-hương.
Cảnh-vật
đó, không nhường không sút.
Nhơn-luân
nầy, phong-tục nhu-hòa.
Trong
điều cợt-nguyệt trêu-hoa.
Trên
đường lả-lúa hẳn là bặt tin.
Chỗ
truy-hoan, lao hình tốn của.
Trang-sức
thân, sáng-sủa nhượng người nam…
Gần
9 giờ, đem nhau lại rạp hát bóng. Tôi hỏi anh Venugopala, coi
hát ở đây sao ? Anh gật-đầu. Tôi nói : Tôi tưởng hát tại
chùa, chớ ở đây thì coi không tốt. Ảnh không hiểu ý, chỗ
mình nói. Cứ nói hát ông Phật tốt lắm. Bỗng thấy một
tốp sư ngoại-đạo kéo tới, mà kẻ tục cũng đông. Vào
rạp, thấy rạp hát sạch sẽ rộng rãi, kiểu đẹp lắm.
Tới khi hát, tôi thấy hình rọi mà có nghe tiếng hát, ăn
theo cử chỉ hình bóng. Tôi thiệt ngạc-nhiên, vì tưởng tới
cái văn-minh vật-chất nầy, đã tấn-hóa lắm rồi. Từ mấy
năm tu-hành, không hay không biết. Nay thấy thiệt lạ, hình
hát bóng, mà có máy nói, thì như hát-bộ. Mỗi lớp thì anh
Venugopala cắt nghĩa, mới biết hát sự tích Phật tổ, lúc
hành bồ-tát đạo. Hiện sanh Thái-tử, tại Ba-la-nại quốc.
Tầm ma-ni-châu bố-thí nhơn-dân vân vân… Cũng là một tấn-tuồng
mà Thích-tử nên lưu-ý. Vãn hát, ra về, đêm nay ngủ mê mết.
Khuya
thức, đồng hồ đã ba giờ ngoài, một mình ngồi suy nghĩ.
Trên vuông đất, ba trăm ngoài triệu nhơn-dân, cái sống chưa
phải dễ-dàng như xứ ta. Đường tranh-cạnh cuộc sanh-nhai,
vì cái khó-khăn mà tấn-hóa. Nên chi, nước nhà ta khó sánh,
bởi cái sự dư ăn dư mặc…
Sáng,
anh Venugopala dẫn tôi đi điểm-tâm, trong tiệm café ở trước
đường gần nhà hội ngụ. Khi no-nê rồi, trở ra, đi ngang
một cái tiệm may, tôi nói với anh bảy. Tôi muốn mua vải-dà,
hôm qua tôi thấy mấy ông thầy bận đó. Vô tiệm may đưa
ra thứ vải nội-hóa hiệu Găng-đi. Tôi mua sáu thước và
mướn may máy liền một cái vô-điều-y. Tám giờ rồi, tôi
bèn thay y-phục, mặc dưới chăn trên choàng theo ngoại-đạo.
Cất áo tràng vì xứ nầy không dùng. Từ đây, hết lạ mắt
người bổn thổ. Chín giờ lại nhà đổi bạc Ismaёl et Cie,
đưa chèque, đổi bạc. Ký tên lấy tiền rồi về nhà hội.
Đưa 30 rupi(8) cho Tào-kê, mượn mua giấy xe lửa trước.
Chiều
ngày 27 Avril, Tào-kê và mấy anh em quen, bốn giờ kêu xe lại,
chở đồ đi về Karaikuli. Trước khi đi có dặn ông già tri-thơ
của hội 7 giờ tối, đem giùm tôi ra gare xe lửa, đi Bénarès
city. Đoạn tôi đưa mấy ảnh ra xe và đưa cho Tào-kê 3 rupi,
xin đền ơn hội trong ba ngày tá ngụ. Tào-kê nói, tôi tính
rồi, thầy không cần lo sự ấy.
Xe
chạy, tôi trở vào nhà-hội sắm sửa đồ hành-lý. Sáu giờ
rưỡi bèn theo chưn ông Tri-thơ ra đường đón xe điện lại
gare. Thiệt là :
Dường
chim chung ngụ, một đêm rừng,
Chớp
cảnh lìa nhau, lúc tửng-bưng.
Đổi
dạng tùy duyên, trong cảnh huyễn,
Ngoan
là nòi giống, lũ người dưng.
Bốn
đêm trên xe lửa
Trong
xứ Ấn-độ, người đạo Bà-la-môn và đạo Hindou y-phục
mường-tượng phái Tiểu-thừa bên đạo Phật. Nhưng, cái
y không phân điều, tôi bèn cải trang theo đó, y như hình đây.
Nhờ đó xông pha với họ một cách dễ-dàng, người bổn-thổ,
không lạ mắt như cái áo tràng.
Tới
gare, xuống xe, theo sau ông Tri-thơ bước vào gare. Đưa cho ông
ta 1 rupi đặng huê-hồng cho ông. Gare lớn mênh mông, đèn khí
sáng-rỡ, bộ-hành chật nứt. Chỗ bán giấy cũng nhiều, người
mua giấy chen nhau và chờ rục cẳng. Trong gare mà chẳng khác
một cái chợ. Nào nhà nghỉ, nhà hàng, nhà tắm, nhà tiêu
cho khách hạng nhứt, nhì, ba. Còn chỗ khách bình dân rộng
lớn, sân đợi có băng ngồi, hai bên buôn bán đủ vật. Rất
tiện cho hành khách, quạt máy gắn cùng, vì xứ nầy nóng
lắm. Ngó vào chỗ xe lửa đậu, mỗi xe có trên vài chục
toán wagon, mà có đến vài chục đường rầy, xe nằm chờ
giờ chạy. Xe nào cũng đầy hành khách, chạy khắp nơi, không
biết họ đi đâu dữ vậy. Tôi theo anh tri-thơ, lại cửa trình
giấy vào cửa cổng lên xe. Thấy một anh trai đang trình giấy,
trong giấy đề Calcutta, tôi chiếp trong bụng, vì trên xe ba
ngày mới tới thành Calcutta. Phải theo chưn anh trai nầy, tiện
cho ta vì không biết đi dọc đường có đổi xe khúc nào không.
Vào cửa rồi, tôi thấy anh trai ấy lên wagon khoảng giữa,
để bụng ; tôi còn nhờ anh tri-thơ đi theo đây. Ảnh dẫn
tôi lên xe, chỉ chỗ ngồi rồi ảnh chào tôi mà ra về. Tôi
bèn mang gói, rảo kiếm anh trai khi nãy, té ra bộ hành đông
quá, và mặt trai nào cũng hệt nhau, kiếm không biết ai. Bỗng
tới một cái băng rộng, bên kia có một người, đang sửa-soạn
chỗ ngồi, thấy cái giấy xe của ảnh để trên cái trấp
da của anh. Lẹ mắt xem qua thì giấy Calcutta, mừng lòng bèn
để hành-lý choán chỗ gần anh ta. Để mắt xem người hành-khách,
phần đông người nước da như Annam, như người nông-phu rẫy
bái bị nắng sậm da vậy. Không phải đen như xả-tri, lại
trên đầu có để một rẻo tóc, nơi giữa xoáy bằng ngón
tay út vậy. Tiếng nói ít đánh lưỡi như xả-tri, nghe dịu
và suông giọng. (Sau mới biết là dân Hindou ở Bắc Ấn-độ.)
8 giờ,
xe xúp-lê lìa Madras. Ngồi gần cửa sổ, dòm ra ngoài hai bên
phố-phường, nhà cửa, đèn đuốc rạng ngời. Lần lần,
vẻ lịch kém bớt, đèn đuốc lờ-mờ, thì biết xe đi khỏi
thành-thị. Trên xe đông đảo ngồi dập-dựa ngủ mòm. Sáng
ra, lúc tới gare thì tôi lấy bình đồng (của Tào-kê cho tôi,
vì tục xứ nầy, đi đường phải có), xuống xe lại fontaine
hứng nước. Đem lên xe rửa mặt, và cho anh trai gần mình
mượn rửa mặt, ấy là sự làm quen trong lúc đi đường.
Anh ta cũng vui lòng tiếp lấy và tỏ ý cám ơn. Từ đây làm
quen với nhau, anh ta hỏi tôi đi đâu, tôi bèn đưa giấy xe
cho anh ta xem. Nhờ đó mới biết, xe nầy tới gare Calcutta thì
đổi qua xe khác. Ở dưới tàu học đặng ba chữ Tamil, nay
đã vô dụng vì người Hindou nói khác. Nên chi, ba ngày trên
xe lửa, tôi hỏi thăm anh nhỏ nầy mà học tiếng Hanh-đu.
Dòm cử chỉ của họ, tập theo thói-tục của họ, không cử
chỉ nào, tôi không lưu-ý và tập theo. Ấy là phận sự người
du-lịch, cần nhất là “Nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy
tục”. Còn sự ăn uống thì cũng dễ, mỗi gare đều có kẻ
buôn bán. Nghe họ kêu đồ mua, tôi cũng để ý từ tiếng
nói, nghe đặng đâu, lật sổ viết vào rồi học cho nhớ.
Ba ngày trên xe, tôi học bộn, khi tới Calcutta thì nói đặng
chút ít.
Từ
Madras đi tới Calcutta trải qua nhiều cái thành thị cũng lớn,
nhơn-dân chỗ nào cũng nhiều. Tôi lấy làm lạ là mỗi gare
nào cũng thấy hành-khách đen-nghẹt. Không biết họ đi đâu
quá vậy, ngày đêm cũng vậy. Tôi đi đâu cũng vậy, mua sẵn
bánh-mì, bỏ vào túi-dết sẵn-sàng, có đến giờ ngọ thì
khỏi lo trễ hụt. Ba ngày không tốn một xu đồ chi cả.
8 giờ
bữa sớm mơi ngày 30 Avril, xe tới gare Kinh-đô Ấn-độ là
Calcutta. Thấy anh trai sửa hành-lý, trắp, rương, mình cũng
y theo lo thu xếp. Xe ngừng, kẻ chen người lấn, phút lạc
anh trai, tôi cứ theo toán người ra cửa. Kiếm một góc chỗ
bình-dân hành-khách, để gói xuống ngồi đó chơi. Để mắt
xem chung-quanh trong gare, rộng lớn hơn gare Madras. Cách sắp
đặt trong gare y một kiểu. Hành khách ra, hành khách vô nượp-nượp.
Tôi quảy gói đi lại hỏi, một người lính gác cửa cổng
: Chừng nào có xe đi Bénarès, anh ta bảo đưa giấy coi. Đoạn
nói : 3 giờ chiều. Tôi cám ơn, chào rồi mang gói đi rảo
trong gare ; ban ngày thấy rõ hơn khi tại gare Madras. Còn sớm,
đi xem lối phố-phường, chung-quanh xóm gare, không dám đi xa,
sợ lạc đường. Sánh với Madras thì còn đẹp hơn bội phần
trăm, không nói đặng cái chỗ nguy-nga lầu-các, phố xá láng
nầy. Nếu có ngày giờ thì vào lối trong nữa, ắt càng thêm
lịch lãm. Thôi, đó để đó, còn ngày sau, lúc ta trở về
cũng không muộn. Trở lại gare đã 11 giờ ngoài, vào kiếm
chỗ ngồi lấy bánh mì ra ăn ngọ. Ăn rồi, đi lại chỗ bán
hình xem và mua vài tấm để làm kỷ-niệm.
Ba
đêm trên xe, ngồi lụn đêm ngày, mỏi mê quá lẽ. Kiếm chỗ
trải mền nằm nghỉ, cũng như kẻ hành khách kia vậy. Không
ngại-ngùng chi cả, màn trời, chiếu đất cửa nhà thầy tu.
Ngủ ngon một giấc, thức dậy thì gần 3 giờ, may không hụt
xe lửa. Thiên hạ đã trình giấy vào cổng rồi. Xếp mền,
mang gói thẳng lại máy nước rửa mặt. Đoạn uống một
bụng rồi đi lại trình giấy, lên xe thì bộ hành đã chật
nứt. Gặp đặng một cái wagon còn dư chỗ ngồi. Ngồi an-ổn,
phút có một anh trai trạc 17, 18 tuổi xách valise lại ngồi
gần tôi. Tôi hỏi ảnh đi đâu, nói đi Delhi. Tôi nghe không
hiểu, sợ trật xe lửa, bèn móc giấy ra hỏi anh ta. Đi Bénarès,
xe nầy phải chăng. Phải, tôi có nói, tôi không biết, mới
đi lần đầu. Anh ta nói, anh ta biết.
3 giờ
rưỡi xe chạy, ngồi dòm ra xem cảnh-vật Kinh-đô Ấn-độ.
Chiều tối, có tốp bộ-hành ở băng gần, xuống xe, tôi bèn
choán đó, trải mền nằm nghỉ. Anh trai nhỏ, nhờ tôi qua
băng kia, nên đặng rộng cũng trải mền ra nằm như tôi. Anh
ta hỏi, ông ở đâu lại ? Tôi nói ở Annam lại. Anh ta không
hiểu, mà mấy người ngồi chung quanh cũng không hiểu. Cùng
nhau chuyện vãn tới khuya mới ngủ.
Khi
tôi thức-giấc, nghe xe ngừng, bộ-hành lao-xao kẻ xuống người
lên. Tôi hỏi anh nhỏ, gare nào ? Ảnh trực nhớ tôi đi Bénarès,
ảnh liền hối tôi đi xuống. Quảy gói lật-đật xuống,
vì xe xúp-lê chạy. Bọn coli chạy lại hỏi rân, tôi nói đi
Bénarès, có một anh coli, giựt gói tôi mà ôm và đem lại
xe đi Bénarès. Trả tiền coli 1 cắc, thì xe cũng xúp-lê chạy.
Tôi nghĩ hết hồn. Nếu chẳng thức giấc, ắt xe kéo đi tít
mù, không biết đâu mà rờ. Có ngờ đâu sự đổi xe, mà
không có người cắt giấy đặng hỏi, nếu chẳng nhờ chú
Hindou nhỏ, ắt rối cho tôi rồi. Chuyến nầy sợ không dám
ngủ, xe-ngừng gare nào cũng hỏi thăm. Phút tới một cái gare
nhỏ, tôi thấy chữ Bénarès Kashi, bèn lấy gói đi xuống,
trong gara thâu giấy. Tôi nói trong bụng rằng : giấy mình đi
Bénarès city, còn gara nầy tên Bénarès Kashi, đó là trật rồi.
Nhưng cũng là Bénarès thì cũng không mất dấu. Bọn đánh
xe thấy bóng bộ-hành, bèn chạy a vào gare hỏi lia, đi đâu
thầy. Tôi nói Bénarès city. Họ biểu xe đi, anh nầy biểu
đưa gói, anh kia kéo áo lăng-xăng, chín mười người. Tôi
còn lưỡng-lự, vì giờ khuya có đi cũng không ích. Đồng
hồ gare gần 3 giờ. Té ra, từ ga Moghal Sarai chỗ đổi xe khi
nãy, là 11 giờ ngoài, lại gare nầy có ít giờ xe lửa. Còn
bọn xe bảo đi, thì định Bénarès Kashi nầy với Bénarès
city là một chỗ mà chia quận chia thành chi đây. Bỗng có
một anh trai, chăn áo trắng-phau, xem cũng bảnh-bao tướng-tá.
Vẹt bọn đánh xe ra, rồi hỏi : Thầy đi đâu ? Tôi đi Bénarès
city. Anh ta bảo tôi theo anh ta. Nói tiếng Hindou : Ao, ao Bà ba
di. Tôi điếc con ráy, không hiểu nói gì. Cẳng bước ra gare
mà trí bất định đi cùng không. Trước gare có nhà trống,
thấy có hành khách nằm liệt-địa, thì trong bụng đã nhất
định ở lại gare chờ sáng sẽ đi. Bèn đi lại một cái
quán nhỏ trước đó, mua một xu thuốc lá và hộp quẹt. Đoạn
móc ra một cắc bạc, đưa ra hỏi anh đánh xe : “Một cắc
đi không. Tôi có một cắc mà thôi.” Mấy ảnh nghe và thấy
cắc bạc bèn bổ ngửa hết. Anh trai kia cũng nhả, tính bề
gặm không nổi, và họ thấy bộ đồ thầy tu họ cũng đã
thèm. Trở vào chỗ nhà trống, trải mền nơi một góc không
gần ai cả, nghỉ mệt và nói thầm rằng : Xứ nào cũng vậy,
bọn coli và đánh xe, phần nhiều là tay vô-lương. Nếu họ
biết mình là khách tha phương, thì họ thường thừa nước
đục. Đây rồi, họ kéo đi lu bù, làm bộ hỏi thăm đầu
nầy đầu kia, kéo cho xa, cho nhiều giờ mà tính tiền cho cố.
Nghỉ đặng vài giờ, 5 giờ thì tên coli gare kêu dậy cho anh
ta quét-tước. Sáng rồi, lại máy nước rửa mặt, đặng
sắm sửa hành-lý đặng vào thành.
Nhập
thành Ba-la-nại (Bénarès)
Mang
gói ra đi, phú mặc cơ-duyên, bần-tăng chỉ vững lòng niệm
Phật đi tới. Cách gare ước bốn trăm năm trăm thước gặp
một cái vòng thành có hai cái cửa lớn, nhưng không khép.
Tôi không biết đi vào cửa nào, niệm Phật rồi cứ thuận
phía mà đi. Ngó tới phía trước, mặt chót lầu đài, chùa
tháp lu-bù mừng quá. Đoạn thấy bên phía đường bên tay
trái có một cái xe bò chở hàng-bông, bèn định chắc xe ấy
đi bán tại chợ. Theo sau xe bò đi tới, không chút ngại ngùng,
để mắt xem hai bên nhà cửa phố xá còn thưa thớt, lớp
cũ lớp mới nhỏ hẹp, thì định còn xa thành phố. Bỗng
đi ngang qua một cái chùa, thấy tháp cao và nhà thiền rộng
rãi, sạch sẽ mà chưa hiểu chùa đạo nào. Sau mới rõ là
chùa đạo Hindou.
Xe
bò sang đường nầy nẻo nọ, phút đụng một cái vòng thành
nữa, xe đi vào cửa, tôi bèn dòm tới trước, thấy cảnh
vườn bông, lại có băng ngồi để theo lối lề đường,
biết chỗ nầy là chỗ thắng cảnh chi đây. Chính giữa có
một cái nhà tròn, có dựng một hình, trông xa-xa đã lộ dạng
thành-thị. Càng đi tới càng đẹp-đẽ phố xá, nhà cửa,
đường qua nẻo lại càng nhiều. Giờ mơi còn sớm, có phố
mở cửa, có phố còn ngủ. Trên đường chưa có kẻ đi, lâu-lâu
gặp một hai người. Chừng xe bò trẽ qua một con đường
nhỏ hẹp, tôi nói trong bụng rằng : mình đi theo đường xứ
lớn tốt hơn. Đoạn đi thẳng không theo xe bò nữa, lần lần
đi tới, người đi đường gặp lần lần đông. Đi ngang một
cái ngã tư, không biết ngã nào phải quấy, cứ đi thẳng
là hay.
Bỗng
thấy một người mặc âu-phục, bên kia đi qua, tôi bèn cầm
thơ sẵn trên tay. Khi người trai nầy lầm lũi đi ngang tới,
tôi bèn nói : “Xin ông làm ơn chỉ giùm cái nhà nầy.” Và
nói và chỉ cái thơ của Ông Ramassamy, phó-hội-trưởng xả-tri
ở Saїgon, ra trước mắt người. Ông ta thấy thơ không niêm,
móc ra coi, nhưng chữ Tamil, ông ta bí-lối. Ông ta thấy y phục
của tôi, cũng đủ biết là người tu-hành. Bèn đưa thơ lại
cho tôi, rồi bảo tôi đi theo. Ông đi thẳng con đường trước
mắt, tôi thấy trên một tấm bảng đề hai chữ Bénarès city,
mừng vì không hẹn mà gặp. Đến một cái đường hẻm, thấy
có một tấm bảng vẽ một cái bàn tay chỉ hai chữ “Bikku
frère”. Tôi mừng quá, đây là chỗ của chư Bí-sô thích-tử,
vậy thì tiện cho mình quá. Tới một cái cửa còn đóng, thầy
âu-phục bèn gõ cửa. Cửa mở, thấy thầy bí-sô, y-vàng đứng
trước mắt, tôi xá, còn thầy âu-phục cũng chào rồi chỉ
tôi trăm lia. Thầy bí-sô mời vào trong, thầy bạch-y kiếu
đi ra. Tôi theo thầy thích-tử vào trong, xem không phải chùa,
mà chỗ ở hẹp hòi quá. Thầy mời tôi ngồi tại ghế nơi
nhà cầu. Giây lâu có một vị Đại-sa-môn bước tới. Tôi
bèn thi lễ. Thầy hỏi tôi ở đâu đến, tôi nói ở Annam
lại. Thầy xem thơ cũng không hiểu, rồi lắc đầu bỏ đi
vào liêu. Tôi thấy tình cảnh lợt-lạt ấy, thì biết mấy
thầy đây không thể giúp và khi nãy nghe thầy bạch-y nói
thầy không biết chỗ chỉ nơi bao thơ. Tôi ngồi một mình
giây lâu, bèn tính sửa soạn y phục lại hẳn-hòi, rồi bước
lại liêu gõ cửa, đi vào xá rối kiếu ra đi. Ra tới đường
lớn, phút gặp một người Hindou vạm-vỡ, tôi thi lễ, trao
thơ xin chỉ giùm. Người coi không hiểu, anh ta nói : “Gần
đây có mấy thầy Birmanie, đi lại đó hỏi thăm” tôi nói
có đi rồi. Anh ta cũng không nghe, bảo tôi đi với ảnh trở
lại mấy thầy Birmanie (nhờ anh nầy, mới biết mấy sư đó
là Bí-sô Birmanie (Miến-điện), vào trăm lia. Anh nầy coi bộ
nóng-nảy, không biết mấy sư nói sao mà ảnh nói lại cách
cự-nự lớn tiếng. Rồi bảo tôi đi theo anh ta, anh ta đem
tôi đến một cái căn phố lớn, không phải nhà buôn, thấy
có trải đệm lu bù. Tôi định là trường tư vì anh trai nầy
dẫn thẳng lại một ông đầu bạc, râu bạc, ngồi tại bàn
viết. Thấy có năm, ba người đứng chung-quanh. Anh ta thi lễ
và trao cái thơ, đoạn trăm với ông ta. Ông xem thơ và hỏi
tôi, ở đâu lại ? Tôi nói Annam, Saїgon. Ông bèn lấy tự-vị
kiếm hai chữ ấy. Kiếm đặng rồi đọc cho mấy người kia
nghe, ai nấy ngó tôi, có vẻ cảm tình. Đoạn ông viết một
miếng giấy, trao cho anh trai nầy. Anh nầy dẫn tôi đi đến
một tiệm bán hàng vải lớn, trao miếng giấy ấy, rồi chuyện-vãn
một hơi, chào ra đi, bảo tôi ở lại. Người trong tiệm mời
tôi ngồi, lại sửa-soạn ăn lót-lòng. Mời tôi ăn, tôi không
dùng và nói đã dùng rồi. Một anh trai trong tiệm ăn rồi,
liền mặc áo, ra mời tôi đi. Theo chưn người, sang đường
nầy, tới nẻo nọ, anh cầm thơ đi hỏi cùng. Phút gặp một
người mặc âu-phục, anh ta kêu chào, rồi đưa thơ. Ông nầy
đọc bon-bon, tôi định chắc là người xứ Madras. Ông ta xem
rồi, chỉ đường cho anh trai đi. Vòng quanh phường-phố, phút
tới chỗ bến xe ngựa, có cái đường hẻm, đầu đường
hẻm ấy có cái nhà lầu. Anh ta đến đó, thấy tấm bảng
đồng khắc chữ lớn “Nagara Chatram”, tôi thấy rất mừng.
Đoạn bước lên tam cấp, thì có một gã trai, mang bảng đồng
nơi cánh tay, chào rồi anh trai đi cùng tôi, trăm lia. Dẫn vào,
lên lầu ra mắt chủ nhà. Ông xem thơ rồi, chào mừng mời
ngồi nơi đệm. Hai đàng chủ khách chuyện-vãn, rồi anh trai
kiếu về. Ông chủ vui cười và hỏi tôi mới tới sao ? Tôi
nói mới tới. Đoạn đích thân ông mời tôi đi xuống lầu,
chỉ phòng bảo tôi tự ý muốn ở phòng nào cũng đặng. Đoạn
ông bảo coli trong nhà quét phòng trong có cái giường mặc
dây luột (thằng-sàng). Tôi để đồ hành lý rồi nói cám
ơn ông chủ. Ông chào tôi rồi trở lên lầu, thì tôi mới
lo sắp đặt hành lý, đặng lo ăn ngọ, vì lúc lên tới lầu
ra mắt ông chủ, thấy đồng hồ đã 11 giờ rưỡi. Mình vừa
sửa soạn an-ổn, thì có người bưng cơm và cà-ri dưng, lại
có một thố lạc (sữa chua). Cám ơn ông chủ có lòng hậu
đãi, ngồi dưới nền xi-măng (tục của họ vậy), bốc cơm
ăn. Ăn rồi, khép cửa liêu nghỉ một chập. Khi thức dậy,
bèn đem bạc lên lầu gởi cho ông chủ. Ông đếm 250 rupi,
ông cho một cuốn sổ nhận gởi số tiền và nói : Chừng
nào ông cần dùng bạc thì đem cuốn sổ nầy lại. Đoạn
bây giờ tôi mới để mắt xem qua chỗ ở và biết cũng là
nhà hội, nhưng thi thế hội nầy giàu hơn hội ở Madras. Có
một cảnh chùa tư ở gần bên hông nhà hội. Ông chủ còn
nhỏ trạc ba mươi ngoài tuổi, vui-vẻ. Dưới tay ông có nhiều
người phụ-tá biên chép và nhiều kẻ tôi tớ. Tuy tôi nói
nhà hội cho vay, nhưng tôi e không phải, vì ông có vợ con
ở chung. Tôi định là nhà tư-bản, chớ không phải hội-hàm.
Ngó đồng hồ 3 giờ rưỡi, tôi bèn kiếu ông mà xuống liêu.
Bây giờ thấy rõ, hai dãy liêu, mỗi bên tám cái, chính giữa
có một cái sân tráng xi-măng và một cái máy nước có hồ
chứa nước. Ấy là nơi tắm giặt, chớ không phải sân hóng
mát. Có hai ông sư Hindou ở hai cái liêu, còn bao nhiêu trống.
Có một người Madras làm từ chùa, cũng ở liêu trước liêu
của tôi. Từ đây tôi an ổn nương ngụ trong chùa Hindou nầy.
Làm quen mấy ông sư kia, ai nấy cũng vui-vẻ.
Hai
tuần lễ tại chùa Ngoại-đạo
Phép
làm người tu-hành trong đạo Phật, sở-dĩ là tùy-thuận,
nhẫn-nhục, là cái bài học cần yếu của nhà Thích-tử.
Nên chi, nhờ đó mà lướt qua và thắng đặng, mọi điều
khó-khăn, chướng-ngại trên con đường của mình. Ngày nay,
31 Avril, đã để cẳng vào cái thành, mà ngàn xưa kia, đức
Thế-tôn sơ-chuyển pháp-luân (mở đạo đầu tiên), độ năm
thầy đều đắc La-hán quả. Tính lại trọn 15 ngày, từ ngày
17 Avril để cẳng xuống tàu, nay mới tới chỗ ước-mơ. Thì
có lẽ cái nguyện sẽ đạt thành từ đây. Chiều 5 giờ,
thì nghe trống, chuông, kèn inh-ỏi tại chùa, lại thấy mấy
sư Hindou đều ra liêu khóa cửa, mà đi lại chùa kế liêu
vài chục bước. Tôi cũng sửa chăn, phủ choàng, bước ra
khóa cửa theo chưn họ. Bước vào chùa, thấy hai sư kia đứng
trước đại-điện, gần một nền vuông ba thước, trên có
xây một cái bàn toàn bằng cẩm-thạch. Trên bàn có một con
bò nằm (bò bằng đá) chong đầu vô đại-điện. Tôi cũng
lại đứng theo hai sư đó, và người trong nhà ba bốn người.
Tùy hỉ ở trần hay bận áo cũng đặng, hoặc mang một tấm
chăn. Thấy ông từ theo hầu một Ông sư-trưởng, tuổi lối
sáu mươi, để râu mép, ở trần, đeo một sợi niệt choàng
từ vai tả qua nách hữu. Ông sư đây, cúng tại đại-điện
trước, ông từ đứng trao cho ông theo thứ lớp, đèn, hương
và đồ từ-khí theo lễ nghi. Mình mới tới từ trưa tới
giờ, nên chưa dám tọc-mạch, quan-sát. Cúng giáp vòng mấy
bàn rồi, tới cúng cơm cà-ri tại bàn cẩm-thạch, chỗ con
bò nằm đó, thì rồi việc. Đoạn ông sư-lễ mới bưng cái
mâm thau, trên có tro phân-bò và son, tại đại-điện bước
ra, thì hai thầy Hindou lại gần sư-lễ thọ tro và son. Ba ngón
tay chấm vào tro, mà quẹt ba phệt lên trán và son thì chấm
một điểm, tại khoảng giữa hai đầu chơn mày. Tôi cũng
bắt chước y vậy thì coi bộ ai nấy đều vui mà ngó tôi.
Trong một giờ là rồi việc, ai nấy đều ra. Thấy sư-lễ
đi thẳng ra về, tôi không biết ở đâu. (Mỗi bữa ông lại
cúng chứ không ở chùa nầy.)
Đoạn
7 giờ, các sư đi thọ-thực, tôi từ kiếu không ăn và nói
: tôi ăn ngọ. Tôi bèn thả thẳng ra trước nhà, đặng xem
sơ cái cảnh tối chốn nầy. Không dám đi xa, hay quẹo ngã
nào cả. Ra tới bến xe ngựa, rồi đứng nhắm hướng cho
nhớ chỗ. Ngó thẳng trước mắt, thấy đèn đuốc sáng rỡ
đầu đường, thiên-hạ đông-đảo thấp-thoáng lại qua. Định
lại đó, lần đi tới, cách bến xe ngựa chừng ít trăm thước,
gặp chỗ chợ hôm, phố-phường sáng rỡ ; ngoài lề đường
buôn bán cũng đông. Thấy có mấy ông thầy đạo Hindou, Bà-la-môn
lên xuống, người nào cũng đầy bát, những vật cúng dường.
Tôi nói thầm rằng : “Mấy thầy chắc đi về chùa, đặng
đi độ buổi chiều vì đồ bố-thí đã đầy bình-bát. Tiếc
thay, ta chưa dám theo họ, vì mình mới tới, chưa quen thuộc
đường xá. Thôi, bữa ban đầu mà thấy bao nhiêu đây là
đủ, trở về, kẻo ở chùa không biết ta đi đâu. Mới một
con đường mà phong-cảnh thị-tứ của thành Ba-la-nại mà
đẹp-đẽ, thạnh-mậu dường ấy, thì cả châu-thành nầy
chưa phải thua Madras. Nhưng, nghĩ vì mình là người tu-hành,
không phải đến đây, đặng xem phong cảnh nhơn-gian, chỉ
quyết xem tình-hình Phật-đạo và ngoại-đạo, chỗ thạnh-suy,
trong thời kỳ Tam-thiên nhứt hiện, nó đã gần kề. Trở
về chỗ ngụ, vào liêu khép cửa nằm nghỉ. Khuya thức giấc,
đi tiểu, thì đi ngang qua cửa vô nhà trù phòng, trên có treo
đồng hồ. Thấy đã quá giờ tý, khi vào liêu, đứng lại
hồ nước rửa mặt, súc miệng xong-xuôi, vô ngồi thiền.
Từ
khi bước cẳng ra đi, không đêm nào mà ý loạn, hình sầu
như đêm nay. Ngoài thân, trong tâm, phút tán-loạn, đến đỗi
trong một đời của tôi, chưa đặng thấy cái cảnh-trạng
tự thân-tâm, nó biến hiện như đêm nay. Tôi ngồi kiết-già
vừa rồi, thì nước mắt không khổ-khốc kia liền rơi, phút
đổ như gáo lủng nước sa. Chan-hòa một cách lạ-lùng, dường
khi khốc,(13) hai thân tỵ-thế(14) thì cũng chưa tày. Hai bàn
tay kiết ấn nơi đơn điền, ngửa ra mà hứng tràn trề. Muốn
nín-dứt hột lụy, lấy hết trí lực cũng không ngăn cái
mạch không thảm, không đau, không tủi kia, mà tự nhiên trào-phúng.
Tôi thấy điều hy-hữu ấy, thì cũng điềm-nhiên để tự
xem, cái cảnh ngoại làm đi gì. Chừng môi mếu, ngực tủi,
tôi rán sức cản đó không đặng. Phút lại nghe trong tôi,
dường có ai than thở. Trí ý tôi dường có vẻ khó chịu,
bấn-loạn, đảo-điên, cái nhớ mà không biết nhớ chi, cái
thương mà không biết thương chi, cái thảm đạm tức-tủi,
mà cũng không biết sầu-bức, tức-tủi về cái hoàn cảnh
nào. Sự xảy qua ước có 15 phút, lần hồi tôi điều đình
đặng cái giọt phiền não vô nhân kia. Tôi bèn quay qua cái
buồn-bã không nguồn nọ, tôi lấy cái trí-lực mà vấn thửa
cái ý rằng. Nay đã đặng vào tận nơi, cuộc địa mà ngàn
xưa Phật-tổ đã để dấu chơn, thì chí Thích-tử không còn
chi là chẳng phỉ nguyện ; khác nào con trẻ chơi xa, trở về
nhà thấy đặng mẹ, a vào mình mẹ, vui vẻ không cùng. Do
cớ sao đổ lụy, âu sầu, làm tuồng hèn yếu như vậy ? Ta
nghĩ rất hổ thẹn mà trông thấy cái nết tánh bạc-nhược
ấy của ngươi. Tôi nghe dường có tiếng trả lời, trong cái
đầu óc kia rằng : “Trong cơn loan-phụng hòa-hài, của tiền
sự nghiệp trong tay sẵn-sàng.” Tôi nghe qua dường đã hết
hồn xả kiết già chỗi dậy, đi ra hồ rửa mặt, trở vào
lấy một điếu thuốc lá hút. Đoạn nghe gõ một giờ, vô
liêu ngồi lại, khoanh tay nơi đầu gối mà tưởng rằng :
“Bấy lâu ngỡ tắt rồi mãnh-hỏa, nào ngờ đâu không rơm-rạ
cũng phát cháy bừng. Hết khoe tài Thích-tử, bấy lâu tưởng
thắng đó rồi. Bấy lâu có ý kiêu-căng ngỡ mình đặng thức-vong,
ý-diệt ; nay chan-nhản, hở-hang hết sức. Tôi bèn vận trí
mà phá tan nội ma. Từ đây tôi mới biết, cái nghiệp thức
của tôi còn núp trong, nên chi tôi không ngớt chống chỏi
và nguyện không trở về Nam-việt nếu tôi không trọn thắng
nó.” Đoạn nằm nghỉ, êm ả như thường.
Năm
giờ sáng, trống, chuông, kèn inh ỏi, chùa đã công phu. Tôi
đắp choàng lên chùa, thì cũng thấy sự cúng dường y như
hồi chiều hôm qua. Tôi thấy các sư lạy, thì tôi cũng lạy
bàn chánh mà đứng niệm vái : “Nam-mô Trung thiên giáo chủ,
thiên bá ức hóa thân Thích-ca-mưu-ni phật.” Đoạn và lạy
và quán Thế-tôn tùy thuận chúng-sanh, hóa thân chưởng chưởng
hình ngoại-đạo chư thiên mà độ chúng sanh. Lạy rồi tôi
thọ tro và son như mấy người kia. Buổi sớm mơi nầy, cả
thảy trong nhà nam-nữ lớn nhỏ đều thọ tro, son. Ấy là
đạo Thủ-la-hê-thiên tam-mục đó.
Điểm
tâm rồi, đi dạo cảnh, đem sổ nhựt-ký theo đặng biên.
Tôi cũng đi con đường hồi hôm. Qua khỏi chỗ bến xe ngựa
chừng vài trăm thước, có một cái đường hẻm, hai bên có
buôn bán đông đảo, đường thì nhỏ, bề ngang chừng ba thước
; mà thiên hạ chen nhau đi. Mỗi người có bông-hoa, lễ-vật
bưng đi, thì tôi định ở trong ấy có chùa. Nhưng tôi cũng
đi thẳng, vì đi một con đường cho dễ nhớ. Tới khoảng
chợ đêm, mới coi lại : chính giữa là chỗ dựng hình một
vị danh hiền trong nước. Chung quanh có bồn-bông, có băng
ngồi, xẻ đường, phân nẻo ở trong vùng rào sắt ấy. Đã
có người dạo cảnh ở trong đó đông đảo. Còn vòng theo
ngoài rào có xây thềm cẩn đá, thiên hạ ngồi quanh đó buôn
bán đủ thứ, nhưng thưa hơn ban đêm. Cứ men men đi tới,
phút thấy mé sông, tới đầu đường có cái tam cấp xuống
bến. Tới đây, người ta đen nghẹt, tăng, tục, nữ, nam,
già, trẻ, xuống lên không ngớt. Kẻ buôn, người bán, hai
bên lề đường ngồi chật tới đầu đường chỗ tam cấp.
Còn ở xa ngỡ là hết, vì thấy sông trước đó, ngờ đâu
đi tới bực-thạch tam cấp, thấy dưới mé sông còn rộng
và hẳm xuống sâu, thiên hạ trạc-hà. Thấy tấm bản đề
“Gange Ghat”. Mừng đặng biết sông Linh (hằng-hà). Xuống
tam cấp, chen cùng họ, xem đầu nầy, coi chỗ nọ, nhất là
tôi ham quan-sát mấy chỗ của những thầy tu ngoại-đạo ngồi.
Họ che cái giại hay cặm cây dù lớn mà ngồi, có đủ đồ,
nào hình tượng, lư hương, son, phấn tro. Mỗi cây dù và mỗi
cái giại là mỗi ông sư ngoại-đạo ngồi, đặng tiếp bổn-đạo
nào đi cầu nước Sông-linh. Trước khi xuống múc nước, hoặc
tắm, thì bổn-đạo nào tìm thầy đạo nấy mà xin phép và
lễ hình-tượng đạo-giáo-chủ, rồi mới đặng xuống múc
nước hoặc tắm. Mỗi đạo khác nhau, chỉ dòm hình trạng
ông thầy tùy cái biểu hiệu vẽ nơi trán, tay hoặc có dấu
riêng vật dụng ; như tích-trượng, chuỗi đeo cổ cùng hình
tượng thờ. Khi múc nước hay tắm rồi thì lên thọ phép
của thầy, hoặc phết tro, hoặc điểm son, hoặc cột niệt,
đeo bùa, học chú, cầu kinh nguyện. Đoạn cúng ít xu, hột
nổ, bánh trái, bông hoa rồi mới về. Kẻ múc nước, thì
cũng dâng lễ vật rồi, thầy họa phù trong nước rồi đem
đi về, nội nhà dùng, gọi là hạnh-phúc. Tôi đi dài theo
đó mà quan-sát, đoạn vào chùa xem họ đi cúng, không chỗ
nào là không để mắt. Lối mười giờ, nắng lung, tăng, tục
lần lần thưa-thớt tôi mới đi về chỗ ngụ. Mấy sư ở
chùa thấy tôi về, hỏi tôi đi đâu ? Tôi nói : Đi sông Hằng.
Họ vui cười và nói, chiều đi vui lắm. Bữa nay tôi đi lại
trù-phòng ăn ngọ, tôi có nói với ông-từ vì tôi không muốn
họ bưng lại liêu mất công. Khi tôi theo chưn hai ông sư đặng
đến trù phòng, tôi thấy người ta nam, nữ, già, trẻ ở
trong cửa nhà ăn đi ra. Mỗi người ra cửa, đi ngang qua một
người, ngồi nơi sàng trước cửa ấy, bỏ một đồng xu
thì lấy một miếng trầu. Hai sư và tôi đứng đó, chờ cho
họ ra hết mới vô cửa. Một mâm trầu têm đã hết, một
đống xu ước có ba bốn trăm. Tôi hỏi ông sư già những
người ấy làm cái gì đông vậy ? Ông rằng : họ đi ăn cơm
của ông chủ bố thí. Vô tới nhà ăn, thì tôi thấy phía
trước, chỗ hai sư và tôi ngồi ăn đây, là một khoảng rộng
lớn trọn luôn bốn căn, tráng xi-măng. Thấy bỏ lá chầm
ăn cơm lai láng, thì biết những người khi nãy đi vào cửa
trước thọ thí-thực, rồi ra cửa sau mua trầu. Tôi để ý
lắm, sau sẽ hỏi lại. Ăn ngọ rồi trở về liêu, tôi hỏi
ông sư-già. Sao ông-chủ cho người ta ăn cơm mà không cho trầu
lại bán. Ông nói : cái trầu đó là có ý coi đặng mấy xu,
cho biết có mấy người ăn cơm. Tôi nghe qua liền hiểu ý,
vào liêu nghỉ trưa và nói trong bụng rằng : Người chủ nầy
bố thí như thế thì hậu thế còn giàu to nữa, rồi bố thí
nữa. Không biết ngày nào hết giàu hết bố thí… phút ngủ
quên. Chiều lúc chùa công phu thì tôi vào chùa giây lát rồi
trở ra đi thẳng xuống mé sông. Quả thiệt, người ta đã
là đông rồi. Một đám con buôn lo bày hàng ra, kẻ bán đồ
ăn, người bán vải, hàng cùng đồ vật-dụng không thiếu.
Chiều có ý đông hơn sớm mơi. Có hát chập, có thầy bói,
có bóng, thầy pháp. Tôi lại xem một ông thầy pháp đang cúng
hà-bá cho một người bịnh. Có bông hình, có tàu, có hũ đựng
gạo bày bố trên mé. Thầy hò hét cúng quảy rồi đem hình,
tàu, hũ, bông (cùng nhiều cái tôi không biết đặt tên là
chi) mà thả xuống sông. Tôi thả rểu cùng bến cho tới 8
giờ tôi mới về nghỉ.
Từ
đây tôi hay đi các bến, gặp nhiều sự lạ của chư sư ngoại-đạo,
họ lo tu tập lối ép xác. Bấy lâu thấy trong kinh nói chớ
không thấy chán-chường, nay đặng tợ mắt thì tôi cũng lấy
làm đau lòng mà thấy họ hành hài cái thân của họ. Họ
làm vậy ngỡ là đặng hạnh-phúc giải-thoát. Mà họ không
ngờ là họ phá cái sở-tạo, mà họ dung-túng cái năng-tạo.
Một
bữa mơi kia, tôi gặp một vị Du-già-sư kéo một bó xương
rồng thứ gai-lưỡi-ông, đem lại bến Das-sasumedh (hình trước
đó),(17) sắp như tấm ván, rồi nằm ngửa trên gai. Trần
truồng, chỉ một rẻo vải đậy chỗ kín, chịu cái nắng
lúc tháng tư nầy ở chốn Tây-thiên. Kẻ qua, người lại
cho xu thì ném trên bụng, trên ngực. Từ mơi tới trưa, hết
người ta rồi mới dậy. Tôi lại thấy những thầy Phá-kích
đi guốc thì đóng đinh ló trên mặt guốc một hai phân tây.
Ôi thôi, biết bao điều lạ thường. Tôi lại thấy đặng
trong ngày khác tại bến Manikanika, những sư ngoại-đạo trồng
chuối ngược, đứng một cẳng. Mà cách trồng chuối ngược
là khó chịu nhất, nhưng họ cũng rán, đặng lấy tiền bố
thí. Tôi hay để ý, là họ hay làm các cách ép xác nơi các
bến, vì nơi ấy đông người vãng lai. Họ, nay ở bến nầy,
mai đi bến kia, chớ không ở một bến. Họ hay làm nghịch
với thời tiết ; như lúc mùa nắng nực, họ lại rán ép
mình mà đởm cự với cái nắng cái nực. Còn tháng lập đông,
thì họ lại xuống sông mà ngồi, chỉ ló cái đầu lên thôi.
Có kẻ ngồi tới cả tuần, cả tháng, có kẻ lại trần truồng,
nằm ngủ ngoài sân, ngoài đồng trong lúc ban đêm mà cự với
sự lạnh. Trời Tây-thiên, lúc mùa nắng như lửa đốt. Đi
trên đường lối 50 thước thì phồng cẳng, mà họ trần
truồng đứng ngoài nắng. Còn có kẻ lại nhúm lửa giữa
trời nắng mà nằm, hoặc ngồi gần đó. Sự tu tập của
ngoại-đạo nói không cùng. Trong kinh nói kê giới là đứng
một cẳng, còn bây giờ nó bày đặt trồng chuối ngược,
ngồi dưới nước, chôn mình dưới cát thì không biết giới
chi. Như cẩu giới thì có kẻ tu hành ngoại-đạo kia, không
chịu thọ thí thực của ai cả. Chỉ đi theo lối chợ búa
lượm đồ bỏ, rớt mà ăn. Có kẻ thấy mấy ổng thì lấy
đồ ăn đương bán mà quăng xuống đất, họ lượm họ ăn.
Bằng cho trên tay không lấy. Thấy vậy rất đau lòng giùm
cho ngoại-đạo thủ giới nhiều cách lạ lùng và ép bức
thân thể quá lẽ.
[Hình
dán tại đây đã hư.]
Một
buổi mơi kia, tôi đến bến Assi (hình trên đây), tôi gặp
đám thiêu xác. Tử thi để nằm trên hai cây đòn ép bằng
tre, trước sân chùa, có một ông sư tụng kinh một chập.
Đoạn bốn người lại khiêng tử thi đem xuống sông-linh.
Thầy tụng kinh làm lễ tẩy trần, tiêu tội, nhúng thây ấy
ba lần dưới nước. Xong rồi khiêng lên để trên đống củi,
đã chất sẵn nơi sân bến. Họ sắp củi gộc ở dưới,
củi đòn ở trên, lớp ngang lớp dọc cao chừng một thước
tây. Củi nhỏ hơn hết là bằng bắp cẳng, chớ không có
củi nhỏ, hoặc chà, hoặc bổi. Thầy tụng kinh làm lễ thiêu,
thì chủ tang bày đồ cúng trước đó. Nào cơm, bánh, nị,
dầu, nước sông-linh, thầy cúng rồi thì dầu, nị thì họ
chế trên củi gộc. Kế đó bà con thân tộc ai cũng có cũng
ít nhiều dầu, nị đều chế trên củi. Thầy cầm đuốc
châm vào đèn cháy đều rồi, thì đút cây đuốc trên lớp
củi gộc. Tôi sợ sẽ cháy thây thì khét, nên đi ra xa đứng
xem. Nị, dầu bắt lửa cháy, thì trong năm phút đã cháy đều.
Ban đầu tôi nói trong trí tôi : củi mà cháy đặng cũng nửa
giờ. Không ngờ cháy mau quá, lửa phủ cháy vải bó thây,
lần lần cháy tới thịt. Tôi không nghe hôi, khét chi hết,
mà cũng không thấy tử thi cong tay, uynh chưn chi cả. Tôi bèn
thả rểu chỗ khác đặng xem, bởi nhiều bến và nhiều chùa
lắm. Ở theo mé sông Hằng, không xóm nào là không có bến,
nên mỗi xóm, mỗi bến. Mỗi bến năm bảy cái chùa lớn,
nhỏ. Bởi nhơn-dân tín-ngưỡng sông-linh đó lắm, sống thì
đặng nước linh ấy làm cho mát mẻ thân tâm, kham chịu phiền
não. Chết lại nhờ nước linh ấy tẩy sạch trần duyên,
tiêu trôi nghiệp cảm. Vậy mới kêu là sông-Linh, vậy nên,
chư sư ngoại-đạo, mới nhờ đó mà nuôi thân, như bầy con
nhờ vú mẹ. Còn nhà chùa cũng nhờ đó mà đặng nền cao,
cột lớn. Chùa nào cũng có huê lợi hằng ngày, lớp lời
trong những món lễ vật bán cho đàn-na đem vào chùa dưng cúng,
lớp đồng tiền dưng cúng. Chùa nào, ở trước cửa vào chùa,
cũng có nhà trữ bán đủ vật, hương, đăng, hoa, quả. Còn
kẻ ngoài đến bán, cũng đem lại đó mà giao cho chùa bán.
Còn ai buôn bán món khác nơi bến, thì cũng có cúng chút ít
số lời cho chùa. Vậy nên nhà chùa ngoại-đạo xứ nầy giàu
lắm.
Đây
là một cái bến chụp nhỏ,
xem
trọn nhiều nóc tháp chùa.
Cho
đến những ghe tàu để du thủy, để lập đàn cúng tế thủy
phủ, thần long, thì nhà chùa cũng có huê lợi ở trong. Ngày
nào cũng nượp-nượp ngày nấy. Không lựa rằm ngươn chi
cả, lòng người không nguội lạnh chỗ tín-ngưỡng. Số dân
Ấn-độ ba trăm ngoài triệu người, chia nhau thờ đủ. Đạo
trời thì từ cõi trời Kiên-thủ-thiên lên tới Phi-phi-tưởng-thiên,
không cõi nào là không có. Còn tạp đạo cõi trần là khác.
Nào Đạo thần : sơn-thần, thọ thần, hỏa thần, thủy thần.
Đạo quỉ : La-sát, quỉ xà, ngưu ma, yêu tượng, quỉ điểu,
chằng tinh v.v… đều có người tín ngưỡng, tùy hỉ trình
độ. Kể sao cho hết, sơ lược chút ít. Trải ba năm quan-sát,
một mặt, một sự thuần nghề nghiên-cứu, thì sự chi thuộc
về đạo Phật và ngoại-đạo, tôi không bỏ qua. Thế thì,
ba năm đăng đẳng, biết bao chỗ mắt thấy với tai nghe thì
chẳng phải ít. Huống chi trên một khoản giấy cỏn con mà
viết thuật sao cho hết. Đất Thiên-trước là ổ ngoại-đạo,
là nguồn cội ngoại-đạo. Hoàn cầu nầy, các thứ đạo
cũng do đó mà đem ra. Ngàn xưa Phật tổ hiện sanh nơi đó,
đem chánh pháp mà phục tà-pháp, mà còn chưa hết, đến nay
cũng còn tràn đồng. Thế thường chẳng lạ, lúa ít, cỏ
nhiều, vật hữu ích thì kém, vật vô dụng lại thặng số.
Lúa thì có mùa, cỏ lại đặng cái tư-niên.
Đây
là cảnh chùa Ngoại-đạo cận mé sông-linh.
Thấy
cái thạnh hành của ngoại-đạo nơi chốn Tây càn mà chán
ngán cho đồng tiền của bổn đạo, vì lòng tín ngưỡng tuôn
ra mà lập cảnh hưng tà trục chánh, giúp ma đuổi Phật, trợ
ám, phế-minh. Đã trải qua một tuần lễ rồi, kiếm không
ra chùa Phật-đạo, lòng áo-não tràn-trề. Dưới sông, trên
bờ, ngoài xóm, trong thành-thị, không một nơi đâu mà có
thấp thoáng cái tháp tự cùng tràng-phan phướn cái của nhà
Phật. Lòng thích-tử trong bộ đồ ngoại-đạo nầy, có ngậm-ngùi
cho chăng. Toại kệ rằng :
Trong
vùng ngoại-đạo cõi Tây-thiên,
Thích-tử
vào ra, luống ngậm phiền.
Nguồn
cội nỡ quên, vùi Phật Tánh,
Xuống
lên ba cõi, nghiệp không yên.
Tại
Bénarès nầy toàn là giống dân Hindou, gặp đời mạt pháp
nhưng lòng dân thuần-hậu. Chỉ có đạo Hồi-hồi, nơi xứ
Arabe đem qua, hay sanh sự với các chi đạo kia. Chớ các đạo
trong Trung-thiên Ấn-độ, thì không kích bác nhau. Đạo nào
nấy giữ, êm đềm lo làm phước thiện mà kiếm quả nhơn-thiên.
Chỉ một mình đạo Hồi-hồi ưa gây nghiệp Tu-la tranh-đấu,
nghịch với cả thảy đạo.
Như
chỗ tôi nương-ngụ, người chủ nhà bố thí cơm cho dân nghèo,
mỗi ngày ăn ba bốn trăm người, mà tôi ở nửa tháng tại
đó cũng thấy vậy hoài. Tôi hỏi ông từ, cho ăn vậy bao
lâu ? Ông ta nói mỗi năm ba tháng, còn ngày Tết lại cho quần
áo nữa.
Thấy
cái nhà của ổng mà có mười sáu cái liêu, để rước thầy
du phương thì biết, cái lòng ham phước-thiện của người
cõi Tây-phương là thế nào. Còn sự ham bố-thí cúng dường
cho nhà chùa, hoặc làm chùa hoặc in kinh, hoặc nuôi chư sư
ngoại-đạo thì nói không nổi.
Đây
là cảnh chùa toàn bằng đá núi chạm trổ.
Như
cảnh chùa trên đây thì cái kỹ nghệ của dân Hindou rất
mỹ-lệ. Tôi có xem Đế-thiên, Đế-thích xứ Nam-vang cũng
không sánh kịp. Đồ sộ một cảnh chùa như thế thì cũng
của tiền của đàn-na, tín-thí. Hỏi lại xứ ta có cảnh
tự nào như thế chăng ? Thì biết lòng người xứ Ấn-độ,
đối với Đạo là thế nào. Tôi nghĩ như thế, nên nói trong
trí rằng : Tà-đạo, giáo-pháp chưa minh chánh mà lòng người
còn đối như thế. Hà huống là chánh-đạo thì lòng dân ắt
phải kính ngưỡng.
Đây
cũng là cảnh chùa ở trên mé sông-linh,
chẳng
phải lầu-các thế-tục đâu.
Tôi
thấy cảnh ngoại-đạo như thế thì tôi chắc ý rằng sẽ
thấy cảnh chánh đạo, tuy vân(2) tôi kiếm trong vùng nầy,
không có chùa Phật. Như cảnh chùa trên đây, đừng thấy
đồ sộ từng cấp mà ngỡ là phố lầu, đó là nhà chùa
đạo Hindou, toàn cả một dãy đó.
Một
buổi chiều kia, sau khi công phu chiều, tôi thấy mỗi ngày
tại nhà ông-chủ, hễ tối lối 6 giờ rưỡi, thì người
nhà khiêng sữa bò sống, khiêng thùng, cầm đuốc bằng đồng,
đi cúng dường ở đâu tôi không biết mà kéo cả tốp đi.
Tôi có ý tọc mạch, rán học mấy câu như sau đây đặng
nhập với họ mà đi cho biết.
Trước
khi đi thì đứng trước cửa chùa, một hàng dài. Có một
người cầm đuốc, cán đồng chạm khéo lắm, hô như vầy
: Vissounate cavasté doudhe giatahê. Đoạn mấy người đứng sắp
dài theo đó, bèn nói rập với nhau như vầy : Vissounate fouilla
cavasté doudhe giatahê. Rồi đó người cầm đuốc và ai nấy
đồng nói : Civa, civa, Sampo, sampo, Mahađêu. Như vậy ba lần
thì khiêng đồ đi theo ông cầm đuốc. Đi dọc đường cũng
nói ba tiếng sau đó.
Té
ra đi tới cái đường hẻm đông đảo, mà tôi đã ngó thấy,
khi tôi đi xuống sông-linh lần thứ nhất đó. Họ quẹo vào,
đi đến một cảnh chùa rất lớn mà cúng dường. Nơi giữa
đại-điện có một cái hồ nước, chính giữa hồ có một
cục đá. Tôi xem kỹ, hồ xây hình như cái mặt dưới của
một cối đá xay bột vậy. Còn chính giữa có cục đá lồi
lên cao đó, như cái ngõng cối vậy. Họ kêu là Vissounate.
Đoạn người nhà mở thùng rương ra, lấy cái nón bằng cái
ô, toàn bằng vàng, trao cho ông thầy ngồi kề miệng hồ.
Ông lấy, bèn đội trên cái ngõng đá, rồi lấy bông hoa đá
xỏ vào dây, như dây chuyền, tốt đẹp lắm, máng vào ngõng
đá. Ông thầy sửa soạn một hơi, thì thấy cái ngõng đá
ấy thành ra một cái hình người. Hia vàng, áo bạc, mão vàng,
hai tay cầm bông sen. Xong xuôi, ông thầy mới đọc kinh cúng.
Ông chủ bèn dưng đồ cúng trong chén vàng, dĩa vàng, ly vàng,
kế đổ hết một đấu sữa xuống hồ nước ấy. Cái đấu
nầy bằng bạc, chứa hai thùng thiếc nước mới đầy. Chung
quanh chánh điện có phòng, có giường ngủ, trải gấm, gối
thêu cước vàng chỉ bạc. Cúng rồi thì thâu đồ, bỏ lại
rương như cũ. Ông chủ bảo tôi đi xem chùa, hình tượng nhiều
quá, thiên hạ đến cúng chật nứt. Phần nhiều là hình dưới
đây, điện nào cũng có, chùa nào cũng thờ. Thiên hạ kính
ngưỡng lung hơn.
Giống
hình Phật Mẫu Chuẩn Đề.
Khi
cúng rồi, mấy anh em bèn dẫn tôi đi trở về chỗ ngụ. Họ
khiêng thùng rương, đấu và các vật khác đem về. Tôi hỏi
ông sư già rằng : Những đồ cúng ấy không phải cúng luôn
cho chùa sao ? Ông nói : Ai sắm nấy dùng trong lễ cúng. Còn
hàng bình-dân họ mua đồ bằng giấy (đồ mã bông bằng giấy),
ly, chén, bằng đất, họ dùng trong lễ cúng. Về đến nhà
ngụ là 11 giờ rưỡi khuya.
Đây
là cảnh chùa Ngoại-đạo.
Một
bữa kia tôi đi dạo cùng thành thị, xem cảnh vật ngoài đời
cho biết, vì cả tuần nay, tôi mắc theo các cảnh chùa Ngoại-đạo
đặng xem tình hình của họ. Rảo xem phường-phố, dinh-thự,
lầu-đài thì không thấy nóc nhà nào cất ngói cả. Phố xá,
nhà-cửa, lầu-các dinh-dãy, đều cất nóc bằng. Tôi bèn nghĩ
suy nói trong bụng.
Phải
lắm, nếu cất nhà có nóc, ngói như xứ của mình thì chịu
sao nổi sự nóng-nực trong lúc tháng ba, tháng tư âm-lịch
nầy. Nếu không làm nóc bằng, đúc xi-măng sạn đôi ba tấc,
thì sự nóng mặt trời nó xuyên qua như chơi. Như tôi ở tại
liêu nhà ngụ đây, ở dưới tầng nền, trên một cái lầu
nữa, mà sự nóng nực còn bằng ba, bốn lần nóng hơn xứ
mình. Mỗi ngày tắm ba lần, trưa, chiều và khuya. Ngày uống
nước ba bốn bình gù lệt (mỗi bình hai litres nước). Thành
thị Ba-la-nại tốt đẹp hơn Madras nhiều lắm. Phần đông
số là nhà chùa của ngoại-đạo, làm cho cái thành Ba-la-nại
đặng nguy nga và sạch sẽ hơn Madras. Các nơi bán đồ ăn,
thì tôi thấy tiệm nào cũng bán cà-ri hàng bông, nhiều thứ
bánh mứt. Tôi để ý xem, mà không thấy nơi nào, bán đồ
mạng-vật. Tôi lấy làm lạ, mà nói trong bụng rằng : Không
lẽ nào toàn nhơn-dân ăn đồ hàng bông. Còn người dân Ăng-lê
ở đây và quân lính, cùng người ngoại quốc đến làm ăn
trong xứ thì cũng vậy hay sao ? Không lý nào. Tôi để ý đó
lắm, vì muốn rõ biết. Nhưng ngày nào cũng đi mà ngày nào
cũng không gặp. Tôi muốn hỏi thăm ông sư già, song tôi lấy
làm ngại vì mình là một vị Thích-tử. Lại e nỗi ông sư
là một vị nhà sư ngoại-đạo, thức lòng người về món
ăn mạng-vật, sợ người không vui lòng. Nên chi tôi bỏ qua,
để ngày sau rồi sẽ hay, vì mình còn ở lâu.
Một
buổi mơi, tôi đến bến Kédar nầy, tôi ngồi nơi bực thạch
để xem sông-linh, thấy số cát ở dưới sông, bãi nầy, cồn
kia toàn là cát tụ nhóm. Trên bãi, cồn đều trọi trọi,
không cây, không nhà và mênh mông. Tôi nghĩ rằng : Phật nói
đến sự đông, sự nhiều thì hay lấy số cát sông Hằng
nầy mà thí dụ, thiệt nói không cùng. Tôi bèn hỏi một người
Hindou ngồi bên tôi rằng : Sông nầy, có nhiều cái cồn, bãi
sao không cất nhà ở trển ? Anh ta nói, “Tháng nắng thì thấy
cát, còn lúc mùa mưa thấy nước như biển, sóng to làm lở
nhiều bờ đê, bực thạch, phải rúng sập tới chùa, miễu,
nhà cửa, dinh thự, lầu-các trên mé. Hiện lúc nầy nhiều
chỗ bị sập mấy năm trước hay năm rồi, họ đương tu bổ
lại. Ông không thấy sao ?”
Đây
là một cảnh bị hư sập,
đang
bồi bổ xây đúc theo mé sông đó.(1)
Lúc
đang ngồi suy nghĩ cái lòng mộ đạo của dân-tộc Ấn-độ,
dám đem tiền của mà cúng cấp cho nhà chùa đặng kinh dinh
đồ sộ như xứ nầy, thiệt trong xứ ta chưa từng thấy.
Bỗng có một nhà sư đạo Du-già lại ngồi kề bên tôi. Ông
không nói chi cả, cứ ngó tôi, nhưng tôi cũng cứ một việc
ngồi ngó ra sông. Chập lâu, ông nín lặng, tôi nghĩ thầm
rằng : theo trong kinh sách của Thông-thiên-học, nói bọn nhà
tu Phá-kích, Du-già trong xứ nầy, tu phù phép nhiều lắm và
hiển-hích lắm. Tôi đang nghĩ tới đó thì trong lòng có hơi
nghi sợ, bèn ngồi quán A-tự, chập lâu quá mà chưa lộ chữ
ấy. Tôi bèn quán chữ Án, cũng không lộ. Tôi bèn nghĩ rằng
: Lạ quá, ở xứ mình, khi gấp gãy mà mình quán còn lộ,
mà chánh trong lúc đi đường từ Nam qua tới Tây-phương đây,
cũng đặng như sở nguyện. Sao nay không thấy đặng, không
lộ là nghĩa gì ? Tôi bèn lét mắt dòm nhà sư Du-già, tôi
thấy ông đang cầm một cục bằng pha-lê trắng, trong ấy
có hình Phật mẫu Chuẩn-đề “Gayatri”. Ông đang mê mẩn
quán xem, tôi bèn chỗi dậy, bỏ đi lại chỗ khác mà ngồi.
Tôi thầm niệm danh hiệu phật tổ Thích-ca, xin ủng hộ…
Đoạn tôi quán tưởng hình dung, bây giờ toại ý nguyện.
Tôi bèn lấy quán tướng mầu ấy, tôi nhìn ngay lên mặt nhựt.
Lấy mặt nhựt làm điểm hào-quang nơi mi-gian của Phật tổ.
Chập lâu có đến trên mười phút, tôi mới lấy mắt dòm
cả người nơi mé sông, thì sắc diện ai nấy cũng đặng
màu kim-sắc. Tôi toại nguyện bình đẳng quán.
Từ
khi bần-tăng lìa Nam-việt xuống tàu sang Trung-thiên-trước-quốc,
quyết chí quan-sát Phật-đạo nơi xứ ấy, vì là nơi ngàn
xưa Phật giáng sanh.
Khi
qua tới Xá-vệ quốc (Calcutta) là ngày 29 Avril 1935, thì bơ-vơ
phải tạm ngụ nơi chùa đạo Hindou hết 15 ngày ; qua 14 Mai
thì nghe nói có chùa Phật cách xa thành Xá-vệ tám cây số
ngàn. Bần tăng bèn nói với ông chủ chùa, xin cho người dẫn
đi viếng chùa Phật thì ông vui lòng cho một ông thầy Hindou
dẫn tôi đi. Ra chợ mướn xe ngựa đi từ 8 giờ sớm mai tới
9 giờ rưỡi mới đến tại chùa. Vào chùa xin lễ Phật, thẳng
vào chánh điện thấy tượng Như-lai, phút chốc động lòng,
sa nước mắt, vì từ 17 Avril tới nay không đặng lễ bái
Thánh-tượng. Đảnh lễ rồi, bước ra gặp một vị Sa-di
đi dưng bát cúng ngọ, cúng rồi ra, bèn hỏi bần-tăng thì
mới biết bần-tăng là Annam Bí-sô. Thấy bố cáo của chùa
để trên bàn, tôi xin một tờ rồi từ giã ra về Xá-vệ.
Xem lại mới biết chùa của hội Maha-Bodhi, ở Ceylon(1) qua
đó mà chấn hưng Phật-đạo thì bần tăng mới lưu-ý.
Mười
tháng tại làng Lộc-giả-viên (Sarnath)
Qua
ngày sau bần-tăng bèn từ giã chùa Hindou, quảy gói đi bộ
tầm tăng già mà vào, phút gặp hai vị Sa-di Xiêm đạo hiệu
là Mêta và Karnna, thì ra mắt nhau, nhờ huynh Mêta biết tiếng
Tây chút ít nên chuyện vãn mới hay làng ấy là Lộc-giả-viên.
Bần-tăng bèn tỏ ý muốn nhập hội, thì Mêta nói rằng phải
đóng 10 đồng rupee mỗi tháng. Bần tăng cậy Mêta đem ra mắt
Giáo-chủ sư-tăng-già, bần-tăng đảnh-lễ rồi tỏ ý muốn
vào hội.
Mêta
thông-ngôn lại bằng tiếng Anglais. Thầy nhận lời, bần tăng
dâng lên 10 đồng xin nhập hội.
Từ
đây, bần tăng an thân, ở tại hội lo học chữ Anglais và
Hindou, vừa biết nói đủ lẽ phổ-thông cùng người bổn-hội.
Ngày
2 Novembre 1935.
Tôi
xin hội cho đi lên Phật-đà-gia (tức là cội Bồ-đề, đức
Thích-ca tọa thiền nơi đó) đặng lễ bái, cúng dường. Hộïi
cho phép.
Ngày
15 Décembre 1935.
Một
người Bikku Ceylon chết tại nhà thương. Có thỉnh bần-đạo
đưa xác bữa trưa 16 Décembre. Đến tại nơi thiêu xác, có
sở hỏa-thiêu trên mé sông Gange. Cách thiêu gọn gàng và trong
hai giờ tử thi cháy ra tro cả.
Ngày
18 Décembre 1935.
Lối
7 giờ rưỡi tối, đưa hai ông bạn đạo Bí-sô ra xe lửa
đi về Ceylon. Bận-biệu, mến tình ứa lụy, hun tay rờ cẳng
tỏ tình yêu. Cùng nhau chung chạ mười ngày tại Bénarès mà
sự mến nhau bằng ở thế mười năm. Ba ông đi dự lễ Xá-lợi,
kỷ niệm tại Sarnath ngày 10 Novembre, rủi một ông về tới
Bénarès thọ bịnh, tịch nơi ấy. Xem hai ông bạn rất đau
lòng, vì đi ba về hai.
Tháp
nầy ở Lộc-giả-viên,
kỷ
niệm chỗ Như-lai gặp Đức Di-lặc tại đây.(1)
Ngày
21 Décembre 1935.
Tám
giờ sớm mai, bần-tăng đến Phật-đà-gia (Bodhi Gaya), chiều
chụp hình dưới cội Bồ-đề.
Bần-tăng
lên ở Phật-đà-gia đặng một tháng rưỡi.
Phật-đà-gia
(Bodhgaya),
tại
cây Bồ-đề khi Phật thành đạo.(1)
Ngày
4 Janvier 1936 – mùng 10 tháng chạp năm Ất-Hợi.
Bần-tăng
đi viếng động Dunghasiri là nơi Bồ-tát động, trước khi
thành Phật còn là một vị Bồ-tát, thì kiếp ấy Phật tu
tại đây, trên núi, dưới bưng, sơn thủy xinh đẹp. Có thỉnh
hai cục đá cẩm thạch làm kỷ-niệm.
Tháp
Phật-tổ, Phật-đà-gia.(2)
Tượng
Như-lai thờ trong cái tháp Phật-đà-gia nầy.(1)
Ngày
15 Janvier 1936 – 21 tháng chạp năm Ất-Hợi.
Bữa
15 Janvier 1936, phút thấy ba bốn vị lama sắm sửa hành-lý,
bần-tăng bèn nói : Nay mấy huynh về xứ nào ? Có huynh Lama
tên Lô-săng trả lời : “Thưa, chưa về xứ, bây giờ đi
qua xứ Népal đặng cúng dường Phật-tháp, tháng sau chúng
tôi trở lại Phật-đà-gia, chừng ấy chúng tôi mới về xứ.”
Nghe qua, bần-tăng bèn đi kiếm huynh Dhammajoti (là thầy bí-sô
của hội phái lên chấp sự nơi Phật-đà-gia) đặng xin thầy
làm ơn gởi bần-tăng đi theo mấy thầy lama đi Népal, vì bần-tăng
muốn qua đó lễ bái Thánh-tháp. Vị lòng người của hội,
nên mấy thầy lama chịu cho bần-tăng nhập bọn.
Ngày
28 Janvier 1936 – mùng 5 tháng giêng năm Bính-Tý.
Bần-tăng
bàn tính đi Népal. Đồng-hành là năm vị :
1 Một
Bikku Annam ;
2
Một Phước-kiến – Phạm-ngộ tì khưu ;
3
Losang Lama ;
4
Losang Kompo ;
5
Kolchoch Tâmpa.
(ba
vị lama sư.)
Ngày
29 Janvier 1936 – mùng 6 tháng giêng năm Bính-Tý.
Hôm
nay, mùng 6 tháng giêng Annam, bần-tăng đi viếng nước Niếp-ba-lê
tại Hi-mã-lạp-sơn (Phạn ngữ Népal Himalaya). Tàu gọi là
Tuyết-lãnh. Bốn giờ sáng thức dậy lên xe kiến thẳng ra
bến xe lửa Gaya cùng Đạo-hữu Lama Losang. Cụ bị một gói
hành trang vật dụng. Có đạo hữu Dhammajoti đồng đi đưa
ra tới gare, người tiễn hộ 4 rupee lộ-phí. Trễ, hụt xe
5 giờ, phải đợi tới 11 giờ rưỡi sáng có chuyến xe đi
Raxaul (gare kế ranh Népal). Đạo hữu Lama Losang lo mua giấy
xe lửa giá 2 rupee 14 annas mỗi người. Lên xe, tới ga Patna-junction
đổi xe (3 giờ chiều). Sang qua xe hơi của sở hỏa-xa, chở
đi ra bến tàu Dighaghat. Tại cửa bến có hai bảng đề Ferry.
Xuống sà-lúp(1) (của hỏa-xa hội) năm giờ chiều tàu chạy
trên sông Gange. Trót một giờ tới bến Paleza Patna Steamer.
Xe lửa chực sẵn, lên xe đi tới gare Muzoffarpur chín giờ tối,
xuống xe ngủ tại gare đợi tới 3 giờ sáng ngày 30.
Népal
– Ca-bì-la quốc tự
Bần
tăng và Losang lama.(1)
Ngày
30 Janvier 1936 – mùng 7 tháng giêng âm-lịch.
3 giờ
sáng ngày 30 có xe ; tới giờ thức dậy, lên xe đi tới gare
Sagauli là 6 giờ mơi. Đổi xe, xuống điểm tâm quấy-quá,
lối 7 giờ mơi lên xe chạy đến gare Raxaul (gare giáp ranh Népal,
gare về Ăng-lê, chợ về phần địa Népal). Chín giờ mơi,
xuống xe ra cửa gare trình và trả giấy xe. Quảy gói lội
bộ ba cây số ngàn tới trạm Dhamasala Raxaul đỗ ngụ, ăn
trưa rồi, ngủ một đêm.
Ngày
31 Janvier 1936 – mùng 8-1 âm-lịch.
Sáng
ăn bột xú, uống trà xong, 5 giờ quảy gói lội bộ chừng
ba cây số ngàn tới gare Birganj. Ải địa đầu nước Niếp-ba-lê.
Có quan lại sở Thông-hành tại gare, xin passeport nhập cảng.
Ba sư Lama dễ xin, nói tên biên rồi, tới bần đạo và vị
Phước-kiến bị hạch hỏi, tiểu thơ lại không dám cho, phải
đợi ông Radgia đến sẽ tâu. Đợi một chập, Ngài trấn
ải nguyên nhung đến hạch hỏi, bần đạo trao thơ Mahabodhi
hội và khai ở xứ Ceylon qua ở tại Sarnath Bénarès Bồ-đề
hội tu hành. Ngài nghi là người Nhựt-bổn, nên tra hỏi gạn-gùng
từ lời, dùng-dằng không chịu cho đi. Bần-đạo bủn-rủn,
đạo-hữu Phước-kiến cũng vậy, đứng sững niệm Phật.
Chập lâu, bần-đạo bước lại gần thi lễ và trăm tiếng
Ăng-lê với ngài, vì ngài có học, năn nỉ xin cho đi viếng
Thánh-địa lễ bái, cúng dường ba ngày sẽ trở về Ba-la-nại.
Ngài biết tiếng Ăng-lê giỏi, bần dùng giây lát, rốt lại
thuận tình vì ngài ngó bộ pháp-phục bèn động lòng cung
kính. Ngài hiệp-chưởng(1) xá rồi nói : Tôi cho thầy đi,
bèn nói với thơ lại biên tên họ, cho thông hành. Mừng hạnh
phúc, lấy giấy thông hành rồi mới mua giấy xe lửa đặng.
Mỗi người mua giấy xe đều phải trình giấy thông-hành bất
kỳ ngoại-quốc hay nội ban Ấn-độ. Đạo-hữu Losang lo góp
tiền mua giấy xe lửa đi Amlekhganj, giá 11 annas mỗi vị. Rủi,
giấy xe mua rồi mà thông hành ký tên đóng dấu không kịp,
xe lửa đã xúp-lê chạy, nên đạo-hữu Losang phải ở lại
lấy thông hành, chỉ có bốn người đi trước. Không dè sự
trễ ấy tại không có lo huê-hồng.
Xe
trải qua truông(2) và cách bốn, năm gare mới tới gare Amlekhganj
là gare chót, hết đường hỏa xa, là 11 giờ rưỡi sáng, ăn
ngủ tại gare một đêm đặng đợi xe mai, bạn Losang đến
hiệp nhau đi.
Ngày
1er Février 1936 – mùng 9-1 âm-lịch.
Sáng
điểm tâm, bốn anh em lo nấu cơm, nấu trà chờ đạo-hữu
tới. Đúng 11 giờ rưỡi, xe tới. Đón bạn, anh em mừng nhau,
bày cơm nước, ăn ngọ xong, đồng lên xe hơi camion đi Bambiti
Dramsola. Xe nầy chở gạo mỗi bộ hành giá 1 rupee. Xe chạy
theo triền núi, trải qua biết bao đèo ải, núi tứ giăng.
Ban đầu núi đá hòn, đá khối, xem phong cảnh nào sơn nào
thủy mỹ-lệ, có cây tòng đầy núi, có thác nước, có dây
thép treo để chở lương phạn qua mấy cái ải sâu. Qua ba
bốn cái trạm police nhỏ, tra xét, trình thông hành. Rồi tới
cái hang quan ải một cây số ngàn, tới đây xe đậu góp tiền
xe và trình thông hành rồi mới thổi kèn mở cửa hang cho
xe qua. Xe chạy đến trạm Bambiti 5 giờ chiều. Bambiti Dramsola
là nơi cùng đường xe hơi (biệt-lộ xa). Xuống xe vào Dramsola,
nấu trà uống, ngủ.
Ngày
2 Février 1936 – mùng 10-1 âm-lịch.
4 giờ
sáng, quảy hành lý đi, lên đèo xuống ải, trống bụng qua
non, miệng phà ra khói, lạnh tê tái tay chưn, mũi thở ra tiếng,
trống ngực ầm-ì, mệt ngất. Ngó quanh Hi-mã-lạp bao giăng,
chập chùng cao thấp, tòng reo, nước khải, gió đưa sương,
mặt trời đứng bóng, tạm nghỉ ăn bột xú đỡ lòng, rồi
cứ việc đi hoài, phút tới ải thứ tư là Chisubani (sở douane)
là 4 giờ chiều. Ải nầy có quan Thương chánh và sở mật
thám nên khó lắm. Quan sở Thương chánh tra xét hành lý, móc
túi, lục lưng, xong cho lại trình Quốc Vương thông hành. Ải
quan tra hạch gắt gao, lính bồng súng châm lưỡi lê lườm
lườm đợi lịnh. Xuôi xếp, thâu thông hành xong rồi cho đi.
Đi một đỗi hai ngàn thước, có hồ nước, nghỉ nấu cơm
ăn quấy quá, rồi quảy gói đi nữa. Bảy giờ tối tới trạm
Chitilăng, cùng nhau đỗ ngụ, nấu trà uống, ngủ mê man, quên
mỏi mệt.
Ngày
3 Février 1936 – 11-1 âm-lịch.
4 giờ
sáng, quảy gói đi, từ đây bớt cực, đường xuống dốc
phần nhiều, nước non mãn nhãn, tòng bá reo đờn, chim ca rước
khách. 11 giờ tới ngọ, ghé quán điểm tâm, quảy gói đi
tới trạm Patry có sở police đóng, hỏi tên họ, biên rồi
cho đi. Trên núi dòm đã thấy kinh đô Népal, thấy tháp chùa.
Đi riết 3 giờ chiều mới tới Simbu-tháp. Tháp đồng Sư-tử
phật tháp, lớn cao, trên đảnh núi (đá hòn). Vào đó, tẩy
uế, lễ Phật, nhiễu tháp, lo nấu ăn, xong rồi ngủ, mỏi
mê gân cốt, vùi vẫn ngủ-ì.
Sư-tử
tháp.(1)
Ngày
4 Février 1936 – ngày 12-1 âm-lịch.
Từ
hôm mùng 6 tháng Giêng Annam, bần-tăng khởi đi viếng nước
Népali tại Hi-mã-lạp-sơn (Phạn ngữ : Népal Himalaya). Vừa
đi xe lửa, xe hơi, đi bộ (vì không có đường xe) trọn là
sáu ngày đường, từ lên núi Hi-mã thẳng tới xứ Népal.
Đường đi gay go lắm, núi nầy cao hơn các núi, trèo non, lên
đèo, xuống ải, đầu non tuyết đóng như vôi, giải dọc
giải ngang không biết mấy trăm mà kể. Tuyết sa ngập cẳng,
lạnh thấu ruột non. Cực khổ, đói cơm khát nước không
sợ, chỉ có qua 6 trạm ải, quan binh tra xét gắt gao, nhứt
là ải địa đầu và ải thứ tư.
Bữa
nay nhập thành rồi, thong thả, sớm mơi thức dậy 5 giờ,
rửa ráy lễ Phật, nhiễu Sư-tử tháp (Phạn ngữ : Simbu-Nath).
Ấy là tiền kiếp Phật chuyển thân Sư-tử tại đồng nội
nầy. Tháp cao lớn lắm : 13 từng, chót bằng đồng đỏ. Cách
tháp nầy, chừng 10 cây số, đi bộ một buổi tới tháp Bouddha-Nath,
cái tháp nầy cũng to lớn, chót đồng, không chùa. Nhiều Lama
đến cúng, hỏi thăm đại-đức thì kiếp xưa Phật sanh làm
thái-tử tại thành nầy, xưa là Kinh-đô. Bần tăng lễ Phật
xong, từ giã đi qua Radjagrir tự, có bọn Lama sư đã ngồi
bao trước chùa tụng kinh, vào bửu-điện lễ Phật xong ra
nhiễu chư Lama tăng niệm Phật. Rồi việc, có một vị Népali
Bikku đến chào mời vào tợ ngồi xong, có bốn ni-cô ra đảnh
lễ và cư sĩ nữ-nam dưng vật thực và cầu bần đạo ở
lại ít ngày. Thương ôi ! Bất như chúng nguyện, bần tăng
từ chối vì ít ngày giờ rồi từ giã qua viếng chùa kinh-đô
Buddha-mơti. Lúc đi ra chùa kinh-đô, thì có trải sang thành
phố, xem cảnh vật cũng lớn lao không thua gì Bénarès. Bần
đạo lễ Phật xem cảnh xong từ giã qua Cổ tháp (toàn bằng
đá) lễ bái rồi từ giã trở lại Bouddha-Nath tháp (t