MỤC
LỤC
PHẬT
A DI ĐÀ
QUAN
THẾ ÂM BỔ TÁT
ĐẠI
THẾ CHÍ BỔ TÁT
ĐỨC
VĂN THÙ SƯ LỢI
ĐỨC
PHỒ HIỀN BỔ TÁT
ĐỨC
ĐỊA TẠNG BỔ TÁT
ĐỨC
DI LẶC BỔ TÁT
ĐỨC
CHUẨN ĐỀ
SỰ
TÍCH PHẬT A DI ĐÀ
Đức
phật A Di Đà là một ngôi giáo chủ trên cõi Lạc Bang, oai
đức không cùng, thệ nguyện rất lớn, mở môn phương tiện,
độ kẻ chúng sanh ra khỏi Ta bà đem về Tịnh độ.
Trong
Kinh Bi Hoa nói rằng: "Về khoảng hằng sa kiếp trước, có
một đại kiếp gọi là Thiện trì".Khi ấy tại cõi Tản đề
lam thế giới có vua Chuyển Luân Thánh Vương, tên Vô Tránh
Niệm, thống lãnh cả bốn xứ thiên hạ: một là Đông thắng
thần châu, hai là Nam thiệm bộ châu, ba là Tây ngưu hóa châu,
và bốn là Bắc cu lô châu, tiếng nhơn hiền đồn dậy bốn
phương, đức từ thiện đượm nhuần khắp xứ, nên hết
thảy nhân dân ai nấy cũng sẳn lòng ái kính.
Vua
ấy có nhiều người con và có một vị đại thần, tên là
Bảo Hải, con dòng Phạm Chí, rất tinh thông về nghề xem thiên
văn.
Ông
Bảo Hải lại có một người con trai tướng tốt lạ thường,
từ dưới chân lên đến trên đầu đều có ba mươi hai dấu
tốt.
Khi
con ông mới sanh ra, thì có các hàng khách tôn quý đem nhiều
đồ lễ vật đến dưng cho, nhơn vậy mà đặt tên là Bảo
Tạng.
Lúc
khôn lớn, thì Bảo Tạng xem biết việc đời là thống khổ
thân mạng lại vô thường, tự nhiên sanh lòng chán ngán, bỏ
cuộc vinh hoa, liền xuất gia tu hành, chẳng đặng bao lâu mà
đã thành Phật, hiệu là Bảo Tạng Như Lai, đủ các đạo
Pháp nhiệm mầu, thần thông rộng lớn. Khi thành Phật rồi,
thì Ngài dạo khắp các nơi mà hóa độ chúng sanh , có nhiều
hàng đệ tử đã chứng đặng quả Thanh Văn, Duyên Giác và
Bồ Tát, nên nhơn dân ai nấy cũng sẳn lòng hoan nghinh.
Có
một bữa kia, vua Vô Tránh Niệm nghe Phật Bảo Tạng cùng Đại
chúng đến giảng Đạo tại vườn Diêm Phù, gần bên thành,
thì tự nghĩ rằng: "Nay Ta muốn đến chỗ Phật, đặng xem
coi giảng Đạo lý gì mà thiên hạ tín ngưỡng đông như thế!"
Nghĩ
như vậy rồi, vua cùng các vị vương tử, đại thần và quyến
thuộc bèn đến vườn Diêm phù lễ Phật vừa xong, liền đi
chung quanh ba vòng, rồi ngồi bên Ngài mà nghe Pháp.
Vua
Vô Tránh Niệm xem thấy Đức Bảo Tạng Như Lai khoanh chân
ngồi trên bảo tọa có hình con sư tử, rất bực trang nghiêm,
đủ tướng tốt đẹp, chung quanh thân Ngài có ánh sáng nhiều
sắc chói lòa.
Còn
trong Pháp hội thì thấy: nào là những người đã xuất gia
làm đệ tử của Phật cạo tóc đắp y, nào là những hàng
vương tử đại thần mặc đồ anh lạc, nào là cung nga mỹ
nữ dung mạo tốt xinh, nào là sĩ, nông, công, thương, áo xiêm
chỉnh đốn, kẻ thì chấp tay ngồi im lặng, người thì quỳ
gối thưa hỏi, xem bộ ai nấy cũng chăm ngó Phật mà nghe Pháp
cả.
Vua
Vô Tránh Niệm quan sát khắp đủ mọi lẽ, bèn ngắm nhìn
thân mình, rồi trở lại ngó Phật, mắt sửng không nháy,
lòng thiệt hoan nghênh, cái tâm niệm tín ngưỡng tự nhiên
phát lộ, liền đãnh lễ Ngài và đi xung quanh ba vòng, rồi
cũng ngồi xuống một bên Ngài mà chăm nghe lời giảng dạy.
Vua
nghe đức Bảo Tạng Như Lai diễn đủ các Pháp, thì lòng đã
mở thông, căn thân thanh tịnh, rõ đường giải khổ, biết
sự làm lành, liền quỳ xuống chấp tay mà thưa rằng: "Bạch
Đức Thế Tôn! Nay tôi muốn sắm đủ những đồ ăn uống:
áo chăn, mền nệm và thuốc men, đặng dưng cúng cho Ngài và
đại chúng luôn trọn ba tháng ở đây mà giảng đạo, xin
Ngài từ bi ai nạp".
Vua
Vô Tránh Niệm thấy Phật nhận lời, liền trở về truyền
lịnh sắm sửa đủ mọi lễ, cứ đúng buổi mà dưng cúng
không hề trễ nãi.
Vua
lại khuyên bảo các vị vương tử, đại thần, quyến thuộc
và nhơn dân rằng: "Các ngươi có biết hay không?
Nay
Trẫm đã mở lòng bố thí, kính thỉnh Đức Bảo Tạng Như
Lai và đại chúng đến mà cúng dường trọn ba tháng. Những
đồ báu trọng ngon đẹp của Trẫm thọ dụng bấy lâu nay
đều đem dâng cúng tất cả. Các ngươi cũng thể theo ý Trẫm
xả bớt huyễn tài mà cúng Phật Tăng đặng cầu phước báu"
Cả
thảy đều vâng lời vua khuyên, hết lòng sắm sửa lễ vật
mà dưng cúng Phật.
Có
một hôm, quan Đại thần Bảo Hải, là phụ thân Đức Bảo
Tạng Như Lai, nằm chiêm bao thấy vua Vô Tránh Niệm làm sự
bố thí thì lớn, mà việc cầu phước báu thì nhỏ. Sự ao
ước của vua còn thuộc về phước hữu lậu trong cõi nhơn
thiên, chưa thoát ra khỏi luân hồi sanh tử.
Vậy
nên quan Đại thần chẳng đặng vui lòng, vì ý của ông muốn
làm sao cho vua phát tâm cầu quả Bồ đề, tu thành Phật đạo
mà cứu vớt mọi loài chúng sanh, chớ không muốn cho vua cầu
phước báu nhỏ nhen như hàng tiểu dân vậy.
Quan
Đại thần suy nghĩ như vậy, bèn đến chỗ Phật Bảo Tạng
Như Lai tỏ điềm chiêm bao ấy, và tâu với vua Vô Tránh Niệm
rằng: "Muôn tâu Đại Vương! Xin suy nghĩ đến việc này. Về
sự sanh tử luân hồi phải bỏ thân này mang lốt khác, nên
khó đặng thân người. Nay Đại Vương đã cảm lấy phước
báu làm đặng vương thân, thiệt là quí báu biết dường
nào! Các Đức Phật tùy cơ duyên của chúng sanh cảm triệu
mà ứng hiện ra đời, cũng như bông ưu đàm ứng thời mà
nở, thiệt là ít có! Nay Đại Vương gặp Phật xuất thế,
thì phần hân hạnh biết bao! Dứt trừ lòng dục vọng, làm
mọi sự phước duyên, cũng là việc khó mà Đại vương làm
đặng như vậy, thiệt là ít ai bì đặng!
Xin
Đại Vương thứ lỗi cho ngu thần hỏi lời này: Ngày nay Đại
Vương cúng dường Phật Tăng, dùng phước duyên đó mà cầu
nguyện những việc chi, xin cho ngu thần rõ.
Nếu
Đại Vương muốn cầu sanh về cõi Trời mà làm một vị thiên
tử hưởng sự phước thọ hay là muốn cầu sanh về cõi Nhơn
gian làm vua Chuyển Luân, thống lãnh bốn châu thiên hạ như
ngày nay vậy, thì cũng còn ở trong khổ ải, chớ chưa ra khỏi
vòng sanh tử luân hồi.
Thưa
Đại Vương! Hai sự phước báu tôi đã trần tấu đó đều
là tướng vô định, đều là sự vô thường, thí như cơn
gió thổi, dường tợ đám mây tan, có chắc chắn lâu dài
chi đâu mà phải cầu nguyện!
Nếu
sanh về cõi Trời, khi hưởng sự khoái lạc mà có tạo ác
nghiệp, thì cũng phải đọa vào địa ngục, đặng chịu khổ.
Còn như sanh về cõi nhơn gian, thì lại chịu mọi sự khổ
não phần thì oán cừu gặp gỡ, phần thì ân ái chia lìa cái
khổ trạng ấy không thể kể xiết.
Vì
Đại Vương nhờ nhân duyên tu phước đời trước, nên mới
hưởng đặng sự tôn vinh như vầy. Nếu nay Đại vương giữ
gìn giới luật, thì sẽ đặng phước báu lớn hơn nữa: còn
như tu học chánh pháp, thì sẽ thành chưởng trí.
Vậy
xin Đại vương nên phát tâm cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề,
chớ đừng cầu nguyện những việc phước nhỏ nhen như hạng
người thường kia vậy.
Vua
Vô Tránh Niệm nghe quan Đại thần Bảo Hải khuyến thỉnh
như thế, thì tâm lượng tự nhiên mở rộng, liền đáp rằng:
" Trẫm chẳng cầu những việc như khanh nói đó đâu! Trẫm
muốn trãi khắp trong đường sanh tử, làm sự bố thí, trì
giới, hầu nghe những pháp mầu nhiệm, tu hạnh Bồ Tát và
cứu vớt chúng sanh, do nhân duyên ấy mà phát tâm Bồ Đề".
Đại
thần Bảo Hải lại nói rằng: "Bồ đề là một đạo rất
trong sạch sáng suốt, rất ngay thẳng chính đáng rất trang
nghiêm tốt đẹp, rất rộng lớn cao sâu, khắp cả hư không,
trùm cả sa giới rất có oai thần mảnh lực.
Vả
lại đạo Bồ đề là hạnh bố thí, sẽ đặng giàu sang,
là hạnh trì giới, sẽ đặng thanh tịnh, là hạnh nhẫn nhục,
sẽ đặng vô ngã, là hạnh tinh tấn, sẽ đặng bất thối,
là hạnh thiền định, sẽ đặng vắng lặng, là hạnh Bát
nhã, sẽ đặng sáng suốt.
Tu
được như vậy mới đến chỗ an lạc và mới chứng đặng
quả Niết Bàn. Vậy xin Đại vương nên phát tâm mà cầu đạo
ấy.
Vua
Vô Tránh Niệm đáp rằng: "Này khanh! Đương thời trung kiếp,
mỗi người sống lâu chỉ có tám vạn tuổi mà thôi! Nay Đức
Bảo Tạng Như Lai ứng hiện ra đời mà giáo hóa chúng sanh,
hoặc có kẻ chứng pháp Tam muội, hoặc có người đặng bực
Bồ Tát, hoặc đặng thọ ký làm Phật, hoặc đặng quả báo
nơi cõi Nhơn Thiên. Trong hàng chúng sanh có một người nào
không trồng căn lành mà Đức Như Lai chẳng nói Pháp đoạn
khổ.
Tuy
Ngài là phước điền của chúng sanh, song những người không
có căn lành thì Ngài không có thể hóa độ cho dứt đặng
mọi sự khổ não".
Nay
Trẫm phát Bồ đề tâm, tu Bồ Tát hạnh, học đạo Đại
thừa, chứng pháp môn rất mầu nhiệm, chuyên làm Phật sự
mà giáo hóa chúng sanh. Trẫm muốn cầu làm sao cho khi thành
Đạo Bồ đề, thì Thế giới đặng trang nghiêm thanh tịnh
chúng sanh không còn có một chút khổ gì. Nếu đặng như vậy
thì Trẫm sẽ chứng đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Vua
Vô Tránh Niệm nói như vậy rồi, bèn đi với quan Đại thần
Bảo Hải đến chỗ Đức Bảo Tạng Như Lai, thấy Ngài đương
nhập định, lại dùng phép thần thông biến hóa và phóng
hào quang sáng suốt, hiện cả mười phương thế giới của
Chư Phật ra trước mặt cho chúng hội xem: hoặc có cõi Phật
đã Niết Bàn rồi, hoặc có cõi Phật đương Niết Bàn, hoặc
có các cõi vị Bồ Tát mới ngồi nơi đạo tràng dưới cây
Bồ đề, đương hàng phục chúng ma, hoặc có cõi Phật mới
thành đạo và mới nói Pháp, hoặc có cõi Phật thành đạo
đã lâu, đương còn nói Pháp, hoặc có thế giới toàn là
các bực Bồ tát, hoặc có thế giới toàn là những hàng Thinh
Văn và Duyên Giác, hoặc có thế giới không có Phật, Bồ
Tát, Thinh Văn và Duyên Giác chi hết, hoặc có thế giới đủ
năm món ác trược, hoặc có thế giới đủ các thứ trang
nghiêm, hoặc có thế giới hèn dơ nhớp, hoặc có thế giới
tốt đẹp lạ thường, hoặc có thế giới mà nhơn dân sống
lâu vô cùng, hoặc có thế giới mà nhơn dân thọ mạng ngắn
ngủi, hoặc có thế giới thường bị tai nạn thủy hỏa,
hoặc có thế giới hằng bị tai nạn gió bão, hoặc có thế
giới gần thành tựu, hoặc có thế giới đã thành tựu rồi.
Đại
thần Bảo Hải thấy vậy, bèn tâu với vua Vô Tránh Niệm
rằng: "Nay Đại vương nhờ sức oai thần của Đức Như Lai
mà đặng thấy các thế giới, vậy Đại vương phát Bồ đề
tâm muốn cầu lấy thế giới nào"
Vua
chấp tay mà thưa với Đức Bảo Tạng Như Lai rằng: "Bạch
Đức Thế Tôn! Chẳng biết các vị Bồ Tát tu hạnh gì mà
chiếm đặng cõi Phật tốt đẹp trang nghiêm, tu nghiệp gì
mà chiếm đặng thế giới xấu xa ác trược.
Do
nghiệp gì mà đặng thọ mạng lâu dài, tạo nghiệp gì mà
thọ số ngắn ngủi? Xin Ngài chỉ dạy cho tôi biết mà tu
học".
Đức
Bảo Tạng Như Lai nói rằng: "Vì bởi các vị Bồ Tát có sức
thệ nguyện, muốn ở cõi thế giới thanh tịnh, không có các
điều ác trược, nên sau khi thành đạo được về ở cõi
ấy rất trang nghiêm.
Còn
các vị Bồ Tát nào do sức thệ nguyện, muốn ở cõi thế
giới ngũ trược đủ sự phiền não, nên sau khi thành đạo
về ở cõi ấy".
Vua
Vô Tránh Niệm lễ Phật rồi lui trở về trong cung, một mình
ngồi im lìm mà suy nghĩ đến sự thệ nguyện của mình, mong
cầu cho đặng cõi cực kỳ tốt đẹp, đặng tiếp dẫn chúng
sanh.
Suy
nghĩ rồi vua bèn trở lại lễ Phật mà thưa rằng: "Bạch
Đức Thế Tôn! Vì tôi muốn chứng đạo Bồ đề, nên đem
công đức cúng dường Ngài và đại chúng trong ba tháng mà
cầu đặng cõi Phật rất thanh tịnh trang nghiêm.
Bạch
đức Thế Tôn!
Nay tôi
nguyện trong khi tôi thành Phật, làm sao đặng một thế giới
đủ sự vui đẹp, hình dạng nhơn dân trong cõi ấy toàn là
sức vàng và không có những đường địa ngục, ngạ quỷ
và súc sanh xen ở chung lộn. Hết thảy chúng sanh nơi cõi ấy
chẳng khi nào còn phải thối chuyển mà đọa vào trong ba đường
dử đó nửa, và người nào cũng đủ sáu phép thần thông
và căn thân tốt đẹp.
Tôi nguyện
tất cả chúng sanh được về cõi ấy, đều thành đàn ông
tươi tốt vô cùng, không còn thọ báo sắc thân đàn bà và
cũng chẳng cần có danh hiệu của người đàn bà nữa. Hết
thảy chúng sanh khi được về đó, thần thức đầu thai trong
bông sen, lúc bông nở ra thì căn thân xinh tốt, thọ mạng
lâu dài, không kể xiết đặng.
Tôi nguyện
cõi ấy đặng trang nghiêm, cảnh vật thiệt xinh đẹp, không
có mọi sự nhiễm trược, hằng có hoa tốt hương thơm mùi
bay các hướng.
Tôi nguyện
cho chúng sanh trong cõi ấy, ai nấy cũng đều đặng ba mươi
hai tướng tốt, sáu phép thần thông, trong giây phút dạo khắp
các cõi Phật trong mười phương, đặng cúng dường và nghe
Pháp, rồi trở về cũng chưa trễ buổi ăn.
Tôi nguyện
nhơn dân trong cõi ấy đều đặng mọi sự thọ dụng tự
nhiên, đúng giờ ăn thì có đủ các món ngon vật lạ hiện
ra trước mắt, còn muốn bận đồ gì thì có áo xiêm tốt
đẹp hiện ra bên mình, không cần phải sắm sửa như trong
cõi nhơn gian vậy.
Tôi phát
nguyện cầu đặng cõi Phật như vậy, đặng từ rày về sau,
đời đời kiếp kiếp, thường tu hạnh Bồ tát, làm sự hi
hữu mà tạo thành cõi Tịnh Độ, đến thời kỳ chứng đạo
thì ngồi dưới cây Bồ đề mà thành quả Chánh Giác, phóng
hào quang soi các thế giới cho các Đức Phật đều xem thấy,
đặng khen ngợi danh hiệu của tôi.
Tôi nguyện
khi thành Phật rồi, những loài chúng sanh ở trong thế giới
khác, đã có tu tập thiện căn, hể nghe danh hiệu tôi mà muốn
sanh về cõi tôi, đến khi lâm chung đặng vãng sanh, chỉ trừ
những người phạm tội ngũ nghịch, tội chê bai các Pháp
Đại thừa và phá hư Chánh Pháp mà thôi.
Tôi nguyện
khi tôi thành Phật rồi, mà có chúng sanh ở các thế giới
đã phát Bồ đề tâm, tu Bồ tát đạo, muốn sanh về cõi
tôi, thì đến khi mạng chung, tôi và đệ tử tôi đều hiện
thân đến trước mặt người ấy đặng tiếp dẫn.
Tôi nguyện
khi tôi nhập diệt, trải vô số kiếp về sau những người
nữ nhơn ở trong các thế giới nghe danh hiệu tôi mà chăm
lòng vui mến và phát Bồ đề tâm, cho đến lúc thành Phật,
cứ cảm báo đặng làm thân đàn ông hoài, chớ không khi nào
còn mang lấy thân đàn bà nữa.
Bạch
Đức Thế Tôn! Tôi nguyện đặng cõi Phật như vậy, chúng
sanh như vậy, mọi sự thanh tịnh trang nghiêm như vậy, thì
tôi mới chịu thành Phật.
Đức
Bảo Tạng Như Lai nghe vua Vô Tránh Niệm nguyện mấy lời ấy
rồi khen rằng: "Hay thay! Hay thay! Đại vương phát nguyện sâu
lớn, muốn cõi thanh tịnh. Kìa Đại vương hãy xem qua hướng
Tây, cách trăm ngàn muôn ức cõi Phật có một thế giới gọi
là Tôn Thiện Vô Cấu, giáo chủ cõi ấy hiệu là Tôn Âm Vương
Như Lai, hiện nay đương vì các bực Bồ Tát mà giảng dạy
Pháp Đại thừa, giáo hóa các người Thượng căn, chứ không
diễn thuyết mấy Pháp quyền tiểu".
Trong
cõi ấy cũng không có chúng sanh căn trí Tiểu thừa và cũng
không có một người nữ nhân. Nhưng y báo (y báo là cảnh
vật) và chánh báo (chánh báo là căn thân) của Phật Tôn Âm
Vương Như Lai thiệt thanh tịnh trang nghiêm, rất xứng hiệp
với chỗ cầu nguyện của Đại vương đó! Vì Đại vương
có thệ nguyện muôn cõi thanh tịnh, nên nay Ta đổi hiệu Đại
vương là Vô Lượng Thanh Tịnh.
Khi
Vô Lượng Thanh Tịnh mãn một trung kiếp, thì Đức Phật Tôn
Âm Vương Như Lai nhập Niết Bàn, Chánh Pháp truyền bá đặng
mười trung kiếp. Đến khi diệt rồi, trải qua sáu mươi trung
kiếp, thì cõi Tôn thiện vô cấu đổi tên lại là: Di Lâu
Quang Minh có Đức Phật, hiệu là Bất Khả Tư Nghị Công Đức
Vương Như Lai, ứng hiện ra đời mà hóa đạo chúng sanh. Sau
khi Đức Phật ấy nhập Niết Bàn rồi, trải vô số hằng
sa kiếp và vô lượng Phật diệt độ, thì cõi Di lâu Quang
Minh đổi tên lại là: An lạc, đến thời kỳ Vô Lượng Thanh
Tịnh chứng quả về cõi đó mà thành Phật thì hiệu là:
A Di Đà Như Lai ( dịch là Vô Lượng Thọ), sống lâu vô cùng,
tiếp dẫn vô lượng chúng sanh trong các thế giới về đó,
rồi giáo hóa cho thành Phật đạo tất cả.
Vua
Vô Tránh Niệm nghe Phật Bảo Tạng Như Lai thọ ký như vậy
liền thưa rằng: "Bạch Đức thế Tôn! Nếu lòng thệ nguyện
của tôi quả đặng y như lời thọ ký của Ngài, thì tôi
kỉnh lễ xin nhờ Ngài dùng phép thần thông làm cho các Đức
Phật ở trong hằng sa thế giới cũng thọ ký cho tôi như Ngài
nữa".
Vua
Vô Tránh Niệm thưa rồi, đương cúi đầu thi lễ, tức thì
mười phương thế giới thảy đều vang động.
Vua
ở trong pháp Hội nghe Chư Phật đều thọ ký cũng như lời
Đức Phật Bảo Tạng đã nói trên đó, thì rất đổi vui
mừng, liền chấp tay đảnh lễ, rồi ngồi nghe Phật Bảo
Tạng thọ ký cho các vị Bồ Tát khác.
Từ
đó về sau, vua Vô Tránh Niệm mạng chung thọ sanh ra các đời
khác, kiếp nào cũng giữ lời bổn nguyện, tu hạnh Bồ Tát
cứu độ chúng sanh, trải vô lượng kiếp quả mãn công viên
hiện thành Chánh Giác, đến nay đã mười đại kiếp rồi,
Ngài ở cõi Cực Lạc Thế Giới bên Tây Phương, đương giảng
dạy các Pháp Đại Thừa và hằng tiếp dẫn chúngsanh đem
về cõi ấy.
SỰ
TÍCH QUAN THẾ ÂM BỔ TÁT
Đức
Quan Thế âm Bồ Tát, khi chưa xuất gia tu hành, có một kiếp
Ngài làm con đầu lòng của vua Vô Tránh Niệm, tên là Bất
Huyến Thái Tử.
Trong
thời kỳ vua ấy thống trị thiên hạ, thì có Phật Bảo Tạng
ra đời.
Vua
thấy nhơn tâm xu hướng theo lời giáo hóa của Phật càng
ngày càng đông, bèn suy nghĩ rằng: "Nếu Đạo Phật không
phải chơn chánh, thì đâu có lẻ người ta sùng bái khắp
xứ như vậy!"
Nên
vua mới phát tâm sắm đủ lễ vật đến cúng dường Phật
và chúng Tăng trong ba tháng, và lại khuyên các vị vương tử
và đại thần cũng làm như vậy.
Khi
ấy Bất Huyến Thái Tử vâng lời Phụ Vương, hết lòng tin
kính, sắm đủ các món ngon quý và đem những đồ trân trọng
của mình mà dưng cúng cho Phật và đại chúng trong ba tháng,
không trễ nãi bữa nào và cũng không món gì kém thiếu.
Quan
Đại thần Bảo Hải, là phụ thân của Phật Bảo Tạng, thấy
vậy khuyên rằng: "Điện hạ đã sẳn lòng tu phước mà cúng
Phật cúng Tăng: vậy xin Điện hạ hãy đem công đức đó
mà hồi hướng về Đạo Vô Thượng Bồ Đề, chớ nên cầu
sự phước báu trên cõi Trời Đao Lợi hay là cõi Trời Phạm
Thiên làm chi.
Bởi
vì mấy cõi ấy, tuy là cảnh vật vui tốt, nhơn dân vui sướng,
căn thân đẹp đẽ, thọ mạng lâu dài, đặng phép thần thông,
dạo đi tự tại, những đồ y thực saün có, các cuộc du
hí đủ bày, trăm thức tự nhiên thọ dụng đủ đều khoái
lạc, không có sự khổ như cõi nhơn gian.
Cái
phước báu trong các cõi đó tuy là mỹ mãn như thế, nhưng
còn thuộc về hữu lậu, có hư có mất, chắc chắn gì đâu,
chính là sự vô thường, thật là tướng vô định, như cơn
gió thổi mau không có thế lực gì cầm lại đặng: hết vui
thì xảy ra buồn, hết sướng thì trở lại khổ, dầu có
sống lâu đến mấy ngàn năm đi nữa, cũng không khỏi con
ma sanh tử lôi kéo vào đường nọ ngõ kia.
Nếu
Điện hạ cứ cầu phước báu đó, chắc không thoát khỏi
ải sanh tử luân hồi: nếu đã không khỏi luân hồi, thì
chưa chắc lúc nào đặng tiêu diêu tự tại.
Chi
bằng Điện hạ đem công đức đó mà cầu món phước báu
vô lậu, không hư không mất, đời đời kiếp kiếp vượt
ra ngoài ba cõi bốn dòng hưởng sự an vui vô cùng vô tận,
và hồi hướng về Đạo Bồ Đề mà cầu mau thành Phật quả,
đặng cứu độ chúng sanh khỏi sông mê biển khổ. Vậy phần
tự lợi đã vuông tròn, mà đức lợi tha lại đầy đủ nữa.
Bất
Huyến Thái Tử nghe ông Bảo Hải khuyên nói như vậy, bèn
đáp rằng: "Ta xem xét cả thảy chúng sanh trong đường địa
ngục chịu sự khổ cực: còn kẻ nhơn gian và người thiên
thượng thì đủ điều cấu nhiễm, lắm chuyện trần lao,
không có chút nào đặng thanh tịnh, bởi đó mà tạo thành
tội nghiệp, nên mới thọ quả báo mà đọa vào ba đường
dữ là: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh".
Bất
Huyến Thái Tử đáp lại rồi tự nghĩ rằng: "Bởi chúng sanh
ở trong đời không gặp đặng những người hiền nhơn quân
tử, khuyên việc lánh dữ làm lành mà dìu dắt lên con đường
giải thoát, chỉ gặp những kẻ tàn ác tiểu nhơn cũ dụ
nhau kết bạn bè, thường xúi dục những điều bất thiện,
và lại phá hư Chánh Pháp, khinh Pháp Đại Thừa, làm cho mất
cả căn lành, thêm điều tà kiến, vì vậy mới che lấp tâm
tánh, không biết đạo đức là gì, nên phải chịu nổi đày
đọa".
Bất
Huyến Thái Tử ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi thưa rằng: " Nay tôi
đối trước mặt Phật và đại chúng mà tỏ lời như vầy:
Tôi nguyện đem tất cả các món công đức tôi đã từng cúng
dường Tam Bảo và các món công đức tôi đã từng tu tập
Pháp mầu mà hồi hướng về đạo Vô Thượng Bồ Đề.
Tôi
nguyện trong khi tôi tu những điều công hạnh Bồ Tát, làm
những việc lợi ích cho chúng sanh, nếu tôi xem có kẻ mắc
sự khốn khổ hiểm nghèo ở trong hoàn cảnh ám muội, không
biết cậy nhờ ai, không biết nương dựa đâu, mà có xưng
niệm danh hiệu tôi, tức thời tôi dùng phép Thiên nhỉ mà
lóng nghe và dùng phép Thiên nhãn mà quan sát coi kẻ mắc nạn
ấy ở chỗ nào, cầu khẩn việc gì, đặng tôi hiện đến
mà cứu độ cho khỏi khổ và đặng vui . Nếu chẳng đặng
như lời thề đó thì tôi không thành Phật.
Thưa
Đức Thế Tôn! Nay tôi vì hết thảy chúng sanh mà phát lòng
đại nguyện, tu học về Pháp xuất thế, lo làm các công hạnh
tự giác tự lợi, nguyện khi phụ vương tôi là Vô Tránh Niệm,
trải hằng sa kiếp nhẫn sau thành Phật, hiệu là A Di Đà
Như Lai ở cõi An Lạc, Thế giới, hóa độ chúng sanh xong rồi,
chừng nhập Niết Bàn, Chánh Pháp truyền lại, thì tôi tu hạnh
làm việc Phật sự. Đến lúc Chánh Pháp gần diệt, hễ diệt
bửa trước thì bửa sau tôi chứng Đạo Bồ Đề.
Xin
Đức Thế Tôn từ bi mà thọ ký cho tôi, và tôi cũng hết
lòng yêu cầu các Đức Phật hiện tại ở hằng sa thế giới
trong mười phương đều thọ ký cho tôi như vậy nữa?
Đức
Bảo Tạng Như Lai nghe mấy lời nguyện ấy, liền thọ ký
Bất Huyến Thái Tử rằng: " Ngươi xem xét chúng sanh trong cõi
Thiên Thượng Nhơn gian và trong ba đường dữ đều mắc những
sự tội báo, mà sanh lòng đại bi, muốn đoạn trừ mọi sự
khổ cực, dứt bỏ những điều phiền não và làm cho cả
thảy đều đặng hưởng sự an vui.
Vì
người có lòng soi xét những loài yêu cầu của loài hữu
tình trong thế gian mà cứu khổ như vậy, nên nay Ta đặt hiệu
là: Quan Thế Âm.
Trong
khi ngươi tu hạnh Bồ Tát, thì giáo hóa cả vô lượng chúng
sanh cho thoát khỏi sự khổ não và làm đủ mọi việc Phật
sự.
Sau
khi A Di Đà Như Lai nhập Niết Bàn rồi, thì cõi Cực Lạc
lại đổi tên là: "Nhứt Thiết Trân Bảo Sở Thành Tựu",
y báo càng tốt đẹp hơn trước đến bội phần.
Chừng
đó, đương lúc ban đêm, độ trong giây phút, có hiện ra đủ
thức trang nghiêm, thì ngươi sẽ ngồi trên tòa Kim Cang ở
dưới cây Bồ Đề mà chứng ngôi Chánh Giác hiệu là: "Biến
Xuất Nhất Thiết Quang Minh Công Đức Sang Vương Như Lai", phước
tròn hạnh đủ, muôn sự vẻ vang, đạo Pháp cao siêu, thần
thông rộng lớn, rất tôn rất quý, không ai sánh bằng mà
lại sống lâu đến chín mươi sáu ức na do tha kiếp, rồi
khi diệt độ thì Chánh Pháp còn truyền bá lại đến sáu
mươi ba ức kiếp nữa.
Bất
Huyến Thái Tử nghe Phật Bảo Tạng thọ ký rồi, liền vui
mừng mà thưa rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Nếu sự thề nguyện
của tôi quả đặng hoàn mãn như lời Ngài nói đó, thiệt
là hân hạnh biết bao! Nay tôi lạy Ngài xin làm thế nào cho
các Đức Phật hiện ở hằng sa thế giới cũng đều thọ
ký cho tôi và khiến cho cả thảy thế giới đều đồng thời
vang ra những tiếng âm nhạc, và các kẻ chúng sanh nghe tiếng
ấy đều đặng thân tâm thanh tịnh mà xa lìa mọi sự dục
vọng trên đời".
Lúc
Bất Huyến Thái Tử thưa rồi, đương cúi đầu Lễ Phật,
tức thì các Thế giới tự nhiên rung động vang rền, kêu
ra những tiếng hòa nhã, ai ai nghe đến cũng sanh lòng vui vẻ,
là cho các điều dục vọng bổng nhiên tiêu tan cả.
Khi
ấy, thoạt nghe các Đức Phật ở mười phương đồng thinh
thọ ký cho Quan Thế Âm rằng: "Đương khi thời kiếp Thiện
trụ, ở tại cõi Tán Đề Lam thế giới, nhằm lúc Phật Bảo
Tạng ra đời mà giáo hóa chúng sanh, có con của vua Vô Tránh
Niệm, tên là Bất Huyến Thái Tử phát tâm cúng dường Phật
và Đại chúng trong ba tháng: Do công đức đó, nên trải hằng
sa kiếp sẽ thành Phật, hiệu là: Biến Xuất Nhất Thiết
Công Đức Quang Minh Sang Vương Như Lai, ở về thế giới Nhứt
Thiết Trân Bảo Sở Thành Tựu".
Bất
Huyến Thái Tử khi đặng Chư Phật thọ ký rồi, thì lòng
rất vui mừng.
Đến
khi mạng chung, thì Ngài thọ sanh ra các đời khác, trải kiếp
nọ qua kiếp kia, hằng giữ bổn nguyện, gắng công tu hành,
cầu đạo Bồ Đề, làm hạnh Bồ Tát, chăm lòng thi hành những
sự lợi ích cho chúng sanh, không có khi nào mà Ngài quên cái
niệm đại bi đại nguyện.
Hiện
nay Quan Thế Âm đã chứng được bực Đẳng Giác Bồ Tát,
ở cõi Cực Lạc mà hầu hạ Đức Phật A Di Đà, hằng ngày
tiếp dẫn chúng sanh trong mười phương đem về cõi ấy.
Đến
sau, Đức Phật A Di Đà nhập Niết Bàn rồi, thì Ngài kế
ngôi Phật vị mà giáo hóa chúng sanh.
SỰ
TÍCH ĐẠI THẾ CHÍ BỔ TÁT
Đức
Đại Thế Chí khi chưa xuất gia học đạo, thì Ngài chính
là con thứ hai của vua Vô Tránh Niệm tên là Ni Ma Thái Tử.
Ngài
vâng lời phụ vương khuyên bảo, phát tâm cúng dường Phật
Bảo Tạng và đại chúng trọn trong ba tháng.
Quan
Đại thần là Bảo Hải thấy vậy, bèn khuyến thỉnh rằng:
"Thưa Điện hạ! Trong sự tu phước có hai thứ: một là tu
phước hữu lậu hai là tu phước vô lậu.
Song
phước hữu lậu dầu có to tát thế nào, thì chỗ cảm báo
cũng chỉ ở trong cõi Nhơn Thiên hưởng phần khoái lạc mà
thôi: chớ không thoát khỏi luân hồi sanh tử.
Còn
như phước vô lậu, thì chỗ kết quả ở ngoài ba cõi bốn
dòng, kiếp kiếp đời đời tiêu diêu tự tại.
Vậy
xin Điện hạ nên vì tất cả chúng sanh mà cầu đặng "Nhứt
Thiết Trí" đem công đức ấy hồi hướng về đạo Vô Thượng
Bồ Đề, thì sự phước báu không khi nào cùng tận, mà lại
đặng viên mãn cái tâm nguyện nữa.
Ni
Ma Thái Tử nghe quan Đại Thần khuyên nói rành rẽ như thế,
liền chấp tay thưa với Phật Bảo Tạng rằng: "Bạch Đức
Thế Tôn! Nay tôi xin đem công đức cúng dường Phật và chúng
Tăng trong ba tháng, và những hạnh tu tập của tôi đã từng
làm, như là:
Ba
nghiệp của thân
Không
sát hại chúng sanh,
Không
trộm cắp của người và
Không
tà dâm
Bốn
nghiệp của miệng.
Không
nói láo xược
Không
nói thêu dệt
Không
nói hai lưỡi
Không
nói độc dữ thô tục
Và
ba nghiệp của ý
Không
tham nhiễm danh lợi và sắc dục
Không
hờn giận oán cừu
Không
si mê ám muội, cùng các món hạnh tu thanh tịnh của tôi, mà
hồi hướng về Đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và
cầu đặng một thế giới rất trang nghiêm đẹp đẽ, như
cõi Phật Biến Xuất Nhứt Thiết Công Đức Quan Minh Sang Vương
Như Lai, mà Ngài đã thọ ký cho huynh trưởng tôi đó vậy.
Khi
Đức Phật ấy thành đạo, trước hết tôi ra khuyến thỉnh
Ngài nói đủ Pháp Tam Thừa liễu nghĩa mà hóa độ chúng sanh.
Trong
khi đó, tôi cũng còn tu Bồ Tát Đạo, làm việc Phật sự,
dạy dỗ mọi người và làm những sự lợi ích cho các loài
hữu tình, mà cầu mau đặng hoàn mãn các món công hạnh đã
thệ nguyện.
Đến
chừng Phật Biến Xuất Nhứt Thiết Công Đức Quang Minh Sang
Vương Như Lai diệt độ rồi, thì tôi sẽ thành đạo, kế
ngôi Phật truyền Chánh Pháp mà hóa độ chúng sanh.
Những
sự trang nghiêm đẹp đẽ trong quốc độ tôi, cùng là thời
kỳ diệt độ và kiếp sơ trụ thế của Chánh Pháp tôi, đều
nguyện y như công cuộc ứng hóa của Đức Biến Xuất Nhứt
Thiết Công Đức Quang Minh Sang Vương Như Lai vậy".
Phật
Bảo Tạng nghe mấy lời của Ni Ma Thái Tử nguyện, liền thọ
ký rằng: " Theo như lòng của ngươi muốn thành tựu một thế
giới rộng lớn trang nghiêm, thì qua đời vị lai, trải hằng
hà sa kiếp, người sẽ được hoàn mãn các sự cầu nguyện
ấy.
Vì
người có lòng mong cầu một thế giới rất đẹp rất lớn
như thế, nên ta đặt hiệu cho ngươi là "Đắc Đại Thế",
tức là Đại Thế Chí Bồ Tát.
Sau
khi Phật Biến Xuất Nhứt Thiết công Đức Quang Minh Sang Vương
Như Lai nhập Niết Bàn rồi, người bổ xứ làm Phật, hiệu
là: Thiện Trụ Trân Bảo Như Lai, kế tiếp ra đời mà hóa
độ mọi loài hàm thức".
Ni
Ma Thái Tử nghe Phật Bảo Tạng thọ ký rồi liền thưa rằng:
"Bạch Đức Thế Tôn! Nếu sự nguyện cầu của tôi quả đặng
như lời Ngài thọ ký đó, tôi xin kính lễ Ngài và nhờ Ngài
làm sao cho các thế giới đều vang động và ở giữa hư không
có rải xuống nhiều thứ hoa thơm đẹp, lại có các Đức
Phật ở các thế giới mười phương cũng đều thọ ký cho
tôi như vậy nữa".
Ni
Ma Thái Tử thưa rồi, vừa cúi lạy Phật, tức thì các thế
giới mười phương, cả núi sông, cây cối, và những vật
có hình chất, đều rung động ra thành tiếng vang rền khắp
cả, còn giữa hư không lại có các thứ bông rất thơm tho
và tốt đẹp rơi xuống như mưa.
Các
Đức Phật ở mười phương đều đồng tình thọ ký rằng:
"Tại cõi Tán đề lam, có người đệ tử của Phật Bảo
Tạng Như Lai tên là Ni Ma, con thứ hai của Vua Vô Tránh Niệm,
có phát tâm cúng dường Phật và đại chúng trót ba tháng,
đem công đức ấy mà hồi hướng về Đạo Vô Thượng Bồ
Đề và nguyện đặng ở cõi thế giới trang nghiêm.
Vì
vậy nên trải qua hằng sa kiếp, người ấy sẽ bổ xứ thành
Phật, sau khi Đức Biến Xuất Nhứt Thiết Công Đức Quan Minh
Sang Vương Như Lai đã nhập Niết Bàn"
Ni
Ma Thái Tử nhờ Phật Bảo Tạng và các Đức Phật mười
phương thọ ký rồi, lòng rất vui mừng, hằng chăm tu tập
công hạnh vô lậu mà cầu cho mau thỏa mãn những điều tâm
nguyện.
Từ
đó về sau, Ni Ma Thái Tử mạng chung rồi đầu thai ra thân
khác đời khác, kiếp nào cũng hằng giữ bổn nguyện, quyết
chí tu hành, học đạo Đại Thừa, làm hạnh Bồ Tát, mở
mang trí huệ cho chúng sanh và làm những sự nhiễu ích, đặng
dìu dắt các loài ra khỏi sông mê mà bước lên đường giác.
Hiện
nay, Ngài Đại Thế Chí (tức là Ni Ma Thái Tử) đương làm
một vị Đẳng Giác Bồ Tát, hầu gần Đức Phật A Di Đà
ở cõi Cực Lạc, trợ đương Phật hóa, tiếp dẫn chúng sanh,
chờ đến thời kỳ quả mãn công viên mới bổ xứ làm Phật.
SỰ
TÍCH ĐỨC VĂN THÙ SƯ LỢI
Đức
Văn Thù Sư Lợi, khi chưa thành đạo thì Ngài là con thứ ba
của vua Vô Tránh Niệm, tên là Vương Chúng Thái Tử.
Nhờ
phụ vương khuyên bảo, nên Ngài phát tâm cúng dường Phật
Bảo Tạng và Tăng chúng trọn ba tháng.
Lúc
ấy, có quan Đại Thần là Bảo Hải thấy vậy thì khuyên
rằng: " Nay Điện hạ đã có lòng làm sự phước đức, tạo
nghiệp thanh tịnh, nên vì hết thảy chúng sanh mà cầu đặng
các món trí huệ, và đem công đức ấy hồi hướng về đạo
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì tốt hơn là mong cầu
mọi sự phước báu nhỏ nhen".
Vương
Chúng Thái Tử nghe quan Đại thần khuyến như vậy, thì liền
chấp tay mà thưa với Phật rằng: " Bạch Đức Thế Tôn! Công
đức tôi cúng dường Phật Tăng và những hạnh nghiệp tu
tập thanh tịnh của tôi đó, nay xin hồi hướng về Đạo
Vô Thượng Bồ Đề, nguyện trải hằng sa kiếp tu hạnh Bồ
Tát, đặng hóa độ chúng sanh, chớ tôi chẳng vì lợi ích
một mình mà cầu mau chứng đạo quả.
Tôi nguyện
hóa độ hết thảy mọi loài chúng sanh ở các thế giới trong
mười phương đều phát tâm cầu đạo Vô Thượng Chánh Giác,
giữ gìn tâm Bồ Đề cho bền chắc, và khuyến hóa theo môn
lục độ (lục độ là: 1- bố thí, 2- trì giới, 3- nhẫn nhục,
4- tinh tấn, 5- thiền định, 6- trí huệ).
Tôi nguyện
giáo hóa vô số chúng sanh ở các thế giới đều đặng thành
Phật thuyết Pháp trước tôi, và trong khi thuyết Pháp, làm
sao cho tôi đều xem thấy tất cả.
Tôi nguyện
trong khi tu Bồ Tát Đạo, làm đặng vô lượng việc Phật,
và sanh ra đời nào cũng tu theo Đạo ấy cả.
Bao nhiêu
chúng sanh của tôi dạy dỗ đều đặng thanh tịnh, như các
người đã có tu phép thiền định ở cõi Phạm Thiên, tâm
ý không còn điên đảo. Nếu đặng các kẻ chúng sanh như
vậy sanh về cõi tôi, thì khi ấy tôi mới thành đạo.
Tôi nguyện
đem các món hạnh nguyện mà cầu đặng cõi Phật trang nghiêm
và nguyện hết thảy các cõi Phật đều hiệp chung lại thành
một thế giới của tôi.
Đường
giới hạn xung quanh trong cõi ấy đều dùng những chất: Vàng,
bạc, ngọc lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu và mã não, mà
xây đắp cho cao lên đến cõi Phạm Thiên, còn mặt đất thì
toàn là ngọc lưu ly tất cả.
Trong
cõi ấy không có các món đất, cát, bụi bặm, chông gai, dơ
dáy, và không có những sự cảm xúc, thô ác, và xấu xa, cũng
không có những người đàn bà và tên hiệu của người đàn
bà
Hết
thảy chúng sanh đều hóa sanh, chớ không phải bào thai trong
bụng mẹ như các cõi khác, và hằng tu tập các pháp thiền
định, vui đẹp tự nhiên, chớ không cầu phải ăn uống những
đồ vật chất.
7-
Trong cõi tôi không có người Tiểu thừa, Thinh Văn và Duyên
Giác. Thảy đều là các bực Bồ Tát, căn tánh cao thượng,
tâm trí sáng suốt, người nào cũng đã xa lìa mọi sự tham
lam, hờn giận, ngu si, và đã tu đặng các môn phạm hạnh
cả.
8-
Trong khi chúng sanh sanh về cõi tôi, thì tự nhiên đủ tướng
mạo Tỳ khưu, đều có cạo tóc và đắp y một cách chỉnh
đốn cả.
9-
Chúng sanh trong cõi tôi muốn ăn, thì tự nhiên có bình bát
thất bảo cầm ở nơi tay và đủ các món đồ ăn ngon đẹp
đầy bát. Khi ấy lại nghĩ rằng: Chúng ta chớ nên dùng những
đồ này, nguyện đem bố thí, trước hết dâng cúng cho các
Đức Phật, Bồ Tát, Thinh Văn, và Duyên Giác, sau nữa thì
chúng sanh nghèo hèn và các loài ngạ quỷ đói khát đều dùng
no đủ. Còn phần chúng ta thì nên tu pháp thiền định, hưởng
sự vui đẹp tức là món ăn.
10-
Mọi người suy nghĩ như vậy, liền đặng pháp Tam muội, gọi
là "Bất khả tư nghị hạnh", có sức thần thông, dạo đi
tự tại, không có sự gì ngăn ngại tất cả. Độ trong giây
phút, mọi người được dạo khắp thế giới mà cúng dường
Phật, bố thí và diễn thuyết các pháp cho chúng sanh nghe rồi
trở về nước thì vừa đúng bửa ăn.
11-
Tôi nguyện trong thế giới của tôi không có tám món chướng
nạn và các sự khổ não, và cũng không có những người phá
hư giới luật.
12-
Tôi nguyện trong thế giới ấy có nhiều món châu báu rất
lạ lùng và không cần gì phải dùng đến ánh sáng của mặt
trời và mặt trăng. Các vị Bồ Tát tự nhiên xung quanh thân
thể có hào quang sáng chói, soi khắp các nơi, thường chiếu
luôn không có ngày đêm, chỉ xem lúc nào bông nở thì cho là
ban ngày, lúc nào bông xếp lại cho là ban đêm mà thôi. Còn
khí hậu thường điều hòa, không nóng quá cũng không lạnh
quá.
13-Nếu
các vị Bồ Tát nào bổ xứ làm Phật các cõi khác, thì trước
hết ở nơi cõi tôi, rồi đến cung Trời Đâu xuất, sau mới
giáng sinh đến cõi ấy.
14-
Tôi nguyện hóa độ chúng sanh đều thành Phật hết rồi,
tôi mới hiện lên trên hư không mà nhập diệt.
15-Trong
lúc tôi nhập diệt, thì có nhiều món âm nhạc tự nhiên kêu
vang đủ pháp mầu nhiệm và các vị Bồ Tát nghe đều tỏ
đặng các lẽ huyền diệu.
16-Thưa
Đức Thế Tôn! Tôi nguyện khi làm Bồ Tát mà dạo trong các
cõi Phật, xem thấy những thức trang nghiêm những châu báu,
những hình trạng, những xứ sở, và những hạnh nguyện của
chư Phật, thì tôi đều cầu đặng thành tựu tất cả.
17
- Tôi nguyện các vị Đẳng Giác Bồ Tát đều ở trong cõi
tôi mà đợi đến thời kỳ sẽ bổ xứ làm Phật, chớ không
thọ sanh các cõi nào khác nữa. Nếu các vị nào muốn đến
cõi khác thành Phật mà hóa độ chúng sanh, thì tùy theo ý
nguyện.
18-Thưa
Đức Thế Tôn! Trong khi tôi tu đạo Bồ Tát, nguyện đặng
cõi Phật rất tốt đẹp nhiệm mầu. Các vị Bồ Tát phát
Bồ Đề tâm, tu Bồ tát hạnh, mà đặng bực bổ xứ thành
Phật, đều sanh về trong cõi tôi cả.
19-Thưa
Đức Thế Tôn! Tôi nguyện đặng như vậy, tôi mới thành
Phật, và nguyện ngồi khoanh chưn trên tọa Kim Cang ở dưới
cây Bồ Đề, trong giây lát chứng thành Chánh Giác.
20-
Khi thành Phật rồi, tôi biến hóa ra các vị hóa Phật và
các vị Bồ Tát, nhiều như số các sông Hằng, đặng dạo
các thế giới mà hóa độ chúng sanh, giảng dạy các Pháp
nhiệm mầu và khiến cho hết thảy nghe Pháp rồi đều phát
Bồ Đề Tâm, cho đến khi thành đạo cũng không đổi dời
tâm trí.
21-
Khi tôi thành Phật rồi, chúng sanh ở trong các cõi nếu thấy
đặng tướng tốt của tôi, hằng in nhớ trong tâm luôn luôn,
cho đến khi thành đạo cũng không quên.
22-Tôi
nguyện chúng sanh trong cõi tôi, người nào cũng đủ căn thân
toàn vẹn, không hư thiếu món gì. Nếu các vị Bồ Tát muốn
xem thấy tướng tôi, hoặc nằm, hoặc ngồi, hoặc đứng,
hoặc đi, thì đều thấy đặng cả. Khi thấy rồi, liền phát
Bồ Đề tâm, và lại trong lúc thấy tôi, những sự hoài nghi
về đạo pháp tự nhiên hiểu biết đặng cả, không cần
đợi tôi giải quyết nữa.
23-
Tôi nguyện khi tôi thành Phật rồi, thì tôi đặng thọ mạng
vô cùng vô tận, không kể xiết. Còn các vị Bồ Tát trong
cõi tôi cũng đặng sống lâu như vậy.
24-Trong
lúc tôi thành Phật, có vô số Bồ Tát đủ tướng mạo Tỳ
khưu, người nào cũng cạo đầu, đắp y, cho đến khi nhập
Niết Bàn thì những tóc không khi nào để mọc dài, và những
y cũng không khi nào đổi bận như đồ người thế tục.
Đức
Bảo Tạng Như Lai nghe mấy lời nguyện rồi, liền thọ ký
cho Vương Chúng Thái Tử rằng: "Hay thay! Hay thay! Ngươi là
người Đại Trượng phu, trí huệ sáng suốt, tỏ biết mọi
lẻ, phát nguyện rất lớn và rất khó khăn, làm những việc
công đức rất rộng sâu, không thể nghĩ bàn đặng. Chính
ngươi là bậc trí huệ nhiệm mầu, mới làm đặng mọi sự
như vậy.
Bởi
ngươi vì hết thảy chúng sanh mà phát thệ nguyện rất nặng
lớn và cầu đặng cõi Phật rất trang nghiêm như thế, nên
ta đặt hiệu ngươi là: Văn Thù Sư Lợi. Trải vô lượng
hằng sa số kiếp về sau, ngươi sẽ thành Phật hiệu là:
Phổ Hiền như Lai ở thế giới rất đẹp đẽ, tên là Thanh
Tịnh Vô Cấu Bảo Chi, thuộc về bên phương Nam.
Tất
cả mọi sự trang nghiêm của ngươi ước ao thảy đều thỏa
mãn.
Này
Văn Thù Sư Lợi, từ rày sắp về sau, trải hằng sa kiếp,
ngươi tu Bồ Tát đạo, trồng các căn lành, và tâm trí thanh
tịnh. Ngươi hằng vì chúng sanh mà giáo hóa cho chúng nó đều
dẹp trừ được các món tâm bịnh, vậy nên chúng nó đều
xưng ngươi là một ông Thầy thuốc hay, có một món thuốc
thần để chữa lành được bịnh phiền não.
Vương
chúng Thái Tử thưa rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Nếu sự thệ
nguyện của tôi đặng như lời Ngài thọ ký đó, thì tôi
xin cả thế giới đều vang động và các Đức Phật mười
phương đều thọ ký cho tôi nữa".
Vương
chúng Thái Tử thưa rồi, đương cúi đầu lễ Phật, tự nhiên
giữa hư không có các thứ tiếng âm nhạc vang rền diễn ra
các pháp mầu nhiệm, và có các thứ bông tươi tốt thơm tho
rải xuống như mưa.
Các
vị Bồ Tát ở các thế giới khác xem thấy như vậy, liền
hỏi các Đức Phật rằng: "Do nhân duyên gì mà có điềm lành
như thế?"
Các
Đức phật nói rằng: "Nay Chư Phật ở mười phương đều
thọ ký cho Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát sau sẽ thành Phật, nên
hiện ra điềm lành ấy".
Vương
chúng Thái Tử thấy vậy, lòng rất vui mừng, liền đãnh lễ
Phật, rồi ngồi nghe thuyết Pháp.
Từ
đó sắp sau, Thái Tử mạng chung, bào thai ra các thân khác
và đời khác, kiếp nào cũng giữ gìn bản thệ, quyết chí
tu hành, học đạo Đại thừa, làm hạnh Bồ tát, hóa độ
chúng sanh đều thành Phật đạo, mà cầu cho thỏa mãn những
sự cầu nguyện của mình.
SỰ
TÍCH ĐỨC PHỒ HIỀN BỔ TÁT
Khi
Đức Phổ Hiền Bồ Tát chưa xuất gia học đạo, còn làm
con thứ tư của vua vô Tránh Niệm, tên là Năng Đà Nô.
Nhờ
Phụ Vương khuyên bảo, nên Thái Tử mới phát tâm cúng dường
Phật Bảo Tạng và chúng sanh trong ba tháng.
Lúc
ấy có quan Đại thần Bảo Hải thấy vậy, khuyên rằng: "Nay
Điện hạ có lòng làm đặng món công đức rất tốt như
thế, xin hãy hồi hướng về Đạo Vô Thượng Bồ Đề, mà
cầu đặng thành Phật, hơn là cầu sự phước báu hữu lậu
nơi cõi nhơn Thiên, vì cõi ấy còn ở trong vòng sinh tử".
Năng
Đà Nô Thái Tử nghe quan Đại thần khuyên bảo như vậy, liền
thưa với Phật Bảo Tạng rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Nay
tôi có món công đức cúng dường Ngài và đại chúng trong
ba tháng, xin hồi hướng về đạo vô thượng Chánh Giác, nguyện
phát tâm Bồ đề, tu hạnh Bồ tát mà giáo hóa mọi loài chúng
sanh, đặng thành Phật đạo, và nguyện đặng cõi Phật rất
thanh tịnh trang nghiêm, bao nhiêu những sự tốt đẹp và sự
giáo hóa chúng sanh đều y như thế giới của Đức Phổ Hiền
Như Lai vậy".
Đức
Bảo Tạng Như Lai nghe Năng Đà Nô Thái Tử phát nguyện như
thế, liền thọ ký rằng: Hay thay! hay thay! Ngươi phát thệ
nguyện rộng lớn, muốn độ hết thảy chúng sanh đều thành
Phật Đạo. Trong khi tu Bồ tát đạo, dùng trí kim cang mà phá
nát các núi phiền não của mọi loài chúng sanh, vì vậy nên
ta đặt hiệu ngươi là: Kim Cang Trí Huệ Quang Minh Công Đức,
trãi hằng sa kiếp làm nhiều công việc Phật sự rất lớn,
rồi đến thế giới Bất Huyến ở phương Đông mà thành
Phật, hiệu là Phổ Hiền Như Lai, chừng đó những sự tốt
đẹp trang nghiêm của ngươi đã cầu nguyện thảy đều thỏa
mãn".
Khi
Đức Bảo Tạng Như Lai thọ ký rồi, tự nhiên giữa hư không
có nhiều vị Thiên tử ở các cõi Trời đem đủ thứ bông
thơm đẹp đến mà cúng dường và đồng thinh khen ngợi.
Năng
Đà Nô Thái Tử thưa với Phật rằng: "Bạch Đức Thế Tôn!
Nếu những sự ao ước của tôi ngày sau quả nhiên đặng
như lời Ngài thọ ký, nay tôi kính lễ Ngài và chư Phật mà
xin làm sao hằng sa thế giới có đủ món hương rất tốt
rất thơm, mùi bay khắp trong các cõi, và mọi chúng sanh, hoặc
ở trong địa ngục, ngạ quỷ cùng súc sanh, cho đến các người
ở cõi Thiên Thượng Nhơn gian, đương mắc phải nghiệp báo
gì, nếu ngửi đặng món hương thơm ấy, tức thì đều đặng
rảnh khổ và lại hưởng sự an vui".
Năng
Đà Nô Thái Tử thưa rồi, đương cúi đầu mà lễ Phật,
thì trong các thế giới mười phương tự nhiên có mùi hương
thơm bay khắp cả. Lúc đó mọi loài chúng sanh ngửi đặng
mùi hương ấy, lòng dạ hớn hở, các bệnh phiền não thảy
đều tiêu trừ. Năng Đà Nô Thái Tử nhờ Phật thọ ký như
vậy, thân tâm vui mừng, bèn đảnh lễ Phật, rồi ngồi xuống
nghe Ngài thuyết Pháp.
Năng
Đà Nô Thái Tử nhờ công đức đó, nên sau khi mạng chung,
sanh ra các thân khác và các đời khác, kiếp nào cũng nhờ
lời thệ nguyện mà chăm làm các việc Phật sự và hóa độ
chúng sanh, đặng cầu cho mau viên mãn những sự của mình
đã ao ước.
Bởi
Ngài có lòng tu hành tinh tấn như vậy, nên nay đã thành Phật,
ở cõi Bất Huyến, và hóa thân vô số ở trong các thế giới
mà giáo hóa chúng sanh.
SỰ
TÍCH ĐỨC ĐỊA TẠNG BỔ TÁT
Đức
Địa Tạng là một vị đã chứng bực Đẳng Giác trải đến
vô lượng A Tăng Kỳ kiếp rồi.
Ngài
có lời đại nguyện rằng: Nếu Ngài chưa độ hết chúng
sanh, thì Ngài không chứng quả Bồ Đề, và nếu sự thọ
khổ trong địa ngục hãy còn, thì Ngài thề không chịu thành
Phật.
Do
cái bổn nguyện ấy, nên Ngài phân thân nhiều phen, đặng
độ thoát hằng hà sa số chúng sanh đương tội khổ, trải
đã không biết bao nhiêu kiếp rồi, mà Ngài cũng còn làm một
vị Bồ Tát như vậy.
Còn
như nói đến tiền thân của Ngài từ khi chưa chứng quả
vị, có kiếp Ngài làm con gái, có kiếp thì Ngài làm con trai,
và cũng có kiếp Ngài làm vua nữa.
Nay
y theo Kinh Địa Tạng của Phật Thích Ca nói tại cung Trời
Đao Lợi rất có chứng cớ rõ ràng, mà lược điển một
sự tích, khi Ngài làm con gái dòng Bà La Môn như dưới này.
Hồi
đời quá khứ, tại kiếp Bất khả tư nghị A tăng kỳ, có
Đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương ra đời.
Sau
Phật ấy nhập diệt rồi, đến thời kỳ Tượng Pháp thì
Ngài Địa Tạng lúc ấy chưa chứng vị Bồ Tát, sanh làm con
gái dòng Bà La Môn.
Vì
nàng có túc phước rất nhiều, nên hết thảy mỗi người
trong hàng thân thích đều tôn trọng cung kính, cho đến khi
đi đứng nằm ngồi, cũng đều có hàng Chư Thiên ủng hộ.
Ngặt
vì thân mẫu của nàng tín theo ngoại đạo, nên thường đem
lòng tà niệm mà khinh khi Tam Bảo, đã không tin nhân quả nghiệp
báo, mà lại còn chê bai Chánh Pháp nữa.
Khi
đó nàng đã biết mẹ mình không tin Phật pháp, thế nào đến
khi thác rồi cũng phải trầm luân nơi khổ ải, nên nàng mới
hết lòng khuyên can, sớm tối kiếm nhiều lời, phương tiện
mà giảng nói, muốn làm sao cho mẹ mình tín ngưỡng theo Chánh
giáo, thì mới đành lòng.
Song
khuyên thì khuyên, can thì can, mà thân mẫu của nàng ác nghiệp
đã dãy đầy và tín tâm lại cạn cợt, nên chẳng có chút
gì tin theo.
Ôi
chẳng bao lâu bà đã nhuốm bệnh trầm kha, bổng chốc hóa
ra người thiên cổ. Vì lúc sanh tiền ác nghiệp đã thành
thục, nên chi thần hồn phải theo nghiệp quả mà đọa lạc
vào vô gián địa ngục.
Còn
phần nàng, một nỗi thì thương mẹ cách biệt, dậm đất
kêu trời, một nổi thì sợ mẹ trầm luân, kinh hồn hãi vía,
ngổn ngang trăm mối bên lòng, ăn không ngon, nằm không ngủ,
đêm ngày than khóc, ngàn thảm muôn sầu. Tưởng trong cảnh
huống ấy, nếu có phương gì mà cứu mẹ được, dầu thịt
nát xương mòn nàng cũng không hề tiếc, huống chi nói đến
sự gì. Khi ấy nàng mới bán hết nhà cửa ruộng vườn, rồi
mua sắm đủ các thứ hương hoa và những đồ quí báu đem
đến Chùa Phật mà dâng cúng.
Lúc
nàng vào Chùa lễ lạy, xem thấy hình tượng của Đức Giác
Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai sơn vẻ trang hoàng, oai dung
nghiêm chỉnh, dường như một vị Phật sống thì trong lòng
nàng lại bội phần kính ngưỡng.
Nàng
lễ bái rồi tự nghĩ rằng: "Phật là bực Đại Giác, đủ
trí sáng suốt và hiểu thấu các lẽ, nếu được Phật còn
tại thế, thì trong lúc mẹ ta chết rồi, thì có phạm tội
gì và sanh về đường nào, ắt nhờ Phật từ bi chỉ bảo
cho ta biết đặng, có đến nổi đâu mà thảm như thế này!"
Nàng
nghĩ như vậy rồi, cứ đứng nhìn sửng tượng Phật mà khóc,
không chịu bước ra, dường có vẻ muốn tỏ lòng cầu khẩn
với Phật mà mong Phật chỉ bảo chỗ thọ khổ của mẹ mình
và nhờ ơn cứu độ.
Vừa
một chập lâu, thoạt nghe giữa thinh không có tiếng gọi rằng:
"Nàng Thánh Nữ kia! Thôi đừng buồn rầu khóc lóc nữa, để
ta chỉ chỗ thác sanh của mẹ ngươi cho ngươi biết".
Nàng
nghe nói như vậy, liền chấp tay ngữa mặt lên hư không mà
bạch rằng: "Từ khi mẹ tôi mất đến nay, ngày đêm thương
nhớ, không biết hỏi han ai cho rõ chỗ thác sanh của mẹ tôi,
nay không biết đức Thánh thần chi mà có lòng đoái thương
đến tôi như vậy".
Lúc
nàng nói vừa rồi, giữa thanh không lại có tiếng trả lời
rằng: "Ta đây là Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà
ngươi cúng dường lễ bái đó! Vì thấy ngươi có lòng thương
nhớ mẹ rất tha thiết, thiệt là chí hiếu hơn hạng chúng
sanh thường tình, nên ta đến đây mà chỉ bảo".
Nàng
nghe mấy lời Phật nói như thế, thì lòng thiết tha muốn
biết rõ tin của mẹ thác sanh về chỗ nào, nên không kể
đến thân hình, liền gieo mình xuống đất, tay chân bủn rủn,
chết điếng một hồi.
May
đâu có những người ở hai bên xúm lại đỡ dậy, nên nàng
mới hồi tỉnh lại, rồi bạch với giữa thanh không rằng
"Xin Phật đem lòng từ bi thương xót mà chỉ dùm chỗ thác
sanh của mẹ tôi cho mau, chứ tôi đây hình mòn tâm khổ chẳng
bao lâu phải chết".
Khi
ấy Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mới nói với
nàng rằng: "Ngươi cúng dường và lễ bái xong rồi, mau mau
sớm trở về nhà, ngồi ngay thẳng và yên lặng mà nghĩ danh
hiệu của ta, tự nhiên biết được xứ sở của mẹ ngươi
thác sanh". Nàng lễ Phật vừa xong, liền trở về nhà cứ
y theo lời Phật dạy, nàng ngồi yên lặng một chỗ, niệm
danh hiệu của Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai
một ngày một đêm. Thình lình nàng thần mộng đi đến một
chỗ bờ biển kia, nước cuồn cuộn sôi trào, ba đào sóng
bủa, lại thấy nhiều giống ác thú, cả mình bằng sắt,
nhảy nhót bơi chạy trên mặt biển, không biết là bao nhiêu,
lại thấy những đàn ông và đàn bà, kể hơn trăm ngàn, lặn
xuống trồi lên ở trên ấy, thảy đều bị những thú dữ
kia dành giựt bấu xé mà ăn thịt.
Còn
quỉ Dạ Xoa thì hình thù khác nhau hoặc có thứ nhiều tay
nhiều chân, hoặc có thú nhiều con mắt nhiều đầu, hoặc
có thứ nanh bén nhọn như gươm mọc ló ra ngoài miệng, thảy
đều áp lại lùa đuổi những bọn tội nhơn đến gần cho
thú dữ kia ăn thịt. Thiệt cái thảm trạng ấy không dám
xem cho lâu!
Nhưng
nàng nhờ có sức niệm Phật, nên tâm vẫn thanh tịnh, tự
nhiên không có chút cho sự sợ hãi cả. Xảy đâu có một
quỷ vương, tên là Vô độc, thấy hình tướng nàng chẳng
phải người phàm, oai nghi không giống kẻ tục, bèn đến
trước mặt nàng cúi đầu nghinh tiếp mà bạch rằng: "Dám
hỏi Đức Bồ Tát vì duyên cớ chi mà đi tới đây?"
Nàng
lại hỏi quỷ vương rằng: "Chỗ này kêu là xứ gì?
Quỷ
vô độc đáp rằng: "Đây là biển nghiệp thứ nhất, về
phía Tây núi Thiết vi".
Nàng
nghe nói liền bảo rằng: "Ta nghe trong núi Thiết vi có địa
ngục ở chính giữa, việc ấy quả như vậy hay không?"
Quỷ
Vô độc đáp rằng: "Thiệt có địa ngục, chớ không phải
huyễn hoặc đâu!"
Nàng
nghe rồi bèn khởi lòng kính nghi mà hỏi nữa rằng: "Địa
ngục là nơi để giam nhốt những người có tội, còn Ta đây
có lòng kính ngôi Tam Bảo, mà duyên cớ gì cũng đi đến chỗ
ấy như vậy?"
Quỷ
Vô độc đáp rằng: "Phàm người đi đến đây có hai cách:
một là có oai đức thần thông, đến cứu độ cho mấy người
tội khổ, hay là đến chơi cho biết, hai là mấy người tội
ác đã thành thục, phải đi tới đây mà chịu khổ.
Nếu
trừ hai lẽ ấy ra, thì không thể đến đây được". Nàng
lại hỏi nữa rằng: "Nước biển này duyên cớ sao mà lại
sôi trào lên hoài, còn ở trong thì có nhiều tội nhân lặn
lên hụp xuống, lại bị các loài thú dữ xâu xé ăn thịt
như thế!"
Quỷ
Vô độc đáp rằng: "Đây là chỗ nhốt những kẻ chúng sanh
tạo ác ở cõi Diêm phù đề, nên khi chết rồi, trãi qua 49
ngày, không ai kế tự, lo làm việc công đức đặng cứu vớt
vong linh bị khốn nạn. Còn những người đã chết đó, lúc
sanh tiền lại không có chút mảy gì là điều phước thiện,
vì vậy nên cứ theo bổn nghiệp của mình mà chiêu cảm lấy
cái khổ báo ở nơi địa ngục tự nhiên trước hết phải
đọa tới đây.
Ở
bên phía Đông biển này, cách chừng mười vạn do tuần lại
có một cái biển nữa, sự đày đọa của chúng sanh bị vào
đó còn khổ hơn đây đến bội phần. Còn bên mé Đông biển
kia, lại có một cái biển khác, sự thảm trạng thống thiết
không thể kể xiết!
Những
hạng người thọ khổ là do bình nhựt ở thế gian tạo những
nghiệp ác mà phải cảm lấy sự tội báo như vậy, nên ba
cái biển đó đều gọi là: "biển nghiệp".
Nàng
lại hỏi quỷ Vô độc rằng: "Sao đây chỉ thấy có biển
nghiệp mà thôi, còn địa ngục lại ở chỗ nào đâu?"
Quỷ
Vô độc đáp rằng: "Ở giữa ba cái biển ấy là chỗ địa
ngục. Nếu kể số riêng ra thì nhiều đến trăm ngàn mà sự
thọ khổ đều mỗi mỗi khác nhau, như nói về phần ngục
lớn thì có 18 chỗ, còn nói về phần ngục trung thì có năm
trăm chỗ và lại có ngàn trăm chỗ ngục nhỏ nữa. Sự khổ
độc trong mấy chỗ ngục đó không biết bao nhiêu mà kể
cho xiết đặng! "Nàng lại hỏi quỷ vương rằng: "Mẹ ta khi
chết đến nay tuy chưa bao lâu mà chẳng biết thần hồn đã
đi đến chỗ nào?"
Quỷ
vương lại hỏi nàng rằng: "Chẳng hay mẹ của Bồ tát, lúc
sanh tiền làm những nghiệp gì, xin tỏ cho tôi rõ".
Nàng
đáp rằng: "Mẹ ta trước bị nhiễm theo tà kiến, chê bai
ngôi Tam Bảo, gửi lòng không thường, lập tánh không định,
dẫu có nghe lời khuyên can mà tạm tín, rồi cũng trở lại
hủy báng nữa. Nay chết tuy chưa bao lâu, ắt có lẻ theo ác
nghiệp ấy mà đọa vào khổ thú, nên ta muốn tìm cho biết
chỗ sanh xứ của mẹ ta, nhưng không hiểu ở nơi nào?"
Quỷ
vô độc hỏi rằng: "Vậy chờ mẹ của Bồ tát tên họ là
chi?"
Nàng
đáp rằng: "Cha tên là Thi La Thiện Hiện còn mẹ hiệu là
Duyệt Đề Lợi, đều là dòng dõi Bà La Môn cả".
Quỷ
Vô độc nghe rồi, lật đật chấp tay mà bạch với nàng rằng:
"Xin Thánh giả trở về bổn xứ, chẳng nên thương nhớ lịnh
thân mẫu mà buồn rầu làm cho hao mòn quý thể. Số là Duyệt
Đề Lợi đã khỏi sự khổ ở chốn địa ngục này mà sanh
lên cõi Trời cách nay đã ba ngày rồi. Nguyên Bà nhờ có người
con hết lòng thảo thuận, lập đàn tràng tu phước và cúng
dường nơi tháp tự của Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương
Như lai, nên mới cảm đến Phật Thánh mà được sanh về
cõi Trời như vậy.
Chẳng
những thân mẫu của Bồ Tát nhờ phước đó mà thoát khỏi
chỗ Vô gián địa ngục, đặng sanh lên cõi Trời mà thôi,
cho đến những người đồng thọ tôi ở đó cũng nhờ duyên
phước ấy mà đều đặng an vui và đồng sanh về cõi Thiên
đàng trong ngày đó nữa?.
Quỷ
vương nói rồi, liền chấp tay tỏ vẻ cung kính mà xin lui.
Còn
nàng thì trong lúc ấy, dường như chiêm bao tỉnh giấc, mới
rõ biết việc này là nhờ Phật lực làm cho thân mình được
đi tới chỗ thác sanh của mẹ như vậy. Nên nàng cảm ơn
Phật, lập tức đến trước bổn tượng của Đức Giác Hoa
Định Tự Tại Vương Như Lai mà phát lời thệ nguyện lớn
rằng: "Nay tôi nguyện cho đến kiếp vị lai nếu có chúng
sanh nào tạo tội mà chịu khổ ở nơi Địa ngục, bất luận
là kẻ thân thuộc hay người cừu oán, tôi lập ra nhiều pháp
môn phương tiện mà cứu độ cho đều được phân giải thoát
tất cả".
SỰ
TÍCH ĐỨC ĐỊA TẠNG BỔ TÁT
(
ĐỜI KHÁC)
Hồi
đời quá khứ vô lượng a tăng kỳ kiếp, có Đức Phật Thanh
Tịnh Liên Hoa Mục ra đời.
Sau
Phật nhập diệt rồi, đến thời kỳ tượng Pháp, thì Ngài
Địa Tạng chưa chứng vị Bồ Tát, sanh làm người con gái,
tên là Quang Mục.
Khi
mẹ nàng từ trần, thì nàng ngày đêm lo sợ, không biết mẹ
có thoát khỏi tội khổ hay không.
Có
một bửa kia, nàng gặp một Thầy Tỳ khưu đương khất thực,
mà Thầy ấy chính là một vị La Hán đi giáo hóa chúng sanh.
Nàng bèn sắm đủ các món đồ ăn ngon quý, rồi mời vị
La Hán ấy vào nhà mà cúng dường.
Khi
Ngài thọ thực rồi, bèn hỏi rằng: "Ngươi muốn cầu nguyện
việc chi hay không?"
Nàng
thưa rằng: "Bạch Ngài! Bởi vì ngày mẹ tôi mất đến nay,
tôi buồn rầu thương nhớ bội phần, nghĩ đến ơn nhũ bộ,
đức sanh thành, thì ngàn kiếp muôn đời tôi cũng không quên
đặng, nên tôi nguyện làm việc tư phước này đặng cầu
siêu vong linh cho mẹ tôi nơi chín suối. Nhưng bổn phận tôi
là người phàm mắt thịt, không biết mẹ tôi thác sanh về
chỗ nào?
Vậy
xin Ngài từ bi chỉ bảo cho tôi biết".
Vị
La Hán thấy nàng Quang Mục tuổi nhỏ mà có lòng hiếu đạo
như vậy, bèn nhập định thấy mẹ nàng bị đọa vào chỗ
ác thú mà chịu nhiều nổi thống khổ rất nặng nề.
Khi
Ngài xuất định rồi, liền hỏi nàng rằng: "Vậy chớ lúc
còn sanh tiền ở trên dương thế, mẹ ngươi làm những việc
chi, đến nổi nay lại bị hiện báo ngay ở chỗ ác thú mà
chịu hình phạt lớn lao như thế ?"
Nàng
nghe nói khôn xiết nổi buồn rầu, liền khóc òa một hồi
rồi thưa rằng: "Bạch Ngài! Số là bình nhựt sở hảo của
mẹ tôi chỉ thích ăn loài cá trạch, mà lại còn ưa ăn những
trứng của nó, hoặc chiên xào, hoặc nấu nướng, không biết
ngàn vạn nào mà kể xiết. Thường cái nghiệp sát sanh của
mẹ tôi đó cũng đã quá nặng, vậy xin Ngài đem lòng từ
bi thương xót đến kẻ thơ ấu này làm thế nào cứu vớt
mẹ tôi đặng thoát khỏi nơi khổ thú, thì ơn đức ấy vô
lượng vô biên".
Vị
La Hán thấy tấm lòng chơn thiệt của nàng yêu cầu khẩn
thiết như vậy, liền dùng cơ phương tiện mà khuyên nhủ
nàng rằng: "Ngươi nên chí thành xưng niệm danh hiệu của
Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục, và phát tâm đắp vẻ sơn thếp
hình tượng của Phật mà thờ, thì ngày sau nhờ cái công
đức đó mà kẻ còn sống đặng thêm sự lợi ích, và người
mất rồi lại khỏi sự khốn nàn, hai đàng đều nhờ phần
phước báu tất cả".
Khi
nàng Quang Mục nghe lời của vị La Hán nói trên, nàng dẫu
bỏ thân mạng cũng không tiếc, huống chi là sự gì. Nên nàng
liền bán hết thảy những đồ nữ trang và có bao nhiêu tiền
của cũng đem ra mướn thợ tạo tượng Phật Thanh Tịnh Liên
Hoa Mục và mua vàng sơn thếp mà cúng dường như tỏ dấu
yêu cầu đến Phật, đặng nhờ ơn cứu độ cho từ thân.
Có
một đêm kia, ước chừng lúc canh ba, nàng vừa mơ màng giấc
điệp, bỗng thấy thân Phật hiện ra sắc vàng rực rỡ, lại
có hào quang sáng chói mà tỏ cho nàng biết rằng: "Mẹ ngươi
chẳng bao lâu rồi cũng thác sanh vào nhà ngươi, hể vừa biết
sự đói lạnh thì nói liền, khi đó ngươi sẽ rõ".
Nàng
Quang Mục tỉnh giấc dậy, thì biết là điềm linh ứng của
Phật mách bảo, nhưng chưa hiểu cách thác sanh làm sao, nên
luống những ưu sầu mà trông đợi.
Cách
ít lâu, người tớ gái của nàng sanh được một đứa con,
chưa đầy ba ngày mà đã biết nói.
Có
một bửa nọ, đứa nhỏ thấy nàng Quang Mục liền cúi đầu
mà khóc lóc rất thảm thiết, rồi nói rằng: "Đường sanh
nẻo tử, mối nghiệp dây duyên, nếu đã tạo tội thì tất
phải chịu lấy quả báo, chớ không thể tránh được. Ta
đây vốn thiệt là mẹ ngươi khi trước. Từ lúc vĩnh biệt
đến nay, ta bị đọa vào địa ngục, chịu nổi đắng cay,
may nhờ phước lực của ngươi, nên ta mới được đầu thai
lên đây. Nhưng vì tội báo còn nặng nên ta phải sanh làm
thân hèn hạ như thế này. Đã vậy mà lại không thọ, ta
chỉ sống được mười ba tuổi mà thôi, rồi lại phải chết
vì bị đọa vào ác đạo nữa. Bây giờ ngươi nghĩ có cách
gì làm cho ta ngày sau thoát khổ ấy đặng hay không?
Nàng
nghe nói đầu đuôi tự sự, hiệp với lời của Phật mách
bảo trong điềm chiêm bao, thì biết là thiệt mẹ của mình,
nàng động mối thương tâm, tơ sầu vấn vít, giọt lệ chứa
chan, mà thưa với đứa nhỏ ấy rằng: "Nếu quả là mẹ tôi,
thì chắc biết đặng những sự tội lỗi trong lúc sanh tiền
làm hạnh nghiệp gì mà phải đọa vào ác đạo như vậy?
Xin tỏ hết cho tôi làm tin".
Đứa
nhỏ bèn nói rằng: "Bởi ta ngày trước phạm vào hai nghiệp
tội: một là sát sanh và hai là hay mắng người, nên phải
đọa vào địa ngục mà chịu nổi khổ báo như vậy. Nếu
không nhờ phước lực của người niệm Phật và đắp vẻ
hình tượng của Ngài mà thờ, đặng cầu cứu vớt cho ta,
thì tưởng không phương gì mà ta mong phần giải thoát cho
đặng".
Nàng
lại hỏi nữa rằng: "Vậy chớ những sự tội báo ở nơi
địa ngục ra thế nào?"
Đứa
nhỏ nói rằng: "Ôi sự thống khổ ấy không nở nói ra , mà
đã nói thì cũng không biết chừng nào cho hết chuyện".
Nàng
nghe mấy lời ấy liền khóc òa, rồi ngữa mặt lên hư không
mà bạch rằng: "Tôi nguyện với Chư Phật xin đem lòng đại
bi mà cứu cho mẹ tôi đời đời khỏi đọa vào địa ngục,
và từ nay cho mẹ tôi khỏi phạm tội nặng mà sa vào đường
ác đạo khác nữa".
Nàng
bèn ra quỳ trước bàn thờ Đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục mà
nguyện rằng: " Nay tôi vái cùng mười phương Chư Phật, xin
từ bi thương xót mà chứng minh cho mấy lời thệ nguyện của
tôi ở giữa này. Nếu mẹ tôi đời đời lìa khỏi ba đường
dữ cùng khỏi làm người hèn hạ, và đến kiếp nào kiếp
nấy cũng khỏi đầu thai làm thân con gái nữa, thì từ đó
tôi đối trước tượng Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục đây
cho đến trăm ngàn muôn ức kiếp về sau, hễ thế giới nào
có chúng sanh bị các tội khổ ở trong địa ngục, ngạ quỷ
và súc sanh, thì tôi thệ nguyện ra sức cứu vớt cả thảy
khỏi sự thống khổ nơi ba đường ấy và chừng người nào
người nấy đều đặng thành Phật tất cả, tôi mới chịu
chứng bực Chánh Giác".Khi nàng phát thệ nguyện vừa rồi,
bỗng nghe giữa hư không có tiếng nói rằng: "Này Quang Mục!
Ngươi có lòng từ bi mẫn rất lớn, biết vì mẹ mà phát
lời đại nguyện như thế, nay Ta là Thanh Tịnh Liên Hoa Mục
cho mẹ ngươi mãn đến khi 13 tuổi, được thác sanh làm người
Phạm Chí, hưởng thọ đến trăm tuổi, rồi sau lại được
sanh về cõi Vô ưu, hết sự lo phiền, đủ điều khoái lạc,
lại sống lâu đến đời đời kiếp kiếp, và sau được
thành Phật quả mà cứu độ tất cả chúng sanh ở cõi Nhân
gian và Thiên thượng, nhiều như số cát sông Hằng".
Nàng
nghe đủ mọi điều tiên chúc của Phật tỏ bày, thì lấy
làm vui mừng khôn xiết, liền lễ lạy mà cảm ơn đức Ngài.
Từ
đó về sau nàng nuôi dưỡng và săn sóc đứa con nít ấy kỹ
càng và khi đến 13 tuổi nó chết, nàng thương xót và chôn
cất một cách tử tế như mẹ vậy.
SỰ
TÍCH ĐỨC ĐỊA TẠNG BỔ TÁT
(ĐỜI
KHÁC)
Trước
đời quá khứ vô lượng A tăng tỳ na do tha bất khả thuyết
kiếp, thì Đức Nhứt Thuyết Thí Thành Tựu Như Lai và Ngài
Địa Tạng Bồ Tát đều chưa xuất gia tu hành. Hai người
đồng làm vua lân bang với nhau trong một thời kỳ.
Khi
ấy, hai vị quốc vương kết nghĩa làm bạn và giao hảo với
nhau một cách rất thân thiết, đều phát tâm làm mười điều
lành, muốn trên thì quần thần được hưởng cuộc sống
hạnh phúc vô vi, dưới thì bá tánh được an cư lạc nghiệp,
và sau nữa tất cả chúng sanh đều gội ơn giáo hóa, cảm
đức nhơn từ, mà bỏ dữ làm lành, đặng mọi phần lợi
ích.
Song
nhân dân trong các nước lân bang, phần nhiều hay làm điều
ác nghiệp, như là tham lam, nóng giận, ngu si, tà kiến, nói
thì ngoa ngôn ác ngữ, mắng rũa lẫn nhau, không kính Phật
trọng Tăng, chẳng trì giới sát, tật đố mấy người lương
thiện, mưu hại những kẻ trung thành, chẳng có chút gì là
lòng nhơn đức cả.
Đã
vậy mà hễ có xảy ra những tai bệnh gì, thì cứ rước bóng
rước chàng, vái ma vái quỷ, đem thân mạng mà cầu cứu với
bọn tà sư ngoại đạo, sát hại vật mà cúng tế luôn luôn,
tạo tác không biết bao nhiêu là tội nghiệp. Hai vị quốc
vương thấy nhơn dân ở các nước lân bang cứ chuộng sự
tà mî và làm việc chẳng lành như vậy, động lòng thương
xót, mới bàn luận cùng nhau tìm phương tiện gì, đặng hóa
độ cho những kẻ ấy khỏi bị cái ác nghiệp thọ báo, trầm
luân nơi biển khổ về sau.
Lúc
bàn luận xong rồi, một vị phát nguyện rằng:
"Nay
tôi nguyện xuất gia cầu đạo Bồ đề cho đặng mau thành
Chánh Giác mà hóa độ tất cả chúng sanh đều được vào
cõi Niết Bàn, thì lòng tôi mới lấy làm thỏa mãn".
Còn
một vị, thì phát nguyện rằng: "Nay tôi nguyện xuất gia tu
hạnh Bồ Tát, nếu tôi không độ những loài chúng sanh bị
tội khổ được mọi điều an lạc và chứng quả Bồâ đề,
thì tôi chưa chịu thành Phật".
Trong
hai vị quốc vương đồng thời phát nguyện như đã nói trên,
thì phát nguyện sớm thành Phật mà hóa độ chúng sanh, tức
là Ngài Nhứt Thiết Trí Thành Tựu Như Lai. Còn vị phát nguyện
độ hết chúng sanh rồi sau sẽ thành Phật, tức là Ngài Địa
Tạng Bồ Tát.
Vì
lời thệ nguyện của Đức Địa Tạng như vậy, nên đã trãi
vô số kiếp mà Ngài cũng còn làm một vị Bồ Tát. Thiệt
tấm lòng độ sanh của Ngài to lớn biết là dường nào!
SỰ
TÍCH ĐỨC ĐỊA TẠNG BỔ TÁT
(ĐỜI
KHÁC NỮA)
Hồi
đời quá khứ, thuộc về kiếp bất khả thuyết, thì tiền
thân của Đức Địa Tạng Bồ Tát lại sanh làm ông Đại
Trưởng giả, rất hào tộc và có đức độ.
Đương
thời kỳ ấy, có Đức Phật, hiệu là Sư Tử Phấn Tấn Cụ
Túc Vạn Hạnh Như Lai ra đời.
Một
bữa kia, ông Trưởng giả tình cờ gặp vị Phật ấy, thân
tướng tốt đẹp, ngàn phước trang nghiêm, thiệt là tuyệt
thắng trên đời, xưa nay chưa thấy. Ông càng xem lại càng
thương và càng kính, làm cho ông sanh lòng hân hạnh bội phần.
Ông
bèn lại gần, cúi đầu chấp tay mà thưa rằng: "Bạch Thế
Tôn! Tôi trộm thấy cái dung quang của Ngài rất đoan trang
nghiêm nghị và viên mãn trăm phần, càng ngó lại càng tươi,
càng nhìn lại càng đẹp, thiệt là chẳng ai có cái báo thân
như thế! Nhưng tôi tự nghĩ rằng nếu được quả tốt, ắt
có nhơn lành, vậy chẳng rõ mấy kiếp trước, Ngài làm những
hạnh nguyện gì mà ngày nay cảm được thân tướng tốt đẹp
như thế!
Xin
Ngài từ bi giảng nói cho tôi biết, chứ tôi đây cũng lấy
làm ước ao sao cho được cái tướng hảo ấy".
Sư
Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai thấy ông Trưởng
giả có lòng ước sự làm lành, nên Ngài liền bảo rằng:
"Nếu người muốn được kim thân diệu tướng như Ta đây,
thì phải phát tâm tu hành, trải vô lượng kiếp cầu đạo
bồ đề và một lòng tinh tấn, mà hóa độ tất cả những
loài chúng sanh thọ khổ cho thoát khỏi đường tội báo và
được phần khoái lạc tiêu diêu, do cái duyên phước ấy
mà ngày sau sẽ cảm đặng tướng hảo như Ta đây, chớ không
khó gì".
Ông
Trưởng giả nghe Phật dạy bảo như vậy, liền quỳ xuống
trước mặt Ngài mà phát nguyện rằng: "Tôi nguyện từ nay
cho đến đời vị lai, không biết bao nhiêu kiếp số về sau,
nếu có chúng sanh nào ở trong sáu đường, bị thống khổ
về sự tội báo, thì tôi dùng đủ phương tiện mà độ cho
được giải thoát tất cả, chừng đó tôi mới chứng Phật
quả".
Vì
trong kiếp làm Trưởng giả nói trên, Đức Địa Tạng có
phá