Phụ
lục:
NGUỒN
GỐC CÁC GIỚI ĐƠN ĐỀ
(GIỚI
BẢN TỲ KHEO)
Muốn
hiểu rõ mỗi giới, ta cần hiểu các dữ kiện lịch sử làm
căn bản cho giới luật. Sau đây xin trích dẫn một số tài
liệu về các nguồn gốc ấy, rút từ Tứ Phần Giới Bổn
Duyên Khởi sự nghĩa của ngài Quảng Mạc đời nhà Minh (thế
kỷ thứ 14).
1.
Giới tiểu vọng ngữ:
Do
tôn giả Tượng lực phạm đầu tiên. Ông có tài biện luận
mỗi khi thua thì nói ngược lại, chối phăng những điều
đã nói. Các Tỳ kheo bất mãn bạch Phật. Phật chế giới
này.
2.
Mắng nhiếc (hủy tỷ ngữ):
Do
Lục quần Tỳ kheo phạm. Phật kể truyện thú vật cũng không
ưa nói lời mếch lòng nó, để khuyến cáo các Tỳ kheo.
3.
Lưỡng thiệt:
Lục
quần Tỳ kheo phạm, chuyên môn gây xáo trộn trong chúng bằng
những lời thất thiệt. Phật kể chuyện sư tử và cọm mất
tình thân thiện do sự đâm thọc của anh chồn, để khuyên
răn các Tỳ kheo và chế giới.
4.
Ngủ đêm cùng nhà với nữ:
Tôn
giả A na luật hôm lỡ đường, ghé vào nhà một dâm nữ tá
túc. Gặp lúc nguy hiến tôn giả phải vận thần thông bay
lên hư không để thoát. Trở về, tôn giả thuật lại, Đức
Thế Tôn nhân đấy chế giới để bảo vệ danh dự cho tăng
đoàn.
5.
Ngủ quá 3 đêm với người chưa thọ cụ:
Lục
quần tỳ kheo ngủ thiếu uy nghi, để cư sĩ trông thấy, chê
bai. Các Tỳ kheo bạch Phật, Phật chế giới cấm ngủ chung
phòng với cư sĩ. Một hôm, trên đường du hóa của Ngài,
sa di La hầu la phải đứng trong cầu vệ sinh suốt đêm, vì
không đại đức nào dám chứa người chưa thọ cụ túc, sau
khi Phật chế giới. Phật bèn dẫn vào cho ở với Ngài một
đêm, và nhóm tăng quở trách không có lòng từ ái đối với
trẻ nhỏ. Rồi Ngài chế lại giới này, cho phép người chưa
thọ cụ túc được ở chung với Tỳ kheo dưới 3 đêm, khi
gặp trường hợp đặc biệt.
6.
Tụng giới với người chưa thọ cụ túc:
Lục
quần Tỳ kheo bắt chước kiểu tụng đọc của bà la môn,
làm cho những vị ưa thanh tịnh trầm tư phải khó chịu. Phật
chế giới cấm.
7.
Nói tội thô ác của Tỳ kheo cho người chưa thọ cụ túc:
(khi chúng tăng chưa yết ma cho nói).
Lúc
Phật ở Linh thứu, có vị Tỳ kheo đang hành sám, phải đi
sau chót. Lục quần chỉ cho cư sĩ xem và kể vị ấy phạm
tội như vậy như kia, phải làm như vậy như kia. Tỳ kheo có
tội lấy làm sỉ nhục, hiền trách Lục quần. Phật chế
giới. Về sau, khi được tăng sai đi nói tội phá tăng của
Đề bà đạt đa cho cư sĩ biết, tôn giả Xá lợi phất sợ
phạm giới. Phật thêm "trừ khi tăng sai".
8.
Thật đắc đạo, cho người chưa thọ cụ túc biết:
Một
Tỳ kheo ở Bà lý nói cho sa di và cư sĩ biết những gì mình
đã chứng đắc vượt con người. Phật biết được, chế
giới cấm nói.
9.
Nói pháp cho nữ nhân quá năm, sáu lời:
Tôn
giả Ca lưu đà di kề tai cô dâu mà nói trước mặt bà mẹ
chồng, bà hỏi: "Ông ta nói cái gì thế?".
Cô
dâu bảo, "Nói pháp".
- "Nói
pháp thì sao không nói lớn cho ta nghe với, lại đi nói thầm?"
Câu
chuyện tới tai Phật, Ngài bèn chế giới cấm nói pháp cho
phụ nữ. Phụ nữ khiếu nại, Ngài bèn cho nói (pháp) nhưng
không được quá 5, 6 câu nếu không có nam nhân biết điều
(có đủ trí khôn để phân biệt phải trái, thanh thô) cùng
ở đấy. Nếu có, thì cho nói nhiều hơn cũng được.
10.
Đào đất:
Lục
quần Tỳ kheo tu bổ nhà giảng, đào đất, bị cư sĩ chê
vì làm chết côn trùng. Phật bèn chế giới. (Các giáo phái
ở Ấn độ trước Phật giáo cũng kiêng sát sinh còn quá khích
hơn đạo Phật, như Kỳ na giáo. Giới cấm này một phần
vì từ bi, nhưng phần lớn hơn là để tránh cơ hiềm của
ngoại đạo).
11.
Hoại quỷ thần thôn:
Một
Tỳ kheo ở đồng trống tự phá cây. Tất cả cây đều có
quỷ thần và sinh vật ở, nếu phá thì các sinh vật ấy không
có chỗ nương. Do thần cây khiếu nại, Phật chế giới.
12.
Dư ngữ não xuất:
(Chọc
tức người với những lời lẽ ngang bướng, không đúng vào
đề tài, đánh trống lấp). Khởi từ Xiển đà Tỳ kheo có
tội, bị cử, bèn hỏi vặn lại để xúc não.
13.
Hiềm mạ tri sự: tự địa Tỳ kheo chê tri sự tăng là tôn
giả Đáp-bà-ma-la lo về chỗ nằm, mền gối cho chúng, nói
sau lưng tôn giả là "còn có thương, giận, sợ, si" (hiềm:
chê sau lưng). Các Tỳ kheo trách cứ, Từ địa nói: "Tôi không
chê, chỉ mắng thôi" (mạ: mắng, người kia nghe được). Đức
Phật chế giới cấm cả hai lối nói.
14.
Trải đồ nằm chúng tăng ở chỗ trống:
Nhóm
17 Tỳ kheo nhỏ tuổi, được thâu vào tăng đoàn một cách
sơ suất, đ4 để bừa bãi đồ nằm của tăng chúng ngoài
trời, khiến chim phá chuộc gặm. Phật nhân đấy chế giới.
("Thập thất quần Tỳ kheo" là nhóm 17 vị, lớn nhất 17 tuổi,
nhỏ nhất 12 tuổi, gốc ở La duyệt thành, chơi với nhau từ
bé được cha mẹ cưng chiều. Upàli đầu đàn, vốn là con
một, cha mẹ mong cho cậu làm một nghề gì không nhọc mệt
được sung sướng. Thấy tăng đoàn nhờ nấp bóng Phật được
trọng nể, nên cả hai ông bà đều muốn cho con xuất gia.
Cậu bé cũng thích ý ấy, rồi cả bọn bạn bè của cậu
thấy cậu xuất gia cũng đi theo luôn. Các Tỳ kheo thâu nạp
cho cả 17 trẻ làm Tỳ kheo ngay. Nửa đêm cả bọn khóc la
kêu đói, đòi ăn đủ thứ. Từ am thất, Đức Phật nghe biết,
quở trách ra lệnh cấm từ nay không được nhận kẻ dưới
20 tuổi vào làm Tỳ kheo. Vì làm sao bọn nhỏ chịu đựng
được đói rét, ăn ngày một bữa, sức nắng mặt trời,
các loài bò sát, các lời mạ lỵ phỉ báng trong lúc đi xin
ăn? Nhưng đối với 17 vị đã lỡ nhận thì đành phải chịu,
cũng như đối với Lục quần. Tăng đoàn thường gặp rắc
rối do hai "băng" này gây ra).
15.
Trải đồ nằm chúng tăng ở chỗ vắng:
Do
một khách tăng đi vân thủy ghé Kỳ viên xin trọ, sáng ra
đi không cáo từ, cũng không xếp trả đồ nằm, làm cho mối
mọt ăn rách nát sau một thời gian bị bỏ quên. Chính Phật
tìm thấy trong lúc ngài tuần hành qua các trú xứ của chư
tăng khi họ đi phó trai, một mình Ngài ở nhà. Khi chư tăng
trở về, ngào nhóm tăng chế ra giới này.
16.
Trải đồ nằm lấn chỗ của người đến trước:
Lục
quần Tỳ kheo cùng với đám 17 thiếu niên Tỳ kheo đi đường
xa, đến một chùa xin trọ. Lục quần để cho các Tỳ kheo
nhỏ đi trước xin chỗ xong, đến sau, cậy thế lớn cưỡng
bức, trải đồ nằm ra choán chỗ. Các Tỳ kheo khác trông
thấy, chê trách, bạch Phật.
17.
Đuổi người khác ra khỏi phòng:
Cấm
đuổi người khác ra khỏi phòng khi sân giận, không ưa. Cũng
một lần khác, trên đường du hành 17 Tỳ kheo nhỏ đến một
nơi xin được chỗ tốt, vừa trải đồ ra nằm, thì Lục
quần đến sau đuổi ra dành chỗ. 17 Tỳ kheo nhỏ khóc la làm
kẻ bàng quan cảm động, chê cười.
18.
Ngồi ghế giường sút chân:
Tài
Kỳ viên, các Tỳ kheo ở trên gác, ngồi giường sút chân,
chưa an chỗ thì chân giường bị sút, và bởi ván gác mục,
rớt trúng các Tỳ kheo ở dưới, gây thương tích.
19.
Dùng nước có trùng tưới trên bùn, cỏ:
Xiển
đà Tỳ kheo làm nhà ở, lấy nước có trùng hòa với bùn
để trét vách, bị cư sĩ chê. (Xem giới thứ 10 ở trên).
20.
Lợp nhà quá hạn:
Cấm
chồng chất quá nhiều đồ lợp mái. Xiển đà làm chỗ trú,
còn thừa nhiều tranh, tự nhủ, tranh này khó kiếm, bèn chồng
nhiều lớp lên mái, làm nhà sụp vì không chịu nổi sức
nặng. Cư sĩ chê cười, đến tai Phật.
21.
Giáo thọ ni:
Đại
ái đạo xin Phật cho Tỳ kheo đến chùa ni giáo thọ cho ni.
Phật sai chư thượng tọa thứ đệ sai tăng giáo thọ ni. Lục
quần Tỳ kheo không được chư tăng sai, cũng tự tiện đến
chùa ni để giáo giới, chỉ nói toàn chuyện thế tục. Bà
dì lại đến kiện Phật, Phật ra lệnh, cấm đi giáo thọ
cho ni chúng, trừ tăng sai.
22.
Nói pháp đến tối mịt:
Cấm
giáo giới ni sau khi mặt trời lặn. Tôn giả Nanda được tăng
sai giáo thọ ni, dạy tới tối mới xong. Khi ni trở về chùa
trong thành Xá vệ, thì cổng thành đã đóng, phải nghỉ đêm
ở ngoài thành. Sáng sớm, ni trở về, bị cư sĩ đàm tiếu.
Phật nhân đây chế giới.
23.
Nhạo báng người giáo thọ ni:
Lục
quần Tỳ kheo không được tăng sai giáo thọ ni, bè hủy báng
những vị được tăng sai rằng: những vị này vì muốn ăn
ngon nên thuyết pháp. Phật chế giới cấm nói vậy.
24.
Tặng y cho ni:
Một
Tỳ kheo trong chùa Kỳ viên khi vào thành khất thực, ni chúng
thấy uy nghi khả kính nên thường cúng dường. Tỳ kheo không
nhận. Một hôm được chúng chia y, vị Tỳ kheo bèn nghĩ, đem
y này tặng cho ni cô thường cho mình vật thực, chắc cô ấy
sẽ từ chối và như vậy từ nay ta khỏi bị quấy nhiễu.
Nào nhè cô kia nhận liền, Tỳ kheo đi rêu rao hành vi kém tế
nhị của cô kia. Câu chuyện đến Phật, Phật chế giới.
25.
May y cho ni:
Ngoài
những tài năng khác, tôn giả Ca lưu đà di còn là thợ may.
Ông may giùm cho một ni cô thứ y phục giống phụ nữ thế
gian. Mặc vào, ni bị cư sĩ chế nhạo. Bà gì tới kiện Phật,
phật chế giới cấm may y cho ni.
26.
Ngồi với ni:
Ca
lưu đà di ngồi nói chuyện với Thâu la nan đà trước cổng,
mọi người trông thấy, chê bai.
27.
Hẹn ni cùng đi:
Lục
quần Tỳ kheo cùng du hành với ni, cư sĩ chê. Phật chế giới
cấm. Về sau, ni đi riêng bị giặc cướp, Phật chế lại
giới này, là trừ lúc nguy hiểm.
28.
Cùng ni ngồi một thuyền:
Lục
quần Tỳ kheo cùng ngồi thuyền với ni để sang sông bị chê
cười nên Phật cấm. Về sau, khi sông Hằng bị lụt, trời
tối, các Tỳ kheo qua sông trước, ni ở lại bị giặc bắt.
Phật chế giới lại, trừ trường hợp đặc biệt, và trừ
khi thuyền lớn.
29.
Ăn đồ cúng dường do ni ca tụng mình:
Ở
Xá vệ, một cư sĩ mời Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên thọ
thực, đang sửa soạn, thì ni Thâu la nan đà đến, hỏi cúng
dường ai đó, đáp hai tôn giả Xá Lợi Phất, và Mục Kiền
Liên. Ni bảo: "Sao lại mời mấy người hạ tiện đó, nếu
nói cho tôi biết tôi sẽ mời dùm bậc đại long tượng".
Cư
sĩ hỏi: "Cô muốn nói ai vậy?"
Ni
nói: "Đề bà đạt đa".
Vừa
lúc ấy hai tôn giả đến, ni bèn đổi giọng: "Đây, bậc
đại long tượng đã đến".
Cư
sĩ nói: "Tại sao cô vừa nói "hạ tiện", bây giờ lại nói
"long tượng"? Từ nay đừng tới nhà tôi nữa".
Xá
Lợi Phất về bạch Phật, Phật chế giới cấmăn một bữa
do ni ca tụng mình mà được.
Sau
đó, ở thành La duyệt, một cư sĩ muốn mời tôn giả Lê
sư đạt. Một ni cô biết chuyện này, khi tôn giả đến thành,
cô bèn tới nhà cư sĩ để báo tin. Cư sĩ thiết trai xong đi
mời tôn giả đến thọ, tôn giả hỏi, sao biết tôi đến
thành này, cư sĩ đáp, nhờ ni cô cho hay. Tôn giả cẩn thận
sợ phạm giới nên không ăn. Phật bèn chế lại giới, thêm
câu "Trừ trường hợp thí chủ đã có ý muốn mời trước".
30.
Hẹn cùng nữ nhân đi chung:
Một
cô gái người Tỳ xá li làm dâu người ở Xá vệ, gây lộn
với mẹ chồng nên bỏ về lại nhà cha mẹ ở Tỳ xá li đúng
vào lúc tôn giả A na luật (Anurudha) cũng đi từ Xá vệ đến
Tỳ xá li. Cô gái xin quá giang theo Ngài, tôn giả bằng lòng.
Dè đâu nửa đường, chồng cô ta đuổi kịp trông thấy tôn
giả, tưởng ông rủ rê vợ mình, nên đánh tôn giả gần
chết. Tôn giả nhẫn thọ, ngồi kiết già bên đường, nhập
"hỏa quang tam muội" người kia thấy sám hối. Tôn giả tha
thứ bỏ đi, trợ về Kỳ viên thuật lại chuyện, Phật bèn
chế giới. (so sánh với số 4 ở trên).
31.
Ăn quá một bữa ăn:
Ở
nước Câu tát la, có một cư sĩ nguyện cho ở lại một đêm,
và cúng dường một bữa ăn cho các tu sĩ khi lỡ đường ngang
đấy, vì ở đấy không có tăng xá. Lục quần Tỳ kheo đến
thấy được tiếp đãi nồng hậu nên cố ở luôn, không chịu
đi. Cư sĩ chê cười, các Tỳ kheo bạch Phật chế giới cấm
quá một bữa. Sau, tôn giả Xá Lợi Phất đi qua đấy, nhuốm
bệnh mà cũng không dám ở lại vì sợ phạm giới, do đó
bệnh càng tăng. Phật bèn sửa lại, là trừ trường hợp
bị bệnh.
32.
Nhận ăn tại nhiều nhà (1 lần):
Phật
cùng 1250 Tỳ kheo du hành đến nước A na tần lâu có một
bà la môn chở nhiều xe thực phẩm để cúng dường, khi nào
chư tăng không xin được gì, vì họ đang đi qua một vùng
đói kém. Khi đoàn lữ hành đến biên giới nước A na tần
lâu, thì dân chúng ồ ạt thiết cúng. Bà la môn Sa nâu không
biết làm gì với thực phẩm còn lại, xin đổ giữa đường
cho Đức Phật và tăng chúng dẫm lên để chứng cho lòng thành
của ông, trước khi ông từ giã (vì sự đi theo không cần
nữa). Phật bảo ông nấu tất cả đồ khô còn lại ấy,
thành một thứ cháo thập cẩm, cúng dường chư tăng dùng
sáng trc khi đi khất thực. Từ đấy, dân mộ đạo khi được
biết Phật cho phép ăn cháo trước khi đi khất thực, bèn
chia nhau nấu các thứ cháo nêm ngon lành để cúng. Một vị
đại thần cũng thi đua cầu phước, làm một bữa ăn thịnh
soạn để cúng tăng. Vì chư Tỳ kheo trước đã dùng cháo,
nên lúc đến phó trai tại nhà vị đại thần, không thể
nào ăn thêm được. Gia chủ rất phiền não vì cớ ấy, bạch
Phật. Phật chế giới cấm ăn trước khi đến nhà cư sĩ
thọ thực. Về sau có người bị bệnh đến nhà một cư sĩ
thọ trai nhưng không ăn được một thứ gì, mà cũng không
dám nhận thực phẩm tại nhà khác sau đó. lại có khi một
nhà cho ăn không no. Rồi lại có khi, đã nhận lời mời ăn
tại một nhà, sau đó lại có nhà vừa cúng thực phẩm, vừa
cúng y. Nếu giữ lời hứa ăn tại nhà đầu tiên thì không
có y. Phật bèn chế thêm là trừ những trường hợp đặc
biệt ấy.
33.
Biệt chúng thực:
Cấm
vắng mặt trong các bữa ăn đông chúng. Để bà đạt đa là
kẻ đầu tiên phạm điều này. Sau khi mưu hại Phật, tiếng
ác đồn khắp. Lợi dưỡng không còn, Đề bà dùng dư đảng
đi khất thực từng nhà, gọi là "biệt chúng thực". Việc
khất thực riêng nhóm như vậy trở thành một dấu hiệu muốn
ly khai với đại chúng (Đoàn thể), nên Phật cấm ăn biệt
chúng, nghĩa là tụ họp nhau 4 người trở lên mà ăn. Về
sau có người bị bệnh, được mời ăn riêng, không dám. Có
thí chủ thiết trai và dâng y sau mùa an cư, cũng không dám.
Có người đi đường, bạn đồng hành mời ăn, cũng không
dám, để đi một mình đằng sau bị cướp... Phật nhân đây
chế thêm, trừ trường hợp đặc biệt như vậy, đi đường,
đi phó trai... thì có thể ăn biệt chúng.
34.
Nhận ăn quá hạn:
Một
cô gái ở Xá vệ lấy chồng xa về nhà thăm cha mẹ, đã khuyên
mẹ quy y tam bảo, cúng dường chư tăng. Cô mải nấu ăn cúng
dường, khi người chồng đến tìm, đợi mãi, nổi sân, bỏ
đi cưới vợ khác. Gia đình cô vì thế mà phải tan nát. Một
thương khách mộ đạo vì ham thí thực cho chư tăng, bị bỏ
lại sau đoàn, bị giặc cướp. Phật nhân đấy chế giới,
cấm lạm dụng hảo tâm của thí chủ (cấm ăn bữa ăn của
cô dâu về nhà cha mẹ và ăn của người đi đường).
35.
Ăn thêm trái phép:
Phật
ở Kỳ viên, ca ngợi phương pháp "Nhất tọa thực" (chỉ ăn
ngày một lần). Chư Tỳ kheo tuân theo, chỉ ăn một lần. Sau
đó nhiều vị gầy ốm xanh xao, Phật hỏi A nan, tôn giả đáp
vì Phật dạy chỉ nên ăn một lần, những người ấy hoặc
ăn không đủ, hoặc gặp món ăn không được, mà vẫn không
dám ăn lần khác. Phật cho làm phép Dư thực mà ăn thêm. Pháp
này nghĩa là, một vị ăn đã no, nhận đồ ăn từ thí chủ,
hãy ăn một ít, rồi bảo vị kia cứ tùy tiện mà dùng.
36.
Mời ăn thêm trái phép:
Tỳ-kheo
nào, biết Tỳ-kheo kia ăn đã đủ, hoặc khi thọ thỉnh, không
làm phép dư thực mà ân cần mời vị kia ăn, nói rằng: "Trưởng
lão, hãy dùng món ăn này". Chỉ với mục đích này chứ không
có gì khác, tức là muốn người khác phạm giới, phạm Ba-dật-đề.
37.
Ăn phi thời:
Nhằm
tiết Trung thu có hội chợ, hai Tỳ kheo Nan đà và Bạt nan
đà cố đi khất thực thật muộn, để tiện dịp xem hội,
khi về chùa thì đã tối mịt. Các Tỳ kheo tra hỏi biệt được
liền bạch Phật. Lại thêm tôn giả Ca lưu đà di chờ trời
tối mới khi khất thực, vào một nhà nọ phụ nữ có thai
đi ra tưởng là con quỷ, sợ quá, té ngửa mà truỵ thai. Phật
bèn cấm đi khất thực phi thời. Các Tỳ kheo phải đi xin
sáng sớm, và ăn trước ngọ.
38.
Ăn đồ cách đêm:
Tôn
giả Ca na ở núi Linh Thứu, một hôm nảy ra ý kiến, tội
gì đi khất thực hàng ngày cho nhọc xác. Đồ ăn còn hôm
nay, để tới mới mốt ăn. Chư Tỳ kheo thấy vắng tôn giả
vào các bữa tiểu thực, hỏi, biết lý do, bèn bạch Phật
chế giới cấm để dành.
39.
Cấm ăn đồ không ai mời:
Một
Tỳ kheo ở Kỳ viên nảy ra ý, nay ta hãy thực hành hạnh mặc
y phấn tảo và xin ăn để sống. Bèn hành hạnh ấy. Khi đi
trông thấy các gia chủ cúng thí thực cho người quá cố bên
bờ sông hoặc dưới bức thành, Tỳ kheo bèn lấy đồ thí
thực để ăn, khỏi đi xin. Các gia chủ chê bai, Tỳ kheo gì
mà người ta không cho, lại cứ lấy ăn. Phật nghe, bèn chế
giới Tỳ kheo không được bỏ vào miệng bất cứ cái gì
không do người ta cúng. Sau đó có người sợ phạm giới,
lại còn không dám uống nước và xỉa răng. Phật lại thêm:
trừ tăm và nước thì được bỏ vào miệng.
40.
Xin ăn đồ ngon:
Tôn
giả Bạt nan đà đến một thương gia thí chủ, xin ăn đồ
ngon. Cư sĩ hỏi: "Đại đức có bệnh gì không".
Đáp:
"Không".
Cư
sĩ bảo: "Không bệnh mà đòi ăn ngon cái gì? Chúng tôi đây
làm việc cực nhọc, không có đồ ngon mà ăn, sao Tỳ kheo
lại đòi ăn ngon?"
Các
Tỳ kheo bạch Phật, Phật chế giới.
41.Cho
ngoại đạo ăn:
Phật
và đại chúng đi từ Câu tát la đến Xá vệ, giữa đường,
cư sĩ cũng rất nhiều bánh đa (bánh tráng). Phật bảo A nan
chia cho chúng tăng, còn thừa thì cho hành khất (thường đi
từng đoàn theo sau đoàn khất sĩ, cốt chờ những dịp như
vậy). Trong đám hành khất có một cô gái ngoại đạo lõa
thể, dung mạo dễ coi, chìa tay ra xin bánh. Tôn giả A nan vô
tình phát cho cô ta 1 cái bánh kép (2 cái dính liền). Những
kẻ bàng quan bảo nhau, cô gái đã lọt mắt xanh của tôn giả
rồi đó. Tôn giả nghe, lấy làm bực. Các Tỳ kheo bạch Phật,
Phật chế giới cấm cho ngoại đạo ăn. Sau ngoại đạo khiếu
nại, Phật thấy có lý, nên chế lại, rằng "Cấm cho ngoại
đạo ăn, bằng cách cho tận tay".
42.
Ăn rồi mới vào chỗ mới:
Không
được làm cho người khác hụt nhận sự cúng dường bằng
cách để họ đợi hoặc bằng cách khác.
Một
thí chủ ở Xá vệ mời tôn giả Bạt nan đà cùng một số
Tỳ kheo đến nhà thọ trai. Chư tăng đều tề tựu sốt ruột
đợi nhân vật chính thế mà tôn giả Bạt nan đà còn ở
mãi nơi nao? Trời gần đứng bóng, chư tăng đành phải yêu
cầu khổ chủ cho ăn trước, sợ quá giờ ngọ. Đương sự
lúc ấy đang thọ trai ở nhà khác.
Lần
khác, người ta cúng dường trái cây cho tôn giả lúc ấy lại
đang vắng mặt nên chư Tăng không dám chia. Đương sự lại
về trễ, khiến chúng tăng bị phạm giới ăn phi thời và
tích trữ đồ ăn.
43.
Ngồi nán lại ở nhà ăn:
Ăn
xong không được nấn ná ở nơi có đàn bà đẹp. Trường
hợp tôn giả Ca lưu đà di cứ dùng dằng ở nhà người bạn
gái cũ, mặc chồng cô ta đuổi khéo nhiều lần.
44.
Chỗ vắng cùng nữ giới:
Tôn
giả trở lại ngồi nói chuyện với cô ta sau cánh cửa. Phật
chế giới.
45.
Ngồi với nữ chỗ trống:
Lần
sau tôn giả ngồi ngay ngưỡng cửa nói chuyện với người
đẹp. Phật thêm điều này.
46.
Đuổi bạn ra khỏi làng:
Không
được bỏ đói một Tỳ kheo khác để trả thù.
Tôn
giả Bạt nan đà rủ một Tỳ kheo mà ông ta thù hận đi theo
mình đến trưa rồi bỏ rơi vị này, khiến đương sự phải
nhịn đói luôn cho đến sáng mai. Phật chế giới.
47.
Nhận thuốc quá thời gian thí chủ cúng:
Không
được nhận thuốc nhiều hơn số cần dùng trong 4 tháng. Thí
chủ Ma ha nam dòng họ Thích ở Ca tỳ la vệ xin cúng dường
thuốc cần dùng cho chư Tăng. Rủi thay khi Lục quần Tỳ kheo
đến thì kho thuốc đã cạn. Lục quần Tỳ kheo không tin và
chê Thích Ma ha nam là nói láo. Bất mãn, vị khổ chủ này
ngưng cúng dường Tăng. Đức Phật quở trách Lục quần Tỳ
kheo và chế giới chỉ cho thọ thuốc trong bốn tháng. Về
sau, nhiều thí chủ khác cúng dường dài hạn đủ loại thuốc
cho chư tăng, có vị không dám nhận quá giới hạn bốn tháng,
Phật chế lại giới, thêm: "Trừ khi thí chủ cúng dài hạn".
48.
Xem quân đội:
Cấm
tham dự những buổi duyệt binh, kiến người ta phải đuổi
khéo (trường hợp Lục quần Tỳ kheo). Vua Ba Tư Nặc phải
nhờ đem đường đến cúng dường Thế Tôn, kèm theo lời
tán thán để được rảnh nợ với Lục quần.
49.
Ở lại trong quân trại quá ba đêm:
Không
được ở lại trong quân đội quá 2 hoặc 3 ngày. Lại cũng
là trường hợp Lục quần.
50.
Xem quân tập trận:
Không
được quá chú ý đến những cuộc tập trận. Cũng lại là
Lục quần Tỳ kheo. Một trong những vị này nghịch ngợm bị
một mũi tên vào người.
51.
Uống rượu:
Không
được uống bất cứ thứ nước nào có men.
Tôn
giả Sa gia đà xin ngủ nhờ nhà một bà la môn. Ông này chỉ
còn căn phòng thường bị một con rồng quấy phá. Tôn giả
nói không sao.
Nửa
đêm, con rồng xuất hiện, nổi giận thổi tắt hết đèn.
Tôn giả lúc ấy đang nhập định bèn thổi mạnh hơn. Rồng
hết hơi chịu thua. Tôn giả thâu kẻ chiến bại vào bình
bát đưa cho chủ nhà.
Vua
Kausambi hay tin, dặn người bà la môn mời tôn giả đến thọ
trai tại hoàng cung khi vị này trở lại. Nhà vua cho thiết
những món ăn và ngay cả rượu - cái mà chư tăng chưa bao
giờ khất thực được. Kết quả là tôn giả chập choạng
trở về Tinh xá nôn oẹ tùm lum, chim và quạ tranh nhau mổ
những đồ thổ ra đó, chúng làm ồn đến nỗi Đức Phật
phải quở "Đồ ngu! Thắng con rồng lớn mà thua con rắng nhỏ!"
và chế giới cấm nếm rượu.
52.
Đùa giỡn trong nước:
Vua
Ba tư nặc và hoàng hậu Mallikà đứng trên lầu cao nhìn xuống
sông Aciravati thấy Thập thất quần Tỳ kheo nhào lộn đùa
giỡn. Vốn là Phật tử thuần thành, luôn luôn thấy khía
cạnh tốt, hai vị vương giả cười khoan hồng đám Tỳ kheo
nhi đồng chưa được hoàn toàn vào khuôn phép. Nhưng sau đó,
Hoàng hậu phái một Bà la môn đến tán dương Phật và cúng
dường đường rồi thuật lại chuyện trên cho Phật nghe.
Phật chế giới.
53.
Thọc lét người khác:
Một
vị trong Lục quần Tỳ kheo thọc lét một trong nhóm Thập
thất quần Tỳ kheo làm chết người. Do đó Phật chế giới.
54.
Không nghe can:
Tỳ
kheo Đơn đà muốn phá giới, các Tỳ kheo can không nghe, bạch
Phật.
55.
Nhát Tỳ kheo khác:
Không
được làm người khác sợ hãi.
Tôn
giả Na ca la muốn Đức Phật bỏ những cuộc đi kinh hành
ban đêm nên hóa trang làm ma để dọa ngài. Phật chế giới.
56.
Nửa tháng tắm:
Trừ
trường hợp đặc biệt, 15 ngày mới được tắm một lần.
Vua
xứ Ma kiệt đà cho phép chư tăng tắm trong dòng suối ấm
dành riêng cho hoàng gia. Chư tăng lạm dụng phép đặc biệt
này, nhất là Lục quần Tỳ kheo còn ra suối cả ban đêm,
khiến nhà vua và các cung phi không còn biết tắm vào lúc nào.
Phật chế giới.
57.
Đốt lửa chỗ trống:
Cấm
nhóm lửa ở bất cứ chỗ nào, trừ trường hợp đặc biệt.
Lục
quần Tỳ kheo trốn ra ngoài tinh xá, gặp trời đông lạnh
nhóm lửa dưới gốc cây rỗng. Khó từ trong cây tỏa ra, làm
một con rắn độc đang trú ngụ ở đó bò ra. Hoảng sợ,
Lục quần Tỳ kheo bỏ chạy, để lửa lan đến tinh xá cháy
tiêu giảng đường. Cư sĩ bàn tán nhà cháy làm chết côn
trùng. Phật chế giới.
58.
Giấu đồ người khác:
Không
được tinh nghịch giấu đồ vật của người khác. Trường
hợp Lục quần Tỳ kheo giấu y của Thập thất quần làm họ
không đi dự trai tăng được.
59.
Chân thật tịnh thí:
Không
được lén lấy lại y đã cho người khác. Cũng là trường
hợp Lục quần chơi xấu với Thập thất quần.
60.
Mặc y mới:
Chư
tăng phải mặc áo nhuộm, không được mặc áo dành cho cư
sĩ, gọi là bạch y. Phật cho nhuộm ba màu hòa lại: xanh lá
cây, đen, vàng nghệ, vừa dễ nhuộm vừa ít tốn. Các nhà
luận sư Trung Hoa nói: lấy đồng nhuộm xanh, lấy bùn nhuộm
đen, lấy tinh chất của lá cây rubia cordifolia mà nhuộm vàng.
Những thứ thuốc này dễ nhuộm nên mỗi lần giặt đều
có thể nhuộm lại.
61.
Hại mạng súc sinh:
Không
được uống nước có trùng mà phải lọc trước. Việc lọc
nước bằng đãy lọc đã được thi hành trước khi Phật
chế giới. Chư tăng vì lòng từ đối với chúng sinh bé nhỏ
phải luôn luôn mang đãy lọc theo mình.
63.
Làm người ta nghi và buồn:
Không
được làm các bạn đồng tu lo lắng, nghi ngờ.
Thập
thất quần hỏi Lục quần Tỳ kheo về những pháp để đắc
bốn thiền và bốn quả. Lục quần bảo: "Hỏi như thế là
phạm tội đại vọng ngữ". Nghi ngờ, Thập thất quần đến
hỏi các vị trưởng lão, chư vị này đáp: "Không phạm" và
bạch Phật chế giới.
64.
Che giấu tội thô của người khác:
không
được che giấu tội thô của người khác. Tôn giả Bạt nan
đà chơi thân với một Tỳ kheo và tâm sự cho vị này nghe
vài chuyện bậy của mình, không quên dặn người bạn cố
tri đừng kể lại cho người thứ ba. Về sau, hai vị giận
nhau, người bạn đem kể hết cho mọi người. Phật chế giới.
65.
Trao giới cho người chưa đủ tuổi:
Không
được trao giới cho sa di dưới 20 tuổi thọ cụ túc giới.
Đây là trường hợp nổi tiếng của Thập thất quần một
nhóm trẻ con từ 12 đến 17 tuổi. Đức Phật vừa cho phép
tăng đoàn nhận thêm thì các vị trưởng lão vội cho 17 vị
này thọ giới. Các chuyện phiền phức xảy ra ngay trong đêm
sau. Phật quở và chế giới, nhưng không nỡ đuổi các vị
tân Tỳ kheo này.
66.
Gợi lại việc tranh cãi:
Không
được nhắc lại chuyệt bất hòa đã qua. Lục quần Tỳ kheo
phạm.
67.
Đi với giặc:
Không
được tháp tùng đoàn lữ hành bất chánh. Chư tăng ở Xá
vệ, trên đường đến Vaisali, nhập bọn với một băng cướp.
Rủi tahy, cả đoãn lữ hành bị bắt. Chư tăng bị ghép tội
đồng lõa. Bọn cướp bị xử tử. còn chư tăng được vau
Ba Tư Nặc ân xá. Phật chế giới.
68.
Có ác kiến không nghe can:
Tỳ
kheo A lê tra ở tinh xá Kỳ viên có ác kiến rằng: dâm dục
không trở ngại đạo. Các vị khác can ba lần mà ông vẫn
không bỏ. Phật chế giới.
69.
Theo Tỳ kheo bị cử tội:
A lê
tra đã bị khai trừ mà Lục quần vẫn chấp chứa ông ta.
Phật chế giới.
70.
Theo Sa di bị đuổi:
Không
được nhận, giữ một sa di đã bị đuổi. Ở tinh xá Jetavana,
hai sa di của Bạt nan đà phạm giới bị đuổi. Lục quần
chứa chấp. Phật chế giới.
71.
Cự khuyến học giới:
Không
được bất tuân giới cấm mà biện hộ là "tôi không biết
trước" như Tỳ kheo Xiển đà.
72.
Chê luật:
Không
được coi thường luật, chỉ trích giới bổn. Lục quần
tuyên bố rằng: vào thời tụng giới mỗi tháng, chỉ nên
tụng bốn giới trọng và 13 tăng tàn, những giới còn lại
chỉ tổ làm rối đầu và làm những kẻ cả lo thêm hoang
mang. Phật quở và chế giới.
73.
Sợ bị cử tội, nói chận:
Không
biết giới thì tội nặng gấp hai. Một trong số Lục quần
cãi mình không biết việt đã làm thuộc một điều cấm trong
giới bổn. Đức Phật tuyên bố "vừa phạm tội, vừa không
biết tội là phạt gấp đôi".
74.
Dự yết ma rồi hối:
Không
được vu khống vị yết ma là thiên vị hoặc bất công.
Tôn
giả Đạp bà ma la hết lòng xả thân lo cho chúng, không hề
nghĩ đến tư lợi. Thấy y tôn giả quá rách nát, đại chúng
vừa được chúng dường một y tốt, đem tặng cho tôn giả
theo đúng luật. Lục quần vốn ghét Đạp bà ma la, vu khống
tăng chúng là thiên vị và đặt đủ điều nói xấu. Phật
biết chuyện chế giới.
75.
Không gởi dục:
Không
được cản trở đại chúng nhóm họp.
Ở
tinh xá Jetavana, chư tăng sửa soạn nhóm chúng. Lục quần Tỳ
kheo bảo nhau: "Thế nào chúng ta cũng bị cử tội, bây giờ
chúng ta đi ra, họ sẽ chẳng làm gì được" Chư tăng thiếu
mặt họ nên buổi nhóm chúng bất thành. Phật chế giới không
họp phải gởi dục.
76.
Gởi dục sau hối:
Không
được ngăn trở chúng tăng thi hành các quyết định.
Vì
sợ bị cử tội, Lục quần đã ngăn cản tăng nhóm họp.
Một hôm, khi đại chúng gọi đến, họ viện cớ đang bận
vá áo không đi được. Đại chúng bắt phải có một vị
trong nhóm đi họp thay cho cả bọn. Chính vị này bị cử tội,
Lục quần nghe vậy bảo rằng quyết định của chúng tăng
là vô hiệu quả vì họ không đồng ý. Phật chế giới.
77.
Nghe lỏm bốn việc tranh chấp:
Không
được kể lại những chuyện cãi nhau giữa tăng chúng.
Lục
quần nhắc lại những chuyện cãi vã, làm tăng thêm các mối
bất hòa.
78.
Nổi sân đánh Tỳ kheo:
Không
được đánh đập, đối xử tàn nhẫn như trường hợp Lục
quần hành hạ Thập thất quần.
79.
Nắm tay dọa Tỳ kheo:
Cũng
nhân trường hợp Lục quần.
80.
Vu khống tàn tệ:
Không
được gây buồn phiền người khác bằng những lời xỉ vả
vu khống. Trường hợp Lục quần đối với nhóm Tỳ kheo Thập
thất quần.
81.
Đột nhập vương cung:
Không
được đột nhập vào cung vua.
Trường
hợp tôn giả Ca lưu đa di đột nhập cung vua Ba tư nặc, lúc
đó đang nghỉ trưa cùng hoàng hậu Mallika. Tình thế xảy ra
rất lúng túng, vì hoàng hậu không kịp sửa y phục cho tề
chỉnh. Tôn giả vội thối lui.
82.
Lượm châu báu:
Không
được nhặt cất tiền bạc, nữ trang, đồ quý giá, trừ
ở trong tinh xá hay trong chỗ nghỉ đêm.
Một
du khách mất túi tiền, chư tăng nhặt được đưa lại cho
ông. Ông vu khống chư tăng lấy bớt một phần. Phật dạy:
"Đáng lẽ cứ để yên túi vàng ở giữa đường. Trừ khi
người ta vào viếng tinh xá làm rớt nữ trang thì được nhặt
giữ giùm, hoặc khi đến ngủ nhà thợ vàng thì được lấy
đồ trang sức đang để bừa bãi cất vào tủ cho người ta".
83.
Vào làng trái thời:
Không
được vào làng không phải lúc.
Tôn
giả Bạt nan đà buổi tối hay vào làng đánh bài với cư
sĩ. Tôn giả được bài mãi, khiến họ tức giận đi tố
cáo. Phật chế giới.
84.
Giường cao quá lượng:
Chân
ghế và giường không được cao quá 8 ngón tay Phật như trường
hợp tôn giả Ca lưu đà di làm. Phật chế giới.
85.
Nằm nệm bông tơ:
Không
được làm nệm ghế và giường bằng lông mịn màng. Trường
hợp Lục quần.
86.
Ống kim bằng xương, răng, sừng:
Không
được có hộp đựng kim chỉ bằng trân bảo, khắc hoặc
mài.
Một
nhà thủ công nghệ ở Vương xá muốn tỏ lòng thành với
tăng đoàn, nên cúng dường tăng chúng những sản phẩm của
mình làm ra. Chư tăng xin quá nhiều, tới nỗi thí chủ bị
sạt nghiệp.
87.
Quá lượng ngọa cụ:
Vải
bao ngọa cụ không được quá kích thước ấn định.
Một
hôm chư tăng đi khất thực. Phật đi kiểm soát tinh xá Kỳ
viên thấy các ngọa cụ bị ướt sũng nước mưa và dính
đầy bùn (trời nóng chư tăng ra ngủ ngoài vườn). Ngài chế
cách xử dụng vải bao và ấn định kích thước.
88.
Vải băng ghẻ quá lượng:
Cho
phép sử dụng miếng vải với kích thước ấn định để
băng bó vết thương, vết phỏng. Chư tăng bị các ung nhọt
mà không băng bó nên rất đau đớn và bẩn thỉu. Phật cho
họ xử dụng loại vải mềm và nhẹ. Phật phải ấn định
kích thước mới được cất giữ.
89.
Áo tắm mưa quá lượng:
Cũng
vì lý do trên, ngài ấn định kích thước áo tắm mưa.
90.
Ba y quá lượng:
Tất
cả chư tăng dù vóc dáng thế nào, đều không được đắp
y dài hơn y của Phật, để tỏ lòng tôn kính. Người ta kể
là tôn giả Sunanda có vóc dáng hơi giống Thế tôn nên hay
bị chư tăng nhìn lầm. Phật bắt tôn giả luôn luôn đắp
y đen, còn Ngài thì đắp y vàng.