Phần
hai
MƯỜI
BẢY PHÁP TĂNG TÀN
Tóm
tắt
1.
Làm người mai mối.
2.
Vu khống tội nặng.
3.
Xuyên tạc tội nặng.
4.
Đi thưa kiện người.
5.
Biết giặc mà độ.
6.
Giải cho tội trọng.
7.
Phạm vào bốn sự.
8.
Nhiễm tâm thọ thực.
9.
Khuyên thọ nhiễm thực.
10.
Phá tăng hòa hiệp.
11.
Hỗ trợ phá tăng.
12.
Hoen ố tín đồ.
13.
Không nghe can gián.
14.
Thân nhau giấu tội.
15.
Xúi đừng ở riêng.
16.
Giận bỏ tam bảo.
17.
Chê bai chúng tăng.
1.
MAI MỐI:
Phật
ở Xá vệ chế giới. Tỳ kheo Ca la phạm đầu tiên. Ông giỏi
về khoa bói toán, nên nhiều cư sĩ đến nhờ ông coi ngày
coi tuổi để dựng vợ gả chồng cho con cái họ. Ông nhờ
thế mà được nhiều người thân cận cúng dường. Nhưng
có những cặp vợ chồng sau khi cưới nhau gặp rắc rối,
cơm không lành canh không ngọt, hò bèn đến chùa mắng vốn.
Các tỳ kheo bạch Phật.
2.
VU KHỐNG:
Phật
ở Xá vệ chế giới này. Tỳ kheo Tư Địa phạm. Lúc ấy
Đạp bà ma la đã chứng quả a la hán, phát nguyện làm tri
sự phân phối phòng ốc, đồ nằm và cử tăng theo thứ tự
thọ thực tại các nhà cư sĩ. Vào ngày kết hạ an cư, Tư
địa đến vườn Cấp cô độc lúc trời đã tối, chư tăng
đến trước đã yên chỗ. Chỉ còn môt chỗ nghỉ tồi hơn
các chỗ khác, Đáp bà ma la đưa Tư địa đến đấy và phân
phối mền chiếu cũ cho ông. Tư địa tức giận, nghĩ Đáp
bà ma la còn đồ tốt mà muốn chơi xấu mình. Sáng hôm sau,
ông lai được phiên thọ thực tại một nhà cư sĩ giào có,
nhưng lại cúng toàn thực phẩm dơ. Nguyên vì Tỳ kheo Tư địa
mang tiếng xấu trong giới cư sĩ, nên khi nghe ông được cắt
phiên đến nhà ấy thọ thực, chủ nhà bèn đổi ý định
cúng thực phẩm thượng hạng, mà chỉ cúng những thứ hạng
nhì hạng ba. Tư địa lại nghi Đạp bà la ma xúi, nên ôm hận
trong lòng. Để trả thù, ông đến chùa ni gặp cô em gái là
Di đa la nhờ cô này vu khống cho Đạp bà ma la phạm giới
dâm dục, làm hạnh bất tịnh với mình. Giữa đại chúng,
trước sự vu khống của ni cô, tôn giả Đạp bà ma la chứng
tỏ sự thanh tịnh của mình bằng cách xòe ngón tay út phát
ra ánh sáng và bạch Phật:: "Bạch Đức Thế Tôn, từ khi cha
sinh mẹ đẻ, dù trong mộng con cũng chưa từng có một ý niệm
nhiễm ô đối với phụ nữ, huống hồ là phạm giới bằng
thân hay lời". Đức Phật xác chứng cho lời nói của tôn
giả, quở trách hai anh em Tư địa và Di đa la ni đủ điều
rồi chế giới: Không được vu khống vô căn cứ, muốn cử
tội nặng của người nào, phải đủ chứng cớ rõ ràng gồm
ba sự là thấy, nghe và nghi.
3.
XUYÊN TẠC PHỈ BÁNG:
Phật
chế giới này lúc ở Xá vệ. Tư địa sau khi bị Phật quở
trách tội nhờ em gái vu khống cho Đạp bà ma la, bèn tìm cách
khác để phỉ báng. Một hôm xuống đồi, trông thấy hai con
dê, từ đấy ông bèn nảy ý đặt tên cho dê cái là Di đa
la và dê đực là Đạp bà ma la, rồi tuyên bố giữa chúng
tăng: "Tôi đích thân thấy Di đa la và Đạp bà ma la hạnh
dâm dục, phạm hạnh bất tịnh. Chứng cớ rõ ràng, không
phải là tội ba la di vô căn cứ đâu". Khi tăng hỏi ông đã
thấy trong trường hợp nào và ở đâu, ông đáp lúc đi xuống
đồi, ngay trên bãi cỏ lúc chúng đang cùng ăn cỏ với nhau.
Đại chúng nghe lạ tai, bèn hỏi tiếp mới vỡ lẽ đấy là
hai con dê được Tư địa đặt tên. Như vậy gọi là lấy
một chút cớ nhỏ ("thủ phiến") thuộc về chuyện khác ("ư
dị phận sự trung", như để, người trùng tên) để vu oan
cho người.
4.
ĐI THƯA KIỆN NGƯỜI:
Phật
ở Xá vệ chế giới. Có một cư sĩ cúng đất cho ni chúng
làm chùa, một thời gian sau ni chúng bỏ chỗ ấy đi dựng
chùa nơi khác, chỗ cũ thành một đám đất hoang. Con của
cư sĩ đến canh tác, liền bị ni đi kiện. Quan xử cho ni được
kiện và tịch biên tài sản của người con cư sĩ. Nhiều
người bàn tán chuyện này đến tai Phật, Phật chế giới.
Sau đó một trường hợp tương tự xảy ra là, ni chúng bỏ
chùa đi vắng cư sĩ chủ chùa bèn đem chùa cúng cho một nhóm
Phạm chí ngoại đạo. Nhiều kẻ thấy vậy bất bình, đưa
việc ấy ra tòa. Ni chúng sợ phạm giới Phật chế không dám
đi. Vì thiếu nhân chứng nên tòa xử cho Phạm chí được
kiện, ni chúng bị mất chùa. Phật chê tòa xử bất minh và
nhân đấy chế lại giới này, cho phép nếu tòa mời hay có
việc chính đáng thì Tỳ kheo được phép đến cửa quan.
5.
BIẾT GIẶC MÀ ĐỘ:
Phật
ở Xá vệ chế giới. Có những nam nữa dòng họ Ly xa (Licchavi)
vào rừng cắm trại, bị một cô gái điếm ăn trộm hết
bảo vật rồi chạy vào trốn trong chùa ni, xin cạo tóc xuất
gia. Khi quan quân truy nã bắt được, bèn chê bai ni chúng đồng
lõa với bọn trộm cướp.
6.
GIẢI CHO TỘI TRỌNG:
Phật
ở Xá vệ chế giới. Tỳ kheo ni Ủ y thứ phạm tội bị chúng
tăng quở trách chưa hành sám mà Thâu la nan đà vì tình riêng,
đưa ra ngoại giới làm phép giải tội cho cô này.
7.
PHẠM VÀO BỐN SỰ:
Phật
ở Xá vệ chế giới. Hai Tỳ kheo là Thâu la nan đà và Sai
ma thường phạm bốn việc là một mình qua sông, một mình
vào xóm, một mình ngủ lại và một mình đi sau, khi được
hỏi lý do thì các cô bảo "để gặp nam tử". Các Tỳ kheo
ni thiểu dục quở trách và trình lên. Phật chế giới Tỳ
kheo ni không được làm bốn việc một mình ấy, để đề
phòng chỉ trích và hỗ trợ phạm hạnh.
8.
NHIỄM TÂM THỌ THỰC:
Phật
ở Xá vệ chế giới. Ni cô tên Đề xá nan đà có nhan sắc,
thường tới nhà một ông trưởng giả để khất thực. Ông
này cúng cho cô nhiều thực phẩm hảo hạng trong một thời
gian dài, cuối cùng một hôm nọ khi vào khất thực, cô bị
ông ta ôm chầm lấy. Ni cô la làng. Khi mọi người kéo tới,
ông trưởng giả phân bua: "Tôi có ý muốn mua cô này về làm
vợ bé đã lâu, nên cúng dường trọng hậu. Số tiền tôi
bỏ ra bấy lâu cho cô đã đủ mua một nàng hầu".
Mọi
người hỏi ni cô: "Ni cô có biết ông này có tình ý với
cô hay không?".
Đề
xà đáp "Biết".
Mọi
người bĩu môi chê trách: "Biết sao còn nhận đồ cúng của
ông ta? Biết sao còn rộng họng la lớn thế".
Ông
trưởng giả sai người trói ni cô lại, chừng nào có tiền
đem hoàn đủ số mới thả về. Cô khóc lóc thảm thiết.
Chợt có một nhóm thương gia ở đâu tình cờ đi qua, trông
thấy ni cô bị hành hạ, bèn bảo ông trưởng giả: "Chớ
đụng vào những của nợ ấy. Đấy là những đệ tử của
Đức Thế Tôn mà tất cả vua, đại thần đều kính trọng,
ai khôn hồn thì đừng dây dưa tới họ, coi chừng mang hoạ".
Tất
cả mọi người đều tin lời thương gia vì năng đi đây đi
đó biết nhiều hiểu rộng, bèn cởi trói thả cho Đề xá
ra về, còn hăm he: "Liệu hồn, sau đừng dẫn xác tới đây
nữa".
9.
KHUYÊN NHẬN NHIỄM THỰC:
Phật
ở Xá vệ chế giới. Một Tỳ kheo ni lớn tuổi có một đệ
tử nhan sắc mỹ miều thường đem đồ khất thực ngon về
cho bà dùng. Trải qua một thời gian dài, bà chuyên được
thực phẩm hảo hạng do ni cô khất thực về dâng. Nhưng sau
đó, thực phẩm ni cô đem về càng ngày càng tệ; bà thầy
nuốt không xuống (vì đã quen ăn ngon) bèn hỏi ni cô: "Trước
đây ngươi thường xin được toàn đồ ngon không, tại sao
sau này ngươi đem về tinh ròng những thứ ma chê quỷ hờn
thế?".
Ni
cô thực tình kể: "Bấy lâu có một ông nhà giàu thường
cúng cho con toàn thực phẩm hảo hạng. Một hôm cúng xong ông
ta hỏi, cô có biết tại sao tôi cúng dường cho cô không?
Con trả lời, thí chủ cho tôi là vì muốn cầu phước chứ
còn vì sao nữa. Ông trưởng giả nói không phải, vì tôi yêu
ni cô đấy thôi. Chính vì ông trưởng giả nói như vậy, nên
từ đấy con không tới nhà ông ta để khất thực nữa, vì
Phật đã chế giới không được nhiễm tâm nhận đồ ăn".
Bà
thầy nghe xong nói: "Người kia có nhiễm tâm hay không mặc
kệ, miễn sao ngươi không có nhiễm tâm là được rồi, sợ
nỗi gì. Họ đã cho đồ ăn thì cứ tới mà nhận đi chứ".
Cô
đệ tử cãi lại: "Phật đã chế giới xuất gia phải thiểu
dục tri túc, sao thầy đã không khuyên con những điều tốt
đẹp, lại còn vì thức ăn mà xúi con làm bậy?".
- "Có
gì là bậy? Ta có xúi ngươi phạm giới đâu cà?".
Hai
thầy trò cãi nhau càng lúc càng hăng, đến tai những vị khác,
cuối cùng trình lên Phật. Phật xử cho ni cô đệ tử nói
có lý, và quở trách bà thầy tham xơi ngon xúi bậy.
Câu
chuyện này chứng tỏ tinh thần bình đẳng trong Phật giáo.
Liên hệ thầy trò trong giáo lý Phật thường được đề
cao hết mực, bậc thầy đôi khi còn quan trọng hơn tam bảo,
vì nhờ thầy mà ta biết đến tam bảo. Nhưng không phải vì
thế mà người đệ tử trở thành mù quáng vô trách nhiệm
đối với bản thân, mọi sự đều nhất nghe theo thầy. Vì
ngoài bậc thầy còn có Chánh pháp và lương tâm của mình
là những tiêu chuẩn để phân biệt phải quấy; nếu thầy
nói những lời mà mình xét không thích hợp với chánh pháp
hoặc với lương tâm, thì có thể trình bày lý do bất tuân
mà không sợ phạm tội hỗn láo hay phản thầy.
10.
PHÁ TĂNG HÒA HỢP:
Phật
ở Xá vệ, Đề bà đạt đa (Devadatta) phạm đầu tiên. Đề
bà đạt đa ganh tị với uy thế của Phật, cố dựa thế
lực của chính quyền vu A xà thế để tự xưng Phật và lập
riêng một tăng đoàn có quy luật khắc khe hơn giới luật
Phật chế, như phải khất thực suốt đời không được nhận
lời mời ăn tại nhà cư sĩ, phải suốt đời mặc y phấn
tảo (lượm vảo bỏ đống rác mà mặc) vân vân. Một số
tăng khoái khổ hạnh quá khích đi theo Đề bà đạt đa.
11.
HỖ TRỢ PHÁ TĂNG:
Phật
ở Xá vệ chế giới, nhóm đi theo Đề bà đạt đa phạm tội
này.
12.
HOEN Ố TÍN ĐỒ:
Phật
ở Xá vệ chế giới. Hai Tỳ kheo Mã túc và Mãn túc ở chung
tại một thôn xóm giao du với cư sĩ, làm nhiều việc phi pháp,
không có uy nghi, tiếng đồn đến tận vườn Cấp cô độc.
Phật sai Xá lợi phất và Mục kiền liên đến nơi cử tội
hai Tỳ kheo làm hoen ố tín đồ. Vì chưa bao giờ trông thấy
vị Tỳ kheo nào khác ngoài hai ông ấy, nên khi Xá lợi phất
Mục kiền kiên đến, cư dân trong vùng bảo nhau: "Hai ông này
không nhanh nhẩu hoạt bát gì cả, cũng không thân mật vui
vẻ với mình, khác xa hai vị ta thường cúng. Người gì đâu
mà đi khất thực thì cứ lầm lì chằm bẵm không cười không
nói, chán thấy mồ". Làm cho người ta có một hình ảnh sai
lạc về Phật Pháp Tăng như vậy, gọi là hoen ố tín đồ
hay làm dơ nhà người, "ô tha gia".
13.
ÁC TÁNH CHỐNG CAN:
Phật
ở Xá vệ chế giới. Tỳ kheo Xa nặc (Channa, có chỗ dịch
âm là Xiển đà) một trong Lục quần, ỷ dòng họ cao sang,
không nghe lời chúng tăng can gián, còn bảo: "Đáng lẽ tôi
dạy các vị mới phải chứ, sao các vị lại dạy tôi. Tại
sao? Chư vị thuộc đủ các giai cấp, thuộc nhiều dòng họ
(bạch tánh) tụ họp lại đây, trong khi đó dòng họ của
tôi thì thù thắng hơn tất cả chư vị. Vậy, các vị chẳng
nên đem lời khuyên can tôi, tôi cũng không khuyên can gì các
vị". Các Tỳ kheo đến bạch Phật, Phật quở trách Xiển
đà rồi chế giới.
14.
THÂN NHAU GIẤU TỘI:
Phật
ở Xá vệ, hai Tỳ kheo ni Tô ma và Bà phả đi ở chung trong
một thôn xóm, thân nhau, sinh hoạt không khác gì người thế
tục, bị đời chê bai phỉ báng đến tai Phật.
15.
XÚI ĐỪNG Ở RIÊNG:
Phật
ở Xá vệ, Tỳ kheo ni Thâu la nan đà xúi Tô ma, Bà Phả di
đừng nghe lời chúng tăng mà ở riêng.
16.
GIẬN BỎ TAM BẢO:
Phật
ở Xá vệ chế giới.Nhóm 6 ni phạm đầu tiên.
17.
KHÁNG CỰ KHÔNG PHỤC:
Phật
ở Xá vệ chế giới. Nhóm 6 Tỳ kheo phạm lỗi, tăng chúng
quở trách thì chống cự không phục tùng.
Phật
nhân đấy để chuyện về mục đồng tên Hoan hỉ thường
đến nghe pháp. Vào thời Phật Ca Diếp, mục đồng ấy đã
làm một vị Tỳ kheo tinh thông ba tạng,có tài phân xử. Một
hôm có hai Tỳ kheo đền nhờ ông xử đoán một việc tranh
chấp, ông vận việc nên giới thiệu họ đến nhờ chúng
tăng phân xử. Khi xong việc trở về, nghe thuật lại cách
phân xử của tăng, ông bèn chê: "Chúng tăng xử đoán việc
như thế không khác gì lối xử của bọn chăn trâu". Do lời
nhục mạ ấy mà ông phải làm kẻ chăn trâu nhiều đời kiếp.