Kính
Dâng Giác linh Đại lão Hòa thượng tôn sư.
Kính
dâng quí vị tôn túc Ni.
Kính
dâng chư thiện hữu tri thức- trong đó có cửu huyền thất
tổ, hiện tiền phụ mẫu và chư huynh tỉ muội - những người
đã gieo trong tàng thức con những hạt giống tốt lành.
Thân
kính tặng ni chúng Hồng ân Huế, những pháp hữu đã khơi
nguồn cảm hứng trực tiếp cho tác phẩm này, nhân mùa an
cư năm Ất hợi (1995).
Thích
Nữ Trí Hải
Mục
lục
Dẫn
nhập: Ngũ thiên thất tụ
Phần
một: Sự tích tám tội khí
Phần
hai: Sự tích 17 pháp tăng tàn
Phần
ba: Sự tích 30 pháp Xả đọa
Phần
bốn: Sự tích 178 pháp Đơn đề
Phần
năm: Tám pháp Hối quá
Phần
sáu: 100 pháp Chúng học
Phần
bảy: Bảy pháp Diệt tránh
Phụ
Lục: Nguồn gốc các giới đơn đề
DẪN
NHẬP
Giới
luật tỷ kheo ni gồm 348 giới điều, được gọi là "Ngũ
thiên thất tụ". Trước hết, "thất tụ" là bảy nhóm như
sau:
Nhóm
1: 8 pháp Ba la di
Nhóm
2: 17 pháp Tăng tàn
Nhóm
3: 30 pháp Xả đọa
Nhóm
4: 178 tám pháp Đọa
Nhóm
5: 8 pháp Hối quá
Nhóm
6: 100 pháp Chúng học
Nhóm
7: 7 pháp Diệt tránh.
Phân
loại theo các việc cần phải cấm chỉ không được làm (chỉ
trì) hoặc cần phải làm (tác trì) thì có bảy nhóm như trên,
gọi là "Bảy tụ", cũng như những chương, điều được nêu
trong bộ luật hình sự ở đời. Những việc Phật cấm chỉ
không được làm, nếu làm thì phạm, gọi là "chỉ trì tác
phạm" như giới sát đạo dâm vọng v.v. Những việc Phật
dạy phải làm không được bỏ qua, thì gọi là "tác trì chỉ
phạm", ví như những việc bố tát, tụng giới, yết ma, tự
tứ, vân vân.
Nhưng
phân loại theo tội phạm và mức độ xử phạt (tỉ như định
mức án trong bộ luật hình sự ở đời) thì chỉ có năm
mục, gọi là "Năm thiên" đáng nói, đó là:
Thiên
1: Tội ba la di, là khi phạm vào một trong tám pháp ba la di
nói trên (nặng nhất). Mức xử phạt là đuổi ra khỏi chùa.
Thiên
2: Tội Tăng tàn, là khi phạm một trong 17 pháp Tăng tàn nói
trên. Mức xử phạt là sám hối trước hai bộ đại tăng
và hành sám một thời gian, bằng cách làm các việc do tăng
chỉ định.
Thiên
3: Tội Ba dật đề, là khi phạm vào hai nhóm 3 và 4 nói trên.
Mức hành sám ngang nhau, nhưng một bên có vật trình ra trước
Tăng để xả (nói theo luật pháp ở đời là "có tang vật
cần tịch thu") rồi sám hối tội đáng đọa lạc, nên gọi
là "Xả đọa". Còn một bên không có tang vật, nhưng có những
hậu quả xấu như mang tai tiếng cho đoàn thể hoặc gây thiệt
hại cho người khác, gọi là pháp "Đọa" vì khiến cho người
phạm rơi vào những ô nhiễm do tham sân hoặc do đam mê sáu
trần cảnh, không đem lại giải thoát.
Thiên
4: Tội Thâu lan giá, là loại tội "non Ba la di già Tăng tàn"
ví như trong pháp ba la di thứ tám, mà mới phạm có bảy việc,
hoặc hai ba bốn việc; hoặc khi cố ý giết mà đối tượng
chưa chết, hoặc âm mưu bại lộ, bất thành. Do vậy nên có
ba cấp bực Thâu lan giá
Thiên
5: tội Đột cát la, nhẹ nhất nhưng dễ phạm, là khi vi phạm
các pháp trong những thiên còn lại (5, 6, 7) gồm hai thứ: "ác
tác" (làm bậy) và "ác thuyết" (nói bậy); tựa như loại tội
"vi cảnh" trong luật đời.
Sự
tích giới luật được viết sau khi tham khảo:
1.
Tỳ kheo ni giới, bản dịch của HT. Trí Quang.
2.
Trung bộ kinh ba tập, bản dịch của HT. Minh Châu.
3.
Bản dịch bộ "Tứ Phần Tỳ kheo ni Giới bản chú giải" hai
tập của Ni sư Phật Oanh, (Thích nữ Trí Hải dịch, 1975).
4.
Bản dịch bộ "Luật Ngũ phần" 30 quyển, trong Đại tạng
kinh (dịch giả Thích nữ Trí Hải, 1989).
5.
"L’enseignement monastique du Petit Véhicule" bản dịch của Thích
nữ Tuệ dung.
Điều
đáng nói sau khi xem những sự tích này là, với "con mắt thông
suốt ba cõi và tấm lòng nghĩ thấu ngàn đời", đức Phật
đã quán sát căn cơ hạ liệt của chúng sinh thời mạt pháp
nên khiến ra co những vị làm hành vi quấy để cho ngài có
dịp chế giới. Người đọc cần phải nghĩ nhớ thâm ân
chư Phật bồ tát, không được có tâm phỉ báng như nói "thời
Phật mà còn loạn thế". Xét cho kỹ, ta vẫn thấy được
yếu tố rất đáng kính và dễ thương nơi những vị "bồ
tát nghịch hành" hiện tướng phạm giới này là, họ rất
thật thà, không bao giời chối cãi hay biện hộ cho những
việc quấy mình đã làm. Lại nữa, so với một tăng đoàn
đông đảo gồm một ngàn hai trăm năm chục "toàn là những
bậc đại a la hán" (được kể trong nhiều kinh) và nhiều
vị khác chưa chứng đạo, thì con số hai mươi ba vị Tăng
(Lục quần và Thập thất quần), và Nhóm 6 tỳ kheo ni "làm
gương mẫu" cho sự phạm giới quả thực quá ít.
Trong
nhiều bộ luật còn kể chuyện ngài Ưu ba cúc đa (Upagupta)
xuất gia sau khi Phật nhập diệt không bao lâu. Lúc đó có
một vị ni sống tới trên 120 tuổi, bà đã từng được trông
thấy Phật và sinh hoạt của chúng tăng thời Phật. Ưu ba
cúc đa xin bà kể cho ngài và một số tỷ kheo bạn hữu nghe
về đời sống thanh tịnh của tăng già thời Phật, vì nghe
ai cũng chê uy nghi tế hạnh của tăng chúng bây giờ thua xa
thuở Phật còn tại thế. Ni bà hẹn với chúng tỷ kheo của
Ưu ba cúc đa một buổi đến tư thất. Gần tới giờ hẹn,
ni bà treo một bát dầu đầy trên đỉnh cánh cửa đi vào.
Khi họ đã vào hết trong phòng và ngồi xuống xin ni bà kể
về uy nghi tế hạnh của tỷ kheo thời Phật, Ni bà mở lời:
"Vào thời Phật, trong chúng tăng có Lục quần tỷ kheo là
những vị thường bị khiển trách là thiếu uy nghi nhất,
nhưng vẫn còn có uy nghi tế hạnh hơn chúng tỷ kheo bây giờ
nhiều lắm. Chẳng hạn, Lục quần tỷ kheo đẩy cửa đi vào
phòng thì sẽ không làm đổ dầu như thế... (bà đưa tay chỉ
ra cửa)". Khi Ưu bà cúc đa và đại chúng nhìn theo tay Ni bà
chỉ, họ mới trông thấy những giọt dầu rơi trên nền đất,
cùng bát dầu đầy treo lửng lơ trên cánh cửa ra vào.
Mỗi
giới điều được thâu tóm thành bốn chữ, chỉ cốt để
giúp trí nhớ và học thuộc lòng. Muốn rõ nghĩa phải xem
nội dung của giới điều và xem sự tích. Khi đọc sự tích,
ta có thể thấy rõ nguyên do chế giới và mục tiêu mỗi giới,
đồng thời cũng có thể thấy cái tinh thần nằm ở đằng
sau chữ nghĩa, vượt trên chữ nghĩa và truyện tích. Có vậy
mới thấy giới luật tuy nhiều mà rút lại không ngoài bốn
chữ "thiểu dục tri túc" hay không ngoài hai chữ "tàm quý".
Và có vậy mới thấy 348 giới cũng không thấm gì, Phật dạy
bao nhiêu cũng không đủ nếu ta chỉ hiểu trên ngôn từ mà
không đạt ý. Do đấy mà có đến ba ngàn uy nghi tám vạn
tế hạnh để kiện toàn một con người xứng đáng bậc "Chúng
trung tôn".