Tiến
sĩ Daniel Goleman, tác giả nhiều cuốn sách nghiên cứu về
cảm xúc và cũng là người tiên phong trong phong trào phát triển
thông minh cảm xúc, đã tâm sự là nhiều năm trước đây,
khi còn là một sinh viên cao học ông ta đã thực hiện nhiều
cuộc nghiên cứu về thiền và hạnh phúc vì thiền có thể
làm giảm đi nhiều sự căng thẳng trong đời sống. Tuy nhiên,
các giáo sự của ông nghi ngờ về sự nghiên cứu này, các
dữ kiện ông ta thu thập lại yếu kém và đối tượng nghiên
cứu chỉ là những sinh viên mới vào đại học. Do đó, kết
quả những cuộc nghiên cứu này không lấy gì làm khả quan.
Con
đường của ông ta khởi đầu về nghiên cứu thiền dù lúc
đó chưa thành công nhưng đã chứng tỏ ông ta có một cái
nhìn xa về khả năng trị liệu của thiền vì những năm kế
tiếp chính phủ Hoa Kỳ đã tài trợ cho rất nhiều chương
trình nghiên cứu thiền giúp chữa trị bệnh tật một cách
nghiêm túc và bao trùm nhiều lãnh vực như thiền giúp chữa
trị bệnh tật, phát triển trí nhớ, phát triển sức khỏe
và phát triển hạnh phúc. Hàng ngàn cuộc nghiên cứu về vấn
đề này đã được thực hiện, trong đó vào đầu năm 2003,
một cuộc nghiên cứu quan trọng đã có kết quả tốt đẹp
và đưa đến một kết luận chắc chắn : Thiền làm gia
tăng hạnh phúc.
TÌM
SUỐI NGUỒN HẠNH PHÚC
Trên
hai thập niên qua, ngài Đạt Lai Lạt Ma đã hợp tác với các
nhà khoa học để tìm hiểu tâm và bộ não. Có rất nhiều
nhà tâm lý học cũng như thần kinh học thượng thặng tại
Hoa Kỳ đã hợp tác với ngài trong chương trình này. Mỗi
hai năm các nhà khoa học họp lại tại Dharamsala ở Ấn Độ,
thủ đô lưu vong của ngài Đạt Lai Lạt Ma để hội luận
về nhiều vấn đề khoa học tương quan với Phật giáo. Vào
tháng ba năm 2000, các nhà thần kinh học, tâm lý gia, các vị
tu sĩ và ngài Đạt Lai Lạt Ma họp năm ngày để thảo
luận về phương pháp kiểm soát các cảm xúc phá hoại trong
đó thiền được xem là một phương pháp cụ thể và có ích
lợi lớn. Tiến sĩ Daniel Goleman đã tường trình lại chi tiết
kết quả phiên họp trong cuốn Các Cảm Xúc Phá Hoại, Destructive
Emotion, được xuất bản vào năm 2003 tại Hoa Kỳ.
VÙNG
GỐC CẢM XÚC TRONG NÃO
Một
trong những người tham dự cuộc hội luận nói trên là tiến
sĩ Richard Davidson, giám đốc phòng nghiên cứu thần kinh học
về các cảm xúc, Laboratory for Affective Neuroscience, thuộc
viện đại học University of Wisconsin. Tiến sĩ. Davidson,
trong những cuộc nghiên cứu gần đây, đã dùng các máy móc
tân kỳ như máy chụp hình cọng hưởng chức năng trong bộ
não, Functional Magnetic Resonance Imaging (M.R.I.) cùng máy diện
não kế, EEG, loại tối tân nhất để chụp và hoạ hình khu
vực gốc của cảm xúc trong bộ não. Đây là vùng hay điểm
định sẵn của tánh khí, trạng thái cảm xúc vui buồn của
mỗi người.
Hai
loại máy nói trên cho thấy khi người ta đau buồn, lo âu,
giận dữ, sợ hãi, thì trong bộ não có những sự nối kết
hoạt động giữa hạch Hạnh Nhân và vùng võ não trước trán
bên phải. Những hoạt động trong mạch não nối kết hai vùng
này hoạt động rất nhiều khi chúng ta bị căng thẳng do những
cảm xúc nói trên gây ra. Ngược lại, khi chúng ta vui tươi,
thích thúc, vui vẻ, hạnh phúc thì hai vùng nói trên, hạch
Hạnh Nhân và vỏ não trước trán bên phải trở nên yên lặng,
nhưng vùng vỏ não trước trán bến trái gia tăng hoạt động
rất nhiều.
THIÊN
ĐÀNG TRONG BỘ NÃO
Tiến
sĩ Davidson đã có được chứng cứ chính xác về vùng gốc
của cảm xúc, điểm định sẵn trong bộ não của mỗi người
mà sau những cảm xúc vui hay buồn của hai bên vùng não trước
trán bên trái và bên phải. Các cảm xúc thường lập đi lập
lại nối tiếp không ngừng, chạy qua chạy lại vùng định
sẵn hay vùng gốc này. Sau khi nghiên cứu hàng trăm bộ não,
ông ta thấy rất rõ ràng gốt rễ của hạnh phúc và khổ
đau và sau khi hợp tác với ngài Đạt lai Lạt Ma và được
ngài hỗ trợ trong chương trình nghiên cứu bộ não của các
vị thiền sư hay Lạt Ma Tây Tạng ông đã kết luận
: « Thiên đàng ở chính ngay trong bộ não » Thiên
đàng theo ông ở đây là niềm hạnh phúc rất lớn lao của
con người. Ông ta đã thiết lập chỉ số để tìm ra người
nào hạnh phúc hay đau khổ một cách nhanh chóng và chính xác
: Nhìn vào hình chụp các bộ não có nhiều hoạt động nơi
vùng trái của vỏ não trước trán hay bên phải của vỏ não
trước trán nhiều hay ít ông ta định rõ một cách chính xác
mức độ hạnh phúc của họ nhiều hay khổ đau nhiều. Khi
ông ta chụp và hoạ hình các bộ não của các vị thiền sư
Tây Tạng thì thấy mức độ hạnh phúc của các vị này tăng
tám trăm phần trăm (800%) so với 175 sinh viên Hoa Kỳ được
tuyển chọn để làm đối tượng so sánh sau khi họ thực
hành thiền một thời gian ngắn.
Tiến
sĩ Davidson đã dùng một biểu đồ có hai đường cong để
diễn tả mức độ khác biệt về hạnh phúc và khổ đau như
thành của hai bên quả chuông: Bên trái là những người may
mắn cực kỳ hạnh phúc, bên phải là những người bất hạnh
cực kỳ sầu đau, còn đa số chúng ta là nhóm người ở giữa.
Chỉ có một số người rất hiếm hoi ở phía trái (thiên
đàng), một số khác rất buồn khổ ở bên phải, còn đa
số buồn vui lẫn lộn ở giữa. Điểm ở giữa gọi là điểm
gốc của cảm xúc hay điểm định sẵn, như khi chúng ta mua
một tủ lạnh mới về, vặn nút định độ lạnh (định
sẵn) cho tủ lạnh. Độ lạnh này nơi tủ lạnh thì chúng
ta có thể cho tăng hay giảm được, vậy điểm định sẵn
về cảm xúc hạnh phúc hay khổ đau nơi bộ não chúng ta có
thể làm cho tăng lên hay giảm xuống được không ?
Những
cuộc nghiên cứu cho thấy những người trúng số độc đắc
hay hững người bị tai biến não lúc đầu họ rất sung sướng
hay khổ đau. Nhưng trong vòng một năm sau niềm vui cạn đi
và nổi khổ vơi hết, họ trở về với mức độ cảm xúc
bình thường trước đó. Tuy nhiên, nơi những người thực
hành thiền, như các vị thiền sư thuộc các tông phái Phật
Giáo hay các vị Lạt Ma Tây Tạng thì hoạt động vùng não
trước trán bên trái – tức là vùng biểu lộ hạnh phúc
thâm sâu – càng lúc càng gia tăng với sự thực hành chứ
không giảm đi theo thời gian.
CÁC CUỘC NGHIÊN CỨU BỘ NÃO
Trong
phòng thí nghiệm tại viện đại học University of Wisconsin-Madison,
giáo sư Richard Davidson, giảng dạy môn tâm lý và phân tâm
học, xử dụng máy điện não kế để đo các hoạt động
(các luồng điện) trong bộ não. Ngoài ra, nơi đây, ông cũng
sử dụng máy chụp hình cọng hưởng (Functional Magnetic Resonance
Imaging) để ghi lại các hoạt động trong bộ não theo những
đường lối riêng biệt, đặc biệt chú trọng vào tương
quan hoạt động giữa hạch Hạnh Nhân và võ não phía trước
trán.
Qua
rất nhiều lần nghiên cứu, tiến sĩ Davidson nhận thấy hễ
người nào có bộ não có nhiều hoạt động bên phía vỏ
não (vùng chất xám) trán trước bên trái hơn là bên phải
thì người đó vui vẻ và nhiệt tình hơn trong đời sống.
Ngườc lại, những người nào có nhiều hoạt động nơi vỏ
não phía trước trán bên phải hơn là bên trái thì thường
kém vui vẻ và hay bị căng thẳng. Ông gọi đó là mức độ
hạnh phúc căn bản của mỗi cá nhân. Thông thường, đa số
chúng ta, hoạt động hai bên vỏ não trán tước thường gần
giống nhau. Nếu vẽ thành biểu đồ thì không khác gì hai
thành của hai bên cái chuông treo, hai đường hai bên thành
chuông giống nhau: đó là đường lối vận hành theo khuôn
khổ tự nhiên của hai bên vỏ não trước trán bên trái và
bên phải, và chúng biểu lộ thành nhưng cảm xúc tiêu cực
và tích cực. Do đó, chúng ta thường nhận thấy sự thay đổi
tiếp nối của các cảm giác nơi mình: hết vui lại đến
buồn, hết sướng lại đến khổ tiếp nối không ngừng.
Đạo Phật gọi đó là tính cách chuyển biến không ngừng
hay vô thường của mọi hiện tượng.
Những
điều nói trên không những xuất hiện ơi người lớn mà
còn có cả nơi những em bé mới sinh ra. Nhóm nghiên cứu cũng
thấy những hoạt động theo đường lối cố định nói trên
nơi vùng não của những em bé vui tính và những em bé khó
tính: Những em bé 10 tháng khi mẹ rời xa trong chốc lát mà
đòi khóc thì có những hoạt động phía vỏ nảo trước trán
bên phải nhiều hơn các em không la khóc. Những em bé vui tươi
hớn hở thường bày tỏ thái độ thích thú trước những
hoàn cảnh mới và thoải mái, còn những em bé có nhiều hoạt
động vỏ não trán tước bên phải thì hay sợ hãi và tỏ
ra buồn rầu hay không giao tiếp với người khác khi pthấy
nghe những điều mới lạ.
Những
em bé này khi lớn lên mang những đặc tính đó nơi chúng:
Em nào vui tươi hớn hở thì tiếp tục vui tươi hớn hở,
em nào buồn rầu, lãnh đạm thì tiếp tục buồn rầu lãnh
đạm. Tuy nhiên, điều này không phải là cố định: Có nhiều
em nhờ sự thay đổi hoàn cảnh sinh sống, được cha mẹ và
thầy giáo dạy dỗ tốt đẹp thì khi lớn lên, các em cũng
thay đổi tánh tình từ buồn rầu, thờ ơ thành vui tươi,
tích cực. Những em tánh tình vui vẻ cũng vậy: Tánh đó bẩm
sinh nhưng nếu được nuôi dưỡng tốt đẹp thì càng ngày
càng phát triển hơn, còn nếu bị chướng ngại như hoàn cảnh
sinh sống trong gia đình không được vui vẻ, cha mẹ gây nhau,
bị hiếp đáp ở nơi trường học thì hoạt động phía não
trước trán bên phải sẽ gia tăng và làm giảm nhiều tánh
tình tốt đẹp có lúc mới sinh.
Trong
đạo Phật nói về các hạt giống, chủng tử, có sẵn nơi
tâm và những hạt giống đó được tưới tẩm, huân tập,
đễ trở nên tốt hơn hoặc xấu hơn. Đó là sự liên hệ
giữa thiên nhiên hay bẩm sinh và nuôi dưỡng hay huân tập.
Điều này các nhà thần kinh học hôm nay cũng nhấn mạnh về
sự liên hệ giữa tánh bẩm sinh và sự nuôi dưỡng, giáo
dục tốt đẹp của cha mẹ và học đường để phát triển
những điều tốt đẹp nơi trẻ em.
THIỀN GIÚP CHỮA TRỊ BỆNH TẬT
Ngoài
ra, hiện nay các nhà khoa học chú trọng đến rất nhiều về
khả năng của thiền đóng góp lớn lao vào các chương trình
làm giảm bệnh tật và đau đớn. Trong những cuộc nghiên
cứu các bệnh nhân được hướng dẫn về cách thực hành
Thiền buông thư, Viện Y Khoa Thân Tâm (Mind & Body Medical
Institute) do bác sĩ Herbert Beson, ở Massachussetts, đã thấy có
các kết quả như sau:
•
Các bệnh nhân bị đau kinh niên khỏi phải đi khám lại 36%
(The Clinical Journal of Pain, Volume 2, pages 305-310, 199).
•
Có sự giảm bớt đến 50% các cuộc chữa trị của bác sĩ
sau khi thực hành Thiền buông thư. (Behavioral Medicine, Volume
16, pages 165-173, 1990).
•
80% những bệnh nhân cao huyết áp giảm bớt huyết áp và bớt
thuốc men, 16% có khả năng chấm dứt hoàn toàn việc uống
thuốc. Kết quả này kéo dài trong ba
năm.
(Journal of Cardiopulmonary Rehabilitation, Volume 9, pages 316-324, 1989).
•
Những bệnh nhân mổ tim giảm bớt những chứng khó khăn sau
khi mổ. (Behavioral Medicine, Volume 5, pages 111-117, 1989).
•
100% những người bị chứng mất ngủ cho biết đã gia tăng
ngủ được và 91% giảm hay cả chấm dứt uống thuốc. (The
American Journal of Medicine, Volume 100, pages 212-216, 1996).
•
Những phụ nữ bị chứng hiếm muộn có 42% thụ thai và 38%
sinh con cùng giảm bớt mức trầm cảm, lo âu và giận dữ.
(Journal of American Medical Women’s Association. Volume 54, pages 196-8,
1999).
•
Những phụ nữ bị các hội chứng hậu mãn kinh nặng giảm
bớt 57% các triệu chứng thể chất và tâm thần. (Obstetrics
and Gynecology, Volume 75, pages 649-655, April, 1990).
•
Các học sinh trung học thực hành Thiền buông thư gia tăng
sự tự quý trọng đáng kể. (The Journal of Research and Development
in Education, Volume 27, pages 226231, 1994).
•
Các học sinh trong thành phố gia tăng điểm số, sự hợp tác
với nhau và giảm bớt vắng mặt. (Journal of Research and Development
in Education, Volume 33, pages 156-165, Spring 2000).
•
Căng thẳng liên hệ nhiều đến bệnh tim mạch. (“Stress in
Cardiovascular Diseases” Esch, T., Stefano, G., Fricchione, G., Benson,
H. Medical Science Monitor. Vol. 8. No. 5: RA93-101, 2002).
•
Thiền buông thư giúp giảm bớt các chứng bệnh do căng thẳng
tạo ra. (“The Therapeutic Use of Relaxation Response in Stress-related
Diseases” Esch, T.,
Fricchione,
G., Stefano, G. Medical Science Monitor.Vol. 9 No. 2: RA 23-34, 2003).
THIỀN
HOẠT ĐỘNG
Thiền
gồm có hai loại: Thiền tĩnh lặng và thiền hoạt động.
Thiền tĩnh lặng là ngồi yên lặng trên gối thiền và theo
dõi hơi thở, thiền hoạt động là chú tâm thoải mái vào
hơi thở (10% sự chú ý, và 90% vào các hoạt động) khi đi,
đứng, nằm, ngồi, làm việc, lái xe, ăn cơm, nói chuyện.
Do đó, thiền ứng dụng vào các sinh hoạt bình thường để
giúp phát triển sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong đời
sống hàng ngày. Ký giả E.J. Mundell trong tờ HealDay Reporter,
ngày 7 tháng 6 năm 2007, đã trình bày lại những khảo cứu
về Yoga, phối hợp giữa chú ý, hơi thở và các động tác
tập luyện. Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu loại thiền
hoạt động này, Yoga, có giúp gì cho những người bị chứng
bớt lo âu, buồn rầu hay không.
Các
nhà thần kinh học đã chụp và hoạ hình bộ não của những
người tập và thấy sau một giờ tập luyện phối hợp động
tác, sự chú tâm và hơi thở thì có sự gia tăng chất thần
kinh dẫn truyền GABA (gamma-aminobutyric). Chất GABA thấp liên
hệ đến chứng lo âu và trầm cảm, một trạng thái buồn
rầu suy sụp tinh thần.
Bác
sĩ trưởng toán nghiên cứu Chris Streeter, phụ tá giáo sư thuộc
phân khoa phân tâm và thần kinh học của trường đại học
y khoa Boston University School of Medicine nhấn mạnh: “Tôi biết
chắc đây là cuộc nghiên cứu đầu tiên cho thấy có một
sự thay đổi thật sự, có thể đo lường được về sự
thay đổi của một chất thần kinh dẫn truyền quan trọng
(GABA) khi có sự thực hành Yoga. Chúng tôi không khuyên các
bệnh nhân không dùng thuốc men để chữa trị. Chúng tôi muốn
khuyên họ tập Yoga để phụ vào việc chữa trị và xem kết
quả ra sao.” Bác sĩ Chris Streeter cho biết bà tin tưởng
sự tập luyện này là một phương tiện tốt để chống lại
bệnh lo âu và trầm cảm.
Tờ
báo HealthDay Reporter nói trên cũng nhắc đến ý kiến của
bác sĩ Zindel Segal, khoa trưởng tâm lý trị liệu và cũng là
giáo sư tâm lý và phân tâm học của đại học University of
Toronto, đã nhiều năm nghiên cứu vấn đề tập luyện làm
giảm bệnh tật này, ca ngợi cuộc nghiên cứu nói trên nhưng
ông cũng nhấn mạnh phải nghiên cứu sâu hơn nữa về vấn
đề này vì không phải chỉ có Yoga mới làm cho chất GABA
gia tăng mà các vận động thể lực khác cũng có những kết
quả tương tự. Hơn nữa, không phải chỉ có chất thần
kinh dẫn truyền GABA mới liên hệ đến các chứng lo âu, trầm
cảm, mà có những chất thần kinh dẫn truyền khác như serotonin
có một vai trò lớn hơn trong các loại bệnh này. Bác sĩ
Segal cho biết chính ông cũng phụ trách một chương trình Liệu
Pháp Nhận Thức Bằng Thiền (mindfulness-based cognitive therapy),
dùng để chữa trị các chứng bệnh bằng tập Yoga và thực
hành thiền.
Bác
sĩ Streeter đồng ý và cho rằng có những phương pháp
tập luyện như thái cực quyền (một loại khí công nhẹ)
và thiền khác cũng đưa đến những kết quả nói trên. Bà
cũng nhấn mạnh cần phải nghiên cứu nhiều hơn về lãnh
vực này vì qua những cuộc nghiên cứu sơ khởi đã cho thấy
có sự liên quan giữa tập luyện và sự thay đổi các thành
phần hoá chất trong bộ não làm cho bộ não lành mạnh hơn
không khác gì dùng thuốc men cả.
CÁC
CHƯƠNG TRÌNH TẬP LUYỆN
Chúng
ta đã biết thiền gồm có thiền tĩnh lặng và thiền hoạt
động, sự tập luyện hai thứ thiền phối hợp này giúp gia
tăng niền an vui hạnh phúc và sức khỏe nơi mỗi người.
Tiến sĩ Daniel Goleman, chuyên gia về thông minh cảm xúc, nói
về hạnh phúc xuất hiện trong bộ não và trong tâm như sau:
“Nơi vùng võ não trước trán bên trái, nơi vùng phát sinh
những cảm giác an lạc, chứa đựng các tế bào thần kinh
có khả năng làm im lặng những cảm xúc khổ đau.” Nói khác
đi, khi an lạc gia tăng phía bên trái thì những lo âu, giận
hờn, buồn rầu liên hệ đến võ não trước trán bên phải
dịu xuống hay không xuất hiện.
Thực
hành thiền giúp cho trạng thái này xuất hiện và trạng thái
này có thể kéo dài từ sáng đến chiều. Ngoài phần tập
luyện các thế chuyển động, chúng ta thực hành thiền tĩnh
lặng: Ngồi trên ghế hoặc trên gối tròn, chú tâm thoải
mái vào hơi thở vào và hơi thở ra rồi cảm nhận niềm an
lạc nơi Thân và nơi Tâm như đức Phật dạy trong kinh Quán
Niệm Hơi Thở.
Khu
vực vỏ não trước trán bên trái gia tăng hoạt động khi
chúng ta vui, còn vỏ não trước trán bên phải gia tăng
hoạt động khi chúng ta buồn

Khi chúng ta vui
khi chúng ta buồn
Hiện
nay tiến sĩ Kabat-Zinn phụ trách chương trình hướng dẫn thiền
để chữa trị bệnh tật qua sự giảm căng thẳng Mindfullness-Based
Stress Reduction và qua chương trình này trên 16 ngàn bệnh
nhân đã tham dự thực hành và có những kết quả rất tốt
đẹp. Ngoài ra, có rất nhiều cuộc nghiên cứu thần kinh học
cho thấy thực hành sự buông thư qua cách hành trì tôn giáo,
thiền thuần túy, hoặc những hoạt động lập đi lập lại
của tay chân hay phối hợp cả hai đưa đến sự gia tăng sức
khỏe (Medical Science, Sport and Exercise, 1995, số 27).
Một
cuộc nghiên cứu tại Na Uy cho thấy các lực sĩ thực hành
thiền thì cơ thể họ giảm các chất lactate (đưa đến chứng
vọp bẻ) sau khi tập luyện (British Journal of Medecine,
2000, số 24) cùng nhiều cuộc nghiên cứu khác cho thấy trạng
thái vắng lặng nơi tâm hay bộ não xuất hiện khi:
1.
Lập đi lập lại một câu (như trì chú).
2.
Lập đi lập lại cử động chân tay (như hai chân đạp đều
xe đạp trong phòng tập, hay tập hiếu khí aerobic hay cử động
nhịp nhàng tay hoặc chân).
3.
Phối hợp cả hai thứ: Vừa lập đi lập lại một câu (như
trì chú) trong tâm hay thành tiếng và cử động đều chân
tay.
Phương
pháp thứ 3 kết hợp cả hai thứ 1 và 2 nói trên tức là cùng
lúc thực hành thiền tĩnh lặng và thiền hoạt động, làm
gia tăng cảm giác an lạc và sự vắng lặng của tâm. Điều
này những người tập Yoga hay Khí Công Tâm Pháp thấy rõ khi
tập luyện Khí Công Thiếu Lâm, Dưỡng Sinh Tâm Pháp phối
hợp lời niệm Phật cũng như trong cách lạy Phật theo Khí
Công. Ngoài ra, nhiều người tham dự các chương trình vận
động thể lực phối hợp với âm nhạc, thiền niệm chú
và vận động chân tay cũng thấy có kết quả tốt đẹp.
Điều
quan trọng hơn nữa, như trong cuộc khám phá của các vị bác
sĩ nói trên, là tâm trở về với sự buông thư trong lúc thực
hành. Từ đó, tâm trở nên vắng lặng. Khi tâm vắng lặng
thì niềm an vui bừng dậy tràn đầy. Trạng thái vắng lặng
và hạnh phúc đó không những có mặt khi thực hành thiền
hay trì chú mà còn kéo dài trong những hoạt động trong ngày.
Trong
buổi nói chuyện với trên mười ngàn nhà thần kinh học vào
ngày 12 tháng 11, năm 2005 tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, ngài
Đạt Lai Lạt Ma đã nói về sự cần thiết hợp tác giữa
Phật Giáo và Khoa Học để đem lại hạnh phúc cho nhân loại
như sau:
“Mục
tiêu
chính yếu sự khảo sát của Phật Giáo về thực tại là
nền tảng căn bản của nỗ lực vượt thoát khổ đau và
làm cho đời sống loài người được tốt đẹp nên Phật
Giáo hướng đến trước hết là khảo cứu tâm thức con người
và các chức năng của Tâm. Khi hiểu rõ được tâm thức con
người thì chúng ta có thể tìm cách thay đổi ý tưởng, cảm
xúc cùng các xu hướng phát sinh ra chúng để giúp chúng ta
trở thành một con người tròn vẹn, toàn thi ện. Chính trong
nội dung đó mà Phật Giáo đã tạo ra sự xếp loại phong
phú các trạng thái tâm thức cũng như phương pháp Thiền quán
để thanh lọc các loại tâm sở. Như vậy, một sự trao đổi
chân thành giữa đạo Phật và khoa học hiện đại trong lãnh
vực rộng lớn liên hệ đến Tâm con người, từ nhận thức
đến cảm xúc để hiểu khả năng thay đổi hiện đã có
sẵn trong bộ não con người, vốn rất đáng quan tâm và có
nhiều lợi ích. Riêng đối với kinh nghiệm bản thân tôi,
tôi cảm nhận được thêm giàu có khi trao đổi ý kiến với
các nhà thần kinh học và tâm lý gia về các vấn đề như
tánh chất và vai trò của các cảm xúc tích cực và tiêu cực,
sự chú tâm, tưởng tượng cũng như tính cách mềm dẽo (thay
đổi được) của bộ não …”
Ngài
Đạt lai Lạt Ma không những khuyến khích sự hợp tác giữa
Phật Giáo và khoa học, ngài còn là một thành viên với kiến
thức thâm sâu trong cả hai ngành tâm lý Phật Giáo và thần
kinh học, nên ngài đã nhấn mạnh:
“Sự
gặp gỡ giữa khoa thần kinh học hiện đại và phương pháp
Thiền quán đạo Phật có thể dẫn đến sự khảo cứu về
tác động của những hoạt động có chủ ý nơi những mạch
thần kinh trong bộ não, những nơi được xem là rất quan yếu
cho những diễn tiến tâm ý liên hệ các phần riêng biệt.
Ít nhất mối tương quan gặp gỡ này cũng giúp nêu lên những
câu hỏi quan yếu về nhiều lãnh vư ïc chính. Ví dụ, những
cá nhân có khả năng cố định (qua Tâm) để điều hòa cảm
xúc hay chú ý, như truyền thống đạo Phật chủ trương, hay
khả năng điều hành cảm xúc và chú ý này t ùy thuộc lớn
lao vào sự thay đổi về thái đ ộ và các hệ thống trong
bộ não (qua bộ não) liên hệ đến các chức năng này.
“
Ngài
cũng nhắc nhở chúng ta phải biết phối hợp những truyền
thống hiện đang có với những phương pháp huấn luyện thân
và tâm mới để đáp ứng nhu cầu của con người trong thế
kỷ 21 này, vì theo ngài Đạt Lai Lạt Ma, mỗi thời đại cần
có những phương pháp thực hành đáp ứng với nhu cầu con
người của thời đại đó:
“Một
phạm vi mà truyền thống Thiền quán của đạo Phật có thể
đóng góp phần quan trọng là phát triển những kỹ thuật
để huấn luyện lòng từ bi . Về cách huấn luyện Tâm liên
hệ
đến điều hành chú ý và cảm xúc, câu hỏi cần thiết phải
được nêu lên là mỗi phương pháp thực hành đặc biệt
(pháp môn) thì tương ứng với một thời điểm nào đó thì
mới đưa đến kết quả, vậy chúng ta có thể tạo ra những
phương pháp thực hành mới để đáp ứng với tuổi tác,
trình trạng sức khỏe cũng như nhiều yếu tố khác.”
Trong
chiều hướng khuyến khích của ngài Dạt Lai Lạt Ma nói trên,
hiện nay có nhiều phương pháp thiền được xử dụng trong
các lớp học, trong các bệnh viện, trong các chương trình
vận động thể lực như khí công, yoga hay dưỡng sinh để
gia tăng sức khỏe và hạnh phúc. Khí Công Tâm Pháp cũng là
một phương pháp phối hợp thiền và vận động, là phương
pháp tập luyện để phát triển sức khỏe và niềm hạnh
phúc nơi tâm và nơi bộ não, giúp cho chất xám dày thêm qua
sự phối hợp của ba khuynh hướng đang được thực hành
hiện nay:
1.
Tập luyện khí công vận chân khí vào lục phủ ngũ tạng
trên nền tảng lý thuyết Ngũ Hành Tương Sanh của Đông Y
cùng vận động thể lực để gia tăng sức khỏe cùng làm
cho bộ não duy trì các chức năng tốt đẹp.
2.
Phối hợp âm nhạc với tập luyện theo những khám phá mới
mẽ của Tây Y.
3.
Ngồi thiền trong yên lặng hay thiền tĩnh lặng giúp cho phát
triển các khu vực liên hệ đến phát triển hạnh phúc,
chú ý và trí nhớ trong bộ não.
Sự
tập luyện này có mục đích phát triển niềm hạnh phúc cùng
gia tăng hoạt động của vỏ não trước trán bên trái (vùng
gốc của an vui) và làm cho khu vực cảm xúc (hệ bán tính)
trở nên êm dịu. Bên cạnh đó, những người tập luyện
phát triển sức khỏe và gia tăng trí nhớ (xin đọc thêm trong
cuốn Khí Công Tâm Pháp 2).
(Những
vị nào muốn thực hành Khí Công Tâm Pháp để phát triển
sức khỏe và hạnh phúc xin vui lòng liên lạc với bác sĩ
Trịnh Văn Chính, trưởng nhóm Khí Công Tâm Pháp tại Orange
County (Quận Cam) ở số điện thoại (714) 636-6804 để ghi tên
tập vào mỗi sáng thứ bảy, từ 9 giờ đến 11 giờ, nơi
võ đường đối diện với khu Phước Lộc Thọ. Vị nào muốn
đọc cuốn sách Khí Công Tâm Pháp 2 xin liên lạc với B.S.
Chính hay vào mạng lưới quangduc.com)
06-25-2007
04:23:45