THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
SƯ NGUYỆT CHIẾU
NGƯỜI CÓ CÔNG LỚN TRONG PHÁT HUY NHẠC LỄ CỔ TRUYỀN NAM BỘ
Trần Phước Thuận
 
Tên họ thật của ông là Lưu Hữu Phước, vốn người Bạc Liêu. Cha mẹ ông là người ở Ngã Năm - Sóc Trăng (hiện nay thuộc huyện Thạnh Trị tỉnh Sóc Trăng) đến chợ Bạc Liêu lập nghiệp vào thập niên 70 của thế kỷ XIX, đến năm Nhâm Ngọ (1882) mới sinh ra ông.

Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng là một cậu bé thông minh học đâu nhớ đó, năm lên 10 tuổi đã đọc và viết được chữ Hán. Cha của ông làm nghề viết liễn lại vừa là một nhạc công rất thiện nghệ về đờn cò (nhị cầm), nên ngoài những giờ học chữ Hán, ông còn được cha truyền dạy về những bí quyết về nhạc lễ và mỗi lần cha ông được mời tham dự nhạc lễ ở đâu ông cũng được đi theo để học hỏi; vì vậy ngay từ thuở thiếu thời ông đã có ấn tượng rất sâu sắc về bộ môn nghệ thuật này.

Khi vừa đến tuổi thành niên, ông tham gia vào một tổ chức chống Pháp ở vùng ngoài (chưa xác định được tổ chức nào). Hoạt động được hơn một năm thì tổ chức bị tan rã, ông phải chạy vào vùng Sài Gòn - Gia Định ẩn náu trong vài ngôi chùa ở đây một thời gian khá lâu. Rồi không biết do nợ trần đã dứt hay muốn che giấu tai mắt của Pháp hoặc hoàn cảnh đẩy đưa thế nào, ông lại xuống tóc quy y, năm đó vừa tròn 20 tuổi (1902). Lúc mới xuất gia, ông được sư phụ đặt cho pháp danh là Đạt Bảo, sau đó mới có thêm pháp tự là Nguyệt Chiếu. Người truyền đạo cho ông lại rất giỏi về nhạc lễ, nên ngoài việc trau dồi kinh luận Phật học, ông còn được sư phụ truyền cho những sở đắc về nhạc lễ. Nguyệt Chiếu vốn đã có một ít căn bản về nhạc lễ, nên khi học ông tiến bộ rất nhanh, chỉ vài năm sau thì gần như đã hấp thu trọn vẹn sở học của thầy. Thầy của ông là người ưa vân du đây đó lại có nhiều bè bạn là những thầy đờn nổi tiếng ở khắp nơi; vì vậy trên bước đường theo thầy đi đây đi đó ông đã học hỏi được rất nhiều điều hay điều lạ về nhạc lễ cổ truyền. 

Khi thầy viên tịch, Nguyệt Chiếu mới trở về Bạc Liêu, đầu tiên ông trú ngụ ở chùa Vĩnh Phước An (hiện nay thuộc phường 2, thị xã Bạc Liêu). Người trụ trì chùa lúc ấy là Hòa thượng Minh Bảo (tục danh Lê Trừng Tâm), nguyên là chú vợ của Nhạc Khị, nên Nhạc Khị cũng thường lui tới ngôi chùa này để thăm nom chú vợ của mình; cũng vì vậy Nguyệt Chiếu và Nhạc Khị đã gặp nhau và có lẽ do “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” nên sau vài lần gặp gỡ hai người đã trở thành đôi bạn tâm giao. Từ đó trở đi hai người đã hợp tác với nhau thực hiện rất nhiều công trình canh tân, sáng tác và chỉnh tu cổ nhạc mở đầu cho sự hình thành trường phái cổ nhạc Bạc Liêu, tạo dựng nhiều phong trào: đờn ca tài tử, ca ra bộ, phục hưng nhạc lễ cổ truyền.

Đầu thế kỷ XX, phong trào canh tân và hiệu đính nhạc cổ đã được nhen nhóm, Nhạc Khị là người đầu tiên khơi động phong trào và Nguyệt Chiếu có thể nói là nhân vật thứ hai - là người cộng tác tích cực nhất cho Nhạc Khị trong việc làm đầy ý nghĩa này. Chính ông đã ra công sưu tầm, tập hợp và góp phần hiệu đính bảy bản Bắc Lớn (thường gọi bảy bản Lớn, cũng có nơi gọi là bảy Bài, gồm các bản Xàng xê (64 câu), Ngũ đối thượng (61 câu), Ngũ đối hạ (38 câu), Long đăng (40 câu), Long ngâm (33 câu), Tiểu khúc (29 câu) và Vạn giá (47 câu) của nhạc lễ cổ truyền; suốt trong thời gian này ông phải sưu tầm, nghiên cứu, chiết trung và đôi khi phải sáng tạo để chắp vá vào những câu, những đoạn bị mất không còn tìm lại được. Những chỗ khó khăn hoặc sai sót ông đều được sự góp ý của Nhạc Khị nên công việc tiến hành rất thuận lợi và cuối cùng đã hoàn thành mỹ mãn vào khoảng năm 1908. Các bản này đều được Nhạc Khị nhuận sắc và áp dụng để giảng dạy, sau đó đã được in trong Ca nhạc cổ điển của Trịnh Thiên Tư. 

Ở chùa Vĩnh Phước An được vài năm, Sư Nguyệt Chiếu được Hòa thượng Xuân Phong (thường gọi ông Ký) mời về chùaVĩnh Đức (hiện nay thuộc phường 1 thị xã Bạc Liêu), tại đây ông thu nhận học trò để phổ biến những phát hiện mới về nhạc lễ. Học trò của ông rất đông trong số đó có cả một số người từng là học trò của Nhạc Khị như : Thiện Ý, Thiện Ngộ, Thiện Thành, Hai Tố, Năm Phát, Tư Quận, Chín Khánh, Trịnh Thiên Tư ... đến học thêm ở ông về nghi thức nhạc lễ cổ truyền. Ông giao du rất rộng, lại có rất nhiều học trò trong đó có cả tục gia lẫn tu sĩ nên đa số đình miếu chùa chiền và các ban nhạc lễ trong tỉnh lúc bấy giờ đều có qua lại với ông, nhất là hòa thượng An Hóa (Lê Văn Thành) trụ trì chùa An Thạnh Linh ở làng Hòa Bình (hiện nay là xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu) lại càng thân thiết, vì vị sư trụ trì này nghe đâu cũng có một thời gian tham gia chống Pháp, sau đó về ẩn cư ở Hòa Bình, tại đây ông đã ra công vận động bà con Phật tử để xây dựng chùa An Thạnh Linh. Sư Nguyệt Chiếu và hòa thượng An Hóa hai người có đồng cảnh ngộ nên chỉ gặp gỡ vài lần họ đã rất thân và thường lui tới với nhau.

Vào khoảng năm 1925 Nguyệt Chiếu có nhận đào tạo một đội nhạc công cho chùa An Thạnh Linh. Những người theo học đã được Nguyệt Chiếu hướng dẫn cả về nhạc lễ lẫn đờn ca tài tử. Khi hướng dẫn đờn ca tài tử ông chú trọng nhất là bài Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu, có lẽ vì điểm này nên đa số nghệ sĩ đều hiểu lầm ông là tác giả của bài Dạ cổ, thực sự ông chỉ là người phổ biến bản nhạc mà thôi. 


Chùa Vĩnh Đức nơi ở sau cùng của Sư Nguyệt Chiếu. Ảnh: TPT 

Trong thời gian dạy nhạc lễ và đờn ca tài tử vì ông là tu sĩ nên không thể trực tiếp tham gia đờn ca tài tử hoặc ca ra bộ, nhưng đệ tử của ông lại có một số tham gia vào các phong trào này, nổi bật nhất là Năm Nghĩa, Sanh Xía, Chín Quy... những người này đều là những nhân tài ca cổ ở Nam bộ, đã từng đóng góp rất nhiều công sức bằng lời ca tiếng hát để phát huy cổ nhạc Bạc Liêu trên mọi phương tiện thông in đại chúng như đài phát thanh, dĩa hát... và có những người đã trở thành diễn viên nổi tiếng của sân khấu cải lương sau này. Riêng Năm Nghĩa, đã phát huy sự nghiệp của thầy, biến đổi giai điệu Dạ cổ hoài lang thành giai điệu Vọng cổ qua bài Văng vẳng tiếng chuông chùa, Năm Nghĩa đã thật sự mở ra kỷ nguyên Vọng cổ, ông là người có đầu công trong việc tạo dựng bản nhạc nòng cốt của Cải lương. 

Sư Nguyệt Chiếu còn có một khả năng rất đặc biệt, đó là tự làm được nhiều nhạc cụ. Đây cũng là một biệt tài độc đáo của ông, ông chỉ dùng những dụng cụ thông thường của thợ mộc như bào, đục, cưa, khoan, dùi, búa... để sản xuất ra rất nhiều sản phẩm giá trị như : trống bản (trống cái), trống đạo, trống cơm, trống đôi, trống chầu, trống bác nhã (đại cỗ), mỏ, bạc, đờn cò (nhị cầm), đờn gáo (hồ cầm), đờn kìm (nguyệt cầm)... Kể cả những loại nhạc cụ thật xưa như: bồng, phách, ốc... ông cũng làm rất khéo. Tiếc thay cái khả năng tuyệt vời này không có người nối nghiệp.

Trong những năm cuối đời, ông vẫn ở chùa Vĩnh Đức. Vào ngày 16 tháng 8 năm Đinh Hợi (30-9-1947) ông đã lặng lẽ rời khỏi cõi đời trong tư thế thiền tọa sau giờ công phu khuya.

Sư Nguyệt Chiếu đã ra đi từ sáu mươi năm qua, nhưng sự nghiệp của ông để lại cho đời quả thật là một sự nghiệp đồ sộ. Ông đã trực tiếp đào tạo một lực lượng lớn nghệ nhân nghệ sĩ đàn ca tài tử, cải lương và nhạc lễ cổ truyền, góp phần xây dựng phong trào đàn ca tài tử từ những năm đầu thế kỷ, chỉnh tu và hệ thống bảy bản bắc lớn để làm nền tảng cho nhạc lễ cổ truyền để từ đó làm cơ sở chấn hưng nhạc lễ Phật giáo ở Nam bộ, đặt tên cho bản Dạ cổ hoài lang của ông Cao Văn Lầu đồng thời phổ biến thật rộng bản này trong quần chúng. Các học trò của Sư Nguyệt Chiếu đa số là những nghệ sĩ có đủ bản lĩnh, có khả năng làm cho bản Vọng cổ như một dòng mạch cứ tuôn chảy cùng khắp non sông đất Việt và cứ lan dần đến nhiều địa phương khác và nước ngoài. Việc làm tốt đẹp này là công lớn của nghệ sĩ Năm Nghĩa, nhưng nếu truy nguyên về đầu mối của nó cũng từ Sư Nguyệt Chiếu mà ra. Đa số những nghệ nhân trong giới nhạc lễ ở Bạc Liêu đều công nhận Sư Nguyệt Chiếu là một nhạc sĩ tiền bối có công lớn nhất trong việc kế thừa bộ môn nghệ thuật này. 

Sư NguyệtChiếu là một người đã có những đóng góp quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống ở tỉnh Bạc Liêu.

TRẦN PHƯỚC THUẬN 
(Báo điện từ Cần Thơ)
 

Tìm về bản sắc lễ nhạc Phật giáo Việt Nam 
qua lăng kính âm nhạc Phật giáo thế giới 
GSTS. Nguyễn Thuyết Phong (*)
(Bài tham luận tại Hội thảo khoa học: “Sư Nguyệt Chiếu với sự nghiệp 
nhạc lễ cổ truyền Nam Bộ” do Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu tổ chức từ ngày 26-27-9-2007 )
Hơn hai ngàn năm trăm năm qua, đạo Phật đã đem đến thế giới một cái nhìn chân xác về con người với mục đích giải quyết những vấn đề của con người. Có nhiều pháp môn giúp giải quyết vấn đề này. Một trong những pháp môn ấy là việc sử dụng âm thanh. Trong đạo Phật, âm thanh là một khoa học. Nó không thiếu vắng trong bất cứ môi trường nào có Phật tử thực hành việc tu tập. Âm thanh được thể hiện qua vô số những “tín hiệu” với quy định khác nhau, khởi đầu là quy định về ngôn ngữ.
          
Thế giới âm thanh của đạo Phật mang những sắc thái huyền nhiệm mà khuôn khổ của tham luận này không thể hàm chứa hết. Một âm “Om” (như trong Om mani padme hum”), một tiếng “Mamô” hùng tráng trong tiếng Sanskrit (Phạn) mà nay đã trở thành một dấu ấn Phật giáo ở khắp năm châu (ở nước ta, trở thành “úm” hay “án” và “Nam mô”). Biến thiên của thanh điệu Phật giáo nương theo nhiều môi trường sống của người Phật tử và trở thành những nền “âm nhạc” Phật giáo, dị biệt đến mức độ một Phật tử ở các nước không thể dễ dàng hòa chúng, thậm chí không thể nhận biết là âm nhạc Phật giáo của mình. Trong quá trình nghiên cứu âm nhạc Phật giáo ở Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đông Nam Á, cũng như các nước châu Âu, châu Mỹ, tôi nhận ra được một điều, đó là: Yếu tính “phi giáo điều” của âm nhạc Phật giáo. Không thể có một mẫu số chung về âm nhạc nghi lễ Phật giáo. Nhìn theo quan điểm phổ thông hiện nay, Phật giáo không mạnh như các tôn giáo khác, vì không có trung ương tập quyền. Người Phật tử (Tăng, Ni, và cư sĩ) lại nhận định một cách khác. Phật giáo là một văn minh, văn hóa, là một nếp sống của chính con người (way of life). Cho nên, trong tự nhiên cái đạo từ bi ấy sẽ lan tỏa khắp nơi! Hiểu được điểm chủ yếu này mới thấy được lý do tại sao âm nhạc Phật giáo, nhận định theo quan điểm dân tộc nhạc học (Ethnomusicology), có nhiều hệ thống (systems), đa dạng và đa năng đến thế!
            
Âm nhạc Phật giáo mang tính quốc tế
            
Thật vậy, trên con đường truyền bá đạo Phật đến khắp nơi trên thế giới (sớm nhất là châu Á, chậm nhất là châu Âu, châu Mỹ, châu Phi) đã đem đến những động cơ sáng tác ngay thời buổi đầu, đóng góp cho nền âm nhạc dân tộc đó với một sắc thái riêng và, đương nhiên, không phải là sự đồng nhất của một tôn giáo cho một thế giới. Nhiều Phật tử quên rằng Đức Phật đã không sử dụng tiếng nói và âm thanh địa phương (như tiếng Việt chẳng hạn). Trong nghiên cứu mang đầy đủ tính khoa học lịch sử đều phải nhìn nhận điểm này. Nhưng tư tưởng Phật giáo đã được truyền đạt đến khắp nơi bằng nhiều thứ tiếng, vì Phật giáo không phải là đạo của một dân tộc duy nhất. Ngôn ngữ của các dân tộc Phật giáo trên thế giới đều khác nhau. Vì thế, ngôn ngữ sử dụng để truyền đạt “thông tin” về tư tưởng, triết học, giáo lý, cũng như thực hành giới luật và nghi lễ Phật giáo đều phải sử dụng ngôn ngữ riêng. Nói rằng pháp môn Thiền không cần sử dụng đến ngôn ngữ và tín hiệu âm thanh, điều này tôi không nhất trí. Vì ngay từ đầu các thiền sư bắt buộc phải ít nhiều dùng ngôn ngữ và âm điệu trong nghi lễ để chuyển tải ý thức (qua một thời kinh, chẳng hạn) và phương thức hành đạo. Do đó, nhu cầu âm nhạc phải có.
           
Âm nhạc, theo định nghĩa thủ cựu của các tôn giáo lớn trên thế giới gồm cả Phật giáo, đều cho rằng không có mặt trong sinh hoạt của họ. Khi tôi hỏi, các mục sư trong nhà thờ Baptist, họ trả lời rằng âm nhạc là thể hiện biểu diễn nhạc cụ, nên không thể có mặt trong nghi lễ Thiên Chúa giáo. Trong các nhà thờ Hồi giáo, người ta đã cách ly, phân biệt âm nhạc rất rõ, không cho hoặc không gọi là “âm nhạc” trong nghi lễ. Trong giới luật Sa di Phật giáo cũng có ghi: “Không được nghe đàn ca xướng hát hoặc cố tình đi xem nghe. Vì cố đi xem nghe sẽ khơi động mối tâm sinh ra các tội lỗi và làm mất giống trí tuệ”. Tôi có dịp phỏng vấn nhiều sư tăng trên thế giới về vấn đề và rút ra một câu hỏi này: Nếu nghe cái điều gọi là “âm nhạc” mà không làm “mất giống trí tuệ” thì có thể nghe hay không?
           
Trong một buổi thuyết trình tại Đại học Harvard vào mùa Xuân năm 2005, tôi đã khẳng định đạo Phật có một nền âm nhạc thâm thúy và đóng góp rất to lớn cho thế giới, và có mặt lâu đời hơn tất cả các tôn giáo lớn hiện nay. Nền âm nhạc ấy nhắm đến mục đích chính là sự giải thoát, trí tuệ. Nền âm nhạc ấy hết sức phong phú và mang bản sắc độc đáo của một dân tộc, một địa phương. Vì thế, các Phật tử có thể xem, nghe, thậm chí thực hành âm nhạc, như đã làm từ mấy ngàn năm qua! Chúng ta thường đặt định (consensus) một ý nghĩa nào đó cho âm nhạc, chứ tự thân âm thanh, âm sắc, âm hưởng, âm bậc tạo ra nhạc điệu có tính hồn nhiên và rơi vào ý niệm thể hiện nào đó là tùy của con người, Tăng hay tục. Để tránh dùng từ “âm nhạc”, người ta có thể nói “lễ nhạc”; tuy nhiên đây chỉ là một ý nghĩa nối dài của âm nhạc dành cho nghi lễ mà thôi. Chúng ta có thể bật ra một định nghĩa vững chắc rằng “âm nhạc” là âm thanh được cấu tạo một cách có tổ chức và có ý niệm rõ rệt về mặt văn hóa con người. Âm nhạc Phật giáo là một thể hiện cụ thể trong môi trường văn hóa Phật giáo và có chủ trương và mục đích riêng.
           
Thật vậy, âm nhạc Phật giáo có mặt khắp các chùa chiền quanh trái đất. Đạo Phật hiện nay mở rộng ra cho cả nhân loại. Trước đây người ta thường định nghĩa về Phật giáo Đại thừa hay Nguyên thủy và nét đặc trưng theo vùng địa lý (Đông Á, Đông Nam Á, Tây Tạng, v.v…). Trong thời kỳ toàn cầu hóa hiện nay, định nghĩa ấy hầu như vô hiệu. Người Tăng sĩ Mỹ, Pháp, hay Đức có thể thực hành đạo Phật theo Đại thừa (Mahayana), Tiểu thừa (Theravada), Kim Cương thừa (Vajrayana), hoặc tổng hợp các tông phái trên. Đó là chưa kể đến các trường phái Phật giáo mang tính địa phương chẳng hạn như Nichiren, Shokagakkai, Hòa Hảo, Cao Đài, hoặc Tenrikyo ở Nhật. Thậm chí đạo Mẫu (chầu văn) Việt Nam cũng mang rõ rệt sắc thái của đạo Phật.
          
Như vậy, lấy trường hợp âm nhạc của các Phật tử Âu Mỹ, chúng ta sẽ hiểu như thế nào? Các nghi lễ có thể dùng âm nhạc xuất phát từ một chùa theo truyền thống Nhật, Hoa, Hàn, Thái, Việt, hay Tây Tạng do các di dân châu Á mang đến. Đây là những Tổ đình, nơi truyền thừa văn hóa và giáo lý Phật giáo đầu tiên. Có nhiều yếu tố hỗn hợp tạo thành âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo. Điều này đòi hỏi sáng tạo rất nhiều vất vả cho Phật giáo Mỹ cũng như Pháp, Đức, Tây Ban Nha, v.v… nơi có truyền thống lâu đời của Thiên Chúa giáo. Dù vậy, những bài thuyết pháp (Dharma teaching) tạo sự thu hút rất lớn, nhất là trong giới trí thức như học giả, nghệ sĩ. Đặc biệt hơn nữa là giới tu sĩ cấp tiến của các tôn giáo khác như linh mục Công giáo, mục sư Tin lành, các giáo sĩ Do Thái và Hồi giáo cũng đều tìm về với đạo Phật như một kinh nghiệm học hỏi, lối thoát để mở rộng tầm nhìn của họ. Ở Hoa Kỳ, Giáo hội Tin lành Unitarian nhận các buổi thuyết pháp và nghi lễ Phật giáo vào ngày trong buổi thánh lễ Chủ nhật. Trong chiều hướng ấy, tôi cũng thường được mời thực hiện các khóa lễ này. Thỉnh thoảng tôi cũng được sự hỗ trợ nghi thức tụng niệm của đoàn thánh ca tại nhiều nhà thờ ở Mỹ. Nghi thức này được điều chỉnh để thích nghi vào môi trường âm nhạc sở tại.
            
Vì Phật giáo xuất phát từ cái nôi châu Á, việc truyền bá âm nhạc qua phương thức đọc tụng kinh điển Phật giáo trên thế giới trước nhất mang nhiều sắc thái châu Á. Các truyền thống âm nhạc Phật giáo trên thế giới vì thế phải quy vào cơ sở trước tiên là văn bản kinh điển rồi sẽ đọc tụng, hát những bài kinh này với âm hưởng địa phương, hoặc hỗn hợp cả hai. Về mặt ngôn ngữ, tiếng Sanskrit và Pàli của Ấn Độ thường dễ được áp dụng vì gần gũi với tiếng Ấn - Âu, rồi sau đó là tiếng Hoa, Nhật, Hàn, Việt, v.v… hay tiếng Anh, Pháp, Đức. Những câu kinh ngắn dịch sang tiếng Anh từ Kinh Pháp Cu (Dharmapada) là cách đọc tụng dễ nhất cho Phật tử quốc tế. Về mặt nhạc điệu, trường hợp ở Hoa Kỳ hiện nay Ủy ban Nghi lễ của Amercan Buddhist Congress (Giáo hội Phật giáo Mỹ) còn đang trong vòng tổ chức ấn định nghi lễ và yêu cầu các Phật tử gồm nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ đóng góp công sức vào công trình này, thậm chí có thể phần nào tùy duyên dựa vào kiến thức Thiên Chúa giáo họ sẵn có. Nhiều Phật tử ở Mỹ thường là những nhà âm nhạc và nghệ thuật (thi ca, điện ảnh, v.v…) nổi tiếng trên thế giới như John Cage, Philip Glass, Harrison Ford, Richard Gere, Laurie Anderson, Allen Ginsberg, v.v… Đây là nền tảng để có thể kết hợp hài hòa các yếu tố âm nhạc châu Á vào trong ấy và kiến tạo âm nhạc Phật giáo Mỹ khả dĩ có thể đứng độc lập.
           
Tại châu Á, chúng ta cũng phải nhận ra rằng âm nhạc nghi lễ Phật giáo đã thấm sâu từ hàng ngàn năm và mang màu sắc đặc trưng ở mỗi quốc gia. Trong mỗi quốc gia lại có nhiều dị bản tùy vào vùng, miền. Có ba hệ thống kinh điển và nghi lễ chủ yếu xuất phát từ ba tông phái lớn: Đại thừa, Nguyên thủy, và Kim Cương thừa. Nghi lễ Đại thừa và Kim Cương thừa (Tây Tạng và Trung Á) có chủ trương giống nhau là hội nhập hầu như toàn diện vào bản sắc địa phương. Ngược lại Phật giáo Nguyên thủy ở Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Lào, và Việt Nam thể hiện phần nào tính xuyên quốc gia qua hình thức đọc tụng tiếng Pàli và Sanskrit. Một phần trong nghi lễ thể hiện nhạc điệu dân tộc qua các thơ, kệ được dịch ra tiếng địa phương. Phần này rất nhỏ. Các sư tăng ở Thái Lan gọi âm nhạc nhà chùa là “thét” (giảng kinh). Có thể vì quan niệm như thế, mục tiêu đọc tụng gần với âm vận bình thường như tiếng nói (Pàli) nên âm quãng bị rút ngắn lại trong phạm vi ba âm.

Chính đây là điểm khác biệt với truyền thống âm nhạc Phật giáo Đại thừa và Kim Cương thừa, nơi các kinh điển Sanskrit được dịch ra từ hơn ngàn năm và đã được dân tộc hóa trong âm nhạc. Vì thế, các nền âm nhạc này thể hiện rõ rệt tính cách của âm nhạc Kim Cương thừa ở Tây Tạng và Trung Á cũng như Đại thừa ở Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, và Nhật Bản.
            
Bản sắc của âm nhạc Phật giáo Việt Nam
            
Tìm về bản sắc âm nhạc Phật giáo Việt Nam đòi hỏi phải có sự đối chiếu với các truyền thống có dạng biểu hiện liên kết tương tự về mặt lịch sử và văn hóa, trong bối cảnh truyền bá đạo Phật từ khởi nguyên, về mặt ngôn ngữ, chữ Hán đóng vai trò quan trọng ở Đông Á và Việt Nam. Kinh điển Đại thừa chủ yếu cho các nghi lễ đã được chuyển dịch từ tiếng Sanskrit sang tiếng Hán ở Giao Châu rồi từ đó mới đến tiếng của mỗi dân tộc Hán - Hoa, Hàn, Nhật. Đó là do tại sao chữ Hán cổ bị đồng hóa vào tiếng ở mỗi địa phương với cách đọc chữ Hán của các sư tăng. Ngay ở Trung Quốc rộng lớn cũng có nhiều phương ngữ khác nhau, hệ thống nhạc điệu khác nhau. Sự đánh mất vai trò trọng yếu của ngữ âm Hán này đã làm rõ nét tính dân tộc trong thanh nhạc nghi lễ Phật giáo tại Việt Nam rất sớm, vì âm đọc tụng đi trước khí nhạc. Có ba vấn đề cần đặt ra: lịch sử truyền bá Phật giáo, hệ thống âm nhạc, và địa bàn hoạt động của âm nhạc.
           
Chúng ta có thể giả định rằng từ ba thế kỷ thứ đầu Tây lịch khi 15 bộ kinh đã được dịch cùng lúc với việc xây dựng 20 ngôi chùa, Tăng đoàn gồm 500 vị (theo Thiền uyển tập anh) qua sự hiện diện của Mâu Tử, Tăng Hội, Đạo Thanh, lúc ấy Nê hoàn bối, Pháp Hoa Tam Muội kinh được dịch. Dù sao, sách nhạc Nê hoàn bối nước ta thời đó dù “thanh điệu phù mỵ, buồn bã nhưng thanh cao làm khuôn mẫu cho một thời” (thanh mỵ ai lượng, nhất đại mô thức) (Cao tăng truyện). Chúng ta có thể hiểu phải chăng đây là những bài tán mang hơi ai thời cổ (?). Thật khó có thể khẳng định được yếu tố âm nhạc Ấn Độ hoặc Trung Hoa trong ấy ngay từ thời buổi đầu với một khi tư tưởng Đại thừa phóng khoáng. Tư tưởng này phát triển rất mạnh ở hai trung tâm Phật giáo Gandhara và Amaravatti cho phép tiếp nhận yếu tố địa phương làm nền tảng văn hóa tiến đến sáng tạo âm nhạc nghi lễ riêng.
          
Chúng ta không thể bàn về Phật giáo Nguyên thủy để so sánh, dù nó đang có mặt trong nhiều quốc gia Đông Nam Á. Lý do là vì Phật giáo ở Thái Lan, Lào, Campuchia, và Myanmar có mặt rất muộn (khoảng một ngàn năm sau Việt Nam) và Indonesia và Philippines đã bị tiêu diệt bởi những người Hồi giáo hồi thế kỷ XIII đến nay chỉ còn lại 2% trong dân số. Hai quốc gia Đông Nam Á này thành lập cũng khá muộn so với Việt Nam. Trước đó các dân tộc bản địa hẳn nhiên tiếp nhận tư tưởng Đại thừa (chứ không phải Tiểu thừa), còn tàn ích tìm thấy ở trung tâm Phật giáo Borobudur.
           
Như thế, về mặt lịch sử, đạo Phật đã đến Việt Nam (trước đây có nhiều tên gọi khác như Giao Châu, Nam Việt, Đại Nam, v.v…) sớm nhất ở vùng Cực Đông. Căn cứ vào nghiên cứu đã được cập nhật, chúng ta được biết con đường thủy sớm nhất đã đưa Phật giáo Ấn Độ đến Trung Quốc xuyên qua Việt Nam. Dù rất thông suốt chữ Hán, trong lịch sử ngôn ngữ Việt Nam chưa bao giờ ghi nhận việc người Việt hay các thiền sư Việt phải nói tiếng Hán. Nhưng việc học để đọc được tiếng Hán bằng cách phát âm Việt là chuyện hiển nhiên. Điều này có liên quan đến việc tụng, tán trong âm nhạc Phật giáo ở nước ta từ thời cổ đại vẫn có truyền thống sử dụng tiếng Hán - Việt.
          
Phật giáo Đông Á dùng danh từ “Thanh minh” (Shengming, tiếng Hán; Shômyô, tiếng Nhật) để chỉ “âm thanh {tiếng tụng kinh} trong suốt” được hiểu như thanh nhạc Phật giáo. Phạn bối (Trung Quốc: fanpai, Hàn Quốc: pomp’ae, Nhật Bản: bombai) là một chuyên ngữ thông dụng với ý nghĩa “Lễ nhạc Phật giáo” ở Đông Á. Chuyên ngữ này không áp dụng trong Phật giáo Việt Nam. Ngoài ra có một từ ngữ chung là tán bài tỏ sự ca ngợi. Nhưng ý nghĩa và cơ cấu nhạc điệu không đồng nhất. Ở Nhật Bản, từ tán không chỉ nhạc điệu mà chỉ sự phân loại văn bản như wasan (hòa tán) là tụng kinh theo văn bản Nhật (Hòa, bonsan (Phạn tán) là những thần chú phiên âm ra từ tiếng Sanskrit sang âm Hán rồi đến âm Nhật, và hansan (hán hán) là văn bản kệ tụng sử dụng ở Trung Quốc với chữ Hán (dĩ nhiên, phát âm theo cách Nhật). Ở Hàn Quốc, pomp’ae (phạn bối) chia thành hai thể loại: pomp’ae hitsori và pomp’ae chitsori để chỉ hai thể tụng đơn giản và thể tán phức điệu.
         
Ở Việt Nam chúng ta không dùng một từ duy nhất để chỉ âm nhạc Phật giáo. Các nghi lễ có thể được gọi đọc canh (kinh) ở Bắc Bộ, tụng niệm hoặc tụng tán ở Trung và Nam Bộ. Nhưng vì không thể nói lên hết được âm nhạc, Phật giáo Việt Nam có một hệ thống thuật ngữ riêng để chỉ thanh nhạc với ý nghĩa trực tiếp (nhạc điệu của bài hát như thế nào?) và khá phức tạp với 10 thể nhạc như đọc, tụng, tán, niệm, trì, xướng, bạch, thỉnh, kệ, và sám pháp. Qua nghiên cứu âm nhạc học, mỗi thể nhạc này đều có một định nghĩa riêng, một quy luật về điệu thức (mode) riêng gồm thang âm (scale), cách luyến láy (ornament), đẳng cấp cung bậc (hierachy of pichthes), mô thức giai điệu đặc trưng (melodic pattern), môi trường ứng dụng (medium) và đặc biệt là tình cảm của nét nhạc (emotion). Để hiểu nét đặc trưng của mỗi thể nhạc này, chúng ta có thể lấy một ví dụ đi ngược tiến trình bằng môi trường diễn xướng của một bài kệ khai chuông khác với môi trường diễn xướng của trì chú (Lăng Nghiêm, Thập chú, v.v…). Hai địa điểm trình bày này không giống nhau. Một nơi có đại hồng chung, ở một vị trí riêng, và đơn ca (tức kệ chuông một mình). Văn bản của một bài kệ của các thiền sư Việt Nam sáng tác khác với bài chú. Bài kệ chuông (hoặc gọi là “hô” chuông) được diễn tả dưới dạng phi tiết tấu (non-metric). Bài chú được hiểu như hát tập thể, văn bản phiên âm Phạn - Hán - Việt, phương pháp tiến hành giai điệu và tempo (nhịp tiết đều) sẽ khác với bài kệ chuông.

Âm điệu Việt phong phú là nhờ ở ngôn ngữ Việt áp dụng triệt để các ngữ âm rất giàu có, đậm đà, phức thể so với nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới. Một già Tán lư hương cũng đủ nói lên điều ấy. Phát âm rõ ràng trong mỗi thể nhạc, chỉ có người “trong nghề” mới nhanh chóng nhận ra. Ở Nam Bộ, nghi công phu khuya cũng đã nói lên đầy đủ các thể nhạc đi từ bài Kệ khai chuông đến tụng và trì chú Lăng Nghiêm (khó đối với giới cư sĩ), đến Tán tứ thánh, Tam tự quy. Đây là môi trường diễn xướng âm nhạc Phật giáo đặc trưng thiền dành riêng cho sư tăng nhà chùa, khác với những thời Tịnh độ dành cho đông đảo Phật tử cư sĩ tham gia. Sự thanh tịnh của đêm khuya, lúc người trần đang say ngủ, đó chính là thời khắc tọa thiền rồi đến công phu. Sự kết hợp giữa Thiền tông và Tịnh Độ tông cũng là nét tiêu biểu của Phật giáo ở Việt Nam.
Những trai đàn chẩn tế đòi hỏi việc đào tạo Tăng tài ứng phú ở các tổ đình lớn một chuẩn mực và vô cùng khít khao. Các Tăng sinh phải trải qua một quá trình học tập rất nhiều năm, đặc biệt phải có năng khiếu âm nhạc cao để vừa tụng vừa tán hay, vừa đối tác với dàn nhạc lễ từng giây từng phút thật khít khao. Truyền thống Ứng phú có ít ra từ thời Trần (th.k. 13-15) cùng lúc với Tọa thiền và Du phương. Ba trường phái chuyên môn này đã giúp tinh lọc, hướng khả năng người tu học về phần chuyên để phục vụ đạo pháp một cách cụ thể và hữu hiệu. Những danh sư thường được nhắc đến ở miền Tây (Cần Thơ, Bạc Liêu, Sa Đéc), và miền Đông vì họ nổi tiếng qua âm nhạc nghi lễ hoành tráng.
          
Đi đến đất Nam Bộ, âm nhạc Phật giáo đã xuyên suốt, rút tỉa nhiều kinh nghiệm nghi lễ của phía Bắc và Trung. Mặc dù thống kê của tôi có thể chưa hoàn hảo, ít ra hơn 350 bài kinh kệ và hơn 100 nghi lễ lớn nhỏ từ trong thiền môn ra đến tư gia Phật tử là một kho tàng đồ sộ để thực hành và tham khảo mà khó có một nước Phật giáo nào có thể so sánh. Những trai đàn chẩn tế kéo dài nhiều ngày quy tụ các bậc tài năng từ thanh nhạc đến khí nhạc. Những nghi lễ Khai chung cổ, Đàn quang, Đàn trình, Kinh đàn, những Khoa Mông sơn, Thí thực, v.v… kết hợp với hát bội (tục gọi “trong chay, ngoài bội”). Thủy lục chư khoa là một tập kinh quan trọng phổ biến trong Phật giáo Bắc tông. Từ Trung Quốc vào tay của các kinh sư Việt Nam, tức khắc thích nghi và trở thành “bài hát” và phối dàn nhạc lễ dân tộc.
         
Dàn nhạc lễ có một cấu trúc độc đáo về hai mảng khí nhạc: dây (văn) và bộ gõ (võ), không giống bất cứ dàn nhạc Phật giáo nào trên thế giới. Nó theo sát những bài kệ, tụng, tán trong nhà chùa. Đặc trưng của “phe văn” là theo thanh nhạc và “phe võ” là động tác di chuyển gồm lễ lạy hay “chạy” kinh đàn. Đây là một cấu trúc tinh vi, có ý nghĩa về mặt tâm lý, xã hội, triết lý giữa tĩnh và động. Nhạc công theo dõi và đáp ứng ngay một khi bài tán Hương huê thỉnh, Dương chi, Nguyện tiêu… Nguyện sanh, v.v… bất chợt nghỉ, chuyển qua lễ lạy, rồi trở lại bài tán hoặc chấm dứt. Vì thế, có thuật ngữ “quăng bắt” giữa kinh sư và ban nhạc chứng tỏ sự nhanh nhẹn tài tình để theo kịp trong mọi tình huống. Nhiều thuật ngữ “nhà nghề” chỉ có trong giới kinh sư và dàn nhạc lễ hiểu nhau. Những ai đã từng chơi trong một dàn nhạc giao hưởng Tây phương sẽ có thể nhận ra nét cực kỳ tế nhị trong môi trường diễn tấu này.

Kết luận

Tóm lại, tìm về bản sắc lễ nhạc Phật giáo dân tộc, chúng ta lại thấy hiển lộ những nét độc đáo qua nhiều góc độ lịch sử, nhân văn, và âm nhạc. Nghiên cứu khoa học trong nhiều thập niên qua đã cho thấy sự hiện diện của âm nhạc Phật giáo rất dài lâu đến hàng hai ngàn năm qua. Đó là sự kiện hiển nhiên. Đến những đại lễ trong cung đình thời Lý, thời Trần đã ghi nhận sự có mặt của âm nhạc đạo Phật. Một ngàn năm trước đây, Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi lại đại lễ khánh thành chùa Diên Hựu (tức chùa Một Cột hiện nay) dàn đại nhạc tấu với hàng trăm nhạc công đi vòng quanh hồ sen. Đó là một trong những chứng cứ về sự hiện diện của dàn nhạc lễ. Còn có biết bao những nghi lễ khác với tầm cỡ lớn như thế. Đó cũng chính cho thấy tổ chức dàn nhạc “giao hưởng” theo kiểu Việt Nam đã xuất hiện rất sớm so với bao nhiêu nước trên thế giới. Về mặt cấu trúc thể hình, phối khí và bài tán, dàn nhạc Phật giáo còn đa dạng rất nhiều tùy theo vùng địa lý trên đất nước ta với tên gọi bát âm (miền Bắc), đại nhạc - tiểu nhạc (Huế), nhạc lễ (miền Nam).

Truyền thống âm nhạc Phật giáo rất to lớn. Đó là do công lao đóng góp của các kinh sư bậc Tổ. Các vị Tổ này có tấm lòng cao cả vì sự nghiệp âm nhạc dân tộc mà sáng tạo, phát triển để gìn giữ bản sắc Việt. Một trong những vị ấy hôm nay đáng trân trọng trên đường tìm hiểu, ghi nhớ công ơn, và chúng ta thành tâm đảnh lễ trong Hội thảo này là ngài Nguyệt Chiếu.  

(*) GS-TS Nguyễn Thuyết Phong, Viện Đại học Kent (Hoa Kỳ), giảng viên thỉnh giảng Nhạc viện TP. HCM: 
 

Nhạc lễ, đờn ca tài tử  
Nét văn hóa đặc sắc của Nam bộ 

Nhân kỷ niệm 60 năm ngày mất của Sư Nguyệt Chiếu (30-9-1947 – 30-9-2007), hội thảo “Sư Nguyệt Chiếu cuộc đời và sự nghiệp nhạc lễ cổ truyền Nam bộ”, do Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu tổ chức vừa qua tại chùa Long Phước (thị xã Bạc Liêu). Hội thảo với sự tham dự của 180 đại biểu gồm chư tôn thiền đức thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đại diện Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, Ủy ban MTTQ tỉnh Bạc Liêu, các ban ngành hữu quan, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội, giới nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh, cùng các phật tử. Nhạc lễ và đờn ca tài tử có mối quan hệ mật thiết nhưng vẫn khác nhau tùy theo tính chất phục vụ xã hội. Đó là một nét văn hóa khá đặc sắc của vùng đất Nam bộ đã khởi sắc từ những năm đầu thế kỷ XX.

Tìm lại “lò” nhạc cổ Nam bộ
  
Ban nhạc chuẩn bị hoà tấu bài Lưu thủy trường “Bá Nha, Tử Kỳ” do GS-TS Nguyễn Thuyết Phong biểu diễn minh họa trong hội thảo.
 
Nhắc lại cuộc đời và sự nghiệp của nhà sư yêu nước Nguyệt Chiếu, qua 10 trong số hơn 20 tham luận đều đánh giá ngoài Nhạc Khị (tên thật Lê Tài Khí, đã được người đời tôn vinh là Hậu tổ cổ nhạc Bạc Liêu), người thứ hai phải kể là Sư Nguyệt Chiếu. Tâm huyết để nhiều thời gian nghiên cứu, ông Trần Phước Thuận, Phó Hiệu trưởng Trường Phật học Bạc Liêu đã mô tả lại cuộc đời và tài năng của Sư Nguyệt Chiếu. 

Ông tên thật là Lưu Hữu Phước, sinh năm 1882 tại Bạc Liêu. Với nhiệt huyết thời thanh niên, ông tham gia một tổ chức chống Pháp nhưng hoạt động hơn một năm, tổ chức tan rã, ông bị thực dân Pháp truy nã phải ẩn náu ở các chùa vùng Sài Gòn - Gia Đình. Sau đó ông xuất gia, được thầy truyền dạy Phật học và nhạc lễ. 

Nắm bắt khá nhanh và giỏi về nhạc lễ, trong thời gian này, Nguyệt Chiếu đã có cơ hội tiếp xúc nhiều người đờn hay nổi tiếng về nhạc lễ. Khi thầy viên tịch, khoảng những năm đầu thế kỷ XX, Nguyệt Chiếu về Bạc Liêu, trú ngụ ở chùa Vĩnh Phước An. Chính nơi đây, ông đã gặp Nhạc Khị và hai người đã trở thành đôi bạn tâm giao, có cùng chí hướng thực hiện công trình sưu tầm, canh tân, sáng tác và chỉnh tu âm nhạc dân tộc truyền thống, mở đầu sự hình thành trường phái cổ nhạc Bạc Liêu. 

Cũng từ đấy, phong trào đờn ca tài tử, ca ra bộ và phong trào phục hưng nhạc lễ nở rộ ở vùng đất Nam bộ. Ngoài Nhạc Khị truyền dạy nhạc và hướng dẫn sáng tác cho khá đông học trò, Sư Nguyệt Chiếu cũng bỏ công không nhỏ trong việc đào tạo nhạc lễ và đờn ca tài tử khi ông được mời về ngụ tại chùa Vĩnh Đức, thị xã Bạc Liêu. Những năm tháng này, phần lớn thầy đờn nhạc lễ và đờn ca tài tử giỏi đều xuất thân từ “lò” đào tạo cổ nhạc của Nhạc Khị như Sáu Lầu, Ba Chột, Trịnh Thiên Tư, Hai Tài, Mộng Vân, Năm Nhỏ, Lý Khi… hay học trò của Sư Nguyệt Chiếu như Thiện Ý, Thiện Ngộ, Thiện Thành… 

Một điểm khá thú vị, trong thời gian dạy nhạc lễ và đờn ca tài tử, Sư Nguyệt Chiếu thường chú trọng hướng dẫn bài Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu (lúc sinh thời nhạc sĩ Trần Tấn Hưng (Năm Nhỏ) kể chính Sư Nguyệt Chiếu đã giúp Cao Văn Lầu đặt tên sáng tác của ông là bài Dạ cổ hoài lang; về sau có người hiểu lầm Sư Nguyệt Chiếu là tác giả). Trong số học trò của Sư Nguyệt Chiếu, nổi bật có Năm Nghĩa (Lư Hòa Nghĩa, phụ thân của NSƯT Bảo Quốc), Sanh Xía, Chín Quy… Riêng Năm Nghĩa được thành danh trên sân khấu cải lương chính nhờ một phần ông đã biết phát huy cổ nhạc rất sớm, biến đổi giai điệu Dạ cổ hoài lang thành bài Văng vẳng tiếng chuông chùa, mở ra kỷ nguyên vọng cổ nhịp 8, tạo dựng bản nhạc nòng cốt của cải lương.

Phát huy bản sắc Việt 

Về nhạc lễ cổ truyền, điểm qua lịch sử phát triển cũng như nhấn mạnh những đóng góp của nhạc lễ, của các vị kinh sư trong đời sống xã hội Việt Nam nói chung, đời sống xã hội Nam bộ nói riêng, từ xưa đến nay đã được phân tích, đánh giá dưới nhiều góc độ qua các bài viết của các ông Trương Ngọc Tường, TS Trần Thuận, TS Nguyễn Thành Đức, TS Thích Huệ Khai, Tỳ kheo Thích Chánh Đức, Đại đức Thích Huệ Thuận… Ghi nhận từ tham luận, GS-TS Trần Văn Khê cho rằng mặc dù có sự kế thừa nhạc lễ từ miền Trung, miền Bắc và nhạc lễ của một số tỉnh miền Nam Trung Quốc, nhưng nhạc lễ cổ truyền Nam bộ vẫn là thành quả nghệ thuật do sự sáng tạo của các nghệ nhân tiền bối ở các tỉnh phía Nam, đã được cải cách, đổi mới để thích hợp với trào lưu xã hội qua nhiều thời kỳ lịch sử. 

Phần trình bày của TS Trần Hồng Liên giúp người nghe hình dung khá rõ những dấu ấn văn hóa qua từng thời kỳ, từng không gian lịch sử về sự giao lưu văn hóa trong lễ nhạc Phật giáo, mang lại nét đặc thù nhạc lễ Phật giáo Nam bộ. Mở rộng, so sánh đối chiếu với nhạc lễ các nước trên thế giới và nhìn lại nhạc lễ Việt Nam, GS-TS Nguyễn Thuyết Phong trong ý kiến phát biểu đã nhấn mạnh: “Truyền thống âm nhạc Phật giáo rất to lớn. Đó là do công lao đóng góp của các kinh sư bậc tổ. Các vị tổ này có tấm lòng cao cả vì sự nghiệp âm nhạc dân tộc mà sáng tạo, phát triển để gìn giữ bản sắc Việt. Ông cũng cho rằng chính Sư Nguyệt Chiếu là một trong những vị kinh sư để hậu thế trân trọng tìm hiểu sự nghiệp đóng góp của ông và thành tâm ghi nhớ công ơn của vị tiền bối. Suy ngẫm về quá khứ và hướng đến nền nghệ thuật nước nhà hiện tại, một lần nữa, NSƯT-TS Bạch Tuyết qua tham luận gửi đến, đã bộc bạch tình cảm tri ân của giới nghệ sĩ ngày nay đối với sự đóng góp nghệ thuật và văn hóa rất lớn của Sư Nguyệt Chiếu, một thiền sư - nghệ sĩ. 

***

Nhạc lễ và đờn ca tài tử có mối quan hệ mật thiết nhưng vẫn khác nhau tùy theo tính chất phục vụ xã hội. Đó là một nét văn hóa khá đặc sắc của vùng đất Nam bộ đã khởi sắc từ những năm đầu thế kỷ XX. Từ những đánh giá, soi sáng lại công lao đóng góp của các vị tiền bối Nhạc Khị, Sư Nguyệt Chiếu đối với âm nhạc truyền thống dân tộc, có thể mượn lời của ông La Thanh Việt, Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bạc Liêu để kết luận: Bạc Liêu đã góp phần rất lớn vào việc phát triển nhạc lễ cổ truyền và góp phần khai sinh ra hoạt động đờn ca tài tử Nam bộ. Nhạc lễ và đờn ca tài tử ngày nay đã trở thành di sản văn hóa quý báu của Nam bộ. Hai di sản này luôn có mối quan hệ đặc biệt và cùng dựa vào nhau để cùng phát triển. 

KIM ỬNG
(SGGP:02/10/2007 lúc 23:55'(GMT+7)

10-27-2007 11:23:12

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap