Đọc
sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chúng ta đều biết nước mình
có một ông vua đi tu ngộ đạo, đó là vua Trần Nhân Tông.
Ngài làm vua trong thời gian nước nhà đang bị quân Mông Cổ
đem đại quân sang xâm lấn nước ta lần thứ ba.
Việt
Nam thời đó chỉ có từ Thanh Hóa trở ra Bắc thôi, rất nhỏ
và dân rất ít. Đứng trước thế giặc hùng hậu như vậy,
sự chống trả của quân dân Việt Nam là hết sức khó khăn.
Thế nhưng Ngài đã cầm binh chống giặc và đuổi được
bọn chúng chạy về nước một cách vô cùng oanh liệt, khiến
cho cả thế giới đều khâm phục Việt Nam.
Dẹp
xong giặc ngoại xâm rồi, đất nước thái bình, Ngài nhường
ngôi lại cho con đi tu. Nếu Ngài đi tu trong khi nước nhà có
binh biến hoặc bị thua trận thì không có giá trị gì hết.
Khi đất nước thái bình, nhân dân an lạc, nhà vua từ bỏ
ngai vàng đi tu, đó là một điều hết sức phi thường. Đọc
sử Phật giáo thế giới, chúng ta ít thấy vua đi tu, Thái
tử thì có mà vua rất ít. Ở Việt Nam chúng ta có một vị
vua biết nghĩ tới con đường giải thoát cứu khổ chúng sinh,
bỏ ngai vàng đi tu thật là một điều hy hữu.
Như
vậy nhìn trên lịch sử dân tộc cũng như lịch sử Phật
giáo Việt Nam, chúng ta hãnh diện rằng đất nước mình có
những người tu rất là xứng đáng. Sau khi đi tu rồi Ngài
tuyên bố “Kể từ đây Ngài không đi thuyền rồng, không
cỡi ngựa”. Từ thành Thăng Long lên núi Yên Tử mấy trăm
cây số mà Ngài vẫn đi bộ, nhất quyết không dùng ngựa
không dùng thuyền. Đó là tinh thần tu khổ hạnh, vì vậy
Ngài lấy hiệu là Trúc Lâm Đại-đầu-đà. Chữ Đầu-đà
là âm tiếng Phạn, dịch nghĩa là khổ hạnh. Trúc Lâm là
rừng trúc. Nghĩa là Ngài tu khổ hạnh trong rừng Trúc trên
núi Đông Cứu.
Chính
trong thời gian tu này, Ngài đã ngộ đạo và chỉ dạy lại
cho mọi người, lập thành hệ phái thiền Trúc Lâm - Yên Tử
tuần túy Việt Nam. Đây là phái thiền cô đọng những tinh
ba của các phái thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo
Đường, Lâm Tế kết tụ thành. Như vậy thiền Trúc Lâm Yên
Tử là phái thiền do Thiền sư Việt Nam, một ông vua đi tu
sáng lập. Vì thế nên các vua Trần được người sau ngợi
khen xem ngai vàng như dép rách, không có gì quan trọng hết.
Sau
khi thành lập hệ phái thiền Trúc Lâm Yên Tử rồi, từ đó
tăng chúng các nơi tụ hội về tu hành đông đảo và Ngài
luôn luôn đi trong nhân gian, giáo hóa dạy cho cư sĩ giữ năm
giới, tu Thập thiện v.v... Bài phú Cư Trần Lạc Đạo của
Ngài, nói lên tinh thần của người ở giữa lòng trần gian
bụi bặm mà vẫn có thể vui với đạo. Bài này Ngài làm
trong lúc còn ở ngôi Thái thượng hoàng, tôi xin trích một
đoạn đầu thế này:
Mình
ngồi thành thị nết dùng sơn lâm,
Muôn
nghiệp lặng an nhàn thể tánh,
Nửa
ngày rồi tự tại thân tâm.
Tham
ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quí,
Thị
phi tiếng lặng, được dầu nghe yến thốt oanh ngâm.
Chơi
nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý,
Biết
đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chủ tri âm.
Nguyệt
bạc vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng,
Liễu
mềm hoa tốt, ngất quần sinh tuệ nhật sâm lâm.
Mình
ngồi thành thị nết dùng sơn lâm, nghĩa là tuy ở giữa đô
thị, thành phố mà tư cách giống như ở núi rừng. Ngài ngồi
trong triều mà dường như đang tu trong rừng, không dính, không
kẹt gì hết. Đó là tư cách của Ngài lúc làm Thái thượng
hoàng.
Muôn
nghiệp lặng an nhàn thể tánh, nửa ngày rồi tự tại thân
tâm, tuy ở giữa cõi trần, lãnh trách nhiệm lớn đối với
quốc gia, nhưng nghiệp gây tạo Ngài đã dứt nên thể tánh
được an nhàn. Nửa ngày rảnh rỗi thân tâm Ngài tự tại
không dính không mắc, không bị buộc ràng. Đó là hình ảnh
hết sức đẹp trong cuộc sống bình thường.
Tham
ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu, ngọc quí, lòng tham
ái đã dừng lặng rồi cho nên không còn nhớ châu yêu ngọc
quí nữa. Người còn yêu châu quí ngọc là vì tham ái
còn tràn trề.
Thị
phi tiếng lặng, được dầu nghe yến thốt oanh ngâm, tâm thị
phi đã sạch hết rồi nên dầu có yến thốt oanh ngâm cũng
không dính gì với Ngài. Bởi vì trong cung quí bà phi, thường
uốn ba tấc lưỡi chỉ trích nhau, nhờ lòng thị phi hết nên
Ngài nghe yến thốt oanh kêu gì cũng tự tại, không buồn người
này không giận người kia, không trách cứ ai hết. Một ông
vua tu như vậy rất là kỳ đặc.
Chơi
nước biếc ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý,
thiên hạ đi du lịch nơi này nơi kia cho là thích thú, lịch
lãm nên rất nhiều người đắc ý.
Biết
đào hồng hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chủ tri âm, thấy
đào hồng thì biết đào hồng, nhìn liễu lục thì hay liễu
lục, thấy biết rõ ràng như vậy, trong khắp thiên hạ chẳng
được mấy người.
Nguyệt
bạc vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng. Mặt trăng
sáng giữa bầu trời xanh, ánh sáng ấy soi rọi trên cỏ cây
như một dòng sông thiền tràn trề lai láng.
Liễu
mềm hoa tốt, ngất quần sinh tuệ nhật sâm lâm, thấy liễu
mềm hoa đẹp tất cả đều là hiện tướng của trí tuệ
tràn đầy. Mọi cây cối, mọi hiện tượng chung quanh đều
là thiền, là trí tuệ chớ không còn nhiễm mê nữa.
Đọc
qua đoạn này tuy ngắn nhưng chúng ta có thể biết rõ con người
Ngài dù sống giữa cõi trần tục nhưng không còn bị nhiễm
nhơ, dính mắc, trói buộc nữa. Nên người thật tâm tu hành
dù cư sĩ hay xuất gia, trọng tâm ở chỗ đừng dính mắc
nhiễm nhơ, chớ hình thức không quan trọng. Thấy rõ trọng
tâm của sự tu như thế, dù ở nơi nào, hình thức nào chúng
ta cũng không nhiễm nhơ không dính mắc. Đó là người tu chân
thật, chắc chắn sẽ được tốt đẹp, an vui.
Tôi
nghĩ rằng chúng ta học Phật, tu Phật nên nhìn đức độ
của Ngài, chớ không nên tưởng tượng quá nhiều về sự
mầu nhiệm. Phải học gương xử sự khéo léo, tấm lòng thương
mênh mông, trí tuệ tràn trề của Ngài đối với tất cả
chúng sanh. Tinh thần Phật dạy là tinh thần xuất thế, rất
gần gũi con người. Vì thế Phật không muốn dùng những phương
tiện kỳ lạ để giáo hóa con người, đó là hình ảnh rất
thích ứng với hoàn cảnh chúng ta ngày nay. Có thế nhân loại
mới thấy đạo Phật thực tế, thân thiết và tu tập được.
Phật
tử chúng ta có thể hãnh diện vui mừng rằng, đức Phật
là bậc thầy của tất cả muôn loài rất thực tế, rất
gần gũi, rất chí thiết. Những nếp sống của Ngài đều
là tấm gương sáng cho chúng ta tu học theo một cách hiện
thực sống động, chớ không phải chuyện xa lạ. Đó là ý
nghĩa rất thâm trầm của đạo Phật. Vì vậy tôi muốn nhắc
toàn thể Tăng Ni cũng như Phật tử nên nhìn đạo Phật bằng
cái nhìn cụ thể, chớ không nên nhìn đức Phật với cái
nhìn phi thường xa lạ. Cái phi thường của đức Phật là
tâm không dính mắc, là trí tuệ tràn trề, là lòng từ bi
mênh mông, chớ không phải phi thường của những huyền bí,
phép lạ.
Như
vậy đức Phật của chúng ta là bậc đã giác ngộ, giải
thoát với trí tuệ và tình thương tràn đầy. Đây chính là
nền tảng của đạo Phật, là cái sẵn có nơi mỗi người
chúng ta. Tăng Ni, Phật tử cố gắng thực hiện, cố gắng
tu tập rồi sẽ đạt được kết quả viên mãn như Phật.
HT.
Thích Thanh Từ
(Giác
Ngộ)
07-04-2007
05:23:34