NC 60
C161:
Phạm
Ma kinh
P91:
Kinh
Brahmàyu
A.
Toát yếu kinh C
Bà-la-môn
Phạm Ma, sau khi nghe danh tiếng và trí tuệ của đức Phật,
người có 32 đại nhân tướng, đã gởi một đệ tử của
mình là Ưu Đa La đến xem để biết các tin đồn về đức
Phật có đúng không. Ưu Đa La đi đến trông thấy 32 tướng
trên thân đức Phật, theo dõi Ngài một thời gian để quan
sát uy nghi và cách hành xử của đức Phật. Rồi khi trở
về, y thuật lại toàn thể vấn đề cho Bà-la-môn Phạm Ma.
Ông này đích thân đi đến yết kiến Phật, quan sát 32 đặc
tướng của bậc đại nhân, lắng nghe đức Phật thuyết pháp
và trở thành một đệ tử của Ngài.
P:
Gần giống.
B.
Nhan đề kinh
C:
Phạm
Ma kinh, bài kinh về Phạm Ma, nói đến người Bà-la-môn
phái một đệ tử đi đến để xác định lời đồn về
danh tiếng đức Phật.
P:
Kinh
Brahmàyu, bài kinh về Brahmàyu, cùng nói đến một người
như ở kinh C.
C.
Nơi thuyết kinh
C:
Tại xứ Vi Đề Ha.
P:
Cũng vậy.
D.
Nội dung kinh
I.
Danh tiếng của đức Phật:
C:
Vào lúc bấy giờ ở Mi Sa La (P: Mithilà), có một Bà-la-môn
tên Phạm Ma có tài sản lớn, vô số của cải, gia súc và
mùa màng, được phong nhiều nhà và vựa lúa, giàu có dồi
dào. Xứ Mi Sa La, cùng với nước, cỏ và cây cối được
ân tứ bởi vua Vị Sanh Oán (A Xà Thế), con của bà Vi Đề
Hi xứ Ma Kiệt Đà (P: Ajàtasattu, Videhiputta, Magadha).
Bà-la-môn Phạm Ma có một người thanh niên tên là Ưu Đa La
được cha mẹ nuôi lớn, sống một đời trong sạch, thanh
tịnh cho đến bảy đời tổ tiên, không làm việc phi công
đức. Anh ta học nhiều hiểu rộng, tinh thông bốn tập Vệ
đà, có khả năng sâu sắc về khoa học ngữ nguyên, về ngôn
ngữ nói chung và về năm câu (năm ngành hiểu biết). Anh ta
đã nghe rằng Sa-môn Cồ Đàm, con trai dòng Sakya, đã từ bỏ
dòng họ Sakya, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, vì lòng tin,
từ bỏ gia đình sống không gia đình để học pháp. Ngài
đang du hành ở Ma Kiệt Đà, cùng với một đại chúng Tỳ-kheo.
Tiếng đồn tốt đẹp lan khắp mười phương về đức Cồ
Đàm ấy như sau: Sa-môn Cồ Đàm là đức Như lai (như trước,
cho đến)... hiển thị toàn vẹn đời sống phạm hạnh. Anh
cũng nghe rằng Sa-môn Cồ Đàm có 32 đặc tướng của bậc
đại nhân. Những người có 32 đặc tướng của bậc đại
nhân này có hai con đường chắc chắn mở ra cho họ: nếu
ở lại đời sống gia đình, họ sẽ thành vua Chuyển luân,
thông minh trí tuệ, có bốn đạo quân để cai trị thế gian.
Sau khi đã ổn định thế giới, nhờ tự lực của mình, họ
sống phù hợp với pháp, làm đấng pháp vương có bảy báu:
xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu, đình
thần báu; làm cha của một ngàn người con trai đẹp đẽ,
dũng cảm, vô úy, hàng phục được các đạo quân khác, thống
lĩnh tất cả đất đai cho đến biển cả, không dùng đến
gươm giáo, gậy gộc, mà dùng pháp để an dân. Nếu họ cạo
bỏ râu tóc đắp áo cà sa vì lòng tin từ bỏ gia đình sống
không gia đình để học pháp, thì chắc chắn họ sẽ thành
Như lai, bậc giác ngộ hoàn toàn và chân chính, tiếng đồn
lan rộng khắp mười phương.
P:
Gần giống. C: Phạm Ma = P: Brahmàyu. Bản P thêm rằng Bà-la-môn
này già, đã cao tuổi, đã đến 120 tuổi. P hoàn toàn bỏ
đoạn nói về tài sản lớn của Bà-la-môn, tài sản do vua
ân tứ....... trong sạch cho đến bảy thế hệ. C: học nhiều,
hiểu rộng, tinh thông bốn thánh điển = P: tinh thông ba tập
Vệ đà. C: am tường sâu sắc khoa học ngữ nguyên và ngôn
ngữ nói chung = P: giỏi từ ngữ, văn pháp, trí thế gian và
đại nhân tướng. C: giỏi về năm câu (năm ngành hiểu biết)
= P: giỏi về ngữ vựng, nghi lễ, văn, truyền thống, và ngữ
âm. Danh tiếng của Sa-môn Cồ Đàm cũng giống như trong các
kinh P trước đây. Ở đây bản P bỏ nói đến 32 tướng đại
nhân, nhưng trong đoạn kế tiếp, khi Bà-la-môn giục Uttara
đến yến kiến Sa-môn Cồ Đàm, ông cũng đề cập 32 tướng.
Ghi
chú: Bản P nói ba tập Vệ đà trong khi bản C nói bốn
tập. Như vậy truyền thống bản P xưa hơn.
II.
Phạm Ma giục đệ tử mình đi đến yết kiến Sa-môn Cồ
Đàm:
C:
Phạm Ma lập lại những gì ông ta đã nghe đồn về danh tiếng,
đức tính và đặc tướng của Sa-môn Cồ Đàm, cho đệ tử
Ưu Đa La nghe, và giục anh ta đi đến xem Sa-môn Cồ Đàm có
thật đúng như những gì được đồn đãi về Ngài, và Ngài
có 32 tướng đại nhân hay không, vì Ưu Đa La đã đọc trong
các kinh điển về người sở hữu 32 tướng đại nhân.
P:
Gần giống. Bản P cũng nói 32 tướng và hai con đường duy
nhất mở ra cho người này. Về đặc tính của một chuyển
luân vương, hai bản gần giống nhau với những dị biệt như
sau: Bản P bỏ: thông minh, trí tuệ. C: sau khi làm cho thế giới
ổn định nhờ tự lực của mình = P: người đem lại ổn
định cho xứ sở. C: có bốn loại quân đội để cai trị
thế giới = P: chiến thắng cả bốn phương thế giới. Về
bảy báu, chỉ có báu vật cuối cùng là hơi khác:
C:
báu vật về chủ, binh lính, đình thần = P: báu vật về cố
vấn. C: có danh tiếng lan rộng khắp mười phương = P: đã
vén màn cho thế gian. P thêm rằng Bà-la-môn Brahmàyu nói, ông
ta là người cho chú thuật và Uttara là người nhận chú thuật.
Phần còn lại giống nhau.
III.
Ưu Đa La đến gần đức Phật:
C:
Khi ấy Ưu Đa La đến gần đức Phật, chào Ngài và ngồi
xuống một bên. Anh thấy 30 tướng của bậc đại nhân trên
thân đức Phật và nghi ngờ về hai tướng còn lại, là tướng
mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài. Khi Ưu Đa La đã biết
Sa-môn Cồ Đàm có đầy đủ 32 tướng đại nhân, anh theo
dõi Sa-môn Cồ Đàm suốt bốn tháng mùa hạ để quan sát cách
hành xử của Sa-môn Cồ Đàm, uy nghi của Sa-môn Cồ Đàm và
những nơi Ngài thăm viếng (uy nghi và hành xứ). Sau khi làm
việc ấy, anh từ giã Sa-môn Cồ Đàm và ra về.
P:
Gần giống. C: tướng mã âm tàng = P: kosohite vatthaguyhe.
Về
tướng lưỡi dài rộng mà trong bản C nói trùm phủ cả mặt,
P nói Phật thè lưỡi ra chạm hai tai, hai mũi và trùm cả mặt
cho đến trán. C: anh ta theo Sa-môn Cồ Đàm suốt bốn tháng
mùa hè để quan sát uy nghi Sa-môn Cồ Đàm và những nơi Ngài
thăm viếng = P: thanh niên Uttara trong bảy tháng đi theo sát
Sa-môn Cồ Đàm như cái bóng để quan sát uy nghi của Ngài.
IV.
Ưu Đa La thuật lại cho Phạm Ma:
1)
32 đại nhân tướng:
(Xin
xem chương 5 về Phật và 32 tướng đại nhân).
2)
Uy nghi của đức Phật:
(Xin
xem ở trước, trang ...).
3)
Ưu Đa La xuất gia:
C:
Rồi Ưu Đa La xin phép Bà-la-môn để đi xuất gia với Sa-môn
Cồ Đàm, và Phạm Ma bằng lòng. Sau đó Ưu Đa La đi đến
đức Phật xin xuất gia và được thọ đại giới. Đức Phật
chấp nhận.
P:
Không có.
V.
Cuộc gặp gỡ giữa đức Phật và Bà-la-môn Phạm Ma:
1)
Các gia chủ và Bà-la-môn đến thăm Phật:
C:
Sau khi Ưu Đa La được thọ giới, Phật cùng đại chúng Tỳ-kheo
rời Videha và tuần tự đi đến Mi Sa La, ở lại trong rừng
Makhàdeva. Tiếng đồn về đức Phật đã đến nơi này, các
gia chủ và Bà-la-môn ở Mi Sa La cùng quyến thuộc ra khỏi
thành đi về hướng bắc đến rừng Makhàdeva để yết kiến
đức Phật. Một số đảnh lễ dưới chân đức Phật rồi
ngồi qua một phía, một số chào hỏi đức Phật rồi ngồi
qua một phía, một số chắp tay hướng về đức Phật rồi
ngồi qua một phía, một số từ xa trông thấy đức Phật,
giữ im lặng rồi ngồi xuống. Khi ấy đức Phật thuyết pháp
cho họ, làm cho họ phấn khởi, khích lệ và làm họ hoan hỷ,
dùng vô số cách để thuyết pháp.
P:
Bỏ sự thọ giới của Ưu Đa La, thêm: một số xưng tên họ
rồi ngồi xuống. Bỏ Phật thuyết pháp cho chúng.
2)
Sự viếng thăm của Phạm Ma và 32 tướng đại nhân:
C:Tiếng
đồn về Phật đến tai Phạm Ma và ông ta muốn đến thăm
đức Phật. Ông sai chuẩn bị những cỗ xe khả ái, và khởi
hành. Nhưng khi đến nơi đức Phật, thấy Ngài được vây
quanh bởi vô số người đang nghe pháp, ông đâm ra sợ hãi,
đến dưới một gốc cây và gởi một sứ giả đến hỏi
thăm sức khỏe của đức Phật và xin phép được yết kiến
Ngài. Đức Phật nhận lời, và Phạm Ma đến gặp đức Phật.
Các gia chủ và Bà-la-môn, những người đã biết được đức
hạnh và tri kiến của Phạm Ma, đứng dậy khỏi chỗ ngồi
để nhường cho ông, nhưng Phạm Ma từ chối bảo rằng ông
muốn yết kiến đức Phật ngay. Rồi ông đến trước Phật,
chào Phật và ngồi qua một bên. Ông thấy tất cả tướng
của một bậc đại nhân trên thân Phật trừ hai tướng, nghi
ngờ về hai tướng này và đọc một bài kệ để xin đức
Phật giải trừ những nghi này cho ông. Phật dùng thần thông
hiển thị cho Phạm Ma hai tướng ấy. Sau khi trông thấy chúng,
ông được xác tín rằng đức Phật đủ 32 tướng của bậc
đại nhân.
P:
Gần giống, với những dị biệt như đã thấy trong các đoạn
trên. Bản P không nói Bà-la-môn Brahmàyu đâm ra sợ hãi khi
đến gần đức Phật và phải gởi một sứ giả. Ở đây
Bà-la-môn nghĩ rằng, thật mình không nên yết kiến Sa-môn
Gotama mà không xin phép trước. Bởi thế ông gởi sứ giả
đến. Và cũng ở đây, Bà-la-môn Brahmàyu dùng bài kệ để
thưa hỏi đức Phật, và Phật cũng dùng một bài kệ để
trả lời ông.
3)
Đức Phật thuyết pháp cho Phạm Ma:
C:
Đức Phật biết Bà-la-môn Phạm Ma này không phải là một
kẻ lừa dối, một kẻ bịp bợm, ông ta đặt câu hỏi chỉ
vì muốn hiểu biết chứ không phải muốn gây rối. Ông nghĩ
tốt hơn Phật nên giảng cho ông pháp A-tỳ-đàm sâu sắc.
Phật dùng kệ cho phép Bà-la-môn đặt câu hỏi vì an lạc
trong hiện tại và vì hạnh phúc cho tương lai. Rồi Bà-la-môn
Phạm Ma đặt những câu hỏi sau đây, tất cả đều dưới
hình thức kệ: "Gì là Bà-la-môn? Ba sự thành đạt có nghĩa
gì? Do gì mà người ta nói họ không còn chấp thủ? Gì là
sự giác ngộ hoàn toàn và chân chính?" Phật dùng kệ trả
lời:
"Phá
hủy các ác bất thiện pháp,
Đứng
vững và an trú trong đời sống phạm hạnh,
Tu
tập trong phạm hạnh,
Đây
gọi là Bà-la-môn.
Có
tri kiến sáng suốt về quá khứ,
Thấy
rõ các cõi hạnh phúc và đau khổ,
Diệt
trừ ngu si,
Biết
điều này gọi là Mâu ni.
Biết
rõ tâm thanh tịnh,
Hoàn
toàn diệt trừ tham, sân, si,
Đạt
đến ba minh,
Gọi
là ba sự chứng đắc.
Viễn
ly khỏi ác pháp,
An
trú chân chính trong đệ nhất nghĩa,
Là
đối tượng chính cho thế gian tôn trọng,
Do
đây gọi là không chấp thủ.
Giúp
đỡ chư thiên và loài người.
Đem
lại con mắt và phá hủy tranh chấp,
Có
tri kiến quảng bác và đã tận trừ hữu,
Gọi
là giác ngộ chân chính và hoàn toàn."
P:
Không giống hẳn. P bỏ: Đức Phật nghĩ rằng Bà-la-môn này
không phải là một kẻ lừa dối..... giảng A-tỳ-đàm cho
ông. Sự cho phép của Phật đã được đặt trong bài kệ
trước. Ở đây bản P thêm một đoạn Brahmàyu quyết định
nên hỏi Sa-môn Gotama những câu gì. Cuối cùng ông ta quyết
định hỏi về mục đích của đời vị lai. Những câu hỏi
không giống nhau trong hai bản, chỉ có một vài câu giống,
và cả hai bản đều dùng hình thức kệ.
Ở
đây Bà-la-môn hỏi:
"Thế
nào gọi là Bà-la-môn? Làm sao để trở thành chủ của tri
kiến?
Thế
nào là nắm vững ba minh?
Thế
nào là một bậc hữu học?
Thế
nào là một đức Như lai? Làm sao người ta trở thành toàn
giác?
Thế
nào là một bậc hiền? Thế nào là một đấng giác ngô?"
Đức
Phật cũng trả lời bằng bài kệ như sau:
"Ai
biết đời quá khứ,
Thấy
được cõi trời và đọa xứ,
Ai
đạt đến phá hủy sinh tử,
Người
ấy là một bậc hiền, đã hoàn tất thánh trí.
Ai
biết tâm thanh tịnh, giải thoát mọi chấp thủ,
Đã
tận trừ sinh tử,
Người
ấy viên mãn đời phạm hạnh.
Ai
biết được tất cả tâm pháp,
Gọi
là đấng giác ngộ."
4)
Bà-la-môn quy y.
C:
Rồi Bà-la-môn Phạm Ma đứng dậy khỏi chỗ ngồi, muốn đảnh
lễ dưới chân Phật. Lúc ấy, đại chúng gia chủ và Bà-la-môn
la lớn lên rằng, thật kỳ diệu, thật lạ lùng thay về Sa-môn
Cồ Đàm, khi Bà-la-môn Phạm Ma của xứ Mi Sa La, người có
bảy đời tổ tông đều thanh tịnh, người tối thượng trong
các gia chủ và Bà-la-môn của xứ Mi Sa La, người đa văn nhất,
giàu có nhất, cao tuổi nhất, đã 126 tuổi, lại hạ mình
thờ phụng Sa-môn Cồ đàm. Đức Phật biết được tâm của
hội chúng này, liền bảo Bà-la-môn Phạm Ma trở về chỗ
ngồi của ông. Rồi Phật thuyết pháp cho ông, làm cho ông
hoan hỷ, phấn chấn, khích lệ ông, dùng vô số cách để
giảng pháp cho ông... (giống như trước) cho đến câu: "trở
nên vô úy đối với pháp của đức Thế Tôn." Bà-la-môn Phạm
Ma đứng dậy khỏi chỗ, đến ngồi dưới chân đức Phật,
xin quy y Tam bảo, xin đức Phật nhận ông làm một đệ tử
tại gia. Rồi ông mời Phật cùng với chúng Tỳ-kheo hôm sau
đến nhà ông thọ thực, và Phật nhận lời. Rồi ngày hôm
sau đức Phật cùng chúng Tỳ-kheo đến nhà Bà-la-môn và được
Bà-la-môn cúng dường thực phẩm. Sau buổi ăn, Bà-la-môn lấy
một ghế thấp, và ngồi lắng nghe Phật thuyết tùy hỷ pháp.
Đức Thế Tôn dạy:
"Trong
các tế đàn, lửa là tối thượng,
Phạm
âm là nền tảng của tất cả âm thanh.
Trong
loài người, vua là tối thượng
Biển
dài hơn các dòng sông.
Mặt
trăng sáng hơn các vì sao,
Nhưng
không ánh sáng nào quá hơn mặt trời.
Phương
trên phương dưới,
Bốn
phương chính và bốn phương phụ,
Cùng
với tất cả thế gian,
Từ
nhân loại cho đến chư thiên,
Chỉ
có Phật là tối thượng."
P:
Không giống, ở đây Brahmàyu thực sự đảnh lễ Phật, sắp
đặt thượng y một bên vai, hôn quanh chân đức Phật, lấy
hai tay vuốt khắp chân Ngài và xưng tên ông. Thái độ của
ông làm cho toàn thể chúng hội kinh ngạc và úy phục. Rồi
đức Phật giảng pháp cho ông như thường lệ cho đến khi
Brahmàyu đạt được pháp nhãn. Phần còn lại cũng gần giống
như C, nghĩa là sự quy y Tam bảo của ông, việc ông mời đức
Phật thọ trai, nhưng ở đây không nói gì đến việc đức
Phật thuyết tùy hỷ pháp. Ngài chỉ như thường lệ, làm
cho Bà-la-môn hoan hỷ, hài lòng với một pháp thoại. Nó thêm:
sau một tuần, đức Phật khởi hành đi đến Videha.
5)
Cái chết của Phạm Ma và nơi tái sinh của ông:
C:
Sau khi ở lại vài ngày tại Mi Sa La, đức Phật du hành đến
Xá Vệ, và đi đến Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc. Tin tức
về cái chết của Phạm Ma đến với Ngài, và các Tỳ-kheo
hỏi Phạm Ma tái sinh ở đâu. Phật trả lời rằng ông ta
đã đắc quả Bất hoàn, không còn trở lui đời này nữa.
P:
Gần giống; nó không nói Phật đến Xá Vệ và ở lại Kỳ
thọ Cấp-cô-độc viên.
Ghi
chú: Cô Horner trong bản dịch của mình, đã đọc câu Pàli
"Na ca mam vihesesi" thay vì "navamam vihesesi", cách đọc
của cô có lẽ đúng, vì trong C có từ ngữ: "Ông ta không
quấy rối Như Lai về pháp."
E.
Phần kết
Trong
khi bản P nói các Tỳ-kheo hoan hỷ lời đức Phật dạy, bản
C thêm rằng, Phạm Ma cũng hoan hỷ. Điều này cho thấy một
bất ổn lớn, khi ta xét rằng trong đoạn trước Phạm Ma được
báo cáo là đã chết.
NC61
C151:
Phạm chí A-nhiếp-hòa kinh
P93:
Kinh Assalàyana
A.
Toát yếu kinh C
Bà-la-môn
A-nhiếp-hòa đến tranh luận với đức Phật về thuyết của
Ngài rằng cả bốn giai cấp đều thanh tịnh, và đề cao sự
ưu thắng của giai cấp Bà-la-môn. Phật dùng nhiều câu hỏi,
ví dụ và mẩu chuyện để cho A-nhiếp-hòa thấy rõ sự trống
rỗng của lời ông tuyên bố.
P:
Gần giống, với một vài dị biệt trong các câu hỏi, ví
dụ và mẩu chuyện.
B.
Nhan đề kinh
C:
Phạm
chí A-nhiếp-hòa kinh, kinh nói về Phạm chí A-nhiếp-hòa,
tức là người Bà-la-môn đến thách đấu với đức Phật.
P:
Assalàyanasuttam,
kinh nói về Assalàyana, cũng một người như trên.
C.
Nơi thuyết kinh
Cả
hai bản cùng để nước Xá Vệ, vườn Kỳ thọ Cấp-cô-độc.
D.
Nội dung kinh
I.
Hoàn cảnh đưa đến sự thuyết kinh này:
C:
Một số lớn Bà-la-môn ở Câu Sa La tụ họp trong một giảng
đường đang bàn về lời công bố của Sa-môn Cồ Đàm về
sự thanh tịnh của cả bốn giai cấp, trong khi họ tuyên bố
rằng giai cấp Bà-la-môn là tối thượng, các giai cấp khác
không thể sánh bằng; Bà-la-môn trắng, các giai cấp khác đen;
Bà-la-môn thanh tịnh, các giai cấp khác bất tịnh; Bà-la-môn
là con của Phạm thiên, sinh từ miệng của ngài. Họ nghĩ
đến một người nào có thể đi đến thách đấu với Sa-môn
Cồ Đàm, và đã chọn thanh niên A-nhiếp-hòa, người có sanh
chủng thanh tịnh cho đến bảy thế hệ tổ tiên, không làm
các việc phi công đức. Anh ta đa văn, học rộng, tinh thông
bốn thánh điển, rất thiện xảo về luật duyên khởi, về
ngữ pháp nói chung, và về năm câu (năm ngành hiểu biết).
Tất cả họ đi đến yêu cầu A-nhiếp-hòa đi đến thách
đấu với Sa-môn Cồ đàm. A-nhiếp-hòa từ chối, bảo rằng
không thể nào tranh luận với Sa-môn Cồ Đàm, vì Ngài thuyết
giảng phù hợp với chánh pháp. Các Bà-la-môn khác cứ giục
anh đi, đừng có chưa đánh đã nhận thua và cuối cùng A-nhiếp-hòa
nhận lời. Rồi anh cùng với các Bà-la-môn người Câu Sa La
đi đến Sa-môn Cồ Đàm, chào hỏi Ngài và ngồi xuống một
bên, nêu lên lời công bố của mình về sự tối thượng
của giai cấp Bà-la-môn và hỏi quan điểm của Sa-môn Cồ
Đàm.
P:
Gần giống, thêm: khoảng 500 Bà-la-môn từ nhiều vùng khác
nhau đi đến Xá Vệ vì một vài công việc. Bỏ: họ tụ họp
trong một giảng đường, và chỉ nói đến quan điểm Sa-môn
Cồ Đàm về sự thanh tịnh của bốn giai cấp. Những đức
tính của Assalàyana cũng giống như những đức tính của Brahmàyu
trong kinh Brahmàyu, ngoại trừ chi tiết, Assalàyana còn trẻ,
16 tuổi, đầu cạo trọc. Bản P thêm: các Bà-la-môn khác thúc
giục Assalàyana đi tranh luận với Sa-môn Cồ Đàm, bảo rằng
Assalàyana là người đã sống đời du sĩ. Trong bản P, những
yêu cầu của các Bà-la-môn được lập lại ba lần, và Assalàyana
từ chối hai lần. Cuối cùng Assalàyana chấp nhận, bằng cách
giữ im lặng trong bản C, nhưng trong bản P anh ta bảo, thật
sự Sa-môn Cồ Đàm nói đúng pháp, và thật khó mà cãi với
những người nói đúng pháp, anh ta không thể cãi với Sa-môn
Cồ Đàm. Tuy nhiên anh cũng sẽ đi như được yêu cầu. Ở
đây lời công bố của Bà-la-môn như sau: "Giai cấp Bà-la-môn
là tối thượng, các giai cấp khác là hạ liệt; Bà-la-môn
trắng, các giai cấp khác đen; Bà-la-môn thanh tịnh, không phải
các giai cấp khác, Bà-la-môn là con chính thức của Phạm thiên,
sinh từ miệng của Phạm thiên, được sinh ra do Phạm thiên,
kẻ thừa tự của Phạm thiên."
II.
Sa-môn Cồ Đàm bác bỏ:
Có
chín sự bài bác và ví dụ trong cả hai bản, nhưng không giống
nhau và cũng không cùng một thứ tự. Những bài bác tương
đương như sau: C1 = P2; C2 = P: không có; C3 = P5; C4 = P6; C5 và
C6 = P7; C7 và C9 = P8; C8 = P9. P1, P3, P4 không có trong C.
Bài bác
thứ nhất: C1 = P2:
C:
Đức Thế Tôn hỏi A-nhiếp-hòa có nghe về hai xứ sở là
Uất Nê (Yonà) và Chiên Phù (Kamboja), nơi đó chỉ
có hai giai cấp chủ và tớ, hết làm chủ sẽ thành tớ, và
hết làm tớ sẽ thành chủ. Khi A-nhiếp-hòa trả lời có,
đức Phật bảo nếu các Bà-la-môn theo chánh đạo, họ sẽ
có được hiểu biết chân chính và sự tự tri phù hợp với
pháp. Cũng vậy với các quý tộc, gia chủ và thợ thuyền.
Rồi A-nhiếp-hòa ca tụng Sa-môn Cồ Đàm thật kỳ diệu, hy
hữu, nói rằng anh ta hiểu ví dụ ấy rất nhanh chóng, nhưng
các Bà-la-môn lại nói giai cấp Bà-la-môn là tối thượng.
P:
Gần giống. C: Uất Nê, Chiên Phù = P: Yonà, Kamboja. P thêm:
và các xứ ở biên giới. Kết luận của Phật ở đây hoàn
toàn khác: "Này Assalàyana, nếu thế thì do sức mạnh nào,
do thẩm quyền nào mà các Bà-la-môn lại bảo giai cấp Bà-la-môn
là tối thượng..."
Sự bài
bác thứ hai: C2 = P không có:
C:
Đức Thế Tôn hỏi A-nhiếp-hòa, có phải chỉ những người
Bà-la-môn mới không bị khoảng không này nắm lấy, không
bị trói buộc bởi khoảng không, không bị chạm đến và
không bị ngăn ngại bởi khoảng không. A-nhiếp-hòa phải trả
lời rằng các giai cấp khác cũng vậy. Rồi đức Thế Tôn
nói lên kết luận như trong lời bác thứ nhất.
Sự bài
bác thứ ba: C3 = P5:
C:
Đức Thế Tôn hỏi A-nhiếp-hòa, có phải chỉ có Bà-la-môn
mới có thể tu tập bi mẫn, không hận, không sân, không có
ác ý, không tranh chấp, còn những người quý tộc, gia chủ
và thợ thuyền, không thể làm như vậy. A-nhiếp-hòa trả
lời rằng cả bốn giai cấp đều có thể làm như vậy. (Cũng
kết luận như trên).
P:
Gần giống. Nó thêm : trong xứ này (asmim padese).
Bài bác
thứ tư: C4 = P6:
C:
Đức Phật hỏi A-nhiếp-hòa, nếu người từ một trăm dòng
họ khác nhau đi đến, và một người nói lên rằng, chỉ
có những người có thọ sanh cao quý và Bà-la-môn mới có
thể đem bã đậu (xà phòng) để đến sông tắm, rửa sạch
bụi bặm, trở thành sạch sẽ thanh tịnh, nhưng còn gia chủ
và các giai cấp thợ thuyền thì sao. A-nhiếp-hòa trả lời
rằng, tất cả giai cấp, không trừ một ai, đều có thể
đem bã đậu và đi tắm cho sạch bụi bặm. (Phật kết luận
như trên).
P:
Gần giống. Nó không nói đến 100 dòng họ khác nhau đi đến
và một người nói chỉ có quý tộc và Bà-la-môn có thể
rửa sạch bụi bặm. Ở đây Phật hỏi Assalàyana, có phải
chỉ có Bà-la-môn (không nói đến quý tộc) mới có thể dùng
bột tắm và đồ chà lưng đi đến sông để tắm sạch bụi
và bùn.
C:
bã đậu để tắm rửa = P: đồ chà lưng và bột tắm.
Bài bác
thứ năm và sáu: C5 và C6 = P7:
C:
Đức Thế Tôn hỏi A-nhiếp-hòa, nếu có người từ 100 dòng
họ đi đến và một người nói, hãy đến đây, chỉ người
quý tộc và Bà-la-môn mới có thể dùng bột chiên đàn thật
khô, dùng nó như đồ lấy lửa, cọ xát nó để phát ra lửa.
Nhưng những gia chủ và thợ thuyền, nếu họ lấy phân heo,
phân chó khô và gỗ cây y lan hay một thứ gỗ tồi nào khác,
dùng nó như dụng cụ phát sinh lửa, để cọ xát, những người
này có thể làm sản sinh lửa để dùng được không. A-nhiếp-hòa
đáp rằng, tất cả những người này, dùng các loại gỗ
khác nhau để làm đồ lấy lửa, đều có thể sản xuất
lửa. Và ngọn lửa được phát ra cũng có ngọn, có màu sắc,
có hơi nóng, và có thể dùng để nấu, không khác gì lửa
do các người quý tộc và Bà-la-môn làm phát sinh, nhờ sử
dụng gỗ quý để làm sanh lửa.
P:
Gần giống, nhưng nhiều chi tiết hơn. Ở đây nói đến một
vị vua Sát đế lợi đã được quán đảnh, triệu tập một
trăm người dân đủ mọi dòng họ.
C:
những người thuộc dòng quý tộc và Bà-la-môn dùng gỗ chiên
đàn rất khô = P: những người thuộc dòng quý tộc, Bà-la-môn,
gia đình vương giả, dùng phần trên của một cây sàla hay
một cây sakka hay một cây salala hay một cây trầm, hay hoa sen.
C:
những người sinh ra từ gia chủ và thợ thuyền, lấy phân
heo khô, phân chó hay gỗ y lan hoặc gỗ tồi khác = P: thuộc
dòng họ chiên đà la, thợ săn, thợ đan tre, gia đình đánh
xe bò, hốt phân... dùng phần trên của phân chó (sàpàna),
phân heo (sùkara), phân khô, hay dầu cây đu đủ (elandakattha).
C:
Đức Thế Tôn bảo A-nhiếp-hòa rằng mọi người được gọi
tên tùy theo gia đình từ đó họ sinh ra. Như từ gia đình
Bà-la-môn, họ được gọi là Bà-la-môn, từ gia đình quý
tộc họ được gọi là quý tộc. Cũng vậy với gia chủ và
thợ thuyền. Như lửa sinh từ củi thì gọi là lửa củi,
từ cỏ, phân, gỗ, thì gọi là lửa cỏ, lửa phân, và lửa
gỗ. Nhưng một người con từ một người cha quý tộc và
một người mẹ Bà-la-môn giống hoặc mẹ hoặc cha hoặc không
giống bên nào, không thể được gọi là một Bà-la-môn hay
một quý tộc, nhưng cái thân thể được gọi là thuộc về
chính nó, vì thân thể được gọi tùy theo nơi nó sinh ra.
Nếu một con ngựa cái và một con lừa đực giao hợp và một
con la được sinh ra, thì con la không thể được gọi là ngựa,
cũng không gọi là lừa mà gọi là la. Ở đây đức Phật
lặp lại lời kết luận của Ngài, và A-nhiếp-hòa cũng lặp
lại lời ca tụng như đã thấy trong các bài bác trước. Lại
nữa đức Thế Tôn hỏi A-nhiếp-hòa, giả sử có một Bà-la-môn
tu hạnh tiết dục và bố thí, có bốn con trai, hai người
có học còn hai người không học. Người Bà-la-môn sẽ bố
thí cho ai trước, với chỗ ngồi tốt nhất, thực phẩm và
nước rửa tốt nhất. A-nhiếp-hòa trả lời rằng người
ấy sẽ bố thí cho hai người con trai có học. Đức Thế Tôn
lại hỏi, giả sử có một Bà-la-môn thực hành tiết dục
và bố thí, có bốn con trai, hai người không học nhưng siêng
năng và ưa làm việc công đức, còn hai người thì có học
nhưng không siêng năng và ưa làm hạnh phi công đức. Người
Bà-la-môn sẽ bố thí cho ai trước, với chỗ ngồi, thực
phẩm và nước rửa tốt nhất. A-nhiếp-hòa trả lời rằng,
ông ta sẽ bố thí cho hai người không học nhưng siêng năng
và ưa hành thiện. Rồi đức Thế Tôn bảo A-nhiếp-hòa rằng,
A-nhiếp-hòa đầu tiên ca tụng đa văn, rồi ca tụng sự tuân
giữ giới luật. Đức Thế Tôn đã nói về sự thanh tịnh
của bốn giai cấp và công bố nó, A-nhiếp-hòa cũng đã nói
về sự thanh tịnh của bốn giai cấp và công bố nó.
P:
Không giống. Bản Pàli đặt hai lời bài bác này chung. Nó
bỏ đoạn: "Người ta được gọi tùy theo gia đình từ đấy
họ được sinh ra... được gọi là lửa củi." Trong khi bản
C nói một người con trai từ cha quý tộc và mẹ Bà-la-môn
hay mẹ quý tộc cha Bà-la-môn, dù nó giống cha, giống mẹ
hay không giống ai cả, đều không thể gọi là Bà-la-môn hay
quý tộc, mà có một giai cấp của riêng nó; bản P lại nói
rằng, dù một người con trai được sinh ra từ một con gái
quý tộc và thanh niên Bà-la-môn hay một thanh niên quý tộc
và con gái Bà-la-môn thì đứa con trai ấy sẽ giống cả mẹ
lẫn cha và sẽ được gọi vừa quý tộc vừa Bà-la-môn. Ví
dụ về con la cũng giống như ở bản C, nhưng bản P không
có cùng một kết luận như ở C. Bản P nói rằng, vì sự
thọ sinh lẫn lộn của nó, nó được gọi là một con la và
Assalàyana thêm rằng, anh ta nhận xét có sự dị biệt ấy
ở đây, nhưng ở nơi khác, anh không thấy dị biệt nào cả.
Về lời bài bác kia, bản P không nói rõ rằng, một Bà-la-môn
thực hành hạnh tiết dục và bố thí; nó chỉ nói trường
hợp hai anh em (không phải bốn) cùng mẹ nhưng không cùng
cha (C: không có), một người thông minh, tinh thông (các
tập Vệ đà), còn người kia thì không.
C:
cho con trai nào, người Bà-la-môn sẽ bố thí trước, với
chỗ ngồi, nước rửa và thức ăn tốt nhất = P: người Bà-la-môn
sẽ cho ai ăn trước, đồ cúng cho người chết hay cháo, hay
nước thánh, hay cơm dành cho khách.
C:
hai người có học nhưng không siêng năng và ưa làm hành vi
bất thiện = P: một người thông minh và thiện xảo (về các
kinh Vệ đà), nhưng có ác giới và tính tình xấu xa. Người
kia thì ngược lại. Phần còn lại cũng giống nhau. Cần ghi
chú một dị biệt nữa ở đây. Trong bản C, đức Thế Tôn
bảo A-nhiếp-hòa lúc đầu ca tụng đa văn, rồi ca tụng sự
trì giới, và cả đức Thế Tôn lẫn A-nhiếp-hòa đã nói
về sự thanh tịnh của bốn giai cấp và công bố nó, nhưng
trong bản P, đức Phật bảo A-nhiếp-hòa rằng, lúc đầu anh
ta đã nói về sanh chủng, rồi bỏ sanh chủng nói đến chú
thuật, bỏ chú thuật nói về sự thanh tịnh của bốn giai
cấp đúng như đức Phật đã công bố.
Bài bác
thứ tám: C8 = P9:
C:
Đức Thế Tôn kể lại một câu chuyện cho A-nhiếp-hòa, ngày
xưa có nhiều hiền nhân sống chung tại một nơi yên tịnh.
Họ khởi lên một tà kiến rằng giai cấp Bà-la-môn là tối
thượng.... Khi ấy một bậc hiền tên là Asito Devalo khi biết
được tà kiến này đã đắp y, vấn một khăn vàng quanh đầu,
cầm một cây gậy và một cái dù, choàng một áo trắng, biến
mất từ chỗ của mình và không sử dụng cửa lớn để đi
vào, ông ta xuất hiện trong ngôi nhà nhập thất của các hiền
nhân, đi lui đi tới, nói rằng: "Bảy Bà-la-môn hiền trí đã
đi đâu rồi?" Một người hiền trông thấy điều này, thuật
lại vấn đề với các bạn của mình và yêu cầu họ đi
đến trù rủa ông ấy. Nhưng khi những người này trù rủa:
"Mong ngươi trở thành tro tàn. Mong ngươi trở thành tro tàn!",
thì màu da của Asito Devalo lại càng sáng hơn và thân thể
ông ta tỏa ra nhiều ánh sáng hơn nữa. Những người này liền
hỏi Asito Devalo, ông là ai, và khi người này để lộ tông
tích, các bậc hiền xin lỗi. Khi ấy Asito hỏi các bậc hiền
có phải họ đã khởi lên một tà kiến rằng giai cấp Bà-la-môn
là tối thượng.... và các người hiền công nhận đã có
quan điểm như vậy. Khi ấy Asito hỏi họ có biết cha mình,
ông nội mình,... cho đến bảy thế hệ, có cưới toàn thiếu
nữ Bà-la-môn, không có ai phi Bà-la-môn hay không. Họ có biết
mẹ của họ, bà ngoại của họ... trở lui cho đến bảy thế
hệ, có phải những người này chỉ kết hôn toàn với người
Bà-la-môn, không người đàn ông nào là phi Bà-la-môn. Rồi
Asito lại hỏi, họ có biết sự thụ thai xảy ra như thế
nào. Và đuợc trả lời rằng, khi ba việc kết hợp thì sẽ
có sự thụ thai: sự gặp gỡ giữa cha, mẹ (người mẹ phải
ở trong trường hợp có thể thụ thai) và sự đi đến của
hương ấm (gandhabba). Asito hỏi họ có biết hương ấm đi
thọ sanh ấy là nam tánh hay nữ tánh, từ đâu đến, từ giai
cấp quý tộc hay Bà-la-môn hay gia chủ hay thợ thuyền, nó
đến từ phương đông, nam, tây, hay bắc. Các bậc hiền ấy
trả lời rằng họ không biết. Asito nói nếu họ không biết
điều này thì làm sao có thể công bố rằng giai cấp Bà-la-môn
là tối thượng. A-nhiếp-hòa khi bị Thế Tôn quở trách, tỏ
vẻ hối hận. Đức Phật muốn làm cho ông hoan hỷ, bèn đưa
ra sự bài bác thứ chín.
P:
Gần giống. Ở đây Asito Devalo được mô tả là có râu tóc
chải chuốt, mặc y phục màu tía, mang hài nhiều lớp, cầm
một cái gậy bịt vàng xuất hiện trong am thất của bảy
hiền nhân Bà-la-môn. Lời nguyền rủa cũng giống như trong
C. Ở đây, bảy hiền nhân càng nguyền rủa Asito thì ông này
càng đẹp đẽ, khả ái. Bản P thêm rằng, bảy hiền nhân
nghĩ rằng trước đây khi họ nguyền rủa người nào, lời
nguyền rủa của họ ứng nghiệm tức khắc, thế mà bây giờ
lời nguyền rủa của họ không còn hiệu lực, thế thì khổ
hạnh của họ đã thành vô dụng, đời sống phạm hạnh của
họ không ích gì. Asito Devalo trấn an họ rằng, sự khổ hạnh
của họ không vô dụng, đời sống phạm hạnh của họ không
phải vô ích. Khi ấy ông để lộ tung tích mình, và bảy hiền
nhân đến đảnh lễ Asito. Câu hỏi về cha, ông nội, mẹ,
bà nội, sự thụ thai.... đều giống nhau.
C:
(tử cung bà mẹ) không đầy, có thể thụ thai = P: màtà
ca utunì hoti, ở trong thời kỳ của bà mẹ. Bản P bỏ
câu hỏi : "Chúng sinh được sinh ra đến từ hướng nào?"
Nó thêm một câu hỏi khác: "Sự tình là vậy thì bảy hiền
nhân có biết mình là ai không?" và các hiền nhân trả lời
không.
C:
Đức Phật bảo A-nhiếp-hòa rằng những hiền nhân sống trong
rừng, nơi vắng vẻ, khi được Asito khéo dạy dỗ, khéo giáo
giới như vậy, đã không thể chỉ ra sự thanh tịnh của giai
cấp Bà-la-môn, thế thì làm sao thầy của ông ta có thể chỉ
được, người mặc áo cỏ? = P: Đức Phật bảo Assalàyana
rằng, bảy hiền nhân Bà-la-môn khi được đức Phật hỏi
và chất vấn về sanh chủng của mình đã không thể trả
lời thì làm sao bây giờ anh ta khi được Phật hỏi và chất
vấn về sanh chủng lại có thể trả lời được, khi anh ta
cùng một thầy với họ, nhưng lại không phải là Punna
Dàbbigàha (?). Bản P cũng nói đến thái độ hối hận
của Assalàyana, nhưng chỉ ở phần cuối của sự bài bác
thứ tám.
Ba bài
bác không có trong C: P1, P3, P4:
P1:
Đức Phật hỏi Assalàyana rằng, những nữ Bà-la-môn được
biết là cũng có kinh nguyệt, có thai, sinh con và cho con bú,
và những người Bà-la-môn sinh từ trong bụng của họ, thế
thì làm sao có thể tự cho mình là tối thượng.
P3:
Đức Phật chứng minh cho Assalàyana thấy là không những chỉ
có những giai cấp quý tộc, thương gia, thợ thuyền, mà ngay
Bà-la-môn, nếu họ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối,
phỉ báng, ác khẩu, nói lời phù phiếm, nếu họ tham lam,
ác ý, tà kiến, thì sau khi chết, họ cũng tái sinh vào các
đọa xứ, vào địa ngục.
P4:
Đức Phật chứng minh cho Assalàyana thấy rằng, không phải
chỉ có Bà-la-môn mà cả quý tộc, thương gia, thợ thuyền,
nếu họ từ bỏ sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, phỉ
báng, ác khẩu, nói lời phù phiếm, nếu họ từ bỏ tham lam,
ác ý, tà kiến, thì sau khi chết, tất cả đều sẽ được
sinh vào thiện thú, cõi trời.
III.
Phản ứng của A-nhiếp-hòa và các Bà-la-môn:
C:
Khi ấy A-nhiếp-hòa đứng dậy khỏi chỗ ngồi, muốn đi đến
đảnh lễ dưới chân đức Phật, nhưng hội chúng la lớn:
Sa-môn Cồ Đàm thật kỳ diệu, thật hy hữu, có đại thần
thông, đại oai lực, đại công đức, khi đã giảng sự thanh
tịnh của bốn giai cấp và làm cho A-nhiếp-hòa cũng tuyên
bố sự thanh tịnh của bốn giai cấp. Đức Thế Tôn biết
tâm của đại chúng, bảo A-nhiếp-hòa hãy trở về chỗ ngồi,
nói rằng, tâm của A-nhiếp-hòa được hoan hỷ là đủ. Rồi
đức Thế Tôn giảng pháp cho anh ta, khích lệ làm cho anh phấn
chấn hoan hỷ. A-nhiếp-hòa cúi đầu dưới chân đức Thế
Tôn, nhiễu quanh đức Phật ba vòng rồi ra đi. Các Bà-la-môn
ở Câu Sa La quở trách A-nhiếp-hòa, bảo rằng anh ta đi đánh
bại Sa-môn Cồ Đàm nhưng cuối cùng đã bị Ngài luận bại,
cũng như một người đi tìm mắt, đi vào khu rừng nhưng trở
về mất cả hai mắt; như kẻ đến hồ để uống nước mà
trở về vẫn khát. A-nhiếp-hòa bảo các Bà-la-môn rằng, anh
ta đã nói với họ trước kia, rằng Sa-môn Cồ Đàm nói đúng
pháp, khó mà tranh luận với một người nói đúng pháp.
P:
Không giống. Ở đây chỉ nói rằng Assalàyana thốt lên: "thật
là kỳ diệu, hy hữu", rồi xin Phật nhận anh làm đệ tử,
từ đây cho đến trọn đời.
Ghi
chú: Cô Horner, trong M.L.S., ii., p. 349, ghi chú 3, nhận xét
rằng, công thức thường lệ để xin trở thành đệ tử cư
sĩ không xuất hiện ở đây một cách đầy đủ, mà bản
kinh cũng không đưa ra những dấu hiệu về sự rút ngắn hay
bỏ. Nếu chúng ta so sánh với bản C thì C có vẻ hữu lý
hơn.
E.
Phần kết
Bản
P bỏ phần kết, bản C có phần kết như thường lệ.