NC40
C14:
La Vân kinh
P61:
Giáo
giới Ràhula ở rừng Ambàlatthika
A.
Toát yếu kinh C
C:
Phật hiển thị cho Tôn giả La Vân sự nguy hiểm của cố
ý nói láo nơi một Tỳ-kheo, Ngài khuyên Tôn giả nên suy nghĩ
kỹ trước khi làm một thân hành, ngữ hành và ý hành.
P:
Gần giống.
B.
Nhan đề kinh
C:
La
Vân kinh, kinh về La Vân, ám chỉ Tôn giả La Vân mà bản
kinh này nhắm đến.
P:
Giáo
giới La Hầu La ở rừng Ambalatthika, bài kinh nói về sự
răn dạy La Hầu La ở Am Bà, ám chỉ bài kinh do đức Phật
giảng cho La Hầu La ở Am Bà.
C.
Nơi thuyết kinh
C:
Đức Phật ở Vương Xá thành, trong rừng trúc Ca Lan Đà. Ngài
đi đến Tôn giả La Vân cũng ở thành Vương Xá, trong khu rừng
suối nóng, và giảng kinh này cho ngài.
P:
Cũng địa điểm trên. Nhưng ở đây Tôn giả Ràhula trú tại
Ambalatthika.
Ghi
chú: Ambalatthika là một vườn ngự uyển trên đường giữa
Vương Xá và Nàlandà. (DPPN i, 158).
D.
Nội dung kinh
1.
Cuộc gặp gỡ giữa đức Phật và Tôn giả La Vân:
C:
Đức Phật khi đêm đã tàn, vào sáng sớm, vào thành Vương
Xá để khất thực. Sau khi ăn xong, Ngài đi đến rừng Suối
nóng, nơi Tôn giả La Vân ở. Tôn giả La Vân trông thấy đức
Phật từ xa đến, đi ra đón tiếp Ngài, cầm y bát của Ngài,
trải tọa cụ, đi lấy nước rửa chân. Sau khi rửa chân,
đức Phật ngồi trên chỗ ngồi của La Vân.
P:
Ở đây đức Phật vào buổi chiều từ độc cư thiền định
trở dậy, đi đến Ambalatthika, nơi Tôn giả Ràhula ở. Tôn
giả Ràhula khi thấy Phật từ xa đến, soạn sẵn chỗ ngồi
và nước cho ngài rửa chân. Đức Phật ngồi trên chỗ ngồi
đã soạn sẵn và rửa chân, sau đó Tôn giả Ràhula đảnh
lễ đức Phật và ngồi xuống một bên.
2.
Sự giáo giới thứ nhất:
C:
Đức Thế Tôn lấy một ít nước còn lại trong chậu, hỏi
La Vân có thấy chút nước ấy không? Khi Tôn giả La Vân đáp
có, Phật bảo rằng hạnh sa môn cũng ít như vậy nơi một
người cố ý nói dối không biết hổ thẹn, không ân hận.
Không có một ác hành nào mà người ấy không thể làm. Tôn
giả phải học tập không được nói dối dù là nói để
đùa chơi.
P:
Gần giống. Ở đây đức Phật chỉ nói rằng, ít ỏi là
hạnh Sa-môn của người cố ý nói dối không hổ thẹn, như
chút ít nước còn lại.
3.
Giáo giới thứ hai:
C:
Sau khi đức Phật đổ chút ít nước ấy đi, Ngài hỏi La
Vân có trông thấy chút ít nước ấy đã hoàn toàn bị quăng
bỏ. Khi La Vân trả lời có, Phật dạy, hoàn toàn bị quăng
bỏ như vậy là hạnh Sa-môn của người cố ý nói dối...
dù là nói để đùa chơi.
P:
Gần giống. Ở đây đức Phật nói đáng đổ đi là hạnh
Sa-môn của người cố ý nói dối không biết hổ thẹn.
4.
Giáo giới thứ ba và thứ tư:
C:
Rồi đức Phật lật úp cái chậu và lật ngửa cái chậu,
mỗi lần như vậy, Ngài bảo hạnh Sa-môn cũng bị lật úp
lật ngửa như vậy nơi một người cố ý nói dối... dù là
nói để đùa chơi.
P:
Gần giống, với những nhận xét như trên. Sau lần giáo giới
thứ tư, bản P thêm một giáo giới khác. Phật chỉ ra sự
trống rỗng, trống không của cái chậu đã được lật ngữa,
và công bố rằng trống rỗng, không ra gì, là hạnh Sa-môn
của một người cố ý nói dối không biết hổ thẹn.
5.
Giáo giới thứ năm:
C:
Như một ông vua có một con voi lớn, khi con voi lâm trận, nó
dùng hai chân trước, hai chân sau, đuôi, trán, lưng, mông, cổ,
...., tai, ngà, tất cả thân phần của nó để chiến đấu,
nhưng nó bảo vệ cái vòi của nó. Khi ấy người quản tượng
nghĩ rằng nó còn kể đến mạng sống của nó. Khi con voi
sử dụng tất cả thân phần kể cả cái vòi để chiến đấu,
thì người quản tượng nghĩ rằng con voi này không còn kể
đến mạng sống của nó. Phật nói rằng con voi này khi lâm
trận sẽ làm đủ mọi việc xấu xa. Cũng vậy, đối với
một người cố ý nói dối không biết hổ thẹn, không ân
hận, đức Phật công bố rằng, không có hành vi xấu ác nào
mà người ấy không thể làm.
P:
Gần giống. Con voi được mô tả là ìsàdanto (có vòi
dài như một cây sào), ubbùlhavà (khéo nuôi lớn), abhijàto
(khéo sinh), sangàmàvacaro (khéo lui tới bãi chiến trường,
thiện chiến) còn về các thân phần khác nhau mà con voi dùng
khi lâm trận, bản P bỏ: trán, lưng, mông, cổ... nhưng thêm:
phần trước của thân, phần sau của thân và cái đầu. C:
con voi này còn kể đến mạng sống của nó = P: con voi này
không vứt bỏ mạng sống của nó (apariccattam). Ở đây lời
giáo giới của đức Phật cũng như trong bản C, nhưng bỏ:
không hối hận, không biết hổ thẹn.
6.
Bài kệ:
C:
Bản C thêm một bài kệ do đức Phật nói liên hệ đến vấn
đề này:
"Một
người phạm một lỗi lầm là nói dối,
Thì
người ấy không sợ đời sau, không có điều ác nào nó không
thể làm.
Thà
nuốt hoàn sắt nóng đỏ như lửa,
Hơn
là phạm giới mà nhận của bố thí của thế gian.
Nếu
một người sợ khổ, không ưa nghĩ đến khổ, thì không nên
làm hành vi xấu xa, một cách bí mật hay công khai.
Nếu
bất thiện hành đã được làm, đang được làm,
Thì
cuối cùng người ta không thể thoát khỏi chúng,
Và
cũng không nơi nào trú ẩn khỏi chúng."
7.
Suy nghĩ trước khi làm một thân hành, ngữ hành và ý hành:
a)
Ví dụ tấm gương:
C:
Phật hỏi Tôn giả La Vân tấm gương dùng để làm gì? La
vân trả lời nó dùng để nhìn xem cái mặt của mình là sạch
hay không sạch. Khi ấy Phật khuyên Tôn giả La Vân rằng, trước
khi làm một thân hành nào, nên suy nghĩ xem thân hành ấy là
trong sạch hay không trong sạch, là có lợi cho mình hay có lợi
cho người khác không.
P:
Gần giống, nhưng bỏ : "để nhìn xem cái mặt của mình sạch
hay không sạch." Nó chỉ nói, "để nhìn vào trong đó". Lời
khuyến cáo của đức Phật là: "Cũng vậy, sau khi suy nghĩ
nhiều lần, thân hành, ngữ hành, ý hành ấy cần được làm."
b)
Về thân hành:
(Xem
phần trước, chương nói về nghiệp, kinh C14, và nói về giới
luật tu sĩ) .
9.
Một bài kệ:
(Xem
phần trước, chương nói về các bài kệ).
E.
Phần kết
Cả
hai bản đều có phần kết thông thường, nhưng C thêm rằng,
không những La Vân mà các Tỳ-kheo khác đều hoan hỷ trước
lời dạy của đức Phật.
NC54
C132:
Lại-tra-hòa-la kinh
P82:
Kinh
Ratthapàla
A.
Toát yếu kinh C
C:
Lại-tra-hòa-la sau khi nghe pháp của đức Phật giảng, muốn
trở thành một Tỳ-kheo, nhưng Phật từ chối vì anh không
được sự chấp thuận của cha mẹ. Anh trở về nhà và nhờ
hăm dọa tuyệt thực cho đến chết, anh đã được cha mẹ
đồng ý và trở thành một Tỳ-kheo đệ tử Phật. Chẳng
bao lâu nhờ nỗ lực tinh cần, anh đã đắc quả A-la-hán.
Khi ấy Lại-tra-hòa-la về nhà thăm cha mẹ, họ cố làm cho
anh từ bỏ đời sống tu hành nhưng không thành công. Rồi
Lại-tra-hòa-la gặp vua Chu-lai-po và giải thích cho vua những
lý do anh đi tu.
P:
Gần giống nhưng có vài dị biệt về chi tiết.
B.
Nhan đề kinh
C:
Lại-tra-hòa-la
kinh, kinh nói về Lại-tra-hòa-la, chỉ thanh niên đã trở
thành Tỳ-kheo ngược lại với ý muốn của cha mẹ.
P:
Kinh
Ratthapàla, cũng nói về một người ấy như ở kinh C.
C.
Nơi thuyết kinh
C:
Đức Phật ở nước Câu Lâu Sấu, trong làng Uất-lô-tra, trong
vườn Bệ Đề Xá Hòa.
P:
Đức Phật ở giữa dân chúng Kuru, trong thị trấn của người
Kuru, tên gọi Thulakotthika.
D.
Nội dung kinh
I.
Bài pháp của đức Phật:
C:
Đức Phật ở làng Uất-lô-tra, trong vườn Bệ Đề Xá Hòa,
tiếng đồn lớn lan khắp mười phương về Sa-môn Cồ Đàm
như sau: Sa-môn Cồ Đàm là đức Như lai, không chấp thủ,
đã hoàn toàn và chân chánh giác ngộ, có minh và hạnh, bậc
thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, bậc hàng phục
được đạo và pháp, thầy của chư thiên và người, Phật,
đấng che chở tất cả. Ở giữa thế gian này với chư thiên,
ma, phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, từ nhân loại cho đến chư thiên,
Ngài đã tự chứng với trí mình, chứng đạt và an trú. Ngài
thuyết pháp khả ái ở chặng đầu, khả ái ở chặng giữa
và khả ái ở chặng cuối, có nghĩa, có văn, hiển thị đời
sống phạm hạnh hoàn toàn trong sạch. Được trông thấy Như
lai, người không chấp thủ, bậc hoàn toàn và chân chánh giác
ngộ, được đảnh lễ và cúng dường Ngài, sẽ đem lại
công đức và lợi lạc nhanh chóng. Khi ấy các Bà-la-môn, gia
chủ trong làng Uất-lô-tra đi đến nơi đức Phật, một số
cúi đầu chào dưới chân đức Thế Tôn rồi ngồi xuống
một bên. Một số nói lên những lời hỏi thăm đức Phật
và ngồi xuống một bên. Một số chắp tay hướng về đức
Phật rồi ngồi xuống một bên. Một số từ xa trông thấy
đức Phật, giữ im lặng rồi ngồi xuống. Rồi đức Phật
bằng vô số phương tiện, đã thuyết pháp cho họ, làm cho
họ hoan hỷ, phấn khởi, khích lệ họ. Rồi Ngài im lặng.
Các Bà-la-môn, gia chủ của làng Uất-lô-tra sau khi được
đức Phật làm cho hoan hỷ, phấn khởi, khích lệ, đã đứng
dậy khỏi chỗ ngồi, cúi đầu dưới chân đức Phật, nhiễu
quanh Ngài ba vòng rồi ra về.
P:
Gần giống. C: làng Uất-lô-tra = P: thị trấn Thullakotthika.
Nó bỏ "trong vườn..." C: người hàng phục đạo và pháp (đạo
pháp ngự) = P: purisadammasàrathi, bậc điều ngự những
con người. C: đấng che chở tất cả = P: Thế Tôn, Bhagavà.
C: sau khi đã tự chứng với trí mình, ngài chứng đạt và
an trú = P: tự chứng với thắng trí. C: có nghĩa có văn =
P: sàttham savyanjanam. C: được trông thấy đức Như lai,
bậc không chấp thủ, bậc hoàn toàn và chân chính giác ngộ,
được đảnh lễ cúng dường Ngài, sẽ đem lại công đức
và lợi ích nhanh chóng = P: thật tốt lành để yết kiến
một vị A-la-hán như vậy. Về các cách chào hỏi khác nhau,
bản P thêm rằng, có người sau khi xưng tên, dòng họ, ngồi
xuống một bên. Ở đây sự ra về của các Bà-la-môn, gia
chủ, được đặt trong đoạn sau, không phải trong đoạn này.
II.
Lại-tra-hòa-la xin trở thành Tỳ-kheo, và đức Phật từ chối:
C:
Lại-tra-hòa-la vẫn ngồi lại, chờ khi các Bà-la-môn, gia chủ
đi khỏi, anh ta đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đắp thượng
y chừa một vai và bạch đức Phật rằng, theo như anh ta hiểu
qua lời thuyết giáo của đức Phật, nếu anh vẫn làm một
cư sĩ thì thật không thể nào sống đời phạm hạnh một
cách viên mãn và trọn đời. Bởi thế anh xin đức Phật cho
phép mình sống đời tu sĩ, được thọ giới làm Tỳ-kheo.
Đức Phật từ chối vì anh chưa được cha mẹ đồng ý, và
bảo anh phải về xin cha mẹ.
P:
Gần giống. Bản P thêm một đoạn trong đó Ratthapàla
suy nghĩ về quyết định của mình trước khi công bố với
đức Phật.
III.
Cha mẹ từ chối, Lại-tra-hòa-la tuyệt thực và nỗ lực của
cha mẹ để khuyên từ bỏ tuyệt thực:
C:
Lại-tra-hòa-la về nhà và xin cha mẹ cho phép sống đời xuất
gia. Cha mẹ từ chối, nói rằng anh là đứa con trai duy nhất
rất yêu quý của họ. Dù anh có chết, họ cũng không vứt
đi được, thì làm sao họ có thể chịu nỗi việc không còn
trông thấy anh lúc anh đang còn sống. Lại-tra-hòa-la lập lại
lời cầu xin ba lần, nhưng cha mẹ vẫn từ chối. Anh bèn nằm
xuống giữa nền nhà, không chịu đứng dậy, không ăn uống
gì trong hơn bốn ngày. Cha mẹ năn nỉ anh đứng dậy, từ
bỏ tuyệt thực, bảo rằng, thân thể của anh suốt đời
đã quen với giường nệm êm ái, làm sao bây giờ không thấy
đau khổ. Họ khuyên anh ta hãy đứng dậy, hãy làm một cư
sĩ để bố thí, gieo trồng phước đức, vì con đường của
đức Thế Tôn là khó nhất, và xuất gia học đạo cũng là
khó nhất. Lại-tra-hòa-la vẫn im lặng. Khi ấy cha mẹ trước
hết đi đến yêu cầu các bà con của họ và những quan chức
lớn, kế đến yêu cầu những người nổi tiếng và có học
vốn là bạn bè thân hữu của Lại-tra-hòa-la, để nhờ họ
khuyên Lại-tra-hòa-la từ bỏ tuyệt thực. Họ đi đến nhưng
cũng không thành công trong sứ mạng của mình. Khi ấy họ
khuyên cha mẹ Lại-tra-hòa-la nên cho phép anh ta sống đời
xuất gia, vì nếu anh ta được hạnh phúc trong đời sống
xuất gia, họ còn có thể trông thấy anh trên đời, nhưng
nếu anh không được hạnh phúc, anh chắc chắn sẽ chết và
điều ấy không có lợi ích gì cả. Cha mẹ Lại-tra-hòa-la
nghe lời khuyên ấy và bằng lòng cho Lại-tra-hòa-la xuất gia
với điều kiện sau khi hoàn tất việc học pháp, hãy trở
về thăm cha mẹ. Các bạn bè thân hữu đem lời chấp thuận
của cha mẹ đến cho Lại-tra-hòa-la, anh vui mừng từ bỏ tuyệt
thực và ăn uống lại như bình thường.
P:
Gần giống. Ở đây cha mẹ Ratthapàla ngăn cản như sau:
"Con là đứa con độc nhất của ta, hết sức yêu dấu, con
đã quen sống trong tiện nghi, được săn sóc tử tế, không
biết gì là đau khổ, con hãy ăn uống, thọ hưởng dục lạc,
và làm các việc công đức. Chúng ta không bằng lòng cho con
xuất gia, nếu con có chết, chúng ta cũng còn không muốn rời
xa con, thì làm sao chúng ta có thể cho phép con xuất gia trong
khi con đang còn sống." Ở đây bản P bỏ chi tiết Ratthapàla
đã tuyệt thực hơn bốn ngày. Lời năn nỉ của cha mẹ, những
phản đối của họ cũng gần giống nhau trong hai bản, ngoại
trừ ở đây họ năn nỉ anh hãy đứng dậy. Bản P chỉ nói
cha mẹ đi đến bạn bè thân hữu của Ratthapàla. Phần
còn lại cũng giống nhau.
IV.
Lại-tra-hòa-la xuất gia, chứng quả A-la-hán và trở về thăm
cha mẹ:
C:
Rồi Lại-tra-hòa-la đi đến đức Phật khi đã được cha
mẹ cho phép, và đức Phật cho thọ giới làm Tỳ-kheo. Rồi
đức Phật đi đến Xá Vệ, ở lại trong rừng Thắng Lâm,
vườn Cấp-cô-độc. Sau khi xuất gia, Lại-tra-hòa-la sống
độc cư, tinh tấn thiền định, đắc quả A-la-hán. Sau 9,
10 năm, Lại-tra-hòa-la nghĩ đến việc về thăm cha mẹ như
đã hứa. Tôn giả đi đến đức Phật, cho biết quyết định
của mình và đức Phật đã cho phép Tôn giả đi vì biết
Tôn giả không thể nào trở lại đời sống thấp kém. Lại-tra-hòa-la
trở về phòng, thu xếp chỗ nằm, cầm y bát tuần tự đi
đến làng Uất-lô-tra, vườn Bệ Đề Xá Hòa. Rồi vào buổi
sáng sớm, Tôn giả cầm y đi vào làng khất thực. Ông nghĩ
rằng đức Thế Tôn đã ca tụng hạnh tuần tự khất thực,
nên Tôn giả đi hết nhà này sang nhà khác và đến nhà cha
mình. Lúc ấy người cha đang chải râu tóc, khi trông thấy
Lại-tra-hòa-la, ông bảo: "Những Sa-môn trọc đầu này là
bọn có hành động đen tối, không con cái, không dòng họ,
những kẻ phá hoại gia đình ta, ta chỉ có một đứa con trai
yêu dấu, ta vô cùng quyến luyến, thế mà chúng đã đem nó
đi mất, cạo đầu cho nó. Nay không cho kẻ này một thứ gì
để ăn cả." Thế là Lại-tra-hòa-la không nhận được của
bố thí nào từ nhà cha mình, ngoại trừ những lời nguyền
rủa. Khi ấy một nữ tỳ trong nhà đem một rỗ đầy thức
ăn hôi thối ra đổ vào đống rác. Lại-tra-hòa-la trông thấy
và yêu cầu cô đổ vào bát của mình. Trong khi nữ tỳ đổ
thực phẩm vào bát khất thực, cô ta nhận ra ngài nhờ hai
dấu hiệu: giọng nói và bàn tay, bàn chân. Rồi cô vào báo
cho người cha. Khi được tin ông hết sức vui mừng, tay trái
cầm áo, tay phải vuốt râu tóc, vội vàng đi đến nơi Lại-tra-hòa-la
đang ngồi dựa vào bức tường để ăn thức ăn thiu. Người
cha hỏi làm sao Lại-tra-hòa-la có thể ăn thực phẩm đã thối
này, vì vốn có thân thể yếu đuối và đã quen với cao lương
mỹ vị. Ông hỏi tại sao ngài không vào nhà cha mình khi đã
đến làng này. Lại-tra-hòa-la trả lời rằng, ông có đến
nhà cha mẹ nhưng không nhận được đồ bố thí, mà chỉ
nhận lời nguyền rủa. Khi ấy người cha xin lỗi con trai,
kính cẩn đưa ông vào nhà, trải chỗ ngồi và mời ông ngồi
xuống. Sau đó ông báo tin cho người mẹ có con trai của họ
đến, và bảo bà sửa soạn thức ăn. Bà vui vẻ chuẩn bị
thức ăn, sai chất những đồng tiền thành một đống lớn
giữa sân, lớn đến nỗi một người đứng bên này không
thể thấy được người đứng bên kia. Rồi bà đi đến Lại-tra-hòa-la
và nói, đống tiền này là phần của mẹ chia cho, còn phần
của cha thì vô số, không thể đếm bằng hàng trăm hàng ngàn.
Tất cả tiền này sẽ dành cho Lại-tra-hòa-la nếu ông từ
bỏ học giới, từ bỏ đời sống xuất gia, trở về sống
bố thí làm phước, vì theo đức Thế Tôn thật khó, sống
đời tu sĩ tu theo pháp thật khó. Khi ấy Lại-tra-hòa-la khuyên
mẹ hãy làm một túi vải mới, bỏ tất cả tiền này vào
trong, chất lên xe đem đến sông Hằng để dìm sâu xuống
nước. Vì chính do tiền này mà người ta cảm thọ sầu, bi,
khổ, ưu, không có hạnh phúc. Mẹ Lại-tra-hòa-la biết phương
pháp này không thể thuyết phục Lại-tra-hòa-la từ bỏ đời
sống xuất gia; bà bèn đi đến những người vợ cũ của
Lại-tra-hòa-la, bảo họ trang sức bằng chuỗi đeo cổ và
đủ thứ y phục, đi đến Lại-tra-hòa-la ôm chân mà nói:
"Có những tiên nữ nào có sắc đẹp hơn tôi hay sao mà vì
họ ông đã bỏ nhà đi tu?" Những bà vợ theo lời khuyên ấy,
nhưng Lại-tra-hòa-la gọi những người vợ cũ bằng chị và
bảo rằng không phải vì một tiên nữ nào mà ông đi tu, ông
chỉ đi tu vì muốn đạt đến Phật pháp, và bây giờ mục
đích của ông đã thành đạt. Những bà vợ cũ đứng qua
một bên, khóc mà bảo bây giờ ông lại gọi họ bằng chị.
Tôn giả Lại-tra-hòa-la yêu cầu cha mẹ bố thí đồ ăn vì
đã đến giờ, đừng quấy nhiễu ông nữa. Khi ấy cha mẹ
đứng lên cung cấp nước rửa và tự tay phục vụ đồ ăn
ngon lành cho Lại-tra-hòa-la. Sau khi ăn xong, Tôn giả thuyết
pháp cho cha mẹ bằng nhiều cách, làm họ vui vẻ phấn chấn,
hoan hỷ. Rồi ngài đứng lên khỏi chỗ mà đọc bài kệ sau:
"Hãy
nhìn hình dáng được trang sức bằng châu ngọc và chuỗi
đeo cổ,
Với
ngọc quấn vào tóc, lông mày kẻ màu tím,
Điều
này chỉ lừa dối kẻ ngu, chứ không những người đã đạt
đến bờ kia.
Những
màu sắc đẹp đẽ để trang hoàng cái thân hôi thối,
Điều
này chỉ lừa dối kẻ ngu, chứ không những người đã đạt
đến bờ kia.
Với
những mùi hương trét lên thân thể,
Chân
được sơn màu thổ hoàng,
Điều
này chỉ lừa dối kẻ ngu, chứ không những người đã đạt
đến bờ kia.
Thân
thể được khoác nhiều y phục đẹp lộng lẫy,
Tấm
thân phù du này,
Điều
này chỉ lừa dối kẻ ngu, chứ không những người đã đạt
đến bờ kia.
Sau
khi đã phá hủy các lưới bẫy để bẫy nai,
Sau
khi đã đập vỡ cánh cửa nhốt bầy nai,
Tôi
đã từ bỏ miếng mồi quyến rũ,
Làm sao
tôi còn có thể tìm thấy hạnh phúc trong các trói buộc?"
P:
Không giống hẳn, sự xuất gia và đắc A-la-hán của Ratthapàla
thì gần giống. Bản P thêm rằng đức Phật nửa tháng sau
khi Ratthapàla xuất gia đã đi đến Xá Vệ quốc, Kỳ
thọ Cấp-cô-độc viên. P bỏ việc 9, 10 năm sau khi đắc quả
A-la-hán Ratthapàla nghĩ đến việc về thăm cha mẹ, chỉ
nói rằng, sau khi đắc quả, Ratthapàla cho đức Phật
biết ý định về thăm cha mẹ của mình và đức Phật đã
bằng lòng, sau khi biết được tâm của Ratthapàla với
tâm của ngài. Khi Ratthapàla đi đến thị trấn Thu La,
bản P thêm rằng ông ở lại trong vườn nai của vua Kuru. Khi
đi khất thực trong thị trấn, Ratthapàla đi từ nhà
này sang nhà khác, nhưng bản P bỏ việc Ratthapàla nghĩ
đến đức Phật ca tụng sự khất thực này. Khi Ratthapàla
đi đến nhà mình, người cha đang chải tóc giữa một đại
sảnh có cửa lớn, trong khi bản C nói rằng, ông chải râu
tóc, không nói ở giữa đại sảnh có cửa. Ở bản C, cha
Lại-tra-hòa-la thóa mạ Tỳ-kheo là chuyên làm việc đen tối,
không có con cái, không dòng họ, phá hoại gia đình ông. Bản
P chỉ nói rằng đứa con trai yêu quý độc nhất của ông
đã bỏ ra đi vì những Sa-môn trọc đầu này; và thế là
Tôn giả Ratthapàla tại nhà của cha mình đã không nhận
được bố thí cũng không nhận được lời từ chối mà chỉ
nhận lời nguyền rủa. C: một nữ tỳ đem một rỗ đầy
thức ăn hôi thối để vứt vào đống rác = P : một nữ tỳ
nói cho Ratthapàla biết mình muốn đổ đồ ăn của ngày
hôm trước. Trong khi bản C nói nữ tỳ sau khi nhận ra Lại-tra-hòa-la,
đã đi thẳng vào báo cho người cha, thì bản P nói cô ta báo
tin cho bà mẹ trước, và bà đã thuật lại cho chồng. Bản
P thêm, khi người mẹ được báo tin Ratthapàla đã về,
bà bảo người nữ tỳ rằng, nếu điều này đúng thật,
cô sẽ thoát thân phận nô tỳ. P bỏ: cha của Lại-tra-hòa-la
nghe tin hết sức vui mừng, tay trái cầm áo, tay mặt vuốt
râu tóc, vội vàng đi đến chỗ Lại-tra-hòa-la. Ở đây bản
P thêm một điều mới. Khi trông thấy Ratthapàla đang
ngồi dựa tường mà ăn thức ăn ngày hôm trước, người
cha đã hỏi: "Có thật con đang ăn đồ thừa hôm qua? Con phải
đi vào nhà con". Ratthapàla trả lời ông đâu có nhà,
vì ông đã xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình.
Ông không có nhà, và đã đi đến nhà gia chủ, nhưng không
nhận được bố thí hay từ chối mà chỉ nhận được sự
nguyền rủa. Rồi người cha mời Tôn giả vào nhà nhưng ngài
từ chối, bảo đã ăn xong. Khi ấy người cha mời Ratthapàla
ngày mai đến dùng cơm và Ratthapàla im lặng nhận lời.
Trong khi ở bản C, chính người mẹ sai chất tiền thành đống,
và sai các bà vợ cũ trang sức, ở bản P chính người cha
làm tất cả việc này. Trong bản C, người mẹ hai lần cố
thuyết phục Tôn giả, lúc đầu bằng đống tiền, và khi
phương pháp này thất bại, bà bảo các người vợ cũ của
Tôn giả trang sức. Trong bản P, người cha dùng môït lúc cả
hai phương pháp. Trước hết ông sai chất một đống tiền
vàng che khuất sau bức màn, rồi ông bảo các bà vợ cũ của
Ratthapàla
trang sức. Khi thức ăn đã sẵn sàng, ông sai người đi mời
Tôn giả đến, và khi Ratthapàla ngồi xuống, ông vén
màn cho thấy đống tiền và bảo con trai: một đống của
ông nội, một đống của mẹ và một đống của cha. Rồi
ông bảo con từ bỏ học giới, trở về đời sống thấp
kém, để hưởng của cải và làm phước. Câu trả lời của
Ratthapàla cũng như trong bản C. Bấy giờ các bà vợ
cũ đến ôm chân Tôn giả nói: vì tiên nữ nào mà chàng đã
sống đời phạm hạnh? Tôn giả trả lời : thưa các chị,
không. Các bà vợ cũ nói, chồng ta bây giờ lại gọi ta bằng
chị, rồi ngã lăn ra đất bất tỉnh. Ở đây bản C nhiều
chi tiết hơn, Ratthapàla bảo cha hãy đem thức ăn đến,
đừng phiền nhiễu ông nữa. Bản P bỏ việc Ratthapàla
giảng pháp cho cha mẹ; chỉ nói ăn xong Ratthapàla đứng
lên đọc bài kệ. Bài kệ trong hai bản gần giống nhau, mô
tả thân thể được làm đẹp với đồ trang sức nhưng lại
thối tha ở bên trong, một thân thể như vậy chỉ lừa dối
kẻ ngu chứ không lừa dối được những người đã đạt
đến bờ kia.
Trong
hai câu cuối, bản P hơi khác:
"Người
thợ săn nai giăng bẫy,
Con
nai tránh bẫy.
Sau
khi ăn mồi nai bỏ đi xa,
Thợ
săn chỉ còn nước kêu la."
Nhận
xét:
Trong
bản Tích Lan có thêm rằng cha của Ratthapàla có hai đống
của cải, một đống vàng, một đống tiền vàng, và để
hai đống chung nhau làm cho một người đứng bên này không
trông thấy người đứng bên kia và ngược lại. Điều này
chứng tỏ bản Tích Lan gần với truyền thống Sanskrit.
V.
Sự gặp gỡ giữa Tôn giả và vua:
1)
Vua cố thuyết phục Tôn giả từ bỏ đời sống phạm hạnh:
C:
Nói xong bài kệ, Lại-tra-hòa-la dùng thần thông bay vào vườn
Uất-lô-tra và ngồi xuống dưới cây Bệ hê lặc, trên tọa
cụ của mình. Vào lúc ấy, vua Chu-lai-po đang ngồi với đình
thần trong cung điện, đang nói về Lại-tra-hòa-la, ca tụng
Tôn giả, và tỏ ý muốn gặp ngài. Rồi vua ra lệnh cho người
thợ săn sửa soạn khu rừng Uất-lô-tra để đi săn. Khi người
thợ săn đi đến rừng thấy Tôn giả ngồi đấy, bèn về
báo cho vua biết, và vua lập tức khởi hành bằng xe đến
gặp Tôn giả. Khi trông thấy Tôn giả từ xa, vua xuống xe,
đi bộ đến gặp ngài. Khi Tôn giả Lại-tra-hòa-la trông thấy
vua, Tôn giả bảo vua nếu muốn hãy ngồi xuống. Vua trả lời
rằng, mặc dù nơi này thuộc về vua, ông vẫn muốn được
Tôn giả mời ngồi. Rồi Tôn giả Lại-tra-hòa-la mời vua ngồi
xuống. Vua hỏi Tôn giả có phải thật ông đi tu vì thiếu
tiền; nếu vậy vua sẵn sàng hiến tặng cho ngài tất cả
số tiền cần thiết để hoàn tục, hưởng dục lạc, bố
thí và làm các việc công đức, vì giáo lý của đức Thế
Tôn rất khó, đi tu và học pháp cũng rất khó. Tôn giả trả
lời rằng, nhà vua đã dùng những vật bất tịnh để cống
hiến, không phải những vật thanh tịnh. Vua hỏi làm thế
nào là dùng vật thanh tịnh để cống hiến, không phải vật
bất tịnh. Tôn giả nói vua nên làm cho dân chúng xứ này an
ổn hạnh phúc, không lo sợ, không bị phiền nhiễu, không
xáo trộn, không bị làm nô lệ. Vua nói muốn cống hiến những
vật thanh tịnh chứ không phải bất tịnh.
P:
Không giống hẳn. Ở đây bản P không nói Tôn giả bay trở
về Uất-lô-tra mà đi bộ về vườn nai xứ Kuru, ngồi dưới
một cây để nghỉ ban ngày. Không nói vua đang ngồi với đình
thần trong cung điện ca tụng Tôn giả, và tỏ ý muốn gặp
ngài; chỉ nói vua xứ Kuru ra lệnh cho người bẫy nai sửa
soạn khu vườn trong công viên để vua đi ngoạn cảnh. Khi
đi đến, trông thấy Tôn giả đang ngồi dưới gốc cây, người
bẫy nai bèn trở về báo cho vua, và vua ra lệnh thắng những
cỗ xe để đi gặp Tôn giả. Khi gặp Tôn giả Ratthapàla,
vua chào ngài và mời Tôn giả ngồi trên nệm lót lưng voi,
nhưng Tôn giả từ chối, nói vua hãy ngồi trên đó vì Tôn
giả đã có tọa cụ. Bản P không nói vua cố dụ Tôn giả
từ bỏ đời sống phạm hạnh như trong C.
2)
Những câu hỏi của vua:
C:
Vua nói thông thường người ta sống đời phạm hạnh vì bốn
loại suy vong: do bệnh, do tuổi già, do mất tài sản, do mất
thân quyến. Họ có lòng dục mà không thể hưởng dục nên
mới sống đời phạm hạnh. Nhưng Lại-tra-hòa-la không có
bất cứ một suy vong nào như vậy, thế thì ngài đã biết,
đã thấy gì, nghe gì khiến ngài từ bỏ đời sống gia đình,
sống đời không nhà.
P:
Gần giống, dù thứ tự hơi khác. Bản P để sự suy vong vì
tuổi già trước, rồi đến bệnh suy, tài suy và thân suy.
Trong khi ở bản C, trước hết vua đề cập cả bốn suy vong,
rồi nêu lên rằng Tôn giả không có bốn sự suy vong ấy;
ở bản P vua xứ Kuru sau khi kể ra một suy vong lại chỉ ngay
rằng Tôn giả không có như vậy. Phần còn lại cũng giống
nhau.
3)
Lại-tra-hòa-la trả lời:
C:
Tôn giả trả lời rằng vì đã biết, đã thấy, đã nghe bốn
điều thuyết giáo của Phật, nên ông sống đời phạm hạnh:
a)
Thế gian này không có sự che chở, không có nơi trú ẩn.
b)
Trong thế gian này mọi sự phải tàn lụi, suy vi.
c)
Thế gian này vô thường, ai rồi cũng phải từ giã nó.
d)
Thế gian luôn luôn thiếu thốn, bất mãn, nô lệ cho tham ái.
Vua
Chu-lai-po hỏi làm sao thế gian này lại không có sự che chở,
không có chỗ trú ẩn, khi mà chính ông có con trai, cháu nội,
anh em, quyến thuộc, tượng binh, xa binh, kÿ binh và bộ binh
có thể che chở ông. Ông có những hoàng tử anh hùng và dũng
cảm, những lực sĩ, những Bát la kiện đề (?), mahànàga
(mahànàga? đại long tượng, những người rất có thế
lực), những nhà chiêm tinh, chiến lược gia, những nhà kế
toán, học giả, nhà hùng biện, đình thần, thân quyến, chú
thuật gia, người viết bùa chú; bất cứ nơi đâu có sự
rối loạn vì nguy hiểm, họ đều đi đến đánh dẹp và hàng
phục. Tôn giả Lại-tra-hòa-la hỏi vua, khi vua bị bệnh vì
gió máy, khi vua bị đau khổ ghê gớm, những người ấy có
thể đến che chở và bảo vệ ông không. Vua buộc lòng phải
trả lời không, vì do nghiệp của mình mà vua phải chịu đau
khổ khốc liệt; bởi thế điều này chứng tỏ thế gian này
không có sự che chở. Rồi vua hỏi tại sao trong thế giới
này mọi sự đều đi đến suy vi, tàn tạ. Tôn giả bảo vua
hãy so sánh sự nhanh nhẹn, sức mạnh, màu da của mình khi
vua còn 24, 25 tuổi với bây giờ; vua phải nhận rằng khi ông
còn 24, 25 tuổi, sự nhanh nhẹn, sức mạnh và màu da của ông
không ai bì kịp, nhưng bây giờ ông đã quá già, các căn cũng
tàn lụi; bởi thế điều này chứng tỏ rằng, như đức Phật
đã dạy, trong thế gian này mọi sự đều đi đến suy vi tàn
tạ. Rồi vua Chu-lai-po hỏi Tôn giả, tại sao đức Thế Tôn
nói, thế gian này vô thường, tất cả rồi phải rời khỏi
nó. Tôn giả hỏi vua khi ông sắp chết, bị vô thường đánh
gục, vua có thể nào đem theo mình sang bên kia thế giới xứ
Kuru phồn thịnh của ông, nội cung dồi dào với những kho
đụn, tài sản thịnh vượng của ông không. Vua phải trả
lời không, vua phải đi một mình không bầu bạn. Và điều
này chứng tỏ rằng thế gian này vô thường, tất cả mọi
người đều phải rời khỏi thế gian. Rồi vua hỏi Tôn giả
Lại-tra-hòa-la tại sao đức Thế Tôn dạy, thế gian này luôn
luôn bất mãn, không thỏa lòng, nô lệ cho tham ái. Tôn giả
Lại-tra-hòa-la hỏi lại vua, mặc dù vua đã có xứ Kuru phồn
thịnh, nội cung và kho đụn, tài sản thịnh vượng, nhưng
nếu một người đáng tin cậy từ phương bắc hay từ ba phương
khác đến, hoặc từ bờ biển đến nói từ hướng ấy bên
kia bờ biển, có một xứ phồn thịnh đông dân nhiều tài
sản và nhân công, thì có phải là vua sẽ nỗ lực chiếm
lấy xứ sở ấy, dân chúng ấy hay không. Vua trả lời đúng
vậy; và điều này chứng tỏ thế gian này luôn luôn bất
mãn, không thỏa lòng, nô lệ cho tham ái.
P:
Không giống hẳn. Bốn điều thuyết giáo của đức Thế Tôn
ở đây theo thứ tự như sau: a. thế gian vô thường này phải
bị cuốn đi; b. thế gian này không nơi trú ẩn, không người
che chở; c. thế gian này không phải là ta, ta phải ra đi để
lại tất cả mọi sự; d. thế gian này thiếu thốn, bất mãn,
nô lệ cho tham ái. Vì Tôn giả đã thấy, đã biết, đã nghe
bốn điều này là đúng sự thật nên Tôn giả đã xuất gia
sống đời phạm hạnh. Để chứng minh rằng thế gian vô thường
này phải bị cuốn đi, Tôn giả hỏi vua, sức khỏe của ngài
ra sao, vào lúc 20, 25 tuổi, trong việc cỡi voi, cỡi ngựa,
lái xe, cung kiếm, chân tay ngài lúc ấy mạnh như thế nào,
và ngài thiện chiến như thế nào; rồi so sánh tất cả điều
ấy với hiện tại. Vua phải trả lời rằng, lúc trẻ vua
rất thiện xảo về voi, ngựa, xe, cung kiếm, chân tay khỏe
mạnh và thiện chiến, thật thiện xảo đến nỗi như là
có thần thông; nhưng bây giờ ở tuổi già, vua đã mỏi mòn,
gần chấm dứt, đã 80 tuổi, không còn làm chủ được những
động tác của mình. Để chứng minh thế gian này không nơi
nương tựa, không người che chở, Tôn giả Ratthapàla
hiển thị cho vua thấy rằng, mặc dù vua có tượng binh, kÿ
binh, xa binh, bộ binh để bảo vệ vua khi nguy hiểm, nhưng khi
vua bị bệnh phong thì không thể nhờ bạn bè thân quyến làm
vơi nỗi đau đớn, san sẻ nỗi khổ của vua. Để chứng minh
rằng thế gian này không phải của ta, ta phải ra đi để lại
tất cả mọi sự sau lưng mình, Tôn giả Ratthapàla chỉ
cho vua thấy mặc dù vua có tiền và vàng đầy dẫy, dưới
đất hay trên mặt đất, và hiện tại vua có thể thụ hưởng
năm dục, nhưng khi vua phải từ giã cõi đời, thì những người
khác sẽ thay vua mà hưởng thụ. Để chứng minh rằng thế
gian này thiếu thốn, không thỏa lòng, nô lệ cho tham ái, Tôn
giả Ratthapàla chứng minh cho vua rằng, mặc dầu xứ
Kuru của ông đã phồn thịnh, nhưng nếu có người đáng tin
cậy từ bất cứ phương nào đến báo tin ở đấy có một
nước lớn, phồn thịnh, đông dân, nhiều kÿ binh, tượng
binh, xa binh, bộ binh, nhiều vàng, ngà voi và phụ nữ, chắc
chắn vua sẽ đến chinh phục xứ sở ấy.
4)
Bài kệ của Lại-tra-hòa-la:
C:
Rồi Lại-tra-hòa-la thốt lên bài kệ này:
1.
"Tôi thấy người trên thế gian,
giàu
có nhưng ngu si, không quen bố thí;
đã
có tài sản, chúng lại mong muốn có thêm,
tham
lam chất chứa, dồn của.
2.
Vị vua sau khi đã chinh phục quả đất,
trị
vì nó tùy theo khả năng;
cũng
chưa hài lòng với bên này biển,
lại
còn tính đến bờ biển bên kia.
3.
Vua cũng như dân chúng,
trong
khi vẫn còn tham ái,
lại
phải chết,
vợ
con khóc lóc với đầu tóc rũ rượi,
than
vãn, mếu máo, đau khổ không thể nào ngăn.
4.
Bị bọc trong miếng vải liệm để chôn,
hoặc
bị ném trên đống củi để thiêu xác,
mỗi
người đều tùy theo nghiệp đi đến đời sau,
khi
đã bị đốt cháy, họ không có tư tưởng nào giác ngộ.
5.
Sau khi chết, tài sản không thể mang theo,
cũng
vậy, vợ con và nữ tỳ;
giàu
có cũng như nghèo hèn đều giống nhau,
người
ngu, kẻ trí đều cùng chung số phận.
6.
Bậc trí không ôm giữ sầu khổ,
nhưng
kẻ ngu thì đầy đau buồn;
chính
vì thế mà có trí là hơn,
nó
giúp người ta đạt đến giác ngộ chân chính.
7.
Vì bị trói buộc sâu xa vào hữu,
kẻ
ngu làm những ác nghiệp,
làm
những hành vi phi pháp,
dùng
vũ lực để ép buộc kẻ khác làm đúng pháp.
8.
Những người vô trí làm nỗ lực lớn,
kẻ
ngu làm nhiều ác nghiệp,
bị
sinh trong bào thai, chúng đi đến đời sau,
mãi
hoài phải chịu sinh tử.
9.
Khi đã sinh vào một đời khác,
chúng
một mình làm các hành vi xấu ác,
như
những kẻ cướp, chúng bị trói,
chúng
khổ đau vì ác nghiệp của chính mình.
10.
Bằng cách ấy những hữu tình này,
sinh
vào đời sau.
do
hạnh nghiệp của chính mình,
chúng
đau khổ do ác nghiệp của chúng.
11.
Như trái chín tự rụng,
già
và trẻ đều giống nhau,
chúng
muốn tự trang sức và hưởng thụ,
tâm
chúng theo đuổi những hình sắc tốt xấu.
12.
Chúng bị trói buộc và làm hại bởi dục vọng,
do
dục, nổi lên sợ hãi,
Này
đại vương, vì tôi thấy và thực chứng được điều này,
Tôi
biết rằng hạnh Sa-môn là tối thượng."
P:
Cũng vậy với nhiều hoặc ít chi tiết hơn. Bản C có 12 bài
kệ, trong khi bản P có 13, nửa cuối của bài kệ thứ tư
và thứ bảy trong bản C không có trong P, nửa cuối của bài
kệ thứ ba, năm, bảy, có trong P, không có trong C. Những bài
kệ tương đương như sau: C1 = P1; C2 = P2; C3 = nửa đầu P3
và nữa đầu P4; nửa đầu C4 = nửa cuối P4; C5 = P6 và nửa
đầu P8; C6 = nửa cuối P8 và nữa đầu P9; nửa đầu C7 =
nửa cuối P9; C8 = P10; C9 và C10 = P11; C11 = nửa đầu C12 và
P13; C12 = nửa sau của P12 và P13.
C1
= P1: Gần giống, chỉ có một giòng khác. C: Sau khi đã được
tài sản, Chúng còn muốn có thêm = P: Chúng khao khát có thêm
dục lạc.
C2
= P2: Gần giống. Chỉ một giòng khác. C: Trị vì trên nó tùy
theo khả năng của mình = P: Trên một mảnh đất được biển
làm giới hạn.
C3
= nửa đầu P3 và P4:
C:
Khóc lóc mếu máo, không chịu nỗi khổ đau = P: Khóc lóc chúng
bảo: than ôi, không phải là ông ta không chết.
Nửa
đầu C4 = nửa cuối C4: Bản C thêm: để chôn, trong khi bản
P chỉ nói đến hỏa táng.
C5
= P6 và nửa đầu P8: Gần giống. Bản P thêm: những người
thừa kế lấy tài sản của vị ấy đi, còn vị ấy đi theo
nghiệp của mình. C: Tài sản, vợ con, nữ tỳ = P: Tài sản,
con, vợ, tài sản và vương quốc.
C6
= nửa cuối P8 và nửa đầu P9:
C:
Bậc trí không ôm giữ buồn phiền nhưng kẻ ngu ưa thích sầu
khổ = P: Kẻ ngu nằm lăn ra, như thể bị cuồng điên, trong
khi người trí không run sợ khi bị chạm phải.
Nửa
đầu C7 = nửa cuối P9: Gần giống.
C8
= P10: Gần giống.
C9
và C10 = P11: Gần giống.
C11
= nửa đầu P12 và P13: C: Như trái chín, chúng tự rụng, già
trẻ đều giống nhau, chúng muốn tự trang sức và hưởng
thụ, tâm chúng theo đuổi các hình sắc tốt xấu = P: Như
trái rụng từ trên cây, cũng vậy, con người, già trẻ đều
giống nhau khi thân xác tan rã. Các dục lạc dễ chịu, ngọt
ngào và đủ màu sắc nhưng gây nhiều xáo trộn trong tâm.
C12
= nửa sau P12, 13: Gần giống.
E.
Phần kết
Bản
C nói vua Chu-lai-po hoan hỷ với lời dạy của Tôn giả Lại-tra-hòa-la,
nhưng bản P bỏ phần kết.