NC26
C184:
Ngưu
giác Sa la lâm kinh
P32:
Đại kinh rừng Sừng bò
A.
Toát yếu kinh C
Bảy
vị Tôn giả là Xá-lợi-tử, Đại Mục-liền-liên, Đại Ca
Diếp, Đại Ca Chiên Diên, A Na Luật Đà, Ly Bà Đa và A Nan
đang ở với đức Phật trong rừng Ngưu giác Sa la. Một ngày
kia, các vị ấy đi đến Tôn giả Xá-lợi-tử để luận đàm
về pháp và Tôn giả Xá-lợi-tử hỏi họ, hạng Tỳ-kheo nào
sẽ làm đẹp khu rừng Ngưu giác Sa la. Những vị trưởng giả
này nói lên quan điểm của họ và vấn đề được mang đến
trước Phật. Ngài tán đồng câu trả lời của họ và đưa
ra câu trả lời của riêng Ngài cho vấn đề này.
P:
Gần giống. Nhưng chỉ có sáu vị trưởng lão. Bản P bỏ
Đại Ca Chiên Diên và đưa ra một câu trả lời khác trong
phần trả lời của Đại Mục-liền-liên.
B.
Nhan đề
C:
Ngưu
giác Sa la lâm kinh, bản kinh nói về một ngôi rừng sa la
được gọi là Sừng bò, tức là khu rừng trong đó năm vị
trưởng lão đang cư trú.
P:
Đại
kinh rừng Sừng bò, bản kinh dài về rừng Sừng bò, cũng
là ngôi rừng nói trên.
C.
Nơi thuyết kinh
C:
Ở Bhagga, trong rừng sa la gọi là Sừng bò.
P:
Gosinga Sàlavana.
D.
Nội dung kinh
I.
Hoàn cảnh đưa đến việc thuyết kinh này:
C:
"Một thời đức Phật du hành trong xứ Bhagga, ở lại trong
rừng sa la tên Sừng bò cùng với một số đại đệ tử rất
nổi tiếng và thâm niên như các Trưởng lão Xá-lợi-tử,
Đại Mục-liền-liên, Đại Ca Diếp, Đại Ca Chiên Diên, A
Na Luật Đà, Ly Bà Đa và Tôn giả A Nan. Các đại đệ tử
nổi tiếng và thâm niên này cũng đang du hành ở Bhagga và
ở trong rừng sa la tên Sừng bò, cư trú gần chòi lá của
Phật. Bấy giờ Trưởng lão Đại Mục-liền-liên, Đại Ca
Diếp, Đại Ca Chiên Diên, A Na Luật Đà khi đêm đã tàn, vào
buổi sáng sớm, đi đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-tử. Tôn giả
A Nan từ xa trông thấy các vị trưởng lão đi đến liền
bảo: 'Hiền giả Ly Bà Đa, hiền giả nên biết, các Trưởng
lão Đại Mục-liền-liên, Đại Ca Diếp, Đại Ca Chiên Diên
và A Na Luật Đà khi đêm đã mãn, vào buổi sáng sớm đã
đi đến nơi Tôn giả Xá-lợi-tử. Này hiền giả Ly Bà Đa,
nay ta hãy cùng với các Tôn giả ấy đi đến Tôn giả Xá-lợi-tử,
để nghe một ít pháp thoại từ nơi Ngài.' Rồi Tôn giả Đại
Mục-liền-liên, Đại Ca Diếp, Đại Ca Chiên Diên, A Na Luật
Đà và A Nan khi đêm đã tàn, vào sáng sớm đi đến Tôn giả
Xá-lợi-tử."
P:
Gần giống. Bản P bỏ: "tại xứ Bhagga, các đại đệ tử,
Tôn giả Đại Ca Chiên Diên." Và bỏ: "các đại đệ tử ấy...
cư trú gần chòi lá của đức Phật".
C:
Khi đêm đã tàn vào sáng sớm = P: vào buổi chiều hôm. Bản
P thêm rằng, chính Tôn giả Đại Mục-liền-liên từ thiền
định dậy và gọi Đại Ca Diếp cùng đi đến Tôn giả Xá
Lợi Phất; và ba Tôn giả Đại Mục-liền-liên, Đại Ca Diếp
và A Na Luật Đà cùng đi đến nơi Tôn giả Xá Lợi Phất.
Bản P thêm rằng, Tôn giả A Nan đà gọi ba trưởng lão ấy
là Sappurisa, không có trong bản C.
II.
Câu hỏi của Trưởng lão Xá-lợi-tử:
C:
"Trưởng lão Xá-lợi-tử trông thấy các vị trưởng lão từ
xa đến. Trưởng lão Xá-lợi-tử nói với các vị trưởng
lão này rằng 'Thiện lai, thiện giả A Nan, một vị thị giả
của đức Thế Tôn, hiểu được tâm tư Thế Tôn, người
luôn luôn được đức Thế Tôn và các đồng phạm hạnh đa
văn ca ngợi. Nay tôi hỏi hiền giả A Nan, rừng sa la tên gọi
Sừng bò này rất khả ái, được thắp sáng dưới ánh trăng,
các cây sa la đang tỏa ra hương thơm như hoa ở thiên giới.
Này hiền giả A Nan, hạng Tỳ-kheo nào có thể đem lại sức
quyến rũ cho ngôi rừng sa la tên Sừng bò này?' "
P:
Gần giống. C: Tôn giả Xá-lợi-tử trông thấy từ xa các
vị trưởng lão đang đi đến = P: thêm: trông thấy trưởng
lão A Nan và Ly Bà Đa. C: hiền giả A Nan là thị giả... bởi
các đồng phạm hạnh đa văn = P: hiền giả A Nan, người thị
giả, bạn đồng hành thân thiết của đức Thế Tôn. C: cây
sa la đang tỏa hương thơm như hoa cõi trời = P: cây sa la đang
mùa rộ nở, tưởng chừng như hương cõi trời đang tỏa ra.
C: hạng Tỳ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Ngưu giác
= P: hạng Tỳ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Ngưu
giác.
III.
Câu trả lời của Tôn giả A Nan:
C:
"Tôn giả A Nan trả lời: 'Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, nếu
có Tỳ-kheo nào đã nghe nhiều, đã học nhiều và nhớ kỹ,
không quên, tích lũy và lắng nghe các pháp khả ái ở chặng
đầu, khả ái ở chặng giữa, khả ái luôn ở chặng cuối,
có ý nghĩa, có văn pháp, hiển thị đời sống phạm hạnh
đầy đủ và trong sạch, pháp ấy được học một cách rộng
rãi, được khéo nghe, khéo tu tập, khéo lập lại, khéo tư
duy bằng tâm tư, khéo sáng tỏ với tri kiến và được thực
chứng một cách sâu sắc. Vị ấy giảng pháp ấy một cách
giản dị và trôi chảy, chỉ cốt để nhổ tận gốc các
kiết sử. Thưa Tôn giả Xá-lợi-tử, một Tỳ-kheo như thế
sẽ đem lại vẻ mỹ miều cho khu rừng Ngưu giác.' "
P:
Gần giống. Bỏ: "Người đã học nhiều không quên, học một
cách rộng rãi, khéo tu tập, thực chứng một cách sâu sắc,
giảng pháp một cách giản dị và chân xác." Thêm: "Tuyệt
đối đầy đủ, vị ấy giảng pháp cho bốn hội chúng, với
văn, câu chính xác và lưu loát."
C:
để tận trừ kiết sử = P: để tẩy trừ các khuynh hướng
tiềm tàng.
IV.
Câu trả lời của Ly Bà Đa:
C:
"Tôn giả Xá-lợi-tử lại hỏi: 'Hiền giả Ly Bà Đa, Hiền
giả A Nan đã nói theo sự hiểu biết của mình, bây giờ tôi
lại hỏi hiền giả Ly Bà Đa: Rừng sa la này... gọi là rừng
Sừng bò?' Tôn giả Ly Bà Đa trả lời: 'Thưa Tôn giả Xá-lợi-tử,
nếu có một Tỳ-kheo nào hoan hỷ trong việc tu thiền định,
chuyên tâm nội tĩnh không gián đoạn thiền định, có tuệ,
luôn luôn sống độc cư và thích những nơi yên tĩnh. Thưa
Tôn giả Xá-lợi-tử, một Tỳ-kheo như thế sẽ đem lại vẻ
đẹp cho rừng sa la, tên gọi Sừng bò này...' "
P:
Gần giống. C: theo sự hiểu biết của mình = P: theo sự hiểu
biết của riêng mình. C: vị ấy luôn luôn sống viễn ly =
P: vị ấy yêu thích hạnh viễn ly. C: thưởng thức những
nơi vắng lặng = P: lui tới những chỗ không nhàn.
V.
Câu trả lời của Tôn giả A Na Luật Đà:
C:
Tôn giả Xá-lợi-tử hỏi Tôn giả A Na Luật như đã hỏi
Tôn giả Ly Bà Đa và A Na Luật trả lời như sau: "Thưa Tôn
giả Xá-lợi-tử, nếu có một Tỳ-kheo đã đạt đến thiên
nhãn, có được thiên nhãn, có khả năng thấy được trong
một sát na cả ngàn thế giới một cách không cần cố gắng.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-tử, như một người có mắt đứng
trên lầu cao nhìn xuống khoảng đất trống ở dưới với
một ngàn mô đất, vị ấy không cần nỗ lực cũng có thể
thấy được tất cả trong nháy mắt. Thưa Tôn giả Xá-lợi-tử,
một Tỳ-kheo như thế sẽ đem lại vẻ đẹp cho rừng sa la
tên Sừng bò này."
P:
Gần giống; nhưng bỏ: "đã đạt đến thiên nhãn, không cần
nỗ lực, trong một sát na." Nó thêm: "Với thiên nhãn thuần
tịnh siêu nhân." C: đứng trên lầu cao = P: đã đi đến đỉnh
của một lâu đài tốt đẹp. C: nhìn xuống khoảng đất trống
bên dưới với một ngàn mô đất = P: vị ấy nhìn xuống
một ngàn vòng tròn đồng tâm (nemimandàla).
VI.
Câu trả lời của Đại Ca Chiên Diên:
C:
Khi được Tôn giả Xá-lợi-tử hỏi, trưởng lão Đại Ca
Chiên Diên trả lời như sau: "Thưa Tôn giả Xá-lợi-tử, như
có hai Tỳ-kheo đã nắm vững pháp, đang thảo luận về A-tỳ-đàm
sâu sắc. Những gì họ hỏi được khéo hiểu, khéo biết.
Câu trả lời của họ không bị vấp và pháp thoại của họ
được trôi chảy. Thưa Tôn giả Xá-lợi-tử, một Tỳ-kheo
như vậy sẽ đem lại vẻ đẹp cho rừng sa la tên gọi Sừng
bò này."
P:
không có.
Ghi
chú: Ở đây danh từ A-tỳ-đàm được nói đến, chỉ
có nghĩa là pháp rất sâu sắc.
VII.
Câu trả lời của Tôn giả Đại Ca Diếp:
C:
(Khi được Tôn giả Xá-lợi-tử hỏi, Tôn giả Đại Ca Diếp
trả lời như sau): "Thưa hiền giả Xá-lợi-tử, nếu có một
Tỳ-kheo nào theo hạnh độc cư, tán thán hạnh độc cư; ít
dục, tán thán hạnh ít dục; hỷ túc và tán thán hạnh hỷ
túc; ưa thích sống viễn ly một mình, tán thán hạnh sống
viễn ly một mình; tinh cần tu tập và tán thán sự tinh cần
tu tập; có chánh niệm, chánh trí tuệ và ca tụng chánh niệm,
chánh tuệ; tự mình đắc định và ca tụng sự đắc định;
có tuệ và ca tụng tuệ giác; đã tận trừ lậu hoặc và
ca tụng sự tận trừ lậu hoặc; tự mình khuyến cáo, làm
phấn chấn, làm hoan hỷ, và ca tụng những việc này. Thưa
hiền giả Xá-lợi-tử, một vị Tỳ-kheo như vậy sẽ đem
lại vẻ đẹp cho khu rừng sa la tên Sừng bò này."
P:
Không giống hẳn; bỏ: "tự mình tận trừ lậu hoặc, ca tụng
sự tận trừ lậu hoặc ; tự mình khuyến cáo, làm cho phấn
chấn hoan hỷ, và ca tụng sự khuyến cáo...." ; thêm: "tự
mình ở rừng và ca tụng hạnh ở rừng; tự mình khất thực
và ca tụng hạnh khất thực; tự mình mặc giẻ rách và ca
tụng hạnh mặc giẻ rách; tự mình giữ ba y và ca tụng hạnh
giữ ba y; có tri kiến và giải thoát tri kiến, ca tụng sự
có tri kiến và giải thoát tri kiến; tự mình giải thoát và
ca tụng hạnh giải thoát". C: người theo hạnh độc cư = P:
không lẫn với thế gian. C: ưa thích sống viễn ly một mình
= P: sống viễn ly. C: tinh cần tu tập = P: tinh cần. C: có chánh
niệm, chánh tuệ = P: thọ giới. Trong bản C, Ma Ha Ca Diếp
gọi Xá Lợi Phất là hiền giả và Xá Lợi Phất gọi Ma Ha
Ca Diếp là Tôn giả. Nhưng trong bản P, hai vị gọi nhau là
hiền giả.
VIII.
Câu trả lời của Đại Mục-liền-liên:
C:
Khi được Tôn giả Xá-lợi-tử hỏi, Trưởng lão Đại Mục-liền-liên
trả lời như sau: "Có Tỳ-kheo có đại thần thông, đại công
đức, đại phước đức, có năng lực thần thông lớn, làm
chủ vô số năng lực thần thông, và thi triển vô số thần
thông: từ một vị ấy biến thành nhiều, từ nhiều vị ấy
trở thành một; khi trở thành một vị ấy thành một người
có tri kiến; vị ấy đi qua vách, tường không chướng ngại
như đi qua khoảng không; vị ấy vào ra trong đất như trong
nước; vị ấy đi trên nước không chìm như trên đất; vị
ấy bay giữa trời và ngồi kiết già ở đấy như con chim.
Với bàn tay vị ấy sờ chạm mặt trời, mặt trăng, những
vật có đại oai thần, đại công đức, đại phước đức,
đại thần lực như vậy, cho đến đại phạm thiên giới.
Tôn giả Xá-lợi-tử, một Tỳ-kheo như vậy sẽ đem lại vẻ
đẹp cho khu rừng sa la tên Sừng bò này."
P
: Hoàn toàn khác. Bản P đặt câu trả lời của Đại Ca Chiên
Diên như ta đã thấy trong C ở đây, và không nói gì đến
năng lực thần thông của Tôn giả Đại Mục-liền-liên. Câu
trả lời như sau: "Ở đây hai vị Tỳ-kheo đang đàm luận
về A-tỳ-đàm, họ đặt câu hỏi với nhau và trả lời mà
không bị cạn kiệt, và câu chuyện về pháp cứ thế tiếp
diễn".
Nhận
xét: Ở đây bản C trung thực và đáng tin cậy hơn
P, vì Tôn giả Đại Ca Chiên Diên nổi tiếng là bậc có biện
tài về pháp và Đại Mục-liền-liên nổi tiếng là đệ nhất
về thần thông.
IX.
Câu trả lời của Tôn giả Xá-lợi-tử:
Khi
Tôn giả Đại Mục-liền-liên trả lời xong, Ngài yêu cầu
Tôn giả Xá-lợi-tử cho biết câu trả lời của chính Tôn
giả, và đây là câu trả lời của Xá-lợi-tử:
C:
"Hiền giả Mục-liền-liên, nếu có Tỳ-kheo nào làm chủ được
tâm mình, không bị tâm chế ngự. Bất cứ sự chứng trú
nào vị ấy muốn thực hành vào buổi sáng, vị ấy tu tập
sự chứng trú ấy vào buổi sáng; bất cứ sự chứng đắc
an trú nào vị ấy muốn vào buổi trưa, vào buổi chiều, vị
âý tu tập sự chứng đắc, an trú ấy vào buổi trưa, buổi
chiều. Hiền giả Mục-liền-liên, như một ông vua hay cận
thần của vua có nhiều áo, nhiều y phục đủ màu sắc đẹp;
vị ấy muốn mặc áo nào vào buổi sáng thì lấy ra mặc,
buổi trưa muốn mặc áo nào, buổi chiều muốn mặc áo nào,
vị ấy lấy ra mặc. Hiền giả Mục-liền-liên, cũng tương
tự như thế với Tỳ-kheo đã làm chủ tâm ý của mình, không
bị tâm chế ngự (như trên). Hiền giả Mục-liền-liên, một
Tỳ-kheo như vậy sẽ đem lại vẻ đẹp cho ngôi rừng sa la
tên Sừng bò này."
P:
Gần giống với vài dị biệt nhỏ. Bản C nói về sự tu tập
buổi trưa và chiều trong cùng một câu, bản P tách làm hai
câu. Trong ví dụ, bản P thêm: vua, cận thần của vua có một
tủ đủ áo màu sắc đẹp. C: y phục = P: áo quần.
X.
Các trưởng lão đi đến đức Phật - Câu trả lời của Phật:
C:
(Tôn giả Xá-lợi-tử yêu cầu tất cả các Tôn giả khác
cùng đi đến Phật, và tất cả đồng ý. Họ đi đến đức
Phật, thuật lại với Ngài toàn bộ cuộc đàm thoại, và
xin Ngài xét câu trả lời nào đúng nhất. Phật khen tất cả
các câu trả lời, bảo rằng mỗi vị đã trả lời đúng
theo sự tu tập của mình, như Tôn giả A Nan đa văn, Tôn giả
Ly Bà Đà thích ngồi thiền, Tôn giả A Na Luật Đà có thiên
nhãn, Tôn giả Đại Ca Chiên Diên thiện xảo về phân tích
pháp, Tôn giả Đại Ca Diếp là một người theo hạnh độc
cư, Tôn giả Đại Mục-liền-liên có đại thần thông và
Tôn giả Xá-lợi-tử là người làm chủ tâm mình. Rồi Đức
Phật đưa ra câu trả lời của riêng ngài như sau): "Tất cả
các câu trả lời đều tốt, tại sao? Vì tất cả các pháp
ấy đều do ta nói ra. Này Xá-lợi-tử, hãy lắng nghe, ta sẽ
nói hạng Tỳ-kheo làm đẹp khu rừng sa la tên Sừng bò này.
Xá-lợi-tử, có một Tỳ-kheo khi cư trú trong thành thị, làng
mạc hay chợ búa, khi đêm đã tàn, vào sáng sớm mặc y cầm
bát vào làng khất thực. Với thân khéo chế ngự, các căn
khéo phòng hộ, vị ấy an trú chánh niệm. Khi ăn cơm xong vào
buổi chiều, vị ấy xếp dọn y bát, rửa tay chân, bỏ tọa
cụ lên vai, đi vào một nơi vắng vẻ hoặc dưới gốc cây
hoặc nơi khoảng trống yên tĩnh. Tại đấy vị ấy trải
tọa cụ ngồi kiết già, lập thệ không rời khỏi thế ngồi
kiết già cho đến khi đã tận trừ các lậu hoặc. Vị ấy
không rời thế ngồi kiết gia và tận trừ các lậu hoặc.
Này Xá-lợi-tử, một Tỳ-kheo như vậy làm cho ngôi rừng sa
la tên Sừng bò này trở thành cao cả."
P:
Gần giống, với những dị biệt đã nêu. Trong câu trả lời
của Phật, chú ý những chỗ khác nhau: Bản P bỏ đoạn "ở
trong thành phố.... vị ấy an trú chánh niệm." Nó cũng bỏ:
"vào buổi chiều, vị ấy thu xếp y bát...trải tọa cụ."
Nó cũng nói vị Tỳ-kheo lập thệ không rời thế ngồi kiết
già cho đến khi tận trừ lậu hoặc; nó thêm: không có dư
tàn, nhưng bỏ sự xác quyết rằng vị Tỳ-kheo đã thật sự
làm như vậy. Bản P thêm : vị ấy ngồi với thân thẳng.
E.
Phần kết
C:
Phật dạy như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe lời Phật, hoan
hỷ phụng hành.
P:
Đức Thế Tôn nói như vậy. Các Tỳ-kheo hoan hỷ tín thọ
lời Thế Tôn.
NC30
C
211: Đại Câu-hy-la kinh
P43:
Đại
kinh Phương quảng
A.
Toát yếu kinh C
C:
Tôn giả Xá-lợi-tử đi đến Đại Câu-hy-la đặt một loạt
câu hỏi về nhiều vấn đề và Đại Câu-hy-la đã trả lời.
Những câu trả lời của Tôn giả Đại Câu-hy-la được Tôn
giả Xá-lợi-tử ca tụng và đồng ý.
P:
Gần giống. Nhưng ở đây chính Tôn giả Đại Câu-hy-la hỏi
Tôn giả Xá Lợi Phất.
B.
Nhan đề kinh
C:
Đại Câu-hy-la kinh, bản kinh nói về Tôn giả Đại Câu-hy-la,
tức là tên của vị Tôn giả trả lời những câu hỏi mà
Tôn giả Xá-lợi-tử hỏi.
P:
Đại
kinh Phương quảng, bản kinh nói về Vedalla, có thể ám
chỉ các đề tài khác nhau do Tôn giả Đại Câu-hy-la đặt
câu hỏi.
C.
Địa điểm thuyết kinh
C:
Vương Xá thành, trong rừng trúc, vườn Ca Lan Đà.
P:
Xá Vệ, Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên.
D.
Nội dung kinh
I.
Hoàn cảnh đưa đến sự thuyết kinh:
C:
"Lúc bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-tử vào buổi chiều từ thiền
định trở dậy đi đến Tôn giả Đại Câu Hy La, trao đổi
những lời chào hỏi rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Xá-lợi-tử
nói : 'Hiền giả Câu Hy La, tôi muốn hỏi hiền giả vài câu,
được không?' Tôn giả Đại Câu si la nói: 'Thưa Tôn giả
Xá-lợi-tử, nếu ngài muốn hỏi xin cứ hỏi. Sau khi nghe xong
con sẽ suy nghĩ.' "
P:
Không giống. Chính Tôn giả Đại Câu-hy-la từ độc cư trở
dậy vào buổi chiều đi đến Tôn giả Xá Lợi Phất trao đổi
lời chào hỏi với ngài và đặt câu hỏi.
II.
Loạt câu hỏi được đặt ra:
Trong
bản C có 32 câu tất cả, và ta thấy ở bản P cũng có cùng
số lượng; nhưng chỉ có 17 câu hỏi tương ứng với nhau
trong hai bản, còn 15 câu không giống nhau.
a)
17 câu tương ứng: C3 = P2; C4 = P3; C5 = P4; C6 = P10; C7 = P11; C9
= P12; C10 = P13; C11 = P15; C12 = P16; C13 = P6; C14 = P8; C16 = P20;
C18 = P22; C19 = P24; C20 = P26; C21 = P27; C27 = P32.
b)
15 câu hỏi không có trong bản P: C1, C2, C8, C15, C17, C22, C23
C24, C25, C26, C28, C29, C30, C31, C32.
c)
15 câu hỏi không có trong bản C: P1, P5, P7, P9, P14, P17, P18,
P19, P21, P23, P25, P28, P29, P30, P31.
1)
Các câu hỏi về thiện ác:
C1
= P không có:
C:
Tôn giả Xá-lợi-tử hỏi: "Hiền giả Câu-hy-la, bất thiện
được gọi là bất thiện, gốc rễ bất thiện được gọi
là gốc rễ bất thiện. Gì là bất thiện, gì là gốc rễ
bất thiện?" Tôn giả Đại Câu-hy-la trả lời: "Thân ác hành,
ngữ ác hành, ý ác hành gọi là bất thiện. Tham, sân, si là
gốc rễ bất thiện. đây gọi là bất thiện, đây gọi là
gốc rễ bất thiện." Nghe xong Tôn giả Xá-lợi-tử thốt lên
lời khen như sau: "Tốt lắm, tốt lắm, Hiền giả Câu-hy-la."
Sau khi thốt lời ca ngợi, Tôn giả Xá-lợi-tử hoan hỷ chấp
nhận.
C2
= P không có:
C:
(Cách đặt câu hỏi, trả lời và những từ ngữ ca tụng
ở cuối mỗi câu hỏi đều giống nhau).
Hỏi:
Thiện được gọi là thiện, gốc rễ của thiện được gọi
là thiện. Gì là thiện, gì là gốc rễ của thiện? Đáp:
Thiện thân hành, thiện ngữ hành và thiện ý hành gọi là
thiện, không tham, không sân, không si là gốc rễ của thiện.
Đây gọi là thiện, đây gọi là gốc rễ của thiện.
2)
Các câu hỏi về tuệ và chánh trí:
C3
= P2:
C:
Hỏi: Tuệ được gọi là tuệ. Gì là tuệ? Đáp: Do biết
như vậy gọi là tuệ. Biết về cái gì? Biết như thật về
khổ, biết như thật nguồn gốc của khổ, biết như thật
sự chấm dứt khổ, biết như thật con đường đưa đến
sự chấm dứt khổ. Biết như vậy được gọi là tuệ.
P:
Gần giống. C: do biết như vậy gọi là tuệ = P: tri kiến
được gọi là tri kiến. Khi nói về bốn chân lý, bản P bỏ
: như thật. Trong bản P, sau khi Tôn giả Xá Lợi Phất
trả lời, Tôn giả Đại Câu-hy-la ca ngợi "Lành thay, Tôn giả"
và hoan hỷ về những gì Tôn giả Xá Lợi Phất nói, cảm
ơn và hỏi một câu khác.
C4
= P2:
C:
Hỏi: Thức được gọi là thức. Gì là thức? Đáp: Nhận
biết, nhận biết, do đó được gọi là thức. Nhận biết
cái gì? Nhận biết sắc, nhận biết thanh, hương, vị, xúc,
pháp. Nhận biết, đây là lý do gọi là thức.
P:
Không giống. Hỏi: Thức được gọi là thức; trong giới hạn
nào nó được gọi là thức? Đáp: Thức tri, đó là lý do
nó được gọi là thức. Thức tri cái gì? Thức tri lạc, thức
tri khổ, thức tri bất khổ bất lạc. Thưa hiền giả, vì
thức tri nên gọi là thức.
C5
= P4:
C:
Hỏi: Tuệ và thức, hai pháp ấy có tương quan hay tách rời?
Có thể nào chỉ rõ hai pháp này riêng rẽ nhau không? Đáp:
Hai pháp này có tương quan; hai pháp này không thể được chỉ
rõ nếu tách rời nhau. Tại sao? Vì cái gì tuệ biết thì thức
cũng biết. Do vậy hai pháp ấy có tương quan. Hai pháp ấy
không thể được hiển thị riêng rẽ.
P:
Gần giống. C: hai pháp này có thể được hiển thị riêng
rẽ không? = P: sau khi phân tích hai pháp này nhiều lần, có
thể nào chỉ rõ sự sai biệt của chúng không? C: Tại sao
vậy? Vì cái gì tuệ biết thì thức cũng biết. Do đó hai
pháp này có tương quan, hai pháp này không thể được hiển
thị riêng rẽ = P: Thưa hiền giả, những pháp này, tuệ và
thức, là có tương quan, không phải không tương quan. Sau khi
phân tích những pháp này nhiều lần, không có thể chỉ rõ
sự khác nhau giữa chúng. Hiền giả, cái gì được biết thì
được nhận thức, cái gì được nhận thức thì cũng được
biết; bởi thế hai pháp này có tương quan, không phải không
tương quan. Sau khi phân tích những pháp này nhiều lần, không
thể nào chỉ ra sự khác nhau của chúng.
C6
= P10:
C:
Hỏi: Tri thức, nhờ cái gì mà ta biết? Đáp: Tri thức, nhờ
tuệ mà ta biết.
P:
Hỏi: Hiền giả, nhờ cái gì mà người ta biết được các
pháp sở tri. Đáp: Hiền giả, nhờ con mắt tuệ mà người
ta biết được các pháp sở tri.
C7
= P11:
C:
Hỏi: Tuệ nghĩa là gì? Gì là sự thù thắng của tuệ? Gì
là công đức của tuệ? Đáp: Tuệ có nghĩa là nhàm chán,
có nghĩa là vô dục, có nghĩa là biết như thật.
P:
Hỏi: Gì là mục đích của tuệ? Đáp: Tuệ có mục đích
thực chứng, có mục đích hiểu rõ, có mục đích thí xả.
Nhận
xét: Trong bản C, chữ "ý nghĩa" nên hiểu là "mục đích".
C8
= P Không có:
C:
Hỏi: Gì là chánh kiến? Đáp: Biết như thật khổ là khổ,
biết nguồn gốc của khổ, biết sự chấm dứt của khổ,
biết con đường đưa đến chấm dứt khổ một cách như thật,
đây gọi là chánh kiến.
C9
= P12:
C:
Hỏi: Gì là nguyên nhân? Gì là những điều kiện (duyên) cho
sự sanh khởi chánh kiến? Đáp: Có hai nguyên nhân, hai điều
kiện để sanh khởi chánh kiến. Hai cái đó là gì? Một là
nghe từ người khác, hai là tự mình tư duy trong tâm. Đây
gọi là hai nhân, hai điều kiện để sanh khởi chánh kiến.
P:
Hỏi: Có bao nhiêu duyên để sanh khởi chánh kiến. Đáp: Có
hai duyên sanh khởi chánh kiến: tiếng nói của người khác
và như lý tác ý.
C10
= P13:
C:
Có bao nhiêu yếu tố đi kèm với chánh kiến, để có được
kết quả tâm giải thoát, tuệ giải thoát, có được công
đức do tâm giải thoát tuệ giải thoát đem lại? Đáp: Có
năm yếu tố đi kèm với chánh kiến.... đem lại. Năm yếu
tố ấy là gì? 1. Làm bạn với sự thật, 2. Làm bạn với
giới, 3. Làm bạn với đa văn, 4. Làm bạn với sự vắng lặng,
5. Làm bạn với tuệ quán.
P:
Câu hỏi giống, trả lời hơi khác. Đáp: Có năm yếu tố
kết hợp với chánh kiến để đem lại quả tâm giải thoát,
lợi ích của tâm giải thoát, để đem lại quả tuệ giải
thoát và lợi ích của tuệ giải thoát: giới, văn, thảo luận,
tịnh chỉ và tuệ quán.
Trong
loạt câu hỏi này, có hai câu chỉ có trong P, không có trong
C.
P1:
Hỏi: Liệt tuệ được gọi là liệt tuệ. Trong giới hạn
nào được gọi là liệt tuệ? Đáp: Không biết, không biết,
nên gọi là liệt tuệ. Vị ấy không biết cái gì? Vị ấy
không biết khổ, không biết nguồn gốc khổ, không biết sự
chấm dứt khổ, con đường đưa đến chấm dứt khổ. Vị
ấy không biết, vị ấy không biết, nên gọi là liệt tuệ.
P5:
Hỏi: Cái được gọi là tuệ và cái được gọi là thức;
chỗ khác nhau giữa hai pháp này là gì? Những pháp này có
tương quan hay không tương quan? Đáp: Cái được gọi là tuệ
và cái được gọi là thức; hai pháp ấy có tương quan, không
phải không tương quan. Tuệ cần phải được đào luyện và
thức cần phải được biết rõ, đây là sự khác nhau giữa
chúng.
3)
Những câu hỏi về hữu:
C11
= P15:
C:
Hỏi: Làm thế nào hữu khởi lên trong tương lai? Đáp : Kẻ
phàm phu ngu si không biết, không học, bị vô minh che phủ,
bị khát ái trói buộc, không yết kiến các bậc đa văn, không
biết thánh pháp, không tu tập thánh pháp. Đây gọi là hữu
khởi lên trong tương lai.
P:
Câu hỏi giống, trả lời hơi khác. Đáp: Đối với các hữu
tình bị vô minh ngăn che, bị khát ái trói buộc, tìm hỷ lạc
chỗ này chỗ kia, do đó lại có hữu trong tương lai.
C12
= P16:
C:
Hỏi: Làm thế nào hữu không khởi lên trong tương lai? Đáp:
Nếu vô minh bị phá hủy, minh sanh khởi, thì khi ấy có sự
chấm dứt khổ. Đây gọi là không còn hữu trong tương lai.
P:
Câu hỏi giống, trả lời hơi khác. Đáp: Với sự trừ khử
vô minh, sự sinh khởi tri kiến, sự chấm dứt khát ái, thì
không còn hữu trong tương lai.
Trong
loạt câu hỏi này, bản P có một câu mà C không có:
C14:
Hỏi: Có bao nhiêu hữu? Đáp: Có ba hữu, dục hữu, sắc hữu
và vô sắc hữu.
4)
Những câu hỏi về thọ và tưởng:
C13
= P6:
C:
Hỏi: Có bao nhiêu thọ? Do gì thọ sanh khởi? Đáp: Có ba thọ:
lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Do hưởng thụ
mãnh liệt, chúng sanh khởi.
P
: Gần giống. Hỏi: Thọ được gọi là thọ. Do nhân gì nó
được gọi là thọ? Đáp: Cảm giác, cảm giác, nên gọi là
thọ. Nó cảm giác gì? Nó cảm giác lạc thọ, cảm giác khổ
thọ, cảm giác bất khổ bất lạc thọ. Nó cảm giác, nó
cảm giác, nên gọi là cảm thọ. Bản P bỏ phần hai của
câu hỏi và câu trả lời.
C14
= P8:
C:
Hỏi: Thọ, tưởng và tư, ba pháp này có tương quan hay không
tương quan? Có thể chỉ riêng ba pháp này không? Đáp: Thọ,
tưởng, tư, ba pháp này có tương quan, không phải không tương
quan. Không thể chỉ rõ ba pháp này riêng rẽ, tại sao? Tại
vì cái mà thọ cảm nhận cũng chính là cái mà tưởng nhận
biết và cũng là cái mà ý tư duy, vì vậy ba pháp này có tương
quan, không phải không tương quan; không thể trình bày những
pháp này riêng rẽ.
P:
Gần giống. Hỏi: Thọ, tưởng và thức, ba pháp này có tương
quan hay không tương quan? Sau khi phân tích các pháp này nhiều
lần, có thể hiển thị sự khác biệt của chúng hay không?
Đáp: Thọ, tưởng và thức, ba pháp này có tương quan, không
phải không tương quan. Sau khi phân tích các pháp ấy nhiều
lần, không thể hiển thị sự khác nhau giữa chúng. Cái gì
người ta cảm thọ cũng là cái người ta nhận biết, cái
gì người ta nhận biết thì người ta cũng ý thức được.
Bởi thế ba pháp này có tương quan, không phải không tương
quan. Và sau khi phân tích chúng nhiều lần, không thể chỉ
rõ sự khác nhau giữa chúng.
Trong
loạt câu hỏi này, có một câu hỏi trong P không có trong C.
P7:
Hỏi: Tưởng được gọi là tưởng. Do nhân gì nó được
gọi là tưởng? Đáp: Nhận biết, nhận biết, nên gọi là
tưởng. Nó nhận biết cái gì? Nhận biết màu xanh, đỏ, trắng.
Vì nó nhận biết nên gọi là tưởng.
5.
Các câu hỏi về diệt định, năm căn, tâm và mạn:
C15
= P Không có:
C:
Hỏi: Diệt định lấy gì làm đối tượng? Đáp: Diệt định
không có đối tượng.
C16
= P20:
C:
Hỏi: Có năm căn có phạm vi khác nhau, đối tượng khác nhau,
mỗi căn có đối tượng riêng, đó là, mắt, tai, mũi, lưỡi,
và thân căn. Năm căn này với phạm vi riêng, đối tượng
riêng, mỗi cái có đối tượng riêng. Cái gì thu vào, nhận
đối tượng cho chúng? Gì là chỗ nương của chúng? Đáp:
Năm căn có phạm vi riêng, đối tượng riêng, mỗi căn nhận
đối tượng riêng của nó. Đó là mắt, tai, mũi, lưỡi, và
thân căn. Năm căn này với phạm vi riêng, đối tượng riêng,
mỗi cái nhận đối tượng riêng của nó, nhưng ý nhận tất
cả đối tượng cho chúng, ý là chỗ nương của chúng.
P:
Gần giống. C: với lãnh vực riêng, đối tượng riêng = P:
nànàvisayàni nànàgocaràni. C: mỗi cái nhận đối tượng riêng
của nó = P: chúng không cảm thọ đối tượng và lãnh vực
của nhau. C: Cái gì nhận tất cả đối tượng cho chúng, cái
gì là chỗ nương của chúng?= P: Gì là chỗ nương của chúng?
Gì là phạm vi của đối tượng chúng?
C17
= P Không có:
C:
Hỏi: Tâm an trú nương vào cái gì? Đáp: Tâm an trú nương
vào mạng.
C18
= P22:
C:
Hỏi: Y cứ vào gì, mạng an trú? Đáp: Y cứ vào hơi ấm, mạng
an trú.
P:
Giống nhau. C: mạng = P: tuổi thọ; C: hơi ấm = P: usmà.
C19
= P24:
C:
Hỏi: Mạng và hơi ấm, hai pháp này có tương quan hay không
tương quan? Có thể chỉ ra hai pháp này một cách riêng rẽ?
Đáp: Mạng và hơi ấm, hai pháp này có tương quan, không phải
không tương quan. Không thể chỉ chúng một cách riêng rẽ;
tại sao? Do thọ mạng có hơi ấm, do hơi ấm có thọ mạng.
Nếu không có thọ mạng thì không có hơi ấm, nếu không có
hơi ấm thì không có thọ mạng. Cũng như do duyên dầu, bấc
mà ngọn đèn cháy sáng. Trong ngọn đèn này, do ngọn lửa
mà có ánh sáng, do ánh sáng mà có ngọn lửa. Nếu không có
ngọn lửa sẽ không có ánh sáng, nếu không có ánh sáng sẽ
không có ngọn lửa. Cũng vậy, tùy thuộc thọ mạng có hơi
ấm; tùy thuộc hơi ấm có thọ mạng. Nếu không có thọ mạng
thì sẽ không có hơi ấm, nếu không có hơi ấm, không có
thọ mạng. Do vậy hai pháp này có tương quan, không phải không
tương quan, không thể hiển thị hai pháp này một cách riêng
rẽ.
P:
Không giống hẳn. Câu hỏi cũng hơi khác. Hỏi: Bây giờ chúng
tôi hiểu lời nói của Tôn giả Xá Lợi Phất rằng, thọ
mạng tùy thuộc vào hơi ấm để tự duy trì. Bây giờ chúng
tôi hiểu lời nói của Tôn giả Xá Lợi Phất rằng, hơi ấm
tùy thuộc vào thọ mạng để tự duy trì. Ý nghĩa của lời
này cần được hiểu như thế nào? Đáp: Vậy tôi sẽ cho
hiền giả một ví dụ, người trí nhờ ví dụ có thể hiểu
được ý nghĩa những gì được nói. Như khi một ngòn đèn
dầu được thắp, tùy thuộc vào ngọn lửa mà ánh sáng xuất
hiện, tùy thuộc vào ánh sáng, ngọn lửa xuất hiện. Cũng
vậy mạng tùy thuộc vào hơi ấm để tự duy trì, hơi ấm
tùy thuộc vào thọ mạng để tự duy trì.
Trong
loạt câu hỏi này, có ba câu không có trong C.
P21:
Hỏi: Có năm căn: nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân
căn, năm căn này tùy thuộc vào gì? Đáp: Năm căn này tùy
thuộc vào mạng.
P23:
Hỏi: Hơi ấm tùy thuộc vào gì? Đáp: Hơi ấm tùy thuộc vào
mạng.
P25:
Hỏi: Các thọ hành với các pháp được cảm thọ này là
giống nhau hay khác nhau? Đáp: Nếu các thọ hành là một với
các pháp được cảm thọ, thì sự xuất định của một người
chứng diệt thọ tưởng không thể chỉ rõ. Vì thọ hành khác
với cảm thọ, nên sự xuất định của vị Tỳ-kheo chứng
diệt thọ tưởng có thể chỉ rõ.
6.
Những câu hỏi về sự chết, về diệt tận định, về tưởng:
C20
= P26:
C:
Hỏi: Có bao nhiêu pháp được từ bỏ, khi thân xác chết bị
ném vào nghĩa địa như một khúc gỗ vô tri? Đáp: Có ba pháp
được từ bỏ khi thân xác chết... như một khúc gỗ vô tri.
Ba pháp ấy là gì? 1. Mạng, 2. Hơi ấm, 3. Thức. Ba pháp ấy
được từ bỏ khi thân xác chết ....như một khúc gỗ vô
tri.
P:
Gần giống. Hỏi: Có bao nhiêu pháp được từ bỏ khi thân
này được vứt đi, được ném vào trong giấc ngủ như một
khúc gỗ vô tri? Câu trả lời cũng giống như trên.
C21
= P27, C22,24,25,26 = P không có.
C27
= P32:
C:
Hỏi: Không, vô tướng, vô nguyện, ba pháp ấy có phải khác
nhau về nghĩa và về văn, hay đồng nghĩa, khác văn? Đáp:
Ba pháp này khác nhau về nghĩa và cũng khác nhau về văn.
P:
Không giống hẳn. C: không, vô nguyện, và vô tướng = P: vô
lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải thoát, không
tâm giải thoát, vô tướng tâm giải thoát. Trong bản C, câu
trả lời chỉ nói chúng khác nghĩa khác văn; nhưng bản P nói
tùy theo nhiều phương pháp áp dụng, đôi khi chúng khác nghĩa
khác văn, đôi khi chúng đồng nghĩa khác văn. Rồi bản P tiếp
tục giải thích rằng do áp dụng phương pháp tu bốn phạm
trú, Tỳ-kheo đạt đến vô lượng tâm giải thoát; do
áp dụng pháp tu vượt quá thức vô biên xứ nhập vào vô
sở hữu xứ, vị ấy chứng vô sở hữu tâm giải thoát;
nhờ đi đến một chỗ trống tư duy về tính không của tự
ngã và ngã sở, Tỳ-kheo đạt đến không tâm giải thoát;
và nhờ không tác ý đến tất cả tướng, nhờ nhập vào
định vô tướng, vị ấy chứng đắc vô tướng tâm giải
thoát. Vậy đây là phương pháp theo đó bốn trạng thái
tâm nói trên khác nhau về cả văn lẫn nghĩa. Rồi bản P lại
tiếp tục giải thích rằng nhờ nhổ tận gốc tham, sân, si
làm nên các hạn lượng, các chướng ngại, các tướng, mà
vị Tỳ-kheo đạt đến tâm giải thoát vô lượng, vô tướng,
không, vô sở hữu. Vậy, do phương pháp này, bốn pháp nói
trên đồng nghĩa khác văn.
C28
= P không có:
C:
Có bao nhiêu nhân duyên để đạt đến định bất động?
Đáp: Có bốn nhân duyên để đạt đến định bất động.
Đó là những gì? Nếu một Tỳ-kheo tránh xa tham dục, xa các
ác bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất cho đến
thiền thứ tư, đây gọi là bốn nhân, bốn duyên để đạt
đến định bất động.
C29
= P không có:
C:
Hỏi: Có bao nhiêu nhân duyên để đạt đến định vô sở
hữu? Đáp: Có ba nhân duyên để đạt đến định vô sở
hũu? Gì là ba? Nếu vị Tỳ-kheo vượt qua các sắc tưởng
cho đến khi nhập vào vô sở hữu xứ và an trú trong đó,
đây gọi là ba nhân duyên để đạt đến định vô sở hữu.
C30
= P không có:
C:
Hỏi: Có bao nhiêu nhân duyên để đạt đến định vô tưởng?
Đáp: Có hai nhân duyên để đạt đến định vô tưởng. Gì
là hai? Một là không nghĩ đến tất cả tưởng, hai là nghĩ
đến cảnh giới vô tưởng.
C31
= P không có:
C:
Có bao nhiêu nhân duyên để trú trong định vô tưởng? Đáp:
Có hai nhân duyên để trú trong định vô tưởng. Gì là hai?
Một là không nghĩ đến tất cả tưởng, hai là nghĩ đến
cảnh giới vô tưởng.
C32
= P không có:
C:
Có bao nhiêu nhân duyên để xuất định vô tưởng? Đáp: Có
ba nhân duyên để xuất định vô tưởng. Gì là ba? Một là
nghĩ đến tất cả tưởng, hai là không nghĩ đến cảnh giới
vô tưởng, ba là khi thân này và sáu căn liên hệ với đời
sống. Đây là ba nhân duyên để xuất định vô tưởng.
Trong
loạt câu hỏi này có tám câu chỉ có trong P, không có trong
C.
P17:
Hỏi: Gì là sơ thiền? Đáp: Khi vị Tỳ-kheo ly dục, ly bất
thiện pháp, chứng trú sơ thiền với tầm, tứ, hỷ, lạc
do ly dục sanh.
P18:
Hỏi: Có bao nhiêu thiền chi trong sơ thiền? Đáp: Có năm thiền
chi trong sơ thiền. Khi một Tỳ-kheo chứng sơ thiền thì có
tầm tứ, hỷ, lạc và nhất tâm.
P19:
Hỏi: Có bao nhiêu yếu tố được từ bỏ, và bao nhiêu yếu
tố có được trong sơ thiền? Đáp: Trong sơ thiền, năm yếu
tố được đoạn tận, năm yếu tố được chứng đắc. Nơi
vị Tỳ-kheo nhập sơ thiền thì tham, sân, hôn trầm, trạo
hối và nghi được đoạn tận; tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất
tâm sinh khởi.
P28:
Hỏi: Có bao nhiêu duyên để đạt đến tâm giải thoát bất
khổ, bất lạc? Đáp: Có bốn duyên để đạt đến tâm giải
thoát bất khổ, bất lạc. Vị Tỳ-kheo sau khi đã xả lạc,
xả khổ, diệt hỷ và ưu đã cảm thọ trước kia, chứng
và trú thiền thứ tư với xả niệm thanh tịnh.
P29:
Hỏi: Có bao nhiêu điều kiện để đạt đến tâm giải thoát
vô tướng? Đáp: Có hai điều kiện để đạt đến tâm giải
thoát vô tướng, đó là không tác ý tất cả tướng, và tác
ý vô tướng giới.
P30:
Hỏi: Có bao nhiêu điều kiện để trú tâm giải thoát vô
tướng? Đáp: Có ba điều kiện để trú trong tâm giải thoát
vô tướng, đó là không tác ý tất cả tướng, tác ý đến
vô tướng giới, và một sự chuẩn bị trước.
P31:
Hỏi: Gì là các điều kiện để xuất khỏi tâm giải thoát
vô tướng? Đáp: Có hai điều kiện để xuất khỏi tâm giải
thoát vô tướng, đó là tác ý tất cả tướng, và không tác
ý đến vô tướng giới.
P9:
Hỏi: Một tâm thanh tịnh không liên hệ đến năm căn thì
có thể biết đến cái gì? Đáp: Một tâm thanh tịnh không
liên hệ đến năm căn thì có thể biết được không vô biên
xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ.
E.
Phần kết
C:
Hai vị trưởng lão ấy ca tụng nhau, nói: "lành thay, lành thay"
với nhau, và lấy làm hoan hỷ. Rồi họ đứng lên khỏi chỗ
mà ra đi.
P:
Tôn giả Xá Lợi Phất nói như vậy. Tôn giả Đại Câu-hy-la
hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Xá Lợi Phất đã nói.