CHƯƠNG
VIII: CÁC ẨN DỤ HAY NGỤ NGÔN
Kinh Phật
đầy dẫy những ví dụ, nên trong cả hai bản C và P, ta thấy
có một sưu tập dồi dào các ngụ ngôn và ẩn dụ. Một nghiên
cứu tỷ giảo về những ẩn dụ này trong hai bản cho thấy
những nét đặc sắc sau: 1. Một số ẩn dụ gần giống nhau
trong hai bản; 2. Một số ẩn dụ có cùng nội dung nhưng cách
trình bày khác nhau; 3. Trong vài trường hợp, bản P có ẩn
dụ đơn giản hơn; 4. Trong vài trường hợp, trái lại, ẩn
dụ trong C đơn giản hơn; 5. Một số ẩn dụ có trong C lại
không có trong P; 6. Trong vài trường hợp, ẩn dụ trong C không
có; 7. Có những trường hợp, ẩn dụ trong P chính xác hơn,
sáng sủa hơn bản C; 8. Một số ẩn dụ hoàn toàn khác nhau
trong hai bản.
1.
Những ẩn dụ gần giống nhau:
Trong
vài trường hợp, hầu như không có gì khác nhau giữa hai ẩn
dụ về phương diện nội dung cũng như hình thức.
Như
trong NC4, Tôn giả Đại Mục-liền-liên kể một ví dụ để
nói Tôn giả Xá-lợi-tử khéo biết tâm của người nghe để
giảng pháp cho họ thấm vào tim:
C87:
"Tôi đến nhà của một khổ hạnh lõa thể tên là Man Tử,
xưa là người làm xe. Vào lúc ấy, cạnh nhà ông ta, có một
người làm xe đang cưa gỗ để làm trục xe. Lúc ấy lõa thể
Man Tử xưa làm nghề đẽo vành xe, đi đến nhà ấy và trông
thấy người làm xe đang bận đẽo trục xe. Một tư tưởng
khởi lên trong ông ta: 'Nếu người ấy dùng cưa cưa bớt những
chỗ khuyết kia, thì trục xe sẽ toàn hảo'. Khi ấy, đúng
như những gì lõa thể Man Tử đã nghĩ, người làm xe lấy
một cái cưa cưa đứt những chỗ khuyết. Rồi lõa thể Man
Tử hết sức vui mừng và nói: 'Ôi, thợ làm xe, anh biết đúng
tim tôi; vì anh đã cưa đúng những chỗ khuyết để thành
hình trục xe như tôi đã nghĩ.' "
P5:
Gần giống. C: một lõa thể ngoại đạo tên Man Tử xưa là
người làm xe=P: purànayànakàraputto Panduputto àjìviko.
C: có một người làm xe đang đẽo gỗ để làm trục xe=P:
vào lúc ấy Samìti một người thợ xe, đang đẽo vành của
một bánh xe. C: nếu người làm xe kia lấy cái cưa cưa bớt
những chỗ khuyết kia=P: mong người ấy đẽo đường cong,
đường méo, chỗ khuyết này. C: vậy là tâm anh biết được
tâm tôi=P: dường như là anh ta đang đẽo xe với cái tâm biết
được tâm tôi.
Trong
NC13, đức Phật trích dẫn một ví dụ về con gà mái để
hiển thị rằng, bất cứ người nào có được 15 đức tính
thì chắc chắn phải đạt toàn giác.:
C206:
"Cũng như một con gà mái đẻ 10 trứng, 12 trứng, rồi đúng
thời ấp chúng, đúng thời ủ chúng, canh chừng chúng một
cách đàng hoàng. Có thể con gà mái không chú ý, nhưng trong
những cái trứng kia, những con gà con với mỏ, móng, sẽ mổ
cho thủng vỏ trứng để an toàn chui ra."
P16:
Tương tự. C: 10 trứng hay 12 trứng=P: 8 trứng 10 trứng hay
12 trứng. C: đúng thời ấp chúng, đúng thời ủ chúng, đúng
thời coi chừng chúng= P: đúng thời ấp ngồi trên chúng, đúng
thời ủ chúng, chân chính chăm sóc chúng. C: con gà mái có
thể không chú ý=P: mặc dù con gà mái không lập ước nguyện
rằng mong gà con sẽ mổ vỏ mà chui ra sau khi đập bể vỏ
trứng với móng và mỏ.
2.
Nội dung giống nhưng hình thức khác:
Trong
phần lớn các ẩn dụ, chúng ta nhận thấy mục đích mà ẩn
dụ chuyên chở để làm sáng tỏ một giáo lý nào đó là
giống nhau trong cả hai bản, nhưng cách trình bày ẩn dụ không
hoàn toàn giống nhau. Đa số ẩn dụ rơi vào trường hợp
này và điều này chứng tỏ những nhà biên tập hoàn toàn
tự do chọn lựa danh từ và cách diễn đạt.
Như
trong NC16, đức Phật trích dẫn ví dụ đàn nai để hiển
thị lợi lạc mà giáo lý Phật đem lại cho con người nói
chung.
C102:
"Giả sử có một nơi an ổn, nơi có dòng nước lớn. Ở đấy
có một bầy nai đang sống và đi tung tăng. Nếu có một người
đến, không tìm lợi lạc cho bầy nai, không tìm sự an ổn
và hạnh phúc cho chúng. Người ấy ngăn con đường chính,
mở ra một con đường nguy hiểm, đào một cái hố và cho
một người canh chừng cái hố. Như vậy toàn thể bầy nai
sẽ đi đến hoại diệt và hoàn toàn tử vong. Lại có một
người đến muốn sự an lạc cho bầy nai ấy, tìm sự an ổn
hạnh phúc cho bầy nai, nên vị ấy mở ra con đường chính,
làm cho nó bằng phẳng, chặn con đường nguy hiểm và đuổi
người đứng canh. Nhờ vậy đàn nai sống an ổn."
P19:
Ẩn dụ trong P có vài dị biệt chi tiết. Nơi được nói đến
là một mảnh đất sình sâu và thấp ở trong rừng bên cạnh
có một đàn nai đang sống. Con đường an toàn được mô tả
là khemo savatthiko pìtigamanìyo, con đường lừa bịp là
kumaggo.
Ở
đây không nói gì đến đào hố và đặt mồi canh, mà nói
một con mồi đực, một con mồi cái được đặt đấy để
dụ đàn nai.
C:
"Này các Tỳ-kheo, nên biết rằng ta nói ví dụ ấy để hiển
thị một vài ý nghĩa. Người có trí nghe ví dụ sẽ hiểu
nghĩa. Ví dụ này nói lên ý nghĩa như sau: Dòng nước lớn
tượng trưng cho năm dục hấp dẫn, khả ái. Gì là năm? Các
sắc đẹp do mắt nhận thức, âm thanh do tai nhận thức, mùi
do mũi, vị do lưỡi, xúc do thân nhận thức. Các ngươi nên
biết dòng nước lớn dụ cho năm dục này. Đàn nai dụ cho
các Sa-môn, Bà-la-môn. Người đi đến không muốn lợi ích
cho đàn nai dụ cho ma vương, kẻ xấu. Đóng con đường chính,
mở con đường phụ, dụ cho ba tư tưởng bất thiện là tư
tưởng về tham dục, tư tưởng về sân hận và tư tưởng
về tác hại. Con đường nguy hiểm dụ cho ba tư tưởng bất
thiện. Lại nữa con đường nguy hiểm dụ cho tám tà đạo,
từ tà kiến cho đến tà định là thứ tám. Đào một hố
lớn dụ cho vô minh, đặt người đứng canh dụ cho quyến
thuộc của ma. Lại nữa có một người đến muốn lợi lạc
cho bầy nai ấy, tìm an ổn và hạnh phúc cho bầy nai ấy là
dụ cho đức Như lai, bậc A-la-hán chánh đẳng giác. Đóng
con đường nguy hiểm, mở con đường chính an toàn dụ cho
ba thiện tư duy là tư duy ly dục, vô sân và bất hại. Con
đường dụ cho ba thiện tư duy và tám chánh đạo, từ chánh
kiến đến chánh định là thứ tám."
P:
Mảnh đất sình sâu là đồng nghĩa với tham dục; đàn nai
lớn tiêu biểu chúng sinh; người muốn hại chúng tiêu biểu
ma vương, kẻ xấu ác. Con đường hiểm nguy là đồng nghĩa
với tám tà đạo. Con mồi đực tiêu biểu sự ham vui (nandìràga).
Con mồi cái dụ vô minh. Người muốn tốt cho bầy nai là đồng
nghĩa với Như lai, đấng toàn thiện. Con đường bảo đảm
an toàn tiêu biểu đường bát chánh.
Trong
NC19, Phật dùng ẩn dụ chiếc bè để hiển thị rằng pháp
của Ngài dạy phải được từ bỏ sau khi sử dụng, chứ
không phải để mà đeo mang, ôm giữ:
C200:=P22:
"Ta,
vì các ngươi (không có trong P), đã nói về ẩn dụ chiếc
bè, trong một thời gian dài (không có trong P), cần phải
được từ bỏ chứ không để ôm giữ. Như có một dòng nước
từ trên núi xuống, rất sâu và rất rộng, chảy nhanh và
có rất nhiều vật trôi nổi trên đó. Trên dòng này, không
có thuyền cũng không có cầu. Giả sử có một người đến
muốn vượt qua bờ bên kia tìm một vài công việc. (Bản P
nói, một người trên đường dài, trông thấy một dãi nước
lớn, bờ bên này đầy nguy hiểm và hãi hùng. Bờ bên kia
thì an toàn không đáng sợ, không có thuyền để vượt qua,
không có cầu bắt từ bờ này sang bờ kia). Vì muốn qua sông,
người ấy nghĩ: 'Dòng nước này thật sâu và rộng; chảy
nhanh và có nhiều vật trôi nổi trên đó. Trên dòng nước
này không có thuyền hay cầu có thể vượt qua. Ta có việc
muốn ở trên bờ kia, muốn qua sông. Ta phải dùng đến phương
tiện gì, cách gì để vượt qua bờ kia một cách an toàn?'
(P: Cũng những dị biệt như đã ghi trong đoạn trước; và
không có câu hỏi sau cùng). Rồi vị ấy nghĩ, 'Nay ở bờ
này ta nên thu nhặt cỏ, cây bó lại để làm thành một chiếc
bè, rồi cỡi bè ấy mà vượt qua sông.' Rồi người ấy thu
nhặt trên bờ này những cỏ và gỗ, bó chúng thành một chiếc
bè, cỡi chiếc bè này và qua bờ kia an toàn. (P: thêm cọng,
cành, lá, nhưng bỏ gỗ; lại thêm: nhờ chiếc bè này, nỗ
lực chống chèo với tay và chân.) Rồi người ấy nghĩ: 'Chiếc
bè này rất ích lợi cho ta, vì nhờ nó ta đã từ bờ kia sang
bờ này một cách an toàn. Ta sẽ vác nó lên vai phải hoặc
đội trên đầu mà đi.' Rồi người ấy mang chiếc bè trên
vai phải hoặc đội lên đầu mà đi. Các thầy nghĩ sao? Làm
như vậy người ấy có được lợi ích (của chiếc bè) không?
Các Tỳ-kheo trả lời: 'Không.' (P: Gần giống, với những
dị biệt như đã nói; bản P chỉ nói vai mà không nói
vai
phải). Đức Thế Tôn hỏi: 'Người ấy nên làm gì về
chiếc bè để có được sự ích lợi (của nó)? Người ấy
nên nghĩ: 'Chiếc bè này rất ích lợi cho ta. Nhờ cỡi nó,
ta đã vượt bờ kia sang bờ này. Nay ta nên nhận chìm chiếc
bè này xuống nước, hoặc đặt nó trên bờ mà đi.' Rồi
người ấy nhận chìm chiếc bè dưới nước, hoặc đặt trên
bờ mà đi. Các thầy nghĩ sao? Làm như vậy về chiếc bè,
người ấy có được lợi ích (của chiếc bè) không? Khi ấy
các Tỳ-kheo đáp: 'Thưa vâng, có ích lợi.' (P: Gần giống,
dị biệt như đã ghi. Ở đây P chỉ nói đưa chiếc bè lên
bờ hay nhận chìm nó trong nước). Đức Thế Tôn nói: 'Như
vậy trong một thời gian dài ta đã giảng cho các thầy ẩn
dụ về chiếc bè là để từ bỏ chứ không phải để ôm
giữ. Nếu các thầy đã hiểu ẩn dụ về chiếc bè mà từ
lâu nay ta đã dạy, thì pháp các ông còn phải từ bỏ, huống
là phi pháp.' "
Trong
NC32, Phật lấy ví dụ cái hột của một cây leo tăng trưởng
và trở thành nguy hiểm cho một cây lớn, để hiển thị mối
nguy của dục:
C174:=P45:
Như
vào tháng cuối xuân, vào những ngày hết sức nóng (P: vào
tháng cuối mùa hạ), một hột của cây leo chih-i (?) nẻ ra
rơi xuống đất dưới chân một cây sàla. (P: hạt của một
cây leo nứt ra rơi xuống dưới chân một cây sàla). Khi ấy
vị thần cây vì việc này đâm ra sợ hãi (bản P thêm: vị
thần ở trong cây sàla sợ hãi, dao động, run rẩy. Nó bỏ:
do việc này). Rồi các vị thần làng, những vị thần ở
những cây lân cận, ở hàng trăm loại cây lúa, cây thuốc
(?)vốn là quyến thuộc bằng hữu của thần cây này, thấy
được sự đáng sợ và mối nguy của cái hột ấy trong tương
lai, đi đến nơi thần cây này mà an ủi rằng: (Bản P bỏ:
các
vị thần làng, những vị thần ở những cây lân cận, ở
hàng trăm loại cây lúa, cây thuốc nhưng nói: các thần
rừng, thần rú, thần cây, thần ở trong các cây có thuốc
và rừng rú. Nó bỏ: thấy được sự đáng sợ và mối
nguy của cái hột ấy trong tương lai) "Hỡi thần cây, đừng
sợ! Hỡi thần cây, đừng sợ! Cái hột này có thể bị con
nai ăn, có thể bị chim công ăn, hoặc bị gió thổi, hoặc
bị đám cháy trong làng đốt tiêu, hoặc bị một ngọn lửa
hoang thiêu đốt, hoặc bị thối không còn là hạt giống."
(P bỏ: Hỡi vị thần cây, ... hay bị gió thổi, hoặc bị
đám cháy trong làng đốt. Nó thêm: hoặc có thể nó
bị những người thợ rừng nhặt lên, hoặc có thể nó bị
kiến trắng ăn. C: hoặc nó có thể bị thối không còn
là hạt giống=P: hoặc nó có thể trở thành phi hạt giống).
Bạn sẽ được an ổn (P: không có câu này). Nhưng hạt giống
ấy không bị nai ăn, không bị chim công ăn, không bị gió
thổi, không bị đám cháy đốt, không bị ngọn lửa hoang
đốt cháy, không bị thối để không còn là hạt giống. Hạt
giống ấy không thiếu điều gì, nó không bị đâm thủng,
không bị cắt ngang, không bị hư hỏng vì gió, mưa và nắng.
Nó gặp được mưa lớn và trổ mầm rất nhanh. (P bỏ:
hạt giống này không thiếu gì.... gió mưa và nắng).Thần
cây này nghĩ: "Vì lý do nào những thần cây trong làng, những
thần cây lân cận... (như trên, cho đến không bị hỏng vì
gió, mưa và nắng)." Nó trở thành cọng, cành, lá, mềm mại,
khả ái để sờ. (P trước hết nói hạt giống lớn thành
một cây leo mềm mại, dịu dàng, có lông và bám lấy cây
sàla. Khi ấy vị thần cây nghĩ tại sao các thần cây bạn
lại kéo đến an ủi mình trong khi chính mình thấy sự xúc
chạm với dây leo này rất dễ chịu). Những cọng, cành, lá
mềm mại khi chạm đến đem lại những cảm giác êm dịu.
Cây leo phụ thuộc vào cây lớn này, trở thành những cọng
lớn, có mắc và có lá chằng chịt bao quanh cây lớn, làm
thành một mái che trùm lên nó. Khi cây leo đã phủ lên trên
ngọn cây lớn, vị thần cây nghĩ: "Những thần cây trong làng...
nó gặp được mưa lớnvà nẩy mầm rất nhanh. Vì hạt giống
này, do hạt giống này, ta cảm thọ đau đớn khốc liệt,
sự thống khổ cực kỳ gắt gao." (P: Cây leo bao trùm lấy
cây sàla, làm thành một cái lọng ở trên nó, nảy sanh thêm
vô số cây nhỏ, và mỗi cành lớn của cây sàla đều bị
phá hủy. Khi ấy vị thần cây nghĩ rằng, bạn bè quyến thuộc
của ông đã đúng khi báo cho ông biết về mối nguy của hột
giống này).
3.
Ẩn dụ trong bản P đơn giản hơn:
Có
nhiều trường hợp những ẩn dụ trong P đơn giản hơn trong
C, như các trường hợp sau:
Trong
NC4:
C87:
"Như một thiếu nữ dòng Sát đế lợi, dòng Bà-la-môn, thiếu
nữ của gia chủ, thợ thuyền, một thiếu nữ đoan chính,
xinh đẹp, sau khi tắm rửa tẩy tịnh, thân mình xông hương
phấn, mặc y phục sạch sẽ trong trắng. Nàng mang nhiều đồ
nữ trang để tăng thêm sắc đẹp. Nếu có một người nghĩ
đến cô gái ấy, mong cho cô được lợi ích, an lạc, bảo
đảm và hạnh phúc. Người ấy lấy một vòng hoa sen xanh,
hoa chiêm bặc, hoa tu ma na (hoa lài), hay hoa bà sư, hoa a đề
mâu ca (đào hoa tâm) và tặng nàng tràng hoa ấy. Cô gái kia
vui mừng nhận tràng hoa với cả hai tay, để đội lên đầu
mà trang sức."
P5:
Ẩn dụ ở đây đơn giản hơn. Nó nói trường hợp một phụ
nữ hay một nam nhi, một thanh niên thích trang sức sau khi đã
gội đầu. Nếu người ấy có được một tràng hoa sen hay
hoa lài, hay hoa atimuttaka (đào hoa tâm), thì người con
trai hay con gái ấy sẽ cầm tràng hoa với cả hai tay mà đặt
lên đầu.
Trong
NC18:
C193:
"Như một rừng sàla trên một thửa đất tốt, người thợ
rừng thông minh, thiện xảo, không lười biếng, tùy theo mùa
mà nuôi dưỡng gốc các cây sàla. Người ấy thường xuyên
xới đất, bón phân, và tưới nước cho chúng. Nếu nó quá
cao, anh ta đào xuống cho sâu, nếu nó quá thấp, anh ta thêm
đất.
Nếu có cỏ hoang mọc gần cây, anh ta nhổ đi. Nếu những
cây mọc chung mà cong quẹo, đầy gút mắc và không thẳng,
anh ta nhổ quăng ra ngoài. Nếu có vài cành cong quẹo, anh ta
cưa bớt. Nếu gần những cây ấy, có những cây sàla mới,
mạnh mẽ, thẳng tắp, anh ta sẽ nuôi dưỡng chúng tùy theo
mùa, thường xuyên xới đất thêm phân và tưới nước. Như
vậy, rừng sàla trên mảnh đất tốt sẽ tăng trưởng xanh
tốt và dồi dào."
P21:
Không giống hẳn. Nó nói một rừng sàla lớn ở phụ cận
một ngôi làng của một thị trấn. Rừng sàla này bị những
cây leo ăn bám, xâm chiếm. Một số người vì muốn tốt cho
khu rừng này, muốn nó được an ổn, nên chặt những cành
bị cây leo ăn, kéo ra khỏi rừng. Nhưng những người ấy
sẽ săn sóc cẩn thận những cành cây thẳng và lành mạnh.
Nhờ vậy rừng sàla sẽ tăng trưởng xanh tốt dồi dào.
4.
Ẩn dụ ở bản C đơn giản hơn:
Trong
vài trường hợp chúng ta thấy ẩn dụ trong C giản dị hơn.
Như trong NC18:
C193:
"Như một chiếc xe ngựa với người đánh xe ngồi trên. Ông
ta cầm cương với bàn tay trái, bàn tay phải nắm một cây
roi da. Người ấy điều khiển chiếc xe theo tám con đường
chính và đạt đến bất cứ nơi nào mình muốn."
P21:
Nó nói đến một chiếc xe thắng với những con ngựa giống
tốt, đứng trên ngã tư đường, trên đất bằng phẳng, và
một người đánh xe lão luyện sẵn sàng con roi. Một người
đánh xe chuyên luyện ngựa, leo lên xe ấy, cầm cương trong
bàn tay trái, và con roi trong bàn tay phải, người ấy có thể
điều khiển chiếc xe đi xuôi đi ngược, đến bất cứ hướng
nào tùy thích.
5.
Những ẩn dụ không có trong bản P:
Đôi
khi có một vài ví dụ có trong C nhưng thiếu trong P. Như trong
NC90
Trong
C171: "Có bốn hạng người, một số không có dị thục báo
mà như có, một số người có báo mà như không, một số
không có báo và cũng có vẻ không có báo, một số có báo
và cũng có vẻ là có báo. Cũng như có bốn hạng quả mít,
một hạng không chín nhưng bề ngoài như đã chín, một số
ngoài sống trong chín, một số ngoài sống trong sống, một
số ngoài chín trong chín."
P136:
Bản P nói đến nghiệp nhưng không nói đến người. Có những
nghiệp vô hành và cũng có vẻ vô hành; có nghiệp vô hành
nhưng có vẻ như có hành; có những nghiệp có hành và cũng
mang vẻ có hành; có nghiệp có hành nhưng có vẻ như vô hành.
Ẩn dụ ở đây không có.
6.
Những ẩn dụ không có trong bản C:
Đôi
khi trường hợp xảy ra ngược lại, là bản C không có ẩn
dụ, mà bản P tương đương thì có. Như trong NC8:
C98:
Ở đây C nói đến giai đoạn trong việc quán thân khi vị
Tỳ-kheo rõ biết hơi thở vào và thở ra. Nó bỏ ví dụ.
P10:
Ở đây bản P thêm ví dụ một người thợ quay, rõ biết
khi quay dài hay khi quay ngắn.
Trong
NC74, P119 tiếp tục nói thêm rằng thân hành niệm lại được
tu tập với tâm muốn đạt đến nhờ thắng trí, một thiền
chứng này hay khác, thì vị ấy có thể đạt đến điều
này và thân chứng bất cứ cảnh giới nào. Rồi bản P đưa
ra ba ví dụ để làm rõ lời giải thích của Phật:
a)
Như một bình nước đầy tràn đến nỗi một con quạ có
thể uống được, và bình này được đặt trên một cái
giá; nếu một người mạnh khỏe đi đến lay chiếc bình,
có thể làm vãi nước ra ngoài.
b)
Như một cái đê trên một mảnh đất bằng, bốn bờ được
vây quanh bằng bờ đê. Con đê này đầy nước đến miệng,
khiến một con quạ có thể uống nước. Nếu một người
mạnh đi đến, có thể làm tràn nước ra.
c)
Như tại ngã tư đường, trên một mảnh đất bằng, có một
cỗ xe được thắng những con ngựa giống tốt. Một người
đánh xe thiện xảo leo lên xe, tay trái cầm cương, tay phải
cầm roi, có thể lái cỗ xe đi bất cứ nơi nào tùy thích.
7.
Ẩn dụ trong bản P đúng hơn:
Trong
vài trường hợp, chúng ta thấy ẩn dụ bản P chính xác và
minh bạch hơn bản C. Điều này là do sự dịch sai của bản
C hoặc do giải thích sai nguyên bản tiếng Phạn. Như trong
NC17, muốn chứng minh phương pháp thứ nhất xoay tâm nghĩ đến
một đặc tính này thành ra một đặc tính khác, để trừ
khử những tư tưởng bất thiện, đức Phật đã dùng đến
ẩn dụ như sau, trong đó ta thấy cách giải thích của bản
P chính xác hơn:
C101:
"Như một người thợ mộc hay người học nghề thợ mộc,
dùng một dây mực để kẽ một đường trên gỗ, rồi người
ấy dùng một cái cưa bén để cưa đứt gỗ làm cho nó thẳng."
P20:
Không giống, bản P cũng nói đến người thợ mộc hay người
học nghề thợ mộc nhưng thêm chữ dakkho. Ở đây nó
nói rằng người thợ mộc hay người học nghề thợ mộc
dùng một cái nêm để đánh bật một cái nêm khác.
Cũng
thế trong ẩn dụ của NC43, về sự huấn luyện một con ngựa:
C194:
Phật hỏi Bạt Đà Hòa Lợi có nhớ ngày xưa Ngài đã kể
ví dụ về con ngựa thuần chủng. Bạt Đà Hòa Lợi trả lời,
vì ông không tuân giữ giới ăn một bữa, trong khi những Tỳ-kheo
khác tuân giữ, nên ông không nhớ. Phật dạy không phải chỉ
vì lý do ấy mà thôi. Khi Ngài kể ẩn dụ về con thuần chủng
mã, Bạt Đà Hòa Lợi đã không nhất tâm, không kính cẩn,
không chú ý lắng nghe. Đây là một lý do nữa. Rồi theo yêu
cầu của Bạt Đà Hòa Lợi, Phật kể lại ẩn dụ ấy. Có
một người luyện ngựa, có được một con ngựa thuần chủng.
Lúc đầu anh ta huấn luyện con ngựa về tiếng hý. Trong khi
huấn luyện, con ngựa có thể không ưa được huấn luyện,
nó có thể muốn hoặc không muốn, vì con ngựa ấy chưa quen
được huấn luyện. Sau khi đã xong giai đoạn huấn luyện
đầu tiên, người ấy luyện con ngựa về dây cương để
làm cho nó chạy. Ở đây bản C hơi lộn xộn về các giai
đoạn huấn luyện con ngựa trở thành hoàn toàn thuần thục,
xứng đáng cái tên là ngựa của vua.
P65:
Bản P rất rõ ràng về các giai đoạn của sự huấn luyện.
Trước hết, con ngựa được luyện mang dây cương, và trong
khi được huấn luyện, nó có thể dằng co vì chưa quen. Khi
nó đã tập quen với dây cương, con ngựa lại được luyện
để quen với yên, để đi thẳng, đi vòng tròn, đi bằng đầu
gót, tập phi, tập hý, tập một trò chơi đơn giản, tập
lộn nhào, tập phi nước đại, tập phi ở tốc lực tối
thượng và có những cung cách lịch sự nhất. Rồi người
luyện ngựa cho con ngựa đeo đồ trang sức đẹp đẽ. Khi
con ngựa được đầy đủ mười đức tính này, nó trở thành
xứng đáng được vua sử dụng.
8.
Cả hai bản đều có ẩn dụ không giống nhau:
Chúng
ta cũng nhận thấy rằng một đôi khi hai bản có ẩn dụ không
giống nhau, như trong NC 19, 23, 39.
Như
trong NC19, ẩn dụ sau được đức Phật dùng khi Ngài khuyến
khích các đệ tử hãy bất động trước khen chê:
C200:
"Như trong rừng Kỳ Viên này, bên ngoài cổng có nhiều lá
khô, củi khô. Giả sử có người đến đem chúng đi để
đốt và sử dụng tùy thích. Các thầy nghĩ sao, những lá
khô, củi khô kia có nghĩ rằng, người kia đem chúng ta đi,
đốt chúng ta trong lửa và sử dụng chúng ta tùy thích. Các
Tỳ-kheo đáp: Bạch Thế Tôn, không. Cũng thế, nếu có người
mạ lÿ các ông, đánh đập các ông, giận dữ, bất mãn với
các ông, luôn luôn khiển trách các ông; và nếu có những
người khác kính trọng, cúng dường, tôn trọng đảnh lễ
các ông, các ông cũng không nên ôm lòng giận dữ, thù ghét,
ác ý, không ưa, tác hại; các ông cũng không nên vui mừng
hoan hỷ, các ông cũng đừng để cho tâm mình như lên mây."
P22:
Không giống. Ở đây đức Phật khuyên các Tỳ-kheo hãy dẹp
sang một bên những gì không thuộc về của mình, vì như vậy
sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Tỳ-kheo. Những
gì không thuộc của Tỳ-kheo ở đây là sắc, thọ, tưởng,
hành, thức. Tất cả những thứ này không phải là tự ngã,
không thuộc về tự ngã, bởi thế các Tỳ-kheo nên dẹp. Rồi
Phật cũng lấy ví dụ ấy để làm sáng tỏ giáo lý của
Ngài. Bản P bỏ khô và củi, nhưng thêm cỏ,
cọng cành. Trong khi ở bản C, Phật hỏi các Tỳ-kheo những
lá khô, củi khô này có nghĩ người này đã mang chúng đi,
ở bản P, Phật hỏi các Tỳ-kheo có nghĩ rằng người kia
đã mang chúng đi hay không.
Trong
NC39, một loạt những ẩn dụ có những dị biệt giữa hai
bản được thấy như sau. Ở đây Ưu Ba Ly kể ra bốn ví dụ
để chứng minh ông ta sẽ lôi kéo Sa-môn Cồ Đàm như thế
nào trong cuộc tranh luận.
C133:
"Như một người mạnh nắm lấy một con cừu đực bằng cái
bờm dài của nó và kéo lôi tùy thích."
P56:
C: kéo lôi tùy thích = P: àkaddheyya parikaddheyya samparikaddheyya
(kéo tới giật lui quay vòng tròn). Phần còn lại giống
nhau.
C:
"Như một người mạnh cầm một tấm áo lông cừu, đập nó
để giũ bụi."
P:
Không giống: "Như một người bán rượu (sondikàkammakàro)
nhận chìm một vò đựng rượu (? sondikàkilanjam) trong
một hồ sâu, nắm lấy một góc mà kéo nó."
C:
"Như một người bán rượu nhận một bao đựng rượu vào
nước sâu và kéo nó tùy thích."
P:
Không giống: "Như một người say rượu đi chếch choáng (sondikàdhuto),
nắm lấy một cái vàlam nơi góc và lắc nó, tung nó
lên nhiều lần."
C:
"Như một con voi chúa 60 tuổi, một con voi lớn có ngà, chân
và thân đã trưởng thành, đầy đủ sức mạnh, được một
người mạnh dẫn đi tắm, rửa mông, lưng, bụng, ngà, đầu
của nó và làm cho nó giỡn chơi trong nước."
P:
Nó nói đến một con voi Kunjaro 60 tuổi nhảy xuống ao nước
sâu và chơi trò chơi tung nước.
Cũng
vậy trong NC39, Kiền Tử khiển trách Ưu Ba Ly đã đến Sa-môn
Cồ Đàm cốt để luận bại ông ta nhưng cuối cùng chính
mình đã bị đánh bại, và Kiền Tử dùng hai ví dụ để
khiển trách Ưu Ba Ly:
C:
"Như một con người đi vào rừng để được mắt, nhưng rốt
cuộc trở về mất cả 2 con mắt; như một người đến hồ
uống nước để giải khát nhưng trở về vẫn còn khát."
P:
Ví dụ thứ nhất không giống. Nó nói đến một người đi
thiến súc vật nhưng khi trở về lại bị thiến. Ví dụ thứ
hai giống như ví dụ đầu trong bản C.
Nhận
xét: Như vậy một nghiên cứu tỷ giảo về các ví
dụ trong hai bản kinh chứng tỏ cả hai bản đều rút tài
liệu từ một nguồn chung, như ta thấy những dữ kiện mà
hai bản sưu tập giống nhau. Nhưng mặc dù những ẩn dụ này
chuyên chở những thuyết minh giống nhau, cách trình bày những
ẩn dụ ấy, sự chọn lựa những chi tiết, có vài dị biệt
đáng kể, và điều này chứng tỏ các nhà biên tập đã có
sự rộng rãi trong việc chọn lựa tài liệu. Nếu trong vài
ví dụ có một số điểm bất đồng, ấy là do sự giải
thích sai ví dụ, hoặc do lỗi phiên dịch. Nhìn chung, khảo
sát các ẩn dụ trong hai bản kinh giúp ta thấy rõ các điểm
đồng và dị giữa hai bản.