CHƯƠNG
VII: KỆ TỤNG
Bây
giờ chúng ta đi đến phần khảo sát tỷ giảo những bài
kệ trong 98 kinh tương đương để tìm ra những điểm đồng
dị giữa hai bản C và P.
Mới
nhìn qua ta thấy rằng bản C dồi dào bài kệ hơn bản P. Trong
NC 40, 55, 89, có ba kinh C chứa nhiều bài kệ trong khi những
bản P tương đương không có.
Trong
NC 40, có thêm hai bài kệ đều do đức Phật nói, khi giáo
giới La Vân.
Bài
kệ thứ nhất: C14, Kinh La Vân :
"Một
người phạm lỗi gọi là nói láo,
Thì
không sợ đời sau, không có điều ác gì nó không thể làm.
Thà
nuốt viên sắt nóng như lửa,
Còn
hơn phạm giới này mà nhận bố thí của thế gian.
Nếu
biết sợ khổ, không thích nghĩ đến khổ,
Thì
không nên làm điều ác bí mật hay công khai.
Nếu
những bất thiện hành đã được làm, đang được làm,
Cuối
cùng người ta không thể thoát khỏi chúng,
Cũng
không có chỗ trú ẩn nào để thoát."
Bài
kệ 2:
"Này
La Vân, thân hành, ngữ hành và ý hành,
Có
công đức hay không công đức,
Ngươi
nên tư duy về chúng.
Này
La Vân, ngươi không được cố ý nói dối.
Nói
dối đem lại nguy hiểm, thì sao ngươi nói dối?
Che
đậy pháp của Sa-môn,
Lời
trống rỗng không thật, gọi là nói dối.
Do
không hộ trì miệng lưỡi,
Mà
người ta nói điều sai quấy.
Hỡi
con đấng Giác ngộ, đây là pháp của bậc Sa-môn.
Này
La Vân ngươi nên học; ở đâu ngươi cũng sẽ được hạnh
phúc an lạc, an ổn và vô úy.
Này
La Vân, muốn được tất cả điều này ngươi không được
hại người khác."
Trong
NC 55 , bản C có hai bài kệ nhưng không có trong bản P.
C67:
Kinh Đại thiên nại lâm:
Vua
Đại Điển cầm những sợi tóc bạc này và nói:
"Đầu
tôi đã có tóc hoa râm, cuộc đời tôi càng ngày càng già
và yếu,
Thiên
sứ đã đến. Đã đến lúc tôi nên học pháp"
C:
Vua Nemi bảo chư thiên cõi trời 33:
"Nó
giống như cỗ xe mượn để cưỡi một thời gian.
Nơi
này là như thế, nghĩa là nó thuộc về kẻ khác.
Ta
sẽ trở về Mi-sa-lo và thực hành vô số pháp lành ở đấy.
Nhờ
vậy ta sẽ được sinh lên trời.
Ta
chứa nghiệp lành như lương thực trên đường lên thiên giới."
Trong
NC89, có một bài kệ trong bản C, không có trong bản P:
C170:
Kinh
Anh vũ:
"Những
người Bà-la-môn do quá kiêu căng,
Sau
khi chết tại thế giới này, sẽ tái sinh trong sáu cảnh giới:
Làm
gà mái, chó, heo, chồn,
Lừa
và địa ngục là thứ sáu."
Có
15 kinh trong đó cả hai bản C và P đều có kệ, như trong NC6,
22,35,36, 39, 48,54,60,83, 85, 86,87,88,96,97.
Một
vài bài kệ gần giống nhau trong cả hai bản. Như trong NC35,
cả hai bài kệ như sau:
C78:
Phạm
thiên thỉnh Phật:
"Thấy
nguy hiểm trong hữu, không sợ phi hữu,
Như
vậy không thích thú trong hữu,
Thì
có hữu nào không thể bị đoạn tận?"
P49:
Phạm
thiên cầu thỉnh:
"Sau
khi thấy nguy hiểm của hữu,
Đang
hiện hữu, ta tìm cái phi hữu.
Ta
không thích thú hiện hữu,
Ta
không chấp thủ một lạc thú nào."
Trong
NC48, chúng ta có hai bài kệ sau:
C153:
Kinh
Man nhàn đề:
"Không
bệnh là lợi tối thắng.
Niết-bàn
là lạc tối thắng.
Trong
các con đường, đường tám chánh,
Trú
trong an ổn và bất tử.
P75:
Kinh Màgandiya:
"Không
bệnh lợi tối thắng,
Niết-bàn
lạc tối thắng.
Trong
các đường, bát chánh,
Đưa
đến an ổn và bất tử."
Trong
vài trường hợp, kinh C có đến ba bài kệ, trong khi P chỉ
có một bài, như được thấy trong NC36, và bài kệ duy nhất
trong bản P chỉ có 96 dòng trong khi bài kệ tương đương trong
bản C có đến 122 dòng. Tương tự về NC39, trong đó C có
dư hai bài kệ, một bài sáu dòng và một bài bốn dòng. Trong
khi bài kệ có chung với P, thì C hơn P tám dòng. Trong NC66,
bài kệ trong C chứa 32 dòng, bản P chỉ chứa 22 dòng. Trong
NC60, kinh C có bốn bài kệ, trong khi P chỉ có ba bài. Trong
bài kệ một, bản P có bốn dòng hơn C; trong bài kệ hai, hai
bản có số dòng giống nhau là 12 dòng, trong khi bài kệ thứ
ba thì bản C có 10 dòng nhiều hơn bản P. Bài kệ thứ tư
chỉ được tìm thấy trong C, chứa 10 dòng như sau:
C161:
Phạm
Ma:
"Trong
các tế đàn, lửa là tối thượng.
Âm
thanh là nền tảng của tất cả mọi âm.
Trong
loài người, vua là tối thượng.
Biển
lớn hơn các dòng sông.
Mặt
trăng sáng hơn những vì sao,
Nhưng
không ánh sáng nào quá hơn mặt trời.
Phương
trên phương dưới,
Bốn
phương chính và bốn hướng phu,ï
Cùng
với tất cả thế gian,
Từ
nhân loại cho đến chư thiên,
Chỉ
có Phật là tối thượng."
Về
bài kệ này, những nhận xét sau đây của tiến sĩ Anesaki
(JRAS, 1901, p.898) đáng chú ý:
"Trong
các kinh A-hàm bản Hoa ngữ, bài kệ sau đây được lặp đi
lặp lại ít nhất 12 lần: Trong các tế đàn lửa là tối
thượng, trong các chandas, sàvittì là tối thượng, trong loài
người vua...., trong tất cả chúng sinh, nhân loại và chư thiên,
chỉ có Phật là trên hết. Tôi không thể tìm thấy những
bài kệ này trong các kinh Trung bộ P. Tất cả kinh P, dù đồng
nhất với C về mọi mặt khác, đều không có bài kệ này,
trong khi bản C tương đương thì có. Tôi tìm thấy chúng, trừ
phần cuối, trong kinh Sela của Tiểu bộ Suttanipàta. Có phải
chúng đã được thêm vào về sau trong các kinh A-hàm và kinh
Tiểu bộ, hay chúng đã bị bỏ bớt khỏi kinh Trung bộ P?"
Cũng
vậy trong NC96, chỉ có một bài kệ, bài kệ bản C có 24 dòng,
bản P chỉ có 20 dòng. Trong NC97, bản C có thêm hai bài kệ,
một bài 16 dòng, một bài tám dòng, trong khi bản P có một
bài kệ thừa ra 16 dòng. Sự khác biệt này có lẽ là do sự
khác biệt về nội dung của hai kinh này. Trong kinh C, trong khi
kể lại cơn bệnh của Cấp-cô-độc, bản C thêm một câu
truyện do Cấp-cô-độc kể về lần đầu tiên ông gặp Phật,
và hai bài kệ thuộc về câu truyện này. Bài kệ đầu được
nói bởi một vị trời vốn là bạn cũ của Cấp-cô-độc
đến giục ông đi gặp Phật. Bài kệ thứ hai được nói
bởi chính Cấp-cô-độc để chào đức Phật. Và bài kệ
P không có trong bản C thì được nói bởi vị trời Cấp-cô-độc
để ca tụng Phật, Pháp, và Tôn giả Xá Lợi Phất. Cấp-cô-độc
sau khi chết đã được tái sinh thành một vị trời, xuất
hiện trước đức Phật và đọc bài kệ này ca tụng đức
Thế Tôn. Nhưng vì bản kinh C kể lại một giai thoại khác
trong đời Cấp-cô-độc, dĩ nhiên không phải là đã chết,
nên bài kệ này không có.
Nhưng
có những trường hợp trong đó P có nhiều kệ hơn C, và những
bài kệ trong bản P dài hơn. Như trong NC22, bản P có dư ba
bài kệ: tám dòng, 14 dòng, bốn dòng. Bài kệ một nói về
sự do dự của đức Phật không muốn thuyết pháp. Bài kệ
hai tả Phạm thiên thỉnh cầu thuyết pháp; và đức Phật
theo lời thỉnh của Phạm thiên trong bài kệ ba. Tất cả ba
bài kệ đều không có trong bản C, vì bản C bỏ nguyên cả
đoạn này. Trong NC54, trong bài kệ thứ nhất, bài kệ bản
C có 22 dòng, ít hơn bài kệ bản P hai dòng; trong khi bài kệ
thứ hai trong bản P có nhiều hơn bài kệ bản C bốn dòng,
(bài kệ bản C có 48 dòng).
Để
nêu rõ những điểm đồng dị giữa hai bài kệ tương đương
trong bản C và P, chúng tôi sẽ phân tích từng dòng các bài
kệ để so sánh, trong NC6, 39 và 96.
Trong
NC6, Phật trả lời Bà-la-môn Thủy Tịnh, khi Bà-la-môn bảo
Ngài đi tắm nước thiêng:
C93:
Thủy
Tịnh Phạm chí:
"Diệu
hảo thủ phạm chí,
Nếu
vào sông Đa Thủy,
Là
trò chơi kẻ ngu,
Không
thể sạch nghiệp dữ.
Hảo
thủ, đến sông chi?
Sông
ấy có nghĩa gì,
Người
tạo nghiệp bất thiện,
Nước
trong nào ích chi.
Người
tịnh, không cấu uế,
Người
tịnh, thường thuyết giới,
Người
tịnh, nghiệp trắng trong,
Thường
hành hạnh thanh tịnh.
Nếu
ông không sát sinh,
Cũng
không hay trộm cắp,
Chân
thật, không nói dối,
Thường
chánh niệm, chánh trí,
Phạm
chí học như vậy,
Tất
cả chúng sinh an.
Phạm
chí về nhà chi,
Nước
nhà đâu trong sạch.
Phạm
chí, ông nên học,
Dùng
thiện pháp tẩy sạch.
Cần
gì nước bẩn kia,
Chỉ
trừ dơ thân thể?"
P7:
Gần giống. Bản P nói tên của bảy con sông: Bàhukà, Adhikakkà,
Gayà, Sundarikà, Sarassatì, Payàgo và Bàhumatì là vô
ích vì chúng không thể rửa sạch những hành vi đen tối.
Đối với người trong sạch, ngày nào cũng là ngày lành (Phaggu);
ngày nào cũng là ngày trai giới (Uposatha), vì người
ấy luôn luôn tuân theo quy luật. Bản C thêm: luôn luôn có
chánh
niệm, chánh kiến đối với lời giáo huấn của đức
Phật. Bản P bỏ hai từ này nhưng thêm : có lòng tin saddahanà,
và không hà tiện, amaccharì. Trong dòng cuối, bản P nói
đến đức Phật dạy: "Bạn cần gì phải đến sông, khi bất
cứ giếng nào cũng là sông Hằng của bạn?"
Trong
khi bản P chấm dứt bài kệ ở đây và trở lại thể thức
văn xuôi, bản C vẫn tiếp tục hình thức kệ:
"Phạm
chí bạch Phật rằng:
'Tôi
cũng nghĩ như vậy,
Dùng
thiện pháp tẩy sạch,
Cần
gì nước dơ kia.
Phạm
chí nghe Phật dạy,
Trong
lòng rất hoan hỷ,
Liền
đảnh lễ chân Phật,
Quy
y Phật, Pháp, Tăng.' "
Trong
NC39, chính bài kệ của Ưu Ba Ly là bài mà người ta tìm thấy
được tàn dư của nguyên bản Sanskrit ở Trung Á (xem phần
phụ lục).
C133:
Khi
ấy Kiền Tử hỏi Ưu Ba Ly rằng, tất cả mọi người trong
thành Na Lan Đà đều biết Ưu Ba Ly là đệ tử của Ni Kiền;
nhưng bây giờ, ông là đồ đệ của ai. Ưu Ba Ly trả lời
Kiền Tử bằng một bài kệ dài, trong lúc quỳ gối chạm
đất, chắp tay hướng về đức Thế Tôn mà nói:
1/
a.
Trong số những người can đảm thoát khỏi vô minh, đã đoạn
dứt lỗi lầm và chân chính vượt qua chúng, P1a.
b.
Vô tỷ, suy tư tinh tế, được điều phục về giới, định,
tuệ, P1b.
c.
Bảo đảm không cấu uế, của đức Phật, Ưu Ba Ly là đệ
tử, P1c.
2/
a.
Về đức Thế Tôn vĩ đại với sự tự chế hoàn toàn; đã
đạt đến sự thánh thiện, đã làm chủ ngữ nghiệp. P7a.
b.
Với chánh niệm, quán sát chân chính và tế nhị, không cao
cũng không thấp, P7b.
c.
Bất động, luôn luôn tự chủ.
Của
đức Phật, Ưu Ba Ly là đệ tử. P7c.
3/
a.
Về người không có sự cong quẹo, luôn luôn hài lòng,
Đã
tẩy sạch sự nhỏ nhen, khéo hỷ túc, P2a.
b.
Sau khi trở thành Sa-môn, vị ấy đạt giác ngộ,
Với
thân hiện tại là thân cuối cùng, đức Thế Tôn. P2b.
c.
Vô tỷ và không bụi bặm,
Của
đức Phật, Ưu Ba Ly là đệ tử. P2c.
4/
a.
Về con người không có ganh tị, vô lượng,
Sâu
xa khôn dò, đạt đến hiền trí, P4a.
b.
Luôn luôn an ổn và đầy nghị lực,
Trú
pháp, tư tưởng tế nhị, P4b.
c.
Được điều phục, luôn luôn không đùa,
Của
đức Phật, Ưu Ba Ly là đệ tử. P5c.
5/
a.
Về Ngài, một đại long tượng, thích ở cao, đã dập tắt
kiết sử, đã đạt giải thoát. P5a.
b.
Thiện xảo về đàm luận, thanh tịnh,
Trí
sanh, sầu ưu tẩy sạch, P5b.
c.
Không trở lại hữu, đấng Thích Ca,
Của
đức Phật, Ưu Ba Ly là đệ tử. P6c.
6/
a.
Về Ngài, người đã đi một cách chân chính, với tư tưởng
tập trung, không tán loạn, thanh tịnh. P8a.
b.
Luôn luôn mỉm cười, không sân hận,
Thích
độc cư, đã đạt đến cái tối thượng. P8b.
c.
Vô úy, luôn luôn nhiệt tâm và tinh cần,
Của
đức Phật, Ưu Ba Ly là đệ tử.
7/
a.
Về Ngài, bậc Đại tiên thứ bảy vô tỷ,
Với
ba sự chứng đắc, đã đạt đến Phạm thể, P6a.
b.
Không tỳ vết và thuần tịnh như một ngọn đèn sáng,
Đạt
đến an tịnh, chấm dứt sân hận,
c.
Tinh cần và hết sức thanh tịnh,
Của
đức Phật, Ưu Ba Ly là đệ tử.
8/
a.
Về Người đã đạt đến sự tịch tịnh, có trí tuệ như
đại địa,
có
đại tuệ, đã tẩy sạch sự chấp thủ thế gian, P9a.
b.
Sau khi khéo tư duy với con mắt tối thượng,
Một
siêu nhân vô tỷ, P10b.
c.
Một bậc thầy của chính mình, không sân hận,
Của
đức Phật, Ưu Ba Ly là đệ tử.
9/
a.
Về Người đã đoạn tận hy vọng, thiện tối thắng,
Người
lãnh đạo tốt, có sự làm chủ vô song, P3a.
b.
Tối thượng và luôn luôn an lạc,
Không
còn hoài nghi, với ánh sáng chói, P3b
c.
Với kiêu mạn đã được tẩy trừ, giác ngộ tối cao,
Của
đức Phật, Ưu Ba Ly là đệ tử. P3c.
10/
a.
Về con người mà khát ái đã đoạn tận, với sự giác ngộ
vô song, không có khói, không có lửa ngọn, P10a.
b.
Đức Như lai là đấng Thiện thệ,
Vô
song, vô tỷ,
c.
Có danh tiếng lớn, đã đạt đến sự chánh trực,
Của
đức Phật, Ưu ba ly là đệ tử. P10c
11/
a.
Như vậy với 100 lời, ông ta tán thán Phật,
Những
lời ấy chưa từng được suy tính trước.
b.
Ưu Ba Ly đã nói lên chúng,
Chư
thiên đã đến nơi ông ta,
c.
Khéo giúp ông ta trong cuộc thảo luận,
Phù
hợp với pháp, thích hợp với một người như vậy.
Kiền
Tử đã hỏi,
Đồ
đệ của đức Phật, đấng mười lực.
P56:
Bài kệ của Ưu Ba Ly gồm có 11 đoạn trong C và mười đoạn
trong P. Bản P bỏ đoạn thứ 11. Mỗi đoạn kệ chấm dứt
với cùng một điệp khúc : C: Của đức Phật, Ưu Ba Ly là
đệ tử =P: Của Ngài, đức Thế Tôn, tôi là đệ tử. Mặc
dù cả hai bài kệ giống nhau phần chính, chúng có nhiều điểm
khác nhau về thứ tự liên tiếp giữa các bài kệ, về vị
trí của những bài kệ làm thành toàn thể.
C1=P1;
C2=P7; C3=P2; C4a=P4a; C4b=P4b; C4c=P5c; C5a=P5a; C5b=P5b= C5c=P6c; C6a=P8a;
C6b=P8b; C6c=P không có; C7a=P6a; C7b=P không có; C7c=Pkhông có;
C8a=P9a; C8b=P10b, C8c=Pkhông có; C9a=P3a, C9b=P3b; C9c=P3c; C10a=P10a;
C10b=P không có; C10b=P 10c; C11=P không có.
Như
vậy C6c, C7b, C7c, C8c, C10b, C11 không có trong bản P và P4c, P6b,
P8c, P9c không có trong bản C.
Ngay
cả trong những bài kệ tương đương, bản C và P cũng có
nhiều khác nhau đáng kể. Như trong C1b, C: vô song=P: anighassa
(không khổ). Trong C1c, C: an ổn, bảo đảm (secure)=P: vessantarassa
(điềm tĩnh). Trong C2a, C: đạt đến sự thánh thiện =P: pattipattassa,
đã
đạt được cái gì có thể đạt. Trong C2b, C: không cao không
thấp=P: anabhinatassa (không thiên về dục, không sân).
Trong C3a, C: về Người không có sự cong quẹo(crookedness)=P:
akathankathissa (không hoài nghi); C: đã trừ khử tính hà
tiện=P: vantalokàmisassa (từ bỏ tài sản thế gian). Trong
C3b, C: Ngài đạt đến giác ngộ=P manujassa (của một con người);
C: đức Thế Tôn=P: narassa (về con người). Trong C4a, C: về
Người không ganh tị=P: nisabhassa (về con người tốt
nhất, bò đực tối thượng). Trong C4b, C: có nghị lực=P vedassa
(người hiểu biết); C: có suy nghĩ tế nhị=P: samvutattassa
(tự chế). Trong C4c, C: luôn luôn không đùa (always without sporting)
= P : nippapancassa (không chướng ngại). Trong C5a, C: về
ngài, một con rồng lớn = P: nagassa (về một con voi); C: ưa
thích ở chỗ cao=P: pantasenassa (sống xa chỗ con người).
Trong C5b, C: thiện xảo về thảo luận=P: patimantakassa
(người nói hòa nhã); C: sinh từ trí tuệ = P: pannadhajassa
(đã hạ cây cờ xuống); C: tẩy trừ sầu ưu = P: vìtaràgassa
(lìa tham dục). Trong C5c, C: người không trở lại cõi hữu=P:
purindadassa
(người bố thí tối thượng). Trong C6a, C: về người đã
đi một cách chân chính=P: sammaggatassa. Trong C6b, C: luôn
luôn mỉm cười=P: asitassa (không trói buộc), C: không
sân=P: appahìnassa (không thiên về bất cứ gì?). Trong
C7a, C: về vị trời thứ bảy=P: isisattamassa
(bậc hiền
thứ bảy); C: không thể so sánh=P: akuhassa (không giả
dối). Trong C8a, C: với trí tuệ như đại địa=P:
Bhùripannassa
(có trí tuệ quảng đại). Trong C8b, C: sau khi khéo tư duy=P:
àhuneyyassa (đáng cúng dường); C: có con mắt tối thượng=P:
yakkhassa (của dạ xoa). Trong C9a, C: về Người đã đoạn
trừ hi vọng=P: asamsayassa, of Him who is sure(?); C: lãnh
đạo tốt=P: venayikassa (lãnh đạo). Trong C9c, C: có giác
ngộ tối thượng=P: virassa (anh hùng, người có nghị
lực). Trong C10c, C: có đại danh=P:
mahato (người vĩ đại);
C: đã đạt đến sự chính trực = P: yasaggapattassa (đã
đạt đến danh tiếng tối cao).
Trong
những bài kệ tương đương, những bài còn lại gần giống
nhau.
Nhận
xét: Sự hiện hữu của từ thuộc dạ xoa trong
câu kệ 10b của bản P thật khó hiểu. Không thể nào gọi
Phật là một dạ xoa, nhất là trong một bài kệ ca tụng Ngài.
Bản C dịch người có mắt sáng nhất đã đưa ra giải
đáp. Nguyên bản Sanskrit có lẽ là danh từ Aksasya, có
nghĩa là con mắt. Tiếng Pàli yakkhassa rõ ràng đã thêm
chữ "y" ở trước cho dễ đọc như ta thường thấy trong các
câu na yimassa, yaci yeva, kinci, yittham, v.v..
Trong
NC96, bài kệ bản C và bài kệ tương đương trong bản P được
nói như sau:
C180:
=P143:
Đức
Phật đọc một bài kệ sáu câu trong bản C và năm câu trong
bản P:
1)
C: Người tinh cần bố thí cho người bất cẩn một món quà
có được phù hợp với chánh pháp, với một tâm hoan hỷ.
Vị ấy tin vào nghiệp và quả báo của nghiệp, nên sự cúng
dường này được thanh tịnh bởi người cho.
P:
Gần giống. C: tinh cần=P: có thiện giới. C:bất cẩn=P: có
ác giới. C: vị ấy tin vào nghiệp và quả báo của nghiệp=P:
vị ấy tin chắc vào quả báo dồi dào của nghiệp.
2)
C: Người bất cẩn bố thí cho người tinh cần một món quà
có được không phù hợp với chánh pháp và cũng không bố
thí với tâm hân hoan, vị ấy không tin vào nghiệp và quả
báo của nghiệp, như vậy sự cúng dường này được thanh
tịnh bởi người nhận.
P:
Gần giống, với những dị biệt như trên.
3)
C: Người biếng nhác bố thí cho người bất cẩn một món
quà có được không hợp pháp và cũng không với tâm hoan hỷ;
vị ấy không tin vào hành động và quả báo của hành động,
như vậy sự cúng dường này không có quả báo lớn lao.
P:
Gần giống, với những dị biệt như trên. C: không có quả
báo lớn=P: không được thanh tịnh bởi cả hai bên, người
cho và người nhận.
4)
C: Người tinh cần bố thí cho người tinh cần một món quà
có được hợp pháp nhưng không với tâm vui vẻ, vị ấy tin
vào nghiệp và quả báo của nghiệp; như vậy sự cúng dường
này có quả báo lớn.
P:
Như trên, với những dị biệt như đã thấy.
5)
C: Những tôi tớ và người nghèo, những người vui vẻ, san
sẻ phần mình để góp vào việc bố thí, họ tin vào nghiệp
và quả báo của nghiệp, như vậy một vật thí được bậc
trí tán dương.
P:
không có.
6)
C: Với thân và lời khéo hộ trì một cách chân chính; đưa
tay ra xin hợp pháp, một người thiểu dục bố thí cho một
người thiểu dục, quà tặng này là tối thượng.
P:
Không giống hẳn: Một người không chấp thủ bố thí cho
một người không chấp thủ một món quà có được hợp pháp
với một tâm hoan hỷ, tin chắc vào quả báo giàu có của
hành vi, ta nói quà tặng này có lợi ích lớn.
Như
vậy, một tổng quan về nghiên cứu tỷ giảo các bài kệ
trong hai bản kinh C và P cho ta thấy, bản C có nhiều kệ hơn
bản P, và những bài kệ trong C thường dài hơn P. Chúng ta
cũng nhận thấy rằng nền tảng chung giữa hai bản khá lớn.
Và điều này nói lên một nguồn chung từ đấy cả hai bản
rút tài liệu. Khi nghiên cứu kỹ những bài kệ tương đương
trong hai bản, ta thấy có nhiều điểm đồng và dị, và điều
này cho thấy thái độ độc lập của các nhà biên tập hai
bản kinh, về phương diện sưu tầm và sắp xếp các tài liệu.