CHƯƠNG
V: ĐỨC PHẬT
1. Tường
thuật về đời đức Phật:
Trong
NC22, đức Phật có tự thuật cuộc đời của mình cho Tôn
giả A Nan:
a) Xuất
gia:
C204:
(vii, 74a,12-13): "Khi ta chưa đạt giác ngộ tối thượng và
hoàn toàn, tư tưởng này khởi lên nơi ta: 'Ta phải bị bệnh,
tại sao ta lại điên rồ đi tìm cái cũng bệnh; ta bị già,
chết, sầu, ưu, não, ô nhiễm, tại sao ta điên rồ đi tìm
cái cũng già, chết, sầu, ưu, não, ô nhiễm? Sao ta không đi
tìm cái không bệnh, sự an ổn tối thượng, Niết-bàn, đi
tìm cái không già, không chết, không sầu, không não, không
ô nhiễm, cái an ổn tối thượng, Niết-bàn?' "
P26:
Gần giống. C: Khi ta chưa đạt đến giác ngộ hoàn toàn và
tối thượng = P: Trước khi ta giác ngộ, khi ta chưa thành Phật,
đang còn là Bồ-tát. Ở đây bản C bỏ danh từ Bồ-tát. C:
phải bị già, chết, sầu, ưu, não, ô nhiễm = P: phải bị
sinh, già, bệnh, chết, ô nhiễm.
C:
(74a, 13-15): "Ta vào lúc ấy, trong tuổi thanh xuân là một thanh
niên hoàn toàn trẻ trung, tóc xanh, khỏe mạnh, 29 tuổi, hưởng
lạc thú, sống sung túc, mặc dù lúc ấy cha mẹ ta than khóc
và thân quyến ta không vui lòng, không sung sướng, ta vẫn cạo
râu tóc để đắp cà sa, vì lòng tin đã từ bỏ gia đình,
sống không gia đình để học pháp."
P:
(163, 27-31): Gần giống. Bản P bỏ: trong sự trong sáng của
tuổi trẻ, 29 tuổi, hưởng lạc thú, sống sung túc, thân quyến
không vui vẻ và hạnh phúc, vì lòng tin học pháp. Nó thêm:
ngược lại ước muốn của cha và mẹ.
b) Học
đạo với hai bậc hiền nhân: Học với Àlàra Kàlàma
C:(74a,
15-20): "Ta tuân giữ sự trong sạch của thân, lời và ý. Sau
khi hoàn toàn thanh tịnh thân, ta muốn đi tìm cái vô bịnh...
vô thượng an ổn, Niết-bàn. Rồi ta đến Àlàra Kàlàma và
hỏi: 'Àlàla, tôi muốn sống đời phạm hạnh dưới giáo
pháp của Ngài, có thể được hay không?'
Àlàra
đáp: 'Thưa Ngài đối với tôi, không có gì là không thể.
Nếu Ngài muốn tu tập, xin hãy làm.' Rồi ta hỏi: 'Àlàra,
thế nào là pháp mà Ngài đã biết, đã thấy và đã chứng?'
Àlàra trả lời : 'Thưa Ngài, tôi đã vượt qua tất cả cảnh
giới của thức, chứng và trú vô sở hữu. Đấy là pháp
mà tôi đã biết, đã thấy và đã chứng.' Ta lại nghĩ: 'Không
chỉ một mình Àlàra mới có đức tin như vậy, ta cũng có
đức tin như vậy. Không chỉ một mình Àlàra có tin tấn như
vậy, mà ta cũng có tinh tấn ấy. Không chỉ một mình Àlàra
có tuệ như vậy, ta cũng có tuệ ấy. Àlàra đã biết đã
thấy và đã chứng pháp này bằng tự mình.' Vì ta muốn chứng
pháp ấy, ta độc cư ở một nơi yên tịnh, vắng vẻ, xa xôi,
tâm ta không xao lãng mà tỉnh giác, nỗ lực thiền định.
Cứ thế, nhờ độc cư tại một nơi yên tịnh, vắng vẻ,
tâm ta không xao lãng mà tỉnh giác, nỗ lực thiền định,
chẳng bao lâu ta chứng được pháp ấy. Sau khi ta chứng được
pháp ấy, ta đến Àlàra và hỏi: 'Àlàra, có phải pháp mà
Ngài đã biết, đã thấy và đã chứng là vượt trên tất
cả cảnh giới của thức, đạt đến vô sở hữu xứ và
an trú trong đó?' Àlàra trả lời: 'Thưa Tôn giả, chính pháp
ấy tôi đã biết, đã thấy và đã chứng....' Àlàra lại
nói với ta: 'Thưa Tôn giả, pháp mà tôi đã chứng Ngài cũng
đã chứng. Pháp mà Ngài đã chứng, pháp ấy tôi cũng đã
chứng. Thưa Tôn giả, Ngài đến đây, ta cùng lãnh đạo đoàn
nhóm này.' Địa vị của Àlàra là bậc thầy, ta cũng ngang
hàng với ông, được sự cúng dường, tôn kính, hạnh phúc
tối thượng. Khi ấy ta lại nghĩ: 'Pháp này không đưa đến
trí tuệ, giác ngộ, Niết-bàn. Bây giờ ta nên từ bỏ pháp
ấy để đi tìm cái không bệnh ... sự an ổn tối thượng,
Niết-bàn.' Rồi ta từ bỏ pháp ấy và đi tìm cái không bệnh,
vô thượng an ổn, Niết-bàn."
P:
(163, 31-37; 164; 165, 1-14): Cũng gần giống. C: Ta an tịnh thân
hành: ... Niết-bàn = P : Như vậy sau khi xuất gia, người đi
tìm cái gì có công đức, đi tìm con đường vô thượng an
ổn. C: Không gì là bất khả đối với tôi; nếu ngài muốn
tu tập thì hãy tu = P: Xin Tôn giả hãy an trú trong đó; pháp
này một người có trí tuệ chẳng bao lâu tự mình chứng
đắc, chứng ngộ, sẽ chứng đạt và an trú trong đó. Bản
P thêm một đoạn đức Phật kể lại làm thế nào Ngài đã
nắm vững pháp mà Àlàra Kàlàma đã khai thị, trên phương
diện môi mép, như giải thích và tụng đọc. Như những người
khác, ngài đã biết lý thuyết về trí tuệ, lý thuyết của
các bậc trưởng lão. C: Ta lại nghĩ: "Pháp này không đưa
đến yểm ly, ly dục, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác
ngộ, Niết-bàn; mà chỉ đưa đến sự chứng đắc vô sở
hữu." Phần còn lại cũng gần giống nhau.
c) Học
với Uddaka Ràmaputta:
C:(74b,5-15)=P(165,
15-37; 166,1-34): Đoạn này cũng gần như đoạn trước trong
cả hai bản C và P, thay bằng tên Uddaka Ràmaputta và thay vô
sở hữu xứ bằng phi tưởng phi phi tưởng xứ.
d) Giác
ngộ:
C:(74b,
15-20): "Rồi ta từ bỏ pháp ấy để đi tìm cái không bệnh......Niết-bàn.
Ta đi đến phía nam ngọn núi Hsiang ting, đến làng những người
Bà-la-môn Yu-pei-lo tên gọi Ssuna. Ở giữa làng có một nơi
khả ái, có rừng xanh và con sông Ni Liên nước trong trẻo
chảy tràn bờ. Khi ta thấy mặt đất này ta nghĩ: 'Đất này
thật khả ái, khả lạc, với rừng xanh và con sông trong trẻo
chảy tràn bờ. Nếu có thiện gia nam tử nào muốn học pháp,
vị ấy thật nên học pháp tại đây. Ta cũng muốn học pháp,
vậy nay ta nên học pháp tại nơi này'. Rồi ta lấy một ít
cỏ, đi đến cây Bồ đề, trải ra, rồi trải tọa cụ ngồi
kiết già, lập lời nguyện không rời khỏi chỗ nếu chưa
đạt đến sự tận trừ lậu hoặc. Ta đi tìm cái không bệnh,
tìm sự an ổn tối thượng Niết-bàn... và ta đạt đến cái
không già, không chết, không sầu, bi, khổ, không lỗi lầm,
sự an ổn tối thượng, Niết-bàn. Trí sanh, minh sanh, định
đạo phẩm pháp (chữ nho); sanh đã tận, phạm hạnh đã
thành, những gì nên làm đã làm xong, không còn hữu. Chân
thật là tri kiến ta."
P:
(166,35-37): Không giống hẳn. Bản P bỏ phía nam núi Hương,
nhưng thêm Ma Kiệt Đà. Ở đây bản C đã lầm chữ Gayaø
với chữ Gaja. C: Yu-Pei-lo, một làng Bà-la-môn tên
gọi Ssuna = P: Uruvelà Senànigamo. Ở đây địa điểm
này được mô tả là một nơi khả ái, một khu rừng êm ả,
dòng sông chảy trong, dễ đến, khả ái, có những khu làng
vây quanh, thích hợp để khất thực. Bản P bỏ: (*) Ta lấy
một ít cỏ đi đến cây Bồ đề... cho đến sự diệt trừ
lậu hoặc.
(*)
được tìm thấy trong Nidanakatha thuộc Bản sanh truyện).
C:
Định
đạo phẩm pháp=P: Akuppà me vimutti (giải thoát bất
động). Phần còn lại cũng giống nhau.
e) Do
dự không muốn giảng pháp:
P:
(167,168,169): Đoạn kinh dài này không có trong bản C (trong đó
đức Phật sau khi thành đạo đã ngần ngại không giảng pháp
vì hữu tình bị chìm đắm trong dục lạc và vô minh; chỉ
sau khi Phạm vương cầu thỉnh, đức Phật mới quyết định
chuyển bánh xe pháp).
f) Quyết
định giảng pháp:
C:(74b,20):
"Khi ta mới đạt Vô thượng bồ đề, tư tưởng này khởi
lên nơi ta: 'Ta sẽ giảng pháp cho ai trước tiên?' Rồi ta lại
nghĩ: 'Ta nên giảng pháp trước tiên cho Àlàra.' Lúc ấy một
vị thiên đứng trên hư không nói với ta rằng: 'Hỡi bậc
đại tiên, Ngài nên biết rằng Àlàra đã chết bảy ngày
trước đây.' Ta cũng biết rằng Àlàra đã chết bảy hôm
trước. Rồi ta lại nghĩ: 'Thật là một mất mát lớn cho
Àlàra đã không nghe được pháp này. Nếu nghe được pháp
này, ông sẽ nhanh chóng hiểu và thâm nhập.' Khi ta mới đạt
Vô thượng bồ đề, tư tưởng này khởi lên nơi ta: 'Ta nên
giảng pháp cho ai đầu tiên?' Rồi ta lại nghĩ: 'Ta nên trước
hết giảng cho Uất Đầu Lam Phất'. Rồi một vị thiên đứng
trên hư không bảo ta: 'Hỡi bậc đại tiên, Ngài nên biết
rằng Uất Đầu Lam đã chết 14 ngày.' Ta cũng biết Uất Đầu
Lam đã chết 14 ngày.Rồi ta nghĩ: 'Thực là mất mát lớn cho
Uất Đầu Lam đã không nghe được pháp này. Nếu nghe được,
ông ta sẽ nhanh chóng hiểu và thâm nhập.' Khi ta vừa đạt
giác ngộ, tư tưởng này khởi lên nơi ta: 'Ta nên giảng pháp
cho ai đầu tiên?' Rồi ta lại nghĩ: 'Ngày xưa năm vị Tỳ-kheo
đã phục vụ ta rất chu đáo, đã giúp đỡ ta rất nhiều.
Khi ta còn thực hành khổ hạnh, những vị này hầu hạ ta.
Bây giờ ta nên giảng pháp trước tiên cho năm vị này.' Rồi
ta lại nghĩ: 'Ở đâu những vị này hiện giờ đang sống.'
Rồi với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, ta thấy năm vị
Tỳ-kheo đang ở Ba La Nại, chỗ ở của chư thiên tại vườn
Nai. Ta ở dưới cây bồ đề cho đến thỏa thích, rồi sửa
soạn y bát để đi đến Ba La Nại, đến thị trấn Ca Thi."
P:
(169;170): Gần giống. Bản P bỏ: Khi ta mới đạt vô thượng
bồ đề........ Ta sẽ giảng pháp này cho ai đầu tiên. Nhưng
thêm : Ai sẽ hiểu pháp này một cách nhanh chóng. Và nó cũng
thêm một vài chi tiết về Àlàra: "Ông ấy đa văn, có kinh
nghiệm, thông minh, ít lỗi". C: Hỡi bậc đại tiên=P: thưa
Tôn giả. C: Uất Đầu Lam đã chết hai tuần trước=P: Ông
đã chết hôm qua (abhidosa).
g) Gặp
Yuto (P: Upako):
C:(75a,
8-16)=P(170,33-37,171, 1-17):
Vào
lúc ấy một tín đồ của ngoại đạo tên Yuto thấy ta từ
xa đến, đã nói với ta: "Thưa Cồ Đàm, các căn của Ngài
thật thanh tịnh, màu da của Ngài sáng sủa, gương mặt của
Ngài tỏa ra ánh sáng. Thưa Cồ đàm, ai là thầy của Ngài?
Ngài học pháp với ai? Ngài tin vào pháp gì?" Khi ấy ta trả
lời choYuto với những bài kệ này: Trong bản C chỉ có 4 bài
kệ đức Phật trả lời cho Yuto. Trong bản P có đến năm
bài kệ, tương đương với bản C như sau: C1=P1, C2=P2 và P3,
C3=P5, C4=P4.
C1=P1:
Bản
C:
Ta
là tối thượng, bậc chiến thắng tất cả.
Không
thủ trước bất cứ pháp gì;
Tất
cả tham ái đã được đoạn tận, đã giải thoát.
Ta
tự ngộ, còn ai có thể là thầy ta?
P:
Ta
là đấng chiến thắng, nhất thiết trí;
ta
không bị nhiễm trước tất cả pháp.
Tất
cả đã được ta từ bỏ, giải thoát, với sự đoạn tận
tham ái.
Ta
là người tự ngộ. Ta còn phải theo ai?
C2=P2
và P3:
C:
Ta là đấng vô sanh, không ai vượt hơn ta, ta tự chứng vô
thượng bồ đề, Như lai là bậc thầy của trời và người,
ta là đấng Nhất thiết trí. Ta có năng lực, có uy lực.
P:
Đối với ta không có thầy, không thể tìm thấy người ngang
hàng với ta, trong thế giới này với chư thiên, không ai có
thể sánh bằng ta. Ta là đấng tối thắng trên thế gian; là
bậc thầy tối thượng. Một mình, ta chứng đắc toàn giác.
Ta mát mẻ và an tịnh.
C3=P5:
C:
Ta là đấng chiến thắng tất cả hữu. Điều này có nghĩa
rằng tất cả lậu hoặc ta đã đoạn tận. Ta đã phá hủy
tất cả các pháp bất thiện. Này Yuto, chính vì thế ta là
đấng chiến thắng.
P:
Những người giống như ta là những đấng chiến thắng, đã
đạt đến sự đoạn tận lậu hoặc. Ta đã chinh phục tất
cả các bất thiện pháp. Bởi thế này Upaka, ta là một đấng
chiến thắng.
C4=P4:
C
: Ta đi đến thành Ba La Nại để gióng lên tiếng trống cam
lồ toàn hảo, để quay bánh xe pháp chưa từng quay trên thế
gian này.
P:
Ta đi đến đô thị Kàsì để quay bánh xe pháp, đánh trống
bất tử trong thế gian bị mù lòa.
Khi
ấy Yuto nói: "Hiền giả, mong được là như vậy." Nói xong
anh ta bỏ đi qua một ngỏ rẽ.
h) Cảm
hóa năm Tỳ-kheo:
C:(75a,
14-20; 74b, 1-5): "Khi ấy ta tự mình đi đến trú xứ của chư
thiên ở trong vườn Nai. Vào lúc ấy năm Tỳ-kheo khi trông
thấy ta từ xa, đã làm quyết định như sau:
'Chư
hiền nên biết, Sa-môn Cù Đàm đang đi đến, người này đầy
dục vọng, đầy khao khát, ăn uống xa xỉ, ưa thích cơm chiên
và gia vị, mật, dùng dầu mè để thoa chà thân thể. Nay ông
ta lại đến. Chư hiền hãy ngồi yên đừng đứng dậy chào
hỏi, cũng không đảnh lễ ông ta. Một chỗ ngồi được soạn
riêng cho ông ta, nhưng đừng mời ông ta ngồi xuống. Khi ông
ta đi đến thì nên nói: 'Nếu muốn ngồi thì cứ ngồi.' Khi
ta đến trú xứ của năm Tỳ-kheo, năm vị Tỳ-kheo không thể
chịu nổi uy lực của công đức ta. Họ đứng dậy khỏi
chỗ ngồi. Người thì cầm lấy bát của ta, người trải
tọa cụ, người thì bưng nước cho ta rửa chân. Khi ấy ta
nghĩ: 'Tại sao những người ngu này không giữ vững ý định
của mình mà lại làm trái với những gì trước đây chúng
đã quyết định?' Khi ấy năm Tỳ-kheo gọi ta bằng tộc tánh
và danh từ "Tôn giả". Ta bảo họ: 'Hỡi năm Tỳ-kheo, ta là
Như lai đã hoàn toàn giải thoát và giác ngộ. Các ngươi không
nên gọi ta bằng tộc tánh và bằng danh từ Tôn giả. Tại
sao? Vì ta đã đi tìm cái không bệnh... tri kiến của ta chân
thật.' Họ nói với ta: 'Thưa Cồ Đàm, trước đây Ngài đã
sống một cuộc đời như vậy, đã tu hành phạm hạnh như
vậy, trải qua khổ hạnh như vậy mà Ngài đã không thể đạt
được những pháp thù thắng thuộc thế gian thấp kém hơn
tri kiến bậc thánh. Thế thì làm sao bây giờ Ngài có thể
đạt được, khi Ngài đầy những dục vọng khao khát; ăn
đồ ăn thức uống sang trọng, thức ăn gạo thơm và cơm chiên
với đồ gia vị, mật, dầu mỡ, dầu mè để thoa chà thân
thể.' Khi ấy ta trả lời : 'Hỡi năm Tỳ-kheo, ngày xưa, các
ông có thấy ta có được các căn thanh tịnh, chói sáng như
ta hiện giờ hay không?' Năm Tỳ-kheo lại đáp: 'Trước đây
chúng tôi không thấy Ngài có các căn thanh tịnh, chói sáng.
Nhưng thưa Cồ Đàm, bây giờ các căn của Ngài thật thanh
tịnh, làn da Ngài chói sáng, và gương mặt Ngài đầy ánh
sáng.' "
P:(171,
172, 173): Gần giống. C: đầy dục vọng, đầy khao khát....
thoa chà thân thể = P: vị ấy sống trong sự thừa thãi, đã
từ bỏ nỗ lực tinh cần, đã trở về với đời sống sung
mãn. Bản P bỏ: Khi ấy ta nghĩ, tại sao những người ngu này
không giữ vững ý định của họ, mà làm trái lại những
gì trước đấy họ đã quyết định.
Câu
trả lời của đức Phật hơi khác: "Này các Tỳ-kheo, đừng
gọi Như lai bằng tên, hay bằng Tôn giả. Hỡi các Tỳ-kheo,
Như lai là đấng đã hoàn toàn chân chánh giác ngộ. Hãy nghe
kỹ, cái bất tử đã được tìm thấy. Ta sẽ giáo giới,
giảng pháp, nếu các ông thực hành phù hợp với những gì
ta khuyến cáo thì không bao lâu các ông sẽ thấy được, chứng
đạt được ngay hiện tại và an trú trong mục đích tối
thượng của đời sống phạm hạnh, vì mục đích ấy mà
những thiện gia nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình sống
không gia đình."
C:
Thế thì làm sao nay ngài có thể đạt được khi bây giờ
ngài sống đầy đủ sung túc... thoa chà thân thể? =P: Bây
giờ Ngài sống trong sự sung túc, đã từ bỏ nỗ lực tinh
cần, đã trở về với đời sống sung túc, thì làm sao Ngài
đạt được pháp tối thượng, tri kiến chân chính đặc biệt
của bậc thánh?
C:
Khi ấy ta trả lời: "Hỡi năm Tỳ-kheo, ngày xưa các ông có
thấy ta có được căn thanh tịnh, đầy ánh sáng"=P: không
giống. Trước hết Ngài phủ nhận đã sống một đời sung
mãn, đã từ bỏ nỗ lực như năm vị Tỳ-kheo cáo buộc. Rồi
Ngài dạy rằng Ngài là Như lai, đã hoàn toàn giác ngộ...
vì mục đích ấy mà những thiện gia nam tử đã chân chánh
từ bỏ gia đình sống không gia đình. Năm vị Tỳ-kheo lập
lại lời cáo buộc của họ ba lần. Rồi Ngài hỏi năm vị
Tỳ-kheo họ có nghe Ngài nói như vậy trước kia không. Khi
họ trả lời không, Ngài lập lại một lần nữa lời nói
trước, và cuối cùng thuyết phục được các Tỳ-kheo.
i) Phật
thuyết pháp cho năm Tỳ-kheo:
C:(75b,
5-10) : "Này hỡi năm Tỳ-kheo, các người nên biết: Có hai
cực đoan mà những người tu hành không nên theo, một là đam
mê dục lạc thấp kém, tầm thường, như người thế tục
thường làm; hai là ép xác khổ hạnh, tự hành khổ, điều
mà các bậc hiền thánh không làm, điều không có ý nghĩa
(lợi lạc). Này năm Tỳ-kheo, có con đường trung đạo tránh
xa hai cực đoan này, con đường này sẽ đem lại tri kiến,
trí tuệ, sự tập trung, sự làm chủ hoàn toàn, đưa đến
tri kiến, giác ngộ, Niết-bàn. Con đường này gọi là Thánh
đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đây gọi là Thánh
đạo tám ngành. Bây giờ ta muốn tuần tự giảng dạy năm
Tỳ-kheo. Ta dạy hai Tỳ-kheo, ba vị kia đi khất thực về đủ
ăn cho cả sáu người. Rồi ta giảng dạy cho ba Tỳ-kheo, hai
vị kia đi khất thực, đủ ăn cho cả sáu. Như vậy ta đã
giáo giới chúng, cải hóa chúng, đi tìm cái bất tử... Họ
đã đạt đến tri kiến chân thực."
P:(173,
2-20): Không có sự bắt đầu của việc chuyển pháp luân trong
bản P. Phần còn lại cũng giống nhau.
2. Những
đặc tướng của đức Phật:
Trong
NC78, bản C kể ra 24 đức tính kỳ diệu của đức Phật,
nhưng bản P chỉ kể 19. Các đức tính tương đương trong
hai bản như sau: C2=P1; C3=P3; C4=P4 và P5; C8=P19; C10=P16; C11=P15;
C12=P18; C14=P17. Bản P bỏ: C1, C5, C6, C7, C9, C13, C15, C16, C17,
C18, C19, C20, C21, C22, C23, C24. Bản C bỏ: P2, P6, P7, P8, P9, P10,
P11, P12, P13, P14.
C1=P
không có:
C32:
Tôi (Tôn giả A Nan) nghe vào thời Phật Ca Diếp, Thế Tôn đã
phát nguyện thành Phật và khởi sự tu phạm hạnh. Điều
này tôi chấp nhận là một trong những đức tính kỳ diệu
của Thế Tôn.
C2=P1:
C:
(43b,9): Tôi nghe rằng vào thời đức Phật Ca Diếp, đức Thế
Tôn sau khi đã phát nguyện thành Phật và tu phạm hạnh, đã
sinh vào cõi trời Đâu Suất. Điều này tôi chấp nhận là
một đức tính kỳ diệu của Thế Tôn.
P123:
Tôn giả A Nan nói rằng, ngài đã nghe và đã được biết
trực tiếp từ nơi đức Thế Tôn rằng Bồ-tát sinh trong cõi
trời Đâu Suất, chánh niệm và hoàn toàn tỉnh giác. Điều
này ngài xem là một đức tính kỳ diệu của Thế Tôn.
Nhận
xét:
Bản
P bỏ không nói đến Phật Ca Diếp. Các truyền thống thường
nói rằng Phật phát nguyện với đức Phật Nhiên Đăng. Ở
đây bản C bỏ danh từ Bồ-tát.
C3=P3:
C:(44a,
2-6): Những lời của Tôn giả A Nan giống nhau trong tất cả
những đức tính kỳ diệu, chỉ khác về đề mục. Ở đây
có nói đến sự vui mừng của chư thiên vì sau khi đức Phật
sinh vào cõi trờiĐâu Suất, thì có ba việc thù thắng hơn
trước khi Ngài sinh: thọ mạng của chư thiên, dung sắc của
chư thiên, tiếng tăm của chư thiên.
P:(119):
Chỉ nói Bồ-tát ở trong cung trời Đâu Suất cho đến hết
thọ mạng.
C4=P4
và P5:
C:
(44a, 6-11): Khi đức Thế Tôn từ cung trời Đâu Suất đi vào
mẫu thai thì toàn thể trời đất rung chuyển và một luồng
ánh sáng chói lọi chiếu khắp thế gian, đến tận những
góc u tối. Những nơi mà mặt trời mặt trăng mặc dù có
đại oai thần lực cũng không chiếu tới, thì ánh sáng này
chiếu đến được. Chúng sinh ở những nơi ấy nhờ ánh sáng
này mà biết được rằng đã có những chúng sinh kỳ diệu
được tái sinh tại đấy.
P:
(119): Gần giống. Trong P4, Bồ-tát chánh niệm tỉnh giác, từ
cung trời Đâu Suất đi xuống nhập mẫu thai. Trong P5, nói
đến sự xuất hiện của ánh sáng quang vinh này. Ở đây bản
P thêm rằng, ánh sáng chói lọi này vượt hơn cả quy luật
của chư thiên. C: khắp thế giới = P: xuất hiện trong thế
giới với chư thiên, ma, phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, trời, người.
Bản P thêm rằng, 10,000 thế giới hệ rung chuyển.
C5=P
không có:
C:(44a,
11-12): Đức Thế Tôn ở trong mẫu thai nằm nghiêng bên hông
phải.
C6=P
không có:
C:(44a,
12): Ở trong mẫu thai, đức Thế Tôn có thân hình duỗi ra.
C:7=P
không có:
C:(44a,
12-14): Trong mẫu thai, đức Thế Tôn không bị dính máu mủ
và các chất dơ dáy.
C8=P19:
C:
(44a, 14-18): Khi đức Thế Tôn ra khỏi mẫu thai, thì có sự
chấn động và ánh sáng chói chang (như trong C4).
P:
(123): Như số 4 trên, cũng những khác biệt như vậy.
C9=P
không có:
C:
(44a, 18-19): Đức Thế Tôn ra khỏi mẫu thai với thân thể
duỗi ra.
C10=P16:
C:
(44a, 19-20): Khi ra khỏi mẫu thai, Ngài không bị dính máu mủ
và những chất dơ.
P:
(122): Gần giống. Bản P thêm ẩn dụ một viên ngọc minh châu
đặt trên hàng Ba La Nại. Cả hai đều trong sáng, không vấy
bẩn.
C11=P15:
C:(44a,
20): Khi đức Thế Tôn sinh ra, có bốn vị thiên vương, tay
cầm vải mềm đứng trước mặt người mẹ, làm cho bà vui
mừng với lời rằng hài nhi thật tuyệt diệu, có đại oai
thần lực, có sức mạnh và công đức lớn.
P122
: Gần giống, thêm rằng: Bồ-tát không chạm đất. Bỏ: Với
vải mềm trong tay. Trong khi bản C nói bốn vị thiên vương
đứng trước mặt bà mẹ, bản P nói bốn vị thiên đặt
Bồ-tát trước mặt bà mẹ. C: Một đứa trẻ kỳ diệu có
đại oai thần lực ...= P: Hài nhi mà bà sinh ra đầy oai lực.
C12=P18:
C:
(44b,2-4): Khi đức Thế Tôn vừa mới sinh, Ngài đã đi bảy
bước, dạn dĩ, vô úy, và đi khắp bốn phương.
P:
(123): Với nhiều chi tiết hơn. Trong khi Ngài đi bảy bước,
một chiếc lọng trắng được trao cho Ngài, và Ngài tuyên
bố với giọng nói của một ngưu vương rằng Ngài là chúa
tể tối thượng trong tất cả thế gian. Đây là đời sống
cuối cùng của Ngài, không còn hữu nào khác. Bản P thêm:
đứng trên hai chân vững vàng, mặt hướng về phương bắc.
C13=P
không có:
C:
(44b,4-5): Khi đức Thế Tôn được sinh ra, có một cái hồ
lớn hiện ra trước mặt bà mẹ với nước tràn bờ để
cho bà có thể dùng để tắm rửa.
C14=P17:
C:
(44b,5-6): Khi đức Thế Tôn vừa sinh ra, trời mưa xuống hai
dòng nước, một ấm một lạnh, để tắm rửa thân thể đức
Thế Tôn.
P:
(123): Gần giống. Nó thêm rằng nước ấy dùng để tắm rửa
cho cả bà mẹ.
C15=P
không có:
C:
(44b,6-9): Khi đức Thế Tôn vừa sinh ra, chư thiên trên trời
trỗi thiên nhạc và rải trên đức Thế Tôn những hoa sen
xanh của cõi trời, sen hồng, sen đỏ, sen trắng, những hoa
mạn đà la và bột trầm hương.
C16=P
không có:
C:
(44b,9-14): Một ngày kia vua Bạch Tịnh đang ngắm cảnh cày
bừa và đức Thế Tôn được đặt dưới gốc cây Diêm phù;
đức Thế Tôn nhập sơ thiền ly dục ly bất thiện pháp, với
tầm với tứ, với hỷ lạc do ly dục sanh. Về chiều, bóng
cây Diêm phù vẫn bất động trên lưng đức Thế Tôn, che
nắng cho Ngài. Khi đức vua đi tìm con đã chứng kiến phép
lạ này của cây Diêm phù và thốt lên lời tán thán.
C17=
P không có:
C:
(44b,14-19): Một ngày kia tại Tỳ Xá Ly, đức Thế Tôn sau khi
khất thực ăn xong, để tọa cụ lên vai đi vào rừng, đến
cây Tà la trải tọa cụ ngồi thiền, về chiều bóng của
tất cả các cây khác đã di chuyển, nhưng bóng cây Ta la vẫn
bất động trên thân Thế Tôn, che cho người. Một Ngài dòng
họ Thích Ca tên là Mahayana đi vào rừng, chứng kiến phép
lạ ấy của cây Tà la. Thật kỳ diệu thay.
C18=P
không có:
C:
(44b,19-20): Một thời đức Thế Tôn ở tại Tỳ Xá Ly trong
khu rừng lớn. Vào lúc ấy các Tỳ-kheo đặt bát khất thực
của họ ra giữa trời. Một con khỉ đi đến lấy bình bát
của Thế Tôn đi mất. Các Tỳ-kheo muốn ngăn khỉ lại vì
sợ bát bị bể, nhưng đức Thế Tôn bảo họ đừng lo. Con
khỉ cầm bát, từ từ leo lên một cây cao, chứa một bát
đầy mật, rồi từ từ leo xuống dâng bát mật ấy cho đức
Thế Tôn, nhưng Ngài từ chối. Rồi con khỉ lấy một cây
gậy bắt hết những con sâu trong mật, và dâng đức Thế
Tôn nhưng Ngài cũng từ chối. Khi ấy con khỉ đổ thêm nước
vào trong mật và dâng đức Thế Tôn, bấy giờ Ngài mới nhận
của cúng dường.
C19=P
không có:
P:
(45a,14-7): Một thời tại Tỳ Xá Ly trên bờ sông Di Hầu, đức
Thế Tôn đang phơi khô chiếc tọa cụ và giũ sạch nó trên
sân thượng của một tòa lầu. Vào lúc ấy, có một đám
mây bất thường kéo đến bao phủ bầu trời sắp đổ xuống
một trận mưa lớn. Nhưng đám mây thấy đức Thế Tôn đang
đập phơi chiếc tọa cụ của Ngài, nó dừng lại và đợi
đức Thế Tôn làm xong. Khi ấy đám mây mới đổ mưa xuống
tràn đầy những bậc cấp bên dưới.
C20=P
không có:
C:
(45a,17-10): Một thời đức Thế Tôn ở Po-chi, trong rừng suối
nước nóng, ngồi dưới gốc một cây Sa la vương. Vào lúc
ấy đang xế chiều, bóng của tất cả cây khác đều di chuyển,
nhưng bóng cây Sa la vương không di chuyển khỏi chỗ ngồi
của đức Thế Tôn. Người chủ vườn Lama chứng kiến phép
lạ này nên thốt lên những lời tán thán việc hiếm có.
C21=P
không có:
C:(45a,11-17)
: Một thời đức Thế Tôn ở lại nhà của A-fu-sheng. Sau khi
đi khất thực về ăn xong và thu dọn y bát, Ngài trải tọa
cụ ngồi thiền trong nhà A-fu-sheng. Lúc ấy có một tiếng
sét lớn và một trận mưa đá đổ xuống giết chết hai người
trong bốn người đang cày ruộng. Trong lễ hỏa táng, mọi
người kêu khóc lớn tiếng. Buổi chiều khi đức Thế Tôn
ra khỏi thiền định, đi kinh hành lui tới ngoài trời, có
một người trông thấy Ngài đang kinh hành lui tới liền đến
đảnh lễ và theo sau Ngài. Đức Thế Tôn hỏi anh ta nguyên
nhân tiếng ồn và huyên náo lớn. Người ấy thuật lại câu
chuyện cho đức Thế Tôn và hết sức ngạc nhiên về sự
thiền định sâu xa của Ngài đã không nghe thấy cũng không
bị dao động bởi tất cả sự ồn ào, dao động ấy.
C22=P
không có:
C:
(45a,17-19): Một thời đức Thế Tôn đang ở Uruvelà, bên bờ
sông Ni Liên, dưới gốc cây Ni câu loại, nơi Ngài vừa đạt
giác ngộ. Vào lúc ấy có một trận mưa lớn kéo dài bảy
ngày, làm mọi sự đều ngập chìm trong nước. Nhưng khi đức
Thế Tôn đi ra khoảng trống để kinh hành, đất trồi lên
cho Ngài đi lui tới.
C23=P
không có:
C:
(45a,19-20): Ma vương đã đi theo đức Thế Tôn suốt sáu năm,
chờ một dịp thuận tiện để làm hại Ngài nhưng không thể
được, đã kiệt sức và bỏ đi.
C24=P
không có:
C:
(45b,1): Đức Thế Tôn trong bảy ngày thực tập chánh niệm
về thân không gián đoạn (niệm thân hành không gián đoạn).
Ngược
lại có đến mười trường hợp, bản Pàli có nhưng bản
Hoa ngữ không có:
P2:
(119): Bồ-tát ở trong cung trời Đâu Suất, chánh niệm tỉnh
giác.
P6:
(120): Khi Bồ-tát đi vào mẫu thai, có bốn vị thiên vương
xuống canh gác ở bốn hướng để đề phòng người và phi
nhân nhiễu hại Bồ-tát và mẹ của Ngài.
P7:
(120): Khi đức Bồ-tát đi vào mẫu thai, mẹ Ngài tự nhiên
trở nên thánh thiện, không phạm vào năm giới cấm từ sát
hại cho đến uống rượu.
P8:
(121): Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ Ngài hưởng thụ năm
dục; bà được vây quanh bằng năm thứ dục lạc.
P10:
(121): Khi Bồ-tát ở trong thai mẹ, mẹ Ngài không bị ốm đau,
sống thoải mái, không bị nhọc mệt. Bà thấy trong bụng
mình vị Bồ-tát có đầy đủ tay chân, có các căn toàn hảo.
Như một viên minh châu khéo giũa thành bảy mặt, được xâu
bằng một sợi chỉ xanh hay vàng, đỏ, trắng, cam, xuyên qua
viên ngọc ấy. Một người có mắt sáng, cầm trong tay viên
ngọc và xem xét, thì sẽ thấy rõ ràng viên ngọc với sợi
chỉ mỏng.
P11:
(122): Mẹ Bồ-tát chết bảy ngày sau khi Ngài ra đời, và bà
được tái sanh lên cõi trời Đâu Suất.
P12:
(122): Những phụ nữ khác mang thai chín hoặc mười tháng trước
khi sinh nở, nhưng mẹ của Bồ-tát thì luôn luôn mang thai đến
mười tháng.
P13:
(122): Các phụ nữ khác khi lâm bồn ngồi hoặc nằm, nhưng
mẹ Bồ-tát sinh nở trong lúc đứng.
P14:
(122): Khi Bồ-tát ra khỏi mẫu thai, thì chư thiên đón nhận
Ngài trước hết rồi mới đến loài người.
Một
đức tính kỳ diệu khác:
C:
(45b,1-3): Rồi đức Thế Tôn bảo Tôn giả A Nan: Ông nên xem
đây cũng là một điều kỳ diệu nữa về đức Như lai. Đức
Như lai biết các cảm thọ khi chúng khởi lên, khi chúng tồn
tại, khi chúng chấm dứt, Ngài luôn luôn biết chúng. Cũng
thế với các tư tưởng và nhận thức. Khi ấy Tôn giả A
Nan chấp nhận điều này là một đức tính kỳ diệu khác
của đức Như lai.
P:(124):
Gần giống; bản P bỏ: "Ngài luôn luôn biết chúng". Bản P
đặt "tưởng" (sannà) trước "tầm" (vitakka).
Nhận
xét: Chúng ta để ý rằng từ ngữ Bồ-tát không được
nhắc đến trong bản C. Còn bản P thì dùng từ ngữ này để
chỉ đức Phật khi chưa giác ngộ. Như vậy chúng ta có thể
phỏng đoán rằng danh từ Bồ-tát đã được Thượng tọa
bộ đưa vào để phản đối cách giải thích danh từ này
của các nhà Đại thừa. Chúng ta cũng nhận thấy rằng các
truyền thống về sự tích đời đức Phật và những đức
tính kỳ diệu của Ngài không giống nhau trong hai bản, mỗi
bản dường như xuất xứ từ một nguồn khác nhau về phương
diện cuộc đời đức Phật và những đức tính kỳ diệu
của Ngài.
3. 10
danh hiệu Phật:
Trong
NC27, 10 danh hiệu của đức Phật được nói đến. Một nghiên
cứu tỷ giảo hai bản dịch cho thấy những tương đồng và
dị biệt sau:
C201:(vii,69a,1-2)=P38:
(i,267,13-16):
C:
Như lai=P: Tathàgàta.
C:
Vô sở trước= P: A-la-hán, Araham.
C:
Đẳng chánh giác (giác ngộ toàn vẹn và chân chính) = P:
Sammàsambuddho.
C:
Minh hạnh túc (đủ trí tuệ và giới hạnh)= P: Vijjàcaranasampanno.
C:
Thiện thệ (khéo vượt qua)=P: Sugato.
C:
Thế gian giải (người hiểu biết thế gian) = P: Lokavidù.
C:
Vô thượng sĩ (người không ai sánh bằng)=P: Anuttaro.
C:
Đạo pháp ngự (người điều phục con đường và pháp)= P:
Purisadammasàrathi,
người điều phục những người đáng điều phục.
C:
Thiên nhân sư (thầy của người và trời)= P: Satthàdevamanussànam,
bậc thầy của trời người.
C:
Phật, chúng hộ (người che chở tất cả)= P: Buddho, Bhagavà,
Phật
Thế Tôn.
Trong
Phật học đại tự điển, 10 danh hiệu Phật được kể như
sau: Như lai, A-la-hán, Chánh đẳng giác, Minh hạnh túc, Thiện
thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu,
Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn. Nếu so danh sách này với danh
sách bản P, ta không thấy gì khác nhau ngoại trừ danh hiệu
cuối cùng. Bản S viết Phật, Thế Tôn thay thế cho bản P:
Phật, Bạt- già-phạm (Bhagavà). Như vậy ta có thể nói
rằng trong đoạn này, bản C với danh từ Đạo pháp ngự
thay
cho Điều ngự trượng phu của bản P là không đúng
lắm vì đã lầm damya với Dhamma: Pháp.
4. 32
đại nhân tướng:
Trong
NC60, 32 tướng đại nhân được đề cập đầy đủ và ta
thấy có những đồng dị sau đây:
C
161=P91:
Những
đặc tướng tương đương trong hai bản như sau:
C1=P2;
C2=P4; C3=P8; C4=P7; C5=P3; C6=P14; C7=P 6; C8=P5; C9= P12; C10=P13; C11=P
không có; C12=P10; C13=P19 C14=P15; C15=P9; C16=P11; C17=P16; C18=P17;
C19=P22; C20=P20; C21=P18; C22=P23; C23=P25; C24=P26; C25=P24; C26=P21;
C27=P28; C28=P27; C29= P30; C30=P29; C31=P32; C32=P31. C 11 không có
trong bản P, P1 không có trong bản C.
C1=P2:
C: lòng bàn chân xuất hiện một bánh xe ngàn căm đầy đủ
chi tiết=P thêm: có viền và trục đủ mọi vẻ.
C2=P4:
C: bàn chân, ngón tay dài và có đầu nhọn=P: ngón tay dài.
C3=P8:
C: bàn chân tròn và thẳng=P: những ống chân giống như chân
sơn dương, nghĩa là rất thẳng.
C4=P7:
C: gót chân và mắt cá phần sau tròn đầy, bằng phẳng cả
hai phía=P: ussankhapàdo (mắt cá nhô ra).
C5=P3:
C: hai mắt cá chân là dung? = P: àyatapanhi, có gót
chân nhô ra.
C6=P14:
C: lông xoăn lên=P thêm: lông xoăn lên có màu xanh, cuộn thành
những vòng tròn về phía phải.
C7=P6:
C: ngón tay ngón chân có màng lưới như con ngỗng chúa=P: jàlahatthapàda,
tay chân có màng lưới.
Nhận
xét: Cô Horner chọn cách giải thích của Ngài Buddhaghosa
rằng chân tay cách đều nhau. Nhưng nghĩa trong bản C rất rõ.
C8=P5:
C: bàn chân bàn tay tuyệt hảo, mềm mại như hoa Đâu la= P:
tay chân mềm mại. (Tùla, theo Phật học Đại từ điển,
là một loại bông vải rất mềm).
C9=C12:
C: da láng, mịn, nước và bụi không thể dính=P: da bóng, mịn
màng, nên bụi và nước không thể bám vào thân.
C10=P13:
C: những sợi lông tách rời, mỗi lông mọc từ một lỗ chân
lông. Màu lông hơi xanh và xoăn về phía phải như hình con
sò=P: những sợi lông tách rời, mỗi lông mọc từ một lỗ
chân lông.
C11=P
không có: C: bắp đùi của Ngài đầy đặn như con nai chúa.
C12=P
không có: C: cái bị che kín giống như con ngựa, như một con
ngựa chúa giống tốt=P: cái gì được che kín bằng áo quần
thì được bao bằng một cái bọc (tướng mã âm tàng).
C14=P15:
C: thân không cong quẹo=P: một thân thể thẳng tắp như thân
chư thiên.
C15=P9:
C: thân thể không con quẹo, khi đứng thẳng bàn tay có thể
sờ đầu gối=P: đứng thẳng không cúi xuống, Ngài có thể
dùng hai lòng bàn tay xoa và sờ hai gối.
C16=P11:
C: thân thể của Ngài có màu vàng chói như màu vàng ròng hơi
đỏ=P: có màu vàng ròng.
C17=P16:
C: bảy chỗ đầy đặn là hai bàn tay, hai bàn chân, hai vai
và cái cổ=P: sattussaddo bảy chỗ có bề mặt lồi.
C18=P17:
C: phần trên thân đầy đặn như một con sư tử=P: sìhapubbaddhakàyo
(như
bản C).
C19=P22:
C: quai hàm như sư tử=P: sìhahanu (như bản C).
C20=P20.
C: lưng của Ngài bằng và thẳng=P: samavattakkhandho, có
vai tròn.
C21=P18:
C: phần trên của hai vai tiếp giáp với cổ một cách đầy
đặn=P: citantaramso (lỗ hổng ở vai được lấp đầy).
C22=P23:
C: Ngài có 40 cái răng=P: cũng vậy.
C23=P25:
C: giữa các răng không có khe hở=P: avivaradanto (như C)
C24=26:
C: răng trắng=P: susukkadàtho, răng bóng loáng.
C25=P24:
C: răng đầy đủ=P: samadanto, răng đều đặn.
C26=P21:
C: có vị giác toàn hảo=P: rasaggasaggì (như C).
C27=P28:
C: phạm âm của Ngài du dương như tiếng chim ca lăng tần già=
P: brahmassaro karavìkabhànì (như C).
C28=P27:
C: lưỡi rộng và dài, từ trong miệng thè ra có thể trùm
phủ cả mặt=P: pahùtajìvho, lưỡi dài.
C29=P30:
C: tuyến nước mắt đầy như nơi con ngưu vương = P: gopakhumo,
lông mi của Ngài giống như lông mi của bò cái.
C30=P29:
C: mắt Ngài có màu xanh biếc =P: abhniiølanetto (như C).
C31=P32:
C: đỉnh đầu nhô ra, cân đối và tròn tóc xoay về trái như
vỏ sò=P: unhìsasiso, đầu hình như có giải khăn bịt.
C32=P31:
C: giữa hai lông mày có một sợi lông trắng mọc xoay về
bên phải =P: unnà bhamukantare jàtà odàtà mudutùlasannibhà,
giữa hai lông mày có một sợi lông trắng mịn như bông vải.
P1=C
không có: Ngài có chân bước bằng phẳng.
5. Uy
nghi của đức Phật:
Trong
NC60, uy nghi của đức Phật được mô tả. Bản C tả đức
Phật đắp y, phủ đầy mình bằng tấm y khi ra khỏi phòng,
khi ra khỏi vườn, khi đi đường đến làng mạc, khi vào làng,
trên đường làng, vào nhà, sửa soạn ngồi lên giường, khi
ngồi, rửa tay, nhận thực phẩm, ăn, rửa tay, thuyết tùy
hỷ pháp, đứng lên khỏi chỗ, đi ra khỏi nhà, trên đường
ra khỏi làng, vào vườn và vào nhà. Bản P khởi đầu bằng
sự đi vào nhà, quay về phía chỗ ngồi, rồi ngồi xuống,
lấy nước rửa bát, nhận thức ăn, ngồi, lấy nước rửa
bát, giáo giới, đi ra, mặc áo, ngồi thiền, thuyết pháp.
C161
= P91:
a) Mặc
y:
C:
Sa-môn Cồ Đàm mặc y một cách thích đáng, không cao không
thấp, y không dính sát vào thân, gió không thể thổi bay cái
y khỏi thân thể.
P:
Cũng vậy. Sau câu y không dính sát vào thân, bản P thêm:
tấm y không bị kéo xa khỏi thân Ngài. Bản P thêm: bụi và
đất không dính vào thân của Sa-môn Cồ Đàm. Về câu: gió
không thể thổi cái y khỏi thân, cô Horner chọn cách đọc
của bản Thái Lan là kayasmin (nơi thân) thay vì
kayamhà,
nhưng bản C chứng tỏ đã chọn chữ kayamhà (khỏi thân).
b) Bao
phủ bằng tấm y:
C:
Cũng như mặc y. Nó thêm: Sa-môn Cồ Đàm khi mặc tấm y mới,
theo thánh cách, cắt nó bằng dao và nhuộm màu sẫm. Ngài mặc
y không vì tiền, vì kiêu căng, không để tự trang sức; mà
chỉ để bảo vệ thân thể khỏi bị muỗi đốt, ruồi, gió,
ánh nắng mặt trời, và vì tàm quý mà Ngài che thân.
P:
không có.
c) Ra
khỏi phòng:
C:
Khi Ngài ra khỏi phòng, thân Ngài không cúi về phía trước
hay phía sau. Khi muốn đi, trước hết Ngài đặt chân phải
xuống, giở chân lên đúng pháp, đặt chân xuống đúng pháp,
không lẫn lộn, không mất trật tự. Trong khi bước đi, hai
mắt cá không chạm vào nhau. Do công hạnh đời trước, bụi
và đất không bám vào Ngài.
P
bỏ: Khi Ngài ra khỏi phòng, thân Ngài không cong lên phía trên
hay cúi xuống phía dưới.
C:
Giở lên đúng pháp, đặt xuống đúng pháp, không lẫn lộn,
không mất trật tự= P: Ngài không đặt bàn chân quá xa, cũng
không đặt bàn chân quá gần, không đi quá nhanh, hoặc quá
chậm. Nó thêm: trong khi bước đi Ngài không gõ hai đầu gối
vào nhau, bắp vế Ngài không đưa lên đưa xuống, hoặc đưa
vào đưa ra, Ngài chỉ di động phần dưới của thân thể,
chứ không di động toàn thân.
d) Ra
khỏi vườn và đến làng, vào làng:
C:
Khi ra khỏi vườn, Ngài không cong thân lên hay cúi thân xuống.
Khi Ngài đi đến làng, Ngài cũng xoay mình về phía mặt để
quan sát chung quanh như một con voi chúa nhìn quanh, vô úy, giản
dị, vì Ngài là đức Như lai chánh đẳng giác. Khi đi vào
làng, Ngài không ngước lên hay cúi xuống. Khi đang đi trên
những đường làng, Ngài không cúi xuống, ngước lên mà nhìn
thẳng vừa tầm để không bị chướng ngại cho tri kiến.
Do công hạnh đời trước, các căn của Sa-môn Cồ Đàm luôn
luôn tự chủ.
P
bỏ: Phật ra khỏi vườn và đi vào làng. Nó nói: Khi
đức Gotama nhìn quanh, Ngài nhìn với toàn thân, không nhìn
lên nhìn xuống, không đi mà không để ý nhìn trước một
tầm cày, hơn thế nữa, tri kiến của Ngài không bị chướng
ngại.
e) Vào
nhà và ngồi trên chỗ ngồi:
C:
Trong khi vào nhà, Ngài không ưỡn thân hay cúi xuống, Ngài
xoay thân về phía phải và ngồi trên chỗ ngồi của mình.
Ngài không ngồi với toàn thể sức nặng của thân thể, Ngài
không ngồi với hai tay chống nạnh. Trong khi ngồi Ngài không
có vẻ buồn thảm bất an, cũng không có vẻ sung sướng.
P:
Khi vào nhà, Ngài không ưỡn thân, cong xuống, xoay qua xoay về.
Ngài xoay về phía chỗ ngồi không quá xa hay quá gần. Ngài
ngồi xuống chỗ, không đưa tay níu lấy chỗ ngồi. Ngài không
ném toàn thân xuống ghế. Ngài không ngồi với tay chân bất
an, không vắt chân chữ ngũ, chồng hai mắt cá. Ngài không
ngồi với hai tay chống cằm. Trong khi ngồi trong nhà, Ngài
luôn luôn có thái độ vô úy, không dao động, hướng về
độc cư.
f) Nhận
nước để rửa tay chân và nhận đồ ăn:
C
: Trong khi nhận nước rửa, Ngài không đưa bát quá cao, quá
thấp, không nhận quá nhiều, hay quá ít. Khi nhận thức ăn,
Ngài không nhận từ cao, thấp, quá nhiều, hay quá ít; Ngài
nhận thức ăn và cơm ngang nhau. Ngài vo tròn thức ăn thành
từng viên đều đặn, đúng pháp và từ từ bỏ vào miệng.
Ngài không há miệng sẵn để chờ thức ăn vào. Ngài nhai
thức ăn ba lần trước khi nuốt xuống. Không có cơm hay thức
ăn nào chưa được nhai kỹ. Khi còn có thức ăn trong miệng,
Ngài nuốt xuống trước khi bỏ vào một viên khác. Do ba việc
mà Sa-môn Cồ Đàm dùng tịnh thực, hy vọng thưởng thức
vị nhưng không hy vọng thưởng thức lòng tham vị, ăn không
vì tài sản của cải, không để kiêu căng, không để tự
trang sức, trang hoàng; mà chỉ để duy trì thân thể khỏi
bệnh, để ngăn bệnh cũ, không để khởi lên bệnh mới,
để có sức khỏe và an lạc.
P:
Trong khi nhận nước vào bát, Ngài không xoay bát lên xuống,
xoay vào xoay ra; Ngài nhận nước không quá ít, không quá nhiều.
Ngài không rửa bát ồn ào, xoay tròn cái bát, Ngài không đặt
bát trên nền để rửa tay. Tay và bát được rửa đồnglúc,
Ngài không đổ nước rửa bát quá xa hay quá gần, Ngài không
vung vãi nước. Trong khi nhận cơm, Ngài không xoay bát lên xuống
vào ra. Ngài nhận cơm không quá nhiều không quá ít. Ngài ăn
cà ri có chừng mực. Ngài không quên ăn cơm và thức ăn đồng
một lúc với mỗi miếng ăn. Ngài đảo qua lại hai ba lần
đồ ăn trong miệng trước khi nuốt xuống. Không có một hạt
cơm nào chưa nhai đã nuốt. Không có một hạt cơm nào còn
trong miệng đã nuốt một miếng cơm khác. Ngài ăn cháo, thưởng
thức vị nhưng không có lòng tham vị. Sa-môn Gotama ăn với
tám đức tính, không để vui đùa, không để đam mê, không
để trang sức, không để tự làm đẹp, mà chỉ vừa đủ
để duy trì cơ thể, để nó tiếp tục, thoát khỏi nguy hiểm,
và để hỗ trợ đời sống phạm hạnh, nghĩ đến diệt trừ
cảm thọ cũ, ngăn sự khởi lên những cảm thọ mới, và
như vậy sống không lỗi lầm, trú trong an lạc.
g) Nhận
nước rửa tay, rửa bát, thuyết pháp:
C:
Trong khi nhận nước rửa tay, rửa bát, Ngài không nhận nó
quá cao, quá thấp, quá nhiều, quá ít. Tay và bát được rửa
và lau khô đồng lúc. Sau khi rửa và lau khô bát, Ngài đặt
bát một bên, không quá xa, không quá gần, không nhìn thường
xuyên vào cái bát, cũng không quá săn sóc cái bát. Ngài không
chê thức ăn, không khen ngợi thức ăn mà giữ im lặng, rồi
Ngài thuyết pháp cho các gia chủ, làm cho họ hoan hỷ, khích
lệ họ, khiến họ hài lòng, sử dụng nhiều cách để thuyết
pháp. Rồi Ngài ra đi.
P:
Gần giống như đoạn P ở trước. Nó thêm: Ngài đặt bát
xuống không quá xa không quá gần. Không phải là không quan
tâm gì đến cái bát, nhưng cũng không quá lo cho cái bát, Ngài
ngồi im lặng một lúc, nhưng không để thời gian qua đi mà
không ban lời giáo giới. Khi Ngài thuyết tùy hỷ pháp, Ngài
không chê thực phẩm, không hy vọng được bữa ăn khác, nhưng
làm cho hội chúng hoan hỷ, khích lệ làm chúng hài lòng với
một câu chuyện về pháp, rồi Ngài đứng dậy khỏi chỗ
ngồi và ra đi.
h) Ra
khỏi nhà đi trên đường đến làng và vào làng:
C:
Khi ra khỏi nhà, Ngài không ưỡn thân lên hay cong xuống. Không
ngước lên mà nhìn thẳng, đúng pháp, để tri kiến không
bị chướng ngại. Do thiện hành đời trước, các căn của
Sa-môn Cồ Đàm luôn luôn tịch tịnh. Khi ra khỏi làng, Ngài
không ưỡn thân lên hay cong xuống. Khi vào làng, Ngài không
ưỡn thân lên hay cong xuống.
P:
Chỉ nói rằng khi Sa-môn Cồ Đàm ra đi, Ngài không bước quá
nhanh hay quá chậm, Ngài không bước đi như thể muốn thoát
khỏi hội chúng ấy cho nhanh.
i) Ngồi
thiền và giảng pháp:
C:
Sau khi ăn xong, thu dọn y bát, sau khi rửa tay chân, Ngài đặt
tọa cụ lên vai và đi vào phòng để ngồi thiền. Sa-môn Cồ
Đàm vì an lạc cho cả thế gian, đi vào phòng ngồi thiền.
Rồi buổi chiều Ngài ra khỏi thiền định với gương mặt
rạng rỡ hào quang, vì Ngài là đức Như lai, bậc giác ngộ
hoàn toàn và chân chính. Có tám loại âm thanh phát ra từ Sa-môn
Cồ Đàm: rất sâu, tỳ ma lâu pha (?), đi vào tim, khả ái,
đầy đặn, linh động, trong sáng, có trí tuệ.
Nhiều
người yêu mến giọng nói của Ngài, hài lòng với nó, nhớ
đến nó và trở nên định tĩnh. Sa-môn Cồ Đàm thuyết pháp
cho chúng hội, giọng của Ngài không vượt ngoài phạm vi của
hội chúng mà ở trong phạm vi hội chúng. Ngài thuyết pháp
cho hội chúng làm cho họ vui mừng, khích lệ, hoan hỷ, sử
dụng vô số cách để giảng pháp. Sau khi làm cho chúng hội
vui mừng, khích lệ, hoan hỷ, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy
và trở về trú xứ.
P:
Sau khi đi đến tu viện, Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn,
rửa chân không phải để làm đẹp, sau khi rửa chân Ngài
ngồi kiết già lưng thẳng, chánh niệm được an trú. Ngài
không nghĩ đến hại mình, hại người, hại cả hai, mà nghĩ
đến lợi mình, lợi người, lợi cả hai. Ngài thuyết pháp
cho hội chúng, không khen không chê, mà làm cho họ hoan hỷ,
khích lệ và vui mừng. Giọng nói của Ngài có tám đức tính,
rõ ràng, bao trùm, êm ái, dễ nghe, đầy đặn, trong sáng, sâu
xa, và vang dội. Trong khi giáo giới chúng hội, giọng Ngài
không vượt ra ngoài phạm vi chúng hội. Những người này
khi đạt được pháp thoại của Tôn giả Cồ Đàm khích lệ,
làm cho phấn khởi, hoan hỷ, đứng dậy rời khỏi chỗ ngồi
và ra đi một cách miễn cưỡng, mắt vẫn còn nhìn nơi Ngài.
Nhận
xét: Về sự tường thuật cuộc đời đức Phật, giữa
hai bản không có nhiều dị biệt, ngoại trừ bản C nói Ràmaputta
đã chết hai tuần, còn bản P nói chết đêm trước. Về các
điều kỳ diệu của Phật, ta thấy nhiều chỗ khác nhau, nhất
là về cuộc đời của Ngài ở cung trời Đâu Suất, trong
thai mẹ và một vài thần thông trong đời này. Những dị
biệt này chứng tỏ hai bản tuân theo những truyền thống
khác nhau. Về 32 đặc tướng trên thân Phật và uy nghi của
Ngài cũng thế. Còn về 10 danh hiệu, thì gần giống nhau trong
cả hai bản.