CHƯƠNG
IV: GIÁO LÝ
Bây
giờ chúng ta sẽ khảo sát chi tiết những điểm giống và
khác giữa hai bản dịch, về phương diện giáo lý. Chúng ta
chọn cách phân loại của tác phẩm Thanh tịnh đạo thành
Giới, Định Tuệ, mặc dầu có những pháp bao hàm cả ba,
như Bát chánh đạo.
A. GIỚI
Trước
hết chúng ta bàn đến sự huấn luyện một Tỳ-kheo bao hàm
trong giới bản Biệt giải thoát, sự giữ gìn sáu căn, thanh
tịnh sinh mạng, sự sử dụng bốn vật cần dùng.
Trong
NC68, đức Phật giải thích rằng, trong pháp luật này, có
sự huấn luyện tuần tự một Tỳ-kheo. Trước hết là sự
giữ giới gồm năm giai đoạn, rồi sự thực tập thiền định
gồm hai giai đoạn, và huấn luyện trí tuệ được trình bày
vắn tắt trong bản C, bao gồm hai giai đoạn trong bản P. Ở
đây chúng ta chỉ giới hạn việc nghiên cứu vào sự tu tập
giới.
1. Sự
tuân giữ giới luật:
Bản
C144, Toán số Mục-kiền-liên: Ở đây vị Tỳ-kheo nói
sau khi xuất gia, vị ấy tuân giữ giới bản Tỳ-kheo và sống
phù hợp với giới Biệt giải thoát. Vị ấy gìn giữ uy nghi
chánh hạnh, thấy nguy hiểm ngay cả trong những lỗi nhỏ nhặt
và tuân giữ giới bản. Rồi vị ấy kể ra 20 học giới phải
theo.
Bản
P107, Ganakamoggallàna: Vị Tỳ-kheo được dạy phải tuân
giữ giới, chế ngự với sự chế ngự của giới bản Biệt
giải thoát, có chánh hạnh và chánh hành xứ, sợ hãi đối
với những lỗi nhỏ. Và vị ấy tuân giữ 26 học giới, nhiều
hơn bản C 6 điều. Những học giới ấy như sau:
C1=P1:
Không sát sinh.
C2=P2:
Không lấy của không cho.
C3=P3:
Không tà hạnh.
C4=P4:
Không nói dối.
C5=P5:
Không nói hai lưỡi (P: phỉ báng).
C6=P6:
Không nói lời thô ác.
C7=P7:
Không nói lời phù phiếm.
C8=P8:
Không trồng trọt để sống (C: chih-shêng = P: bìjagàmabhùtagàma,
gieo hạt, trồng rau).
C9=P16:
Không nhận gái góa và con gái (P: phụ nữ và thiếu nữ).
C10=P17:
Không nhận tôi tớ và nữ tỳ.
C11=P20
và P18: Không nhận voi, ngựa, bò cái, cừu (P: dê, cừu, voi,
bò cái, ngựa, ngựa cái).
C12=P19:
Không nhận gia cầm và heo.
C13=P21:
Không nhận đồng ruộng, cửa hàng (P: ruộng, đồng, đất
đai phong cảnh).
C14=P14:
Không nhận lúa sống, lúa mạch, đậu, (P: mùa màng mới gặt
hái, còn sống).
C15=P
(không có): Không uống rượu.
C16=P12:
Không dùng giường cao, rộng.
C17=P11:
Không dùng tràng hoa, chuỗi đeo cổ, hương liệu, dầu thơm,
phấn (P: tràng hoa, hương, dầu thơm, đồ trang sức, những
đồ làm đẹp).
C18=P10:
Không hát, khiêu vũ, đóng tuồng, không xem nghe múa hát, diễn
kịch (P: khiêu vũ, ca hát, âm nhạc, xem trình diễn) .
C19=P13:
Không nhận sanh sắc (P: Jàtarùpa, tức là vàng), hương bao
(P: rajapa, bạc).
C20=P9:
Không ăn quá ngọ, ăn ngày một bữa, ăn đúng thời (P: người
ăn một bữa, Không ăn ban đêm). Bản P thêm P15: không nhận
thịt sống;
P22:
Không làm sứ giả, gởi sứ giả;
P23:
Không mua bán;
P24:
Không lừa đảo bằng cân, đong lường;
P25:
Không hối lộ móc ngoặc, đánh tráo và lừa bịp (uckotanavancananikatisàciyogà);
P26:
Không làm què quặt, ám sát, giam cầm, cướp giật giữa đường
(chedanavadhabandhanaviparàmosa).
Ghi
chú: Bản P thêm: không nhận thịt sống, do đó hàm ý rằng
cho phép nhận thịt đã nấu chín. Nhưng bản C bỏ học giới
này, ngụ ý cấm tất cả loại thịt.
2. Hỷ
túc:
C:
(vii,40a, 10-11): Sau khi đã hoàn tất thánh giới này, vị Tỳ-kheo
tu tập hạnh hỷ túc, mặc y để che thân, ăn thực phẩm để
duy trì cơ thể; bất kỳ đi đâu, vị ấy cũng mang theo y và
bát, không ràng buộc, như con ngỗng trời bay trong hư không
với đôi cánh.
P:
(iii, 34, 22-32): Gần như trên.
C:
duy trì cơ thể = P: duy trì lỗ bụng.
C:
giống như con ngỗng trời = P: giống như con chim.
3. Hộ
trì căn môn hay điều phục các căn:
C:
Rồi vị Tỳ-kheo cần phải chế ngự các căn, đóng chúng
lại, khéo điều phục tâm ý, luôn luôn có chánh trí. Khi mắt
thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không thích
thú trong sắc pháp. Chính vì để lắng dịu sự giận dữ
và gây gỗ, để đề phòng sự nổi dậy của tham, sầu, khổ,
và các ác bất thiện pháp, mà các căn cần phải được chế
ngự. Cũng thế với tai, mũi, lưỡi, thân và ý.
P:
Gần giống như trên.
C:
vị Tỳ-kheo cần phải chế ngự các giác quan... có chánh trí
= P: căn môn cần phải được phòng hộ.
C:
không thích thú trong các sắc pháp = P: không nắm giữ những
chi tiết về sắc pháp. Bản này bỏ: vì muốn lắng dịu sự
thù hận và gây gổ.
4. Chánh
niệm trong các uy nghi:
C:
(40a,11-14): Rồi vị Tỳ-kheo cần phải tỉnh giác khi đi ra,
đi vào, chánh niệm tỉnh giác khi co tay, duỗi tay, khi cúi xuống,
ngước lên, có uy nghi chánh hạnh, mặc y ngoài một cách đúng
pháp, mang bát đúng pháp. Khi đi, đứng, nằm, ngủ, thức,
nói hay im, vị ấy đều tỉnh giác.
P:
(35,11-17): Gần như trên. Về oai nghi của vị Tỳ-kheo, bản
Pàli thêm: đến gần, đi xa, ngước lên, nhìn xuống, ăn, uống,
nhai, thưởng thức, tiểu tiện, đại tiện. Bản P bỏ: đi
ra, đi vào, cúi xuống, ngước lên, có oai nghi và chánh hạnh.
Nhưng
trong C 144 (75a,11-13) có thêm hai giai đoạn nữa, quán chánh
niệm và tránh các tư tưởng liên hệ đến dục như sau: "Khi
vị Tỳ-kheo đã hoàn tất giai đoạn đầu, vị ấy cần được
dạy quán nội thân như là thân thể cho đến quán cảm thọ,
quán tâm và quán pháp, vị ấy không được tư duy những tư
duy liên hệ đến dục vọng." Bản P không có.
Nhưng
bản P(iii,2,26,33) thêm hai giai đoạn nữa ở sau chánh niệm
uy nghi:
a)
Tiết độ trong ăn uống, tỉnh giác trong khi ăn, không phải
để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để tự
làm đẹp mình, mà chỉ để duy trì cơ thể, giữ cho nó sống,
không bị hại, để tuân giữ đời sống phạm hạnh, để
nhổ tận gốc những cảm thọ cũ và ngăn ngừa những cảm
thọ mới, để Tỳ-kheo có thể sống an ổn, không lỗi lầm;
b)
Rồi vị Tỳ-kheo cần phải chú tâm cảnh giác; trong lúc tới
lui vào ban ngày và đầu đêm, vị ấy phải thanh lọc tâm
khỏi các chướng ngại pháp; vào đêm canh giữa, trong lúc
nằm xuống hông bên phải theo dáng sư tử, hai chân chồng
nhau, vị ấy phải chánh niệm nghĩ đến lúc thức dậy; vào
canh cuối, sau khi thức dậy đi tới đi lui, vị ấy phải thanh
lọc tâm khỏi các pháp chướng ngại.
5. Sử
dụng các vật cần dùng:
Kinh
C10, Lậu tận: (v,13b, 5-9): "Tỳ-kheo sử dụng y phục,
không phải vì lợi lộc, không phải vì kiêu mạn, không phải
để trang sức, mà chỉ để che chở thân khỏi muỗi, ruồi,
gió, mưa, lạnh, nóng để che đậy sự hổ thẹn. Khi dùng
đồ ăn uống, không phải vì lợi lộc, kiêu mạn, vì lạc
thú mập phì, mà chỉ để duy trì cơ thể được sống lâu,
để trừ khử ưu, não, sầu, bi, để duy trì đời sống phạm
hạnh, để xua đuổi cơn bệnh cũ và đề phòng bệnh mới,
để được sống lâu, an ổn, không bệnh. Khi Tỳ-kheo sử
dụng trú xứ, phòng, nhà, giường, chiếu, đồ nằm, không
phải để lợi lộc, không phải để kiêu mạn, không phải
để trang sức, mà chỉ để chấm dứt sự mệt mỏi của
việc tọa thiền. Khi Tỳ-kheo sử dụng dược phẩm trị bệnh,
không phải vì lợi lộc, kiêu mạn, không vì lạc thú mập
phì, mà chỉ để trừ khử ưu não do bệnh gây nên, để duy
trì mạng sống, để sống an ổn, không bệnh."
Bản
P2, Tất cả lậu hoặc: (i, 10, 4-23): Không giống như
trên. Về sự sử dụng y phục, bản P thêm như lý tác ý vào
thái độ của Tỳ-kheo và thêm sirimsapa vào trong danh sách muỗi
và ruồi. Nó bỏ: không vì lợi lộc, không vì kiêu mạn, không
vì trang sức. Về sự sử dụng thức ăn uống, bản C nói:
thức ăn uống = bản P: đồ ăn khất thực. Ở đây bản P
nói Tỳ-kheo sử dụng đồ ăn khất thực không phải vì thể
thao (davà), không phải để đam mê (madàya), không phải để
trang hoàng, không để làm đẹp mình, mà để duy trì mạng
sống, để mạng sống khỏi bị hại, để duy trì đời sống
phạm hạnh, để diệt trừ cảm thọ cũ, ngăn ngừa cảm thọ
mới khởi lên, để sống không lỗi, được an ổn.Về sử
dụng trú xứ, bản P sử dụng một danh từ duy nhất là sàng
tọa. Nó bỏ: "không phải để trang sức.v.v." và nói để
che chở khỏi lạnh nóng, tránh muỗi ruồi, gió, sức nóng
mặt trời, các loài bò sát, để tẩy trừ sự khắc nghiệt
của mùa, để hưởng sự độc cư. Về sử dụng dược phẩm
trị bệnh, bản P dùng danh từ gilàna-paccaya bhesajjaparikkhàra.
Bản P bỏ: "không vì..." nhưng nói "để trừ diệt những cảm
thọ khởi lên phát sinh ra đau đớn, để được an lạc hoàn
toàn."
Ghi
chú: Về danh từ sirimsapa, vị trí của nó ở đây
khá lạ lùng, vì nó đáng lẽ đặt gần các từ damsa, makasa.
Trong truyền thống P, chỉ có những nhu yếu tích cực về
y phục được nói đến, nhưng không có trường hợp nào về
sự sử dụng sai được kể ra. Trong bản C, danh từ kiêu mạn
được dùng để dịch chữ màdàya, chữ này trong tiếng
P vừa có nghĩa kiêu mạn, vừa có nghĩa mê say, và ở đây
nghĩa mê say thích hợp hơn. Về sự sử dụng đồ ăn khất
thực, bản P nói: "không vì trang sức (vibhùsana), không
vì trang hoàng". Điều này có vẻ khá gượng ép ở đây. Bản
C có lẽ dễ nghe hơn.
Nhận
xét chung:
Như
vậy về phương diện giới, không có khác nhau nhiều giữa
đạo đức thực hành. Những bất đồng rải rác chỉ cho
thấy những tiểu dị giữa hai bộ phái mà hai bản kinh tiêu
biểu. Như vậy sự bỏ mất học giới "không nhận thịt sống"
ra khỏi bản C rất ý nghĩa, vì nó chứng tỏ thái độ chủ
trương ăn chay của các nhà Nhất thiết hữu bộ từ một
thời rất xa xưa.
B. ĐỊNH
Trong
đoạn nói về định, trước hết chúng ta đề cập 37 bồ
đề phần pháp, kế đến sự diệt trừ năm triền cái, rồi
đến bốn thiền thuộc sắc địa, bốn phạm trú, bốn thiền
thuộc vô sắc địa, diệt thọ tưởng và vô tưởng, và cuối
cùng là năm thắng trí.
1. Ba
mươi bảy Bồ-đề phần:
Trong
NC 66, kinh Châu na, C196 (vii, 56a,13) đề cập những pháp
bốn niệm xứ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn,
năm lực, bảy giác chi và tám thánh đạo. So sánh chúng với
bản P tương đương, (P104, Làng Sàma,) chúng ta thấy
không có khác nhau giữa hai bản ngoại trừ P đểõ bốn chánh
cần thay vì bốn chánh đoạn như C.
a)
Tứ niệm xứ: Sự giống nhau giữa bản C và bản P
được thấy rõ trong NC8: (P10=C98: Niệm xứ) ở đấy
bốn niệm xứ được mô tả dài dòng như dưới đây:
C98:
Kinh
Niệm xứ (vi,18a,13-14): Bốn niệm xứ là gì? Quán thân
như thân. Cũng thế đối với thọ, tâm và pháp.
P
10: (i,56,4-11): Gần giống. Bản P không sử dụng hình thức
rút ngắn như bản C.
i)
Quán thân:
Bản
C kể 18 cách quán thân trong khi bản P chỉ kể 9 cách. Những
cách tương đương như sau: C1=P2; C2=P3; C5=P1; C12=P4; C13=P5; C14=P7.
Bản C 3, 4, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 15 không có trong P.
C1:
(18b,14-15): "Tỳ-kheo khi đi biết rằng mình đang đi, khi ngồi
biết mình đang ngồi, khi nằm xuống biết mình đang nằm xuống,
khi ngủ biết mình đang ngủ, khi thức biết mình đang thức,
khi ngủ dậy biết mình đang ngủ dậy. Vị ấy quán nội thân
như là thân thể, quán ngoại thân như là thân thể, chú tâm
trên thân thể, hiểu biết sanh, tri kiến sanh, ánh sáng sanh,
chứng đắc sanh. Đây gọi là Tỳ-kheo quán thân thể như là
thân thể."
P2:
(56,11-14; 27-38; 57,1-4): Tương tự. Nói thêm trường hợp một
Tỳ-kheo đi vào một khu rừng, hay dưới gốc cây, hay ngôi
nhà trống, ngồi kiết già, lưng thẳng, chánh niệm. Về phép
quán gần giống nhau. Bản P bỏ chi tiết về Tỳ-kheo ngủ,
thức, ngủ dậy, và thêm một câu tổng quát nói rằng bất
cứ thân thể có vị trí nào, vị ấy cũng biết rõ. Về phần
ở cuối mỗi đoạn, bản P có nhiều chi tiết hơn. Nó thêm:
quán thân trên nội thân, quán thân trên ngoại thân, quán tánh
sanh khởi của các pháp, tánh diệt tận của các pháp, sự
sanh và diệt của các pháp trong thân. Bản P không nói gì về
việc trí sanh, nhãn sanh, quang sanh, minh sanh, nó chỉ nói: vị
ấy chánh niệm thân thể trên thân thể...để gột rửa tham
ưu, không nương tựa chấp thủ bất cứ gì trên đời.
C2:
(18b,15-17): "Lại nữa vị ấy biết rõ khi đi ra, đi vào, chánh
niệm tỉnh giác; khi co tay duỗi tay, cúi xuống ngước lên,
với uy nghi chánh hạnh, khi mặc thượng y và y phục, khi cầm
bình bát, khi đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức, nói, im, vị
ấy đều biết rõ."
P3:
(57, 6-13): Bản P bỏ khi vị ấy đi ra đi vào, với oai nghi
tề chỉnh, nhưng thêm: khi vị ấy đi tới, đi lui, nhìn trước,
ngó quanh, khi ăn, uống nhai, nếm, khi đại tiểu tiện. Bản
C: quán sát rõ, phân biệt rõ, vị ấy biết một cách chân
chánh = P: hoàn toàn tỉnh giác.
C3:
(18b,17-19): "Khi những ý tưởng ác bất thiện khởi lên, vị
Tỳ-kheo dùng những thiện pháp để điều chỉnh, cắt đứt,
dập tắt, ngăn chận chúng. Như một người thợ mộc, đệ
tử người thợ mộc dùng một dây mực để kẻ đường thẳng
trên gỗ. Rồi với một cái cưa bén, ông ta cưa đứt nó và
làm cho nó thẳng." Bản P: không có.
C4:
(18b,19-20; 19a, 1-2): "Vị Tỳ-kheo nghiến răng, dán chặt lưỡi
trên nóc họng, dùng tâm chế ngự tâm, cắt đứt, dập tắt,
chặn đứng, như hai người đô vật tóm lấy một người
ốm yếu, nắm chặt, xoay anh ta và đánh đập tùy thích." bản
P: không có.
C5:
(19a, 2-4): "Khi Tỳ-kheo nghĩ đến sự thở vào, vị ấy biết
mình đang nghĩ đến thở vào; khi nghĩ thở ra, vị ấy biết
mình đang nghĩ thở ra; khi hít vào một hơi dài, vị ấy biết
mình đang hít vào một hơi dài; khi thở ra một hơi dài, vị
ấy biết mình đang thở ra một hơi dài; khi hít vào một hơi
ngắn, vị ấy biết mình đang hít vào một hơi ngắn; khi thở
ra một hơi ngắn, vị ấy biết mình đang thở ra một hơi
ngắn; vị ấy tập cảm giác toàn thân khi thở vào, vị ấy
tập cảm giác toàn thân khi thở ra; vị ấy tập an tịnh thân
hành khi thở vào; vị ấy tập an tịnh thân hành khi thở ra."
P1:
(56, 14-32): Gần giống. Một điểm khác là:
C:
Vị ấy tập an tịnh ngữ hành khi thở ra.
P:
Thay bằng thân hành, và như vậy đúng hơn. Để làm sáng tỏ
đoạn này, bản P thêm ví dụ với người thợ quay biết rõ
khi quay ngắn hay quay dài.
Ghi
chú: Trong đoạn "Vị ấy tập cảm giác toàn thân khi thở
vào", người biên tập kinh C có ghi chú sự hoài nghi của mình
về hai danh từ "học" là huấn luyện học tập và "giác" có
nghĩa là cảm giác, và lưỡng lự không biết nên sử dụng
danh từ nào. Kỳ thực người dịch kinh C sử dụng danh từ
"học" để dịch chữ sikkhati và danh từ "giác" để
dịch chữ vedanà. Những nhà phiên dịch về sau dùng
chữ "tho"ï là nhận để dịch danh từ vedanà. Nếu ta
so sánh với đoạn P: sabbakàyapatisamvedì assissàmìti sikkhati
(cảm
giác thân hành tôi sẽ thở ra, vị ấy tập) ta thấy rằng
cần sử dụng cả hai danh từ ấy ở đây.
C6:
(19a, 4-7): "Với hỷ lạc do độc cư sanh, vị Tỳ-kheo thấm
nhuần thân thể, tẩm ướt toàn diện và cùng khắp. Trong
thân này, niềm hỷ lạc do độc cư ấy thấm lan khắp, không
một nơi nào không thấm. Như một người hầu tắm sau khi
làm sạch bồn tắm, bỏ bột tắm vào quậy với nước làm
thành một khối. Nước ấy thấm khắp, tẩm ướt toàn thân,
không chỗ nào là không thấm."
P:
không có.
C7:
(19a,7-10): "Với hỷ lạc thiền định, vị Tỳ-kheo thấm nhuần
toàn thân, trọn vẹn và cùng khắp. Trong thân này, hỷ lạc
do thiền định sanh thấm khắp, không một chỗ nào không thấm.
Như một dòng suối từ trên núi cao chảy xuống trong sáng
tràn đầy. Nước từ bốn phương không thể chảy vào. Nhưng
nước từ dưới đáy suối tuôn lên, chảy tràn và lan khắp,
làm đầy hồ, không một nơi nào không lan đến."
P:
không có.
C8:
(19a, 10-13): "Ly hỷ chỉ còn lạc, vị Tỳ-kheo thấm nhuần
thân thể với lạc thọ ấy cùng khắp. Trong thân này, lạc
ấy lan khắp, không một nơi nào không lan. Như những hoa sen
xanh, hồng, đỏ, trắng sinh trong nước, lớn lên trong nước
và ở trong lòng nước; những rễ, cọng, hoa, lá của nó đều
được thấm nhuần tẩm ướt một cách trọn vẹn, không một
nơi nào không thấm"
P:
Không có.
C9:
(19a,13-15) : "Với tâm thuần tịnh, hiểu biết, vị Tỳ-kheo
an trú thân này ; trong thân này, không một chỗ nào là không
được thấm nhuần bằng cái tâm thuần tịnh tỉnh giác. Như
một người trùm toàn thân bằng một tấm vải rộng bảy,
tám sãi tay, từ đầu đến chân không một chỗ nào thân thể
không được che trùm."
P:
Không có.
C10:
(19a,16-18): "Vị Tỳ-kheo quán sát tưởng chói sáng, khéo gìn
giữ trong tâm những gì mà tâm quán tưởng. Lúc đầu cũng
như lúc cuối, lúc cuối cũng như lúc đầu; ngày như đêm,
đêm như ngày; dưới như trên, trên như dưới. Như vậy với
tâm không tán loạn, không rối ren, vị ấy tu tập tâm với
quang tưởng, tâm không bao giờ bị bao phủ trong bóng tối."
P:
Không có.
C11:
(19a, 18-20): "Vị Tỳ-kheo khéo thu vào hình ảnh quán tưởng,
khéo nhớ lại những gì mà tâm nhận thức. Giống như một
người ngồi nhìn một người đang nằm, hoặc một người
đang nằm nhìn một người đang ngồi."
P:
Không có.
C12:
(19a, 20; 19b, 1-4): "Thân thể này, đang sống, theo những ưa
và chán của nó, từ đầu xuống đến chân, Tỳ-kheo quán
sát và thấy nó đầy những thành phần bất tịnh: 'Thân này
của ta gồm tóc, lông, móng, răng, da dày, da mỏng, thịt, gân,
xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già, ruột non, lá lách,
bao tử, phân, não, hộp não, nước mắt, mồ hôi, nước mũi,
đàm, mủ, máu, mỡ, tủy, nước bọt, mật, nước tiểu. Nó
giống như một thùng đựng nhiều hạt giống, một người
có mắt phân biệt rõ ràng đây là lúa, mè, cải, hột mù
tạt...' "
P4:
(57,13-34) : Trong bản P, những bất tịnh của thân thể gồm
có 31 pháp, hơn C một pháp. Mặc dù nhiều bất tịnh chiếm
cùng vị trí trong bảng kê, thứ tự chúng có chỗ không đồng.
P
bỏ: não và hộp não.
C
bỏ: hoành cách mô, mỡ da, nước khớp xương.
C:
da dày, da mỏng = P: taco.
Ở
đây bản P có thứ tự như sau: tóc, lông, móng, răng, da, thịt,
gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, bao
tử, phổi, ruột non, ruột già, màng ruột, mật, đàm, mủ
máu, mồ hôi, nước mắt, nước mũi, nước khớp xương, nước
tiểu. Trong ẩn dụ, bản C nói đến một thùng chứa, trong
khi bản P sử dụng danh từ ubhatomukhà mutolì là một
thứ bao có hai đáy. P kể sáu loại ngũ cốc: sàlì, vìhì,
muggà, màsà, tilà, tandulaø (gạo, lúa, đậu xanh, đậu
nành, mè, gạo lứt?).
C13:
(19b, 4-6): "Lại nữa vị Tỳ-kheo quán sát thân thể này như
là thân thể. Vị Tỳ-kheo quán sát thân này với các thành
phần : 'Thân thể này của ta có địa giới, thủy giới, hỏa
giới, phong giới, không giới, thức giới. Như người đồ
tể sau khi giết một con bò, lột da đặt nó trên đất mà
chia thành sáu phần.' "
P5:
(57, 35-37; 58-18) : Bản P chỉ nói bốn giới đầu, bỏ không
giới và thức giới. Trong ẩn dụ của bản P, nói một đồ
tể thiện xảo hay đệ tử của người đồ tể ngồi ở
ngã tư đường và trưng bày những thành phần của con bò
cái mà anh ta đã giết.
-
Quán các giai đoạn tan rã của xác chết:
Ở
đây cả hai bản đều mô tả vị Tỳ-kheo quán sát những
giai đoạn tàn tạ của một thây chết bị ném ra nghĩa địa
(bản P), cho đến bảy ngày (bản C) hoặc cho đến ba ngày
(bản P).
C1:
(19b, 6-8): "Lại nữa vị Tỳ-kheo quán sát thân thể như là
thân thể. Vị Tỳ-kheo quán sát thi thể kia đã chết một
ngày, hai ngày cho đến sáu, bảy ngày, bị quạ và diều mổ,
bị chó sói và chồn hoang ăn, bị lửa đốt, bị chôn dưới
đất, phải tàn tạ, hôi thối, tan rã."
P1:
(58, 9-11): Bản P nói đến một thân thể bị ném ra nghĩa địa
một ngày hoặc hai ba ngày, phồng lên, xanh bầm và hôi thối.
C2:
(19b, 8-10): "...một bộ xương có màu xanh bầm, hôi thối, bị
rữa ra, bị ăn hết hơn một nửa, với những bộ xương còn
liên kết nằm trên mặt đất."
P2:
(58, 15-19): "Thân này bị ném vào nghĩa địa và bị ăn bởi
những con quạ, diều hâu, kên kên, chồn hoang, bởi đủ thứ
sâu bọ."
C3
và C4: (19b, 10-14): "...bộ xương không có da, đã hết máu,
còn thịt, còn đường gân liên kết ... bộ xương không còn
gân dính liền, rải rác khắp mọi hướng: một đốt xương
bàn chân, một xương ống chân, một xương đùi, một xương
mông, một xương bả vai, một xương cổ, một xương sọ nằm
rải rác chỗ này chỗ kia."
P3:
(58, 23-31): "Một bộ xương còn thịt và máu, còn đường gân
liên kết, một bộ xương không còn liên kết rải rác khắp
mọi hướng, chỗ này chỗ kia một xương bàn tay, một xương
bàn chân, một xương ống chân, một xương đùi, một xương
vế, một xương sống lưng, một xương đầu."
C5:
(19b, 14-17) : "...Những xương màu trắng như vỏ ốc, xanh như
màu bồ câu, đỏ như thể loang lổ máu, bị tàn tạ, thối
rữa, rã rời, và tan thành bột phấn."
P4:
(58, 34-37; 59,1): "Những cái xương trắng màu vỏ ốc, chất
thành từng đống đã hơn một năm (terovassikàni), những
cái xương hôi thối, tan rã thành đất, chỉ còn là bột."
-
Sự
quán tưởng của vị Tỳ-kheo về những nơi ấy:
C:
(19b,7-8) : "Sau khi trông thấy điều này, Tỳ-kheo so sánh với
chính thân thể mình: 'Thân ta rồi cũng ra như thế, theo định
luật ấy, cuối cùng không thể nào thoát khỏi.' Như vậy
vị Tỳ-kheo quán nội thân như là thân thể, quán ngoại thân
như là thân thể, an trú tâm trên thân, liên hệ đến trí,
liên hệ đến tri kiến... Như vậy là quán thân trên thân."
P:
(59,1-10): Vị Tỳ-kheo quán sát thân này bản chất là như vậy,
thân này sẽ trở thành như vậy, không thể nào khác hơn,
còn lại như trên.
Nhận
xét: Ở đây bản P bỏ từ đoạn sáu đến đoạn chín
của bản P. Nhưng trong NC74, bốn đoạn ấy liên hệ đến
sự chứng đắc bốn thiền thì cũng có như trong bản P. Nghiên
cứu tỷ giảo các đoạn này trong hai bản dịch sẽ cho thấy
những điểm đồng và dị như sau:
C6
= P10: (P 119, iii): Gần giống. Bản P thêm sự chứng đắc sơ
thiền với năm thiền chi. Ví dụ cũng gần như nhau. Bột tắm
ở bản C = P: nahàniyacunnàni. Bản P thêm: không có trào
ra. Còn lại cũng giống nhau.
C7
= P11: (P93, 4-23): Tương tự. Ở đây P thêm sự chứng đắc
nhị thiền với các thiền chi, ví dụ cả hai giống nhau. Bản
C: một suối nước tuôn từ trên núi xuống, trong sáng, tràn
đầy = P: một hồ nước đầy. Trong khi bản C nói đến nước
tuôn lên từ dưới đáy và tràn ra ngoài, thấm khắp ngọn
núi, bản P nói rằng, mặc dù thỉnh thoảng trời không trút
mưa xuống, nhưng nước mát tuôn từ dưới lên sẽ làm đầy
hồ với nước mát lạnh.
C8
= P12: (P 93, 24-33; 94, 1-8): Gần giống nhau. Ở đây bản P thêm
sự chứng đắc tam thiền theo thể thức thuờng lệ. Ví dụ
cũng gần giống nhau. Bản P thêm: trong một ao đầy sen xanh,
đỏ, trắng; và bỏ: sen hồng. Bản C: rễ, nhánh, hoa, lá của
nó = bản P: từ ngọn cho đến rễ.
C9
= P13: (P 94, 9-21): Gần giống nhau. Ở đây bản P thêm sự chứng
đắc thiền thứ tư theo công thức thường lệ. Ví dụ cũng
gần giống nhau. Bản P nói thêm con người đang ngồi. C: một
tấm vải dài bảy, tám sãi tay = P: tấm vải trắng.
ii)
Quán thọ:
C:
(19b,17-20) : "Thế nào là quán cảm thọ như là cảm thọ? Tỳ-kheo
khi cảm giác lạc thọ, biết rằng mình đang cảm giác lạc
thọ; khi cảm giác khổ thọ biết mình đang cảm giác khổ
thọ. Khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, biết mình đang
cảm giác bất khổ bất lạc thọ. Khi cảm giác một lạc
thọ về thân, một khổ thọ về thân, một bất khổ bất
lạc thọ về thân; một lạc thọ về tâm, một khổ thọ
về tâm, một bất khổ bất lạc thọ về tâm; một lạc thọ
liên hệ đến thực phẩm, một khổ thọ liên hệ đến thực
phẩm, một bất khổ bất lạc thọ liên hệ đến thực phẩm;
một lạc thọ không liên hệ đến thực phẩm, một khổ thọ
không liên hệ đến thực phẩm, một bất khổ bất lạc thọ
không liên hệ đến thực phẩm; một lạc thọ về dục, một
khổ thọ về dục, một bất khổ bất lạc thọ về dục;
một lạc thọ về ly dục, một khổ thọ về ly dục, một
bất khổ bất lạc thọ về ly dục. Khi ấy, vị ấy biết
mình đang cảm thọ... một cảm thọ ly dục không lạc không
khổ." (Phần còn lại cũng như trong trường hợp quán thân).
P:
(i, 59, 11-28): Gần giống nhau. P bỏ: thân lạc thọ, thân khổ
thọ, thân bất khổ bất lạc thọ, tâm lạc thọ, tâm khổ
thọ, tâm bất khổ bất lạc thọ, lạc thọ về dục, khổ
thọ về dục, bất khổ bất lạc thọ về dục, lạc thọ
về ly dục, khổ thọ về ly dục, bất khổ bất lạc thọ
về ly dục. Bản C: lạc thọ liên hệ đến thực phẩm = P:
lạc thọ liên hệ đến lợi lộc vật chất. Nhận xét tương
tự đối với hai cảm thọ kia và ba cảm thọ không liên hệ
đến thực phẩm.
iii)
Quán tâm:
C:
(20a,1-4): "Vị Tỳ-kheo khi tâm có tham dục biết rõ như thật
rằng tâm có tham dục; khi tâm không tham dục vị ấy rõ biết
như thật tâm không tham dục." Tương tự với sân, không sân;
si, không si; có lỗi không lỗi; tâm tập trung, tâm phân tán;
tâm thấp hèn, tâm cao thượng; tâm nhỏ nhen, tâm quảng đại;
tâm có tu tập, tâm không tu tập; tâm định tĩnh, tâm không
định tĩnh; với tâm không giải thoát biết như thật tâm
không giải thoát, với tâm giải thoát vị ấy biết như thật
rằng tâm giải thoát. (Còn lại cũng giống như những chương
trước).
P:
(59, 29-37; 60, 1-6): Gần giống nhau. Bản P bỏ: tâm có lỗi,
không lỗi; có tu tập, không tu tập; cũng bỏ: như thật.
iv)
Quán pháp:
C:
(20a, 4 - 15): "Con mắt do sắc pháp khởi lên những nội kiết
sử. Vị Tỳ-kheo khi trong tâm có nội kiết, như thật biết
rằng mình có nội kết; khi trong tâm không có nội kiết, như
thật biết rằng mình không có nội kiết. Khi nội kiết chưa
sanh khởi, vị ấy như thật biết chúng; khi những nội kết
đã sanh được đoạn trừ không sanh trở lại, vị ấy như
thật biết chúng. Cũng vậy với tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Đây gọi là Tỳ-kheo quán pháp như pháp theo sáu xứ." Rồi
bản C tiếp tục với phương pháp ấy và cách giải thích
đối với năm triền cái, bảy giác chi.
P:
(60, 6-37; 61, 1-17): Gần giống nhau, trừ các chỗ khác nhau như
sau:
a)
Những pháp được dùng để quán trong bản P là năm triền
cái, năm thủ uẩn, sáu nội ngoại xứ, bảy bồ đề phần,
bốn đế; Như vậy bản C bỏ năm thủ uẩn và bốn đế;
b)
Bản C chỉ nói sáu nội xứ mà không nói đến sáu ngoại
xứ;
c)
Bản C khởi đầu với sáu nội xứ rồi đến năm triền cái,
P khởi đầu bằng năm triền cái, đến năm thủ uẩn, đến
sáu nội ngoại xứ.
v)
Hai quả chứng nhờ thực hành niệm xứ:
C:
(20a, 15-19) = P: (62, 34-37; 631-19):
Cả
hai bản kinh đều mô tả hai quả chứng đạt được nhờ
tu tập niệm xứ, đó là tối thượng tri kiến ngay trong hiện
tại (C), chánh trí (P) hoặc nếu còn dư y, thì quả Bất hoàn
(C) và sati và upàdesese anàgàmita (P).
Về
thời gian tu tập để đạt đến hai quả nói trên, bản C
bắt đầu bằng bảy năm và tuần tự xuống đến sáu, năm,
bốn, ba, hai, một năm, rồi bảy tháng, sáu, năm, bốn, ba,
hai, một tháng, rồi bảy ngày, sáu, năm, bốn, ba, hai, một
ngày một đêm. Nó còn nói thêm: "Vào buổi sáng, vị ấy tu
tập như vậy, vào buổi chiều vị ấy sẽ đạt đến chứng
đắc, vào buổi chiều vị ấy tu tập như vậy, sáng mai sẽ
chứng đắc". Bản P khởi đầu bằng bảy năm, dần dần xuống
đến sáu, năm, bốn, ba, hai, một năm; bảy tháng rồi sáu,
năm, bốn, ba, hai, một tháng, nửa tháng và bảy ngày chứ
không ít hơn, và bảy ngày được xem là thời gian tối thiểu
để đạt đến Chánh trí hay quả Bất hoàn.
Ghi
chú: Về sự tu tập niệm xứ này cả hai bản kinh cho ta
những tài liệu gần giống nhau, vì phương pháp quán căn bản
chỉ là một. Nhưng những nhà kết tập hai tạng kinh dường
như tự do thu thập những tài liệu, và điều này giải thích
sự khác nhau về chi tiết mà ta sẽ thấy ở đây. Chúng ta
có thể kết luận một cách an toàn rằng cả hai bản dịch
đều xuất xứ từ một nguồn gốc, nhưng sự chọn lựa những
chi tiết thì do những nhà kết tập tùy tiện.
b)
Bốn chánh đoạn :
Ở
đây bản C sử dụng từ ngữ Bốn chánh đoạn (Sk. Samyakprahàna).
C
222: (vii, 98a-6-9) : "...Đối với những ác bất thiện pháp
đã sanh, vị ấy nỗ lực tâm để diệt trừ chúng. Đối
với các ác bất thiện pháp chưa sanh, vị ấy nỗ lực tâm
để diệt trừ chúng, làm cho chúng không thể sanh khởi. Đối
với các thiện pháp chưa sanh, vị ấy nỗ lực tâm làm cho
nó có thể sanh. Đối với các thiện pháp đã sanh, vị ấy
nỗ lực tâm để chúng tồn tại lâu dài, chúng không biến
mất, mà tăng trưởng."
P77:
(ii, 11, 10-22): Bản P dịch như sau: "anuppannànam pàpakànam
akusalànam dhammànam anuppàdàya; uppannànam pahànaya; anuppannànam
kusalànam dhammànam uppàdàya; uppannànam thìtiyà."
(Những
ác bất thiện pháp chưa sanh không cho sanh khởi; đã sanh thì
trừ diệt; những thiện pháp chưa sanh làm cho sanh khởi; đã
sanh thì duy trì.)
c)
Bốn thần túc:
C
206: (vii, 78a, 13-15): "Vị Tỳ-kheo được dạy tu tập căn bản
thần thông đoạn tận, được hoàn tất trong thiền định
căn cứ trên dục, tùy thuộc viễn ly, ly dục, diệt, xả ly,
hướng đến Niết-bàn. Cũng vậy căn bản thần thông đoạn
tận, được hoàn tất trong thiền định căn cứ trên tinh
tấn, trên tâm, trên sự phân biệt, tùy thuộc viễn ly, ly
dục ... hướng đến Niết-bàn."
P16:
(i,103,32-37): Gần giống. Bốn loại định được nói ở đây
là dục, tinh tấn, tâm, trạch pháp. Thuộc từ cho thần túc
là chandà - samàdhipadhànasankhàrasamannàgatam (với chữ
dục được thay thế bằng ba yếu tố khác trong những trường
hợp sau), nghĩa là có được thiền định dựa trên dục,
với những hoạt động của sự nỗ lực, trong khi bản C thay
thế danh từ padhànasankhàra bằng chữ đoạn có
nghĩa là nhổ tận gốc.
d)
Năm căn:
Những
pháp này được đề cập trong NC98, kinh C 86: (vi, 4a, 2-3) là
các căn tín, tấn, niệm, định, tuệ. Bản P cũng tương tự.
e)
Năm lực:
Những
pháp này được đề cập trong kinh C86: (vi, 4a, 3-5) và trong
kinh P77: (ii,12,73). Chúng được kể như là các năng lực tín,
tấn, niệm, định, tuệ.
f)
Bảy bồ đề phần hay bảy yếu tố của trí tuệ:
Được
đề cập trong NC2, 49, 66, 72 và 98.
C86:
(vi,4b,15-17): Chúng được kể như sau: tuệ, niệm, trạch pháp,
tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả.
P77
: (ii,12,14-23): Cũng giống như trên: niệm giác chi, trạch pháp
giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định
giác chi,và xả giác chi.
g)
Tám Thánh đạo:
Tám
thánh đạo được kể trong NC31, 48, 65, 73, 93, 95 và 98.
C31:
(43a,9-11): "Chánh kiến là gì? Khi thánh đệ tử nghĩ về khổ
là khổ, sinh là sinh, diệt là diệt, đạo là đạo, hoặc
khi vị ấy xét đến những hành vi trước của mình, hoặc
khi vị ấy tu tập và tư duy về các nghiệp đạo, hoặc vị
ấy thấy nguy hiểm trong các nghiệp đạo, hoặc khi vị ấy
thấy sự an tịnh của Niết-bàn, hoặc khi vị ấy quán tâm
giải thoát không chấp thủ. Trong những lúc ấy, vị ấy phân
tích, phân tích rộng rãi, phân tích sâu xa, quán sát, quán
sát rộng rãi, phân biệt rõ ràng và quán sát, đạt đến
một cách minh bạch. Đây gọi là chánh kiến."
P141:
(iii, 251, 12-15): Rất đơn giản. Bất cứ gì là trí về khổ,
trí về nguồn gốc khổ, trí về sự diệt khổ, trí về con
đường đưa đến diệt khổ, đây gọi là chánh kiến.
C:
(43a, 11-13): "Thế nào là chánh tư duy? Khi vị thánh đệ tử
tư duy về khổ là khổ.... đạt tâm giải thoát.Trong những
lúc ấy, vị ấy quán sát, quán sát rộng rãi, quán sát một
cách thích đáng. Vị ấy nghĩ về những gì cần suy nghĩ,
tư duy những gì cần tư duy. Đây gọi là chánh tư duy."
P:
(251, 16-18): Không hẳn như trên. Ở đây là ước vọng muốn
từ bỏ dục vọng, ước vọng muốn tránh điều ác, ước
vọng tiến đến vô hại.
C:(43a,
13-15): "Khi vị thánh đệ tử nghĩ về khổ là khổ.... tâm
giải thoát, vào những lúc ấy, trừ bốn chánh ngữ, vị ấy
từ bỏ những lời bất thiện, loại bỏ chúng, tẩy trừ
chúng, nhổ tận gốc, không thực hành, không tu tập, không
liên hệ đến chúng, đây gọi là chánh ngữ."
P:(251,
19-22): Cũng gần giống như trên, chỉ khác danh từ. Ở đây
bản P nói từ bỏ nói láo, nói hai lưỡi, nói lời thô, nói
lời phù phiếm, đây gọi là chánh ngữ.
C:
(43a, 15-17): "Khi vị thánh đệ tử nghĩ về khổ là khổ, ...tâm
giải thoát, vào những lúc ấy, trừ ba thân thiện hành, vị
ấy tránh những hành vi bất thiện khác, gạt bỏ chúng, nhổ
tận gốc, tẩy trừ chúng, không tu tập, không thi hành, không
liên hệ đến chúng, đây gọi là chánh nghiệp."
P:
(251, 23-25): Cũng một nhận xét như ở chánh ngữ.
C:
(43a, 17-19): "Khi vị thánh đệ tử......tâm giải thoát, vào
những lúc ấy, vị ấy không tầm cầu sai lạc, vị ấy không
ham muốn cũng không hoan hỷ, không thi hành những ngón lừa
bịp, tụng chú thuật, vị ấy không vướng vào tà mạng.
Vị ấy chỉ tầm cầu y phục phù hợp với chánh pháp, không
trái chánh pháp, chỉ tầm cầu thực phẩm, sàng tọa phù hợp
với chánh pháp, không trái chánh pháp. Đây gọi là chánh mạng."
P:(251,
26-28): Rất đơn giản. Vị thánh đệ tử sau khi từ bỏ tà
mạng, sinh sống với chánh mạng.
C:
(43a, 19-20; 43b,1): "Khi vị thánh đệ tử...tâm giải thoát,
vào những lúc ấy, vị ấy thi thố nỗ lực và phương tiện,
tuyệt đối nỗ lực, bằng sức mạnh, tiến tới với sự
hăng hái vững vàng, không từ bỏ, không thối lui, làm chủ
tâm ý mình. Đây gọi là chánh phương tiện."
P:
(251, 29-34; 252, 1-4): Không hẳn giống nhau. Ở đây bản P dùng
danh từ chánh tinh tiến, trong khi bản C dùng chánh phương tiện.
Ở đây vị Tỳ-kheo thi thố những ước muốn, nỗ lực, cố
gắng, dụng tâm và hướng đến sự không sinh khởi những
ác bất thiện pháp, nỗ lực hướng đến sự khởi lên thiện
pháp, và nỗ lực duy trì, bảo tồn, tăng trưởng, lớn mạnh,
phát triển, hoàn tất những thiện pháp đã sinh.
C:
(43b, 1-3): "Khi vị thánh đệ tử... tâm giải thoát, vào những
lúc ấy, khi có chánh niệm hướng về, chánh niệm chống lại,
hoặc không có chánh niệm hướng về bất cứ gì, vị ấy
chú tâm, hoàn toàn chú tâm, duy trì sự tỉnh giác, không quên
lãng, đây gọi là chánh niệm."
P:
(252, 5-9): Không giống như trên. Ở đây vị Tỳ-kheo trú quán
thân nơi thân, quán thọ nơi cảm thọ, quán tâm nơi tâm, và
quán các pháp nơi các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm
để nhiếp phục tham ưu ở đời.
C:
(43b, 3-5): Khi vị thánh đệ tử... tâm giải thoát,vào những
lúc ấy, vị ấy chứng trú các thiền chứng, vững chắc,
cố định, không lay chuyển, không xao lãng, nhất tâm, vững
vàng, tập trung, đây gọi là chánh định.
P:
(252, 10-17): Không hẳn giống. Ở đây bản P nói đến sự
chứng đắc bốn thiền từ thiền thứ nhất đến thiền thứ
tư.
Trong
NC31, có những hỏi đáp về tám thánh đạo như sau:
C210:
(vii, 84a, 4-5): Hỏi : Tám thánh đạo là gì? Đáp: Tám thánh
đạo là chánh kiến cho đến chánh định, đây gọi là Tám
thánh đạo.
P
44: (i, 300, 31-34): Gần giống. Bản P kể toàn thể tám thành
phần.
C:
(84a, 6-7): Hỏi: Tám thánh đạo có phải là pháp hữu vi không?
Đáp: Tám thánh đạo là pháp hữu vi.
P:(300,
35-36; 301,1): Cũng giống như vậy.
C:(84a,
7-8): Hỏi: Có bao nhiêu nhóm? Đáp: Có ba nhóm - nhóm giới,
nhóm định và nhóm tuệ.
P:
không có.
C:
(84a, 8-11): Hỏi: Tám thánh đạo bao gồm cả ba nhóm, hay ba
nhóm bao gồm Tám thánh đạo? Đáp: Tám thánh đạo không bao
gồm ba nhóm, mà ba nhóm bao gồm Tám thánh đạo. Chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng, ba thành phần này được bao gồm
trong nhóm thánh giới; chánh niệm, chánh định, hai thành phần
này được bao gồm trong nhóm thánh định; chánh kiến, chánh
nguyện, chánh phương tiện, ba thành phần này bao gồm trong
nhóm thánh tuệ. Đây là lý do Tám thánh đạo không bao gồm
ba nhóm, nhưng ba nhóm bao gồm Tám thánh đạo.
P:(301,
1-11): Có một điểm khác. Bản P bao gồm chính tinh tấn trong
nhóm định, trong khi bản C bao gồm chánh phương tiện trong
nhóm tuệ. Phần còn lại gần giống nhau.
Như
vậy, về Bát chánh đạo, chỉ có một sự khác nhau chính
yếu giữa hai bản C và P, đó là sự phân loại của bản
C về chánh phương tiện thuộc nhóm tuệ, trong khi bản
P đặt chánh tinh tấn vào nhóm định. Còn về cách dịch
của bản C thành "chánh phương tiện", đây là một lối dịch
hơi xưa, những nhà phiên dịch về sau chọn danh từ "chánh
tinh tiến", và danh từ này dịch đúng nghĩa tiếng Pàli.
2. Diệt
trừ các triền cái:
NC
23, 28, 68 nói đến sự loại trừ năm triền cái với cách
gần giống nhau.
Trong
NC 23, được nói như sau:
C146:
(vi, 79b, 6-9): "Sau khi hoàn tất tu tập thánh giới, sau khi đã
tu tập sự hỷ túc, điều phục căn, chánh niệm tỉnh giác
khi đi ra đi vào, vị Tỳ-kheo lại độc cư, viễn ly, tại
một nơi nhàn tịnh hay dưới gốc cây, hoặc ở một nơi thoáng
khí và yên tĩnh, trên mỏm núi hay trong hang đá, giữa trời
hay trên một đống rơm, hoặc vị ấy đi đến một khu rừng
hay một nghĩa địa. Vị ấy sau khi đi đến khu rừng, hay dưới
gốc cây, một nơi trống vắng, trải tọa cụ ngồi kiết
già với thân thẳng, nguyện chân chính, với tư tưởng khéo
kiểm soát, không tán loạn, vị ấy diệt trừ tham, với tâm
không tranh chấp, vị ấy thấy những tài sản vật dụng của
người khác mà không ham muốn đem về cho mình, thanh lọc tâm
khỏi tham lam. Cũng vậy với sân, hôn trầm, trạo cử, vị
ấy đã diệt trừ nghi, vượt qua do dự, hướng đến các
thiện pháp, vị ấy không nghi ngờ, thanh lọc tâm khỏi hoài
nghi."
P27:
(i, 181, 9-24): Đơn giản hơn. Nó bỏ: khi đi ra đi vào tại
một nơi thoáng khí và yên tĩnh, trải tọa cụ, với chính
nguyện, với tư tưởng khéo kiểm soát, không xao lãng, vị
ấy diệt trừ tham, tâm không tranh chấp, vị ấy thấy những
tài sản và vật dụng của người khác mà không tham đem về
cho mình. Bản P thêm: khi đi khất thực về ăn xong; vị ấy
giữ chánh niệm trước mặt.
Năm
triền cái giống nhau trong hai bản; nhưng trong khi bản C chỉ
nhắc đến bốn triền cái còn lại một cách rất vắn tắt,
thì bản P cho nhiều chi tiết hơn.
3. Bốn
thiền sắc giới:
Bốn
thiền thuộc sắc giới được đề cập trong NC 5, 7, 21, 23,
25, 28, 30, 31, 32, 37, 42, 43, 44, 64, 65, hoặc vắn tắt hoặc dông
dài.
Trong
NC 23, những pháp ấy được nói đến như sau:
a)
Sơ thiền:
C146:
(vi, 79b, 9-10): "Vị Tỳ-kheo sau khi diệt trừ năm triền cái,
diệt trừ tâm lỗi lầm và liệt tuệ, tránh xa dục, các bất
thiện pháp, vị ấy chứng và trú sơ thiền đầy đủ tầm,
tứ, hỷ, lạc do ly dục sinh."
P27:(i,
181, 25-28): Gần giống.
P:
có tầm = C: hữu giác, nghĩa là có ý thức, có nhận
thức; những dịch giả về sau dùng hữu tầm, nghĩa
là có tra tầm.
P:
có tứ = C: hữu quán, nghĩa là có tư duy quán sát; những
dịch giả về sau dùng hữu từ, nghĩa là tư tưởng đang tra
tầm.
b)
Thiền thứ hai:
C:
(79b, 10-12): "Sau khi bỏ giác và quán, nội tâm tịch tĩnh, nhất
tâm, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, không giác không
quán, có hỷ và lạc do định sinh."
P:(181,
32-35): Giống như vậy.
c)
Thiền thứ ba:
P:
(79b, 13-14): "Vị ấy từ bỏ hỷ và lạc, trú xả, không khao
khát, với chánh niệm, chánh trí, thân cảm thọ lạc thọ
mà các bậc thánh gọi là xả niệm lạc trú, vị ấy chứng
và trú thiền thứ ba."
P:
(182, 2-6): Gần giống. Hai tiểu dị: bản P bỏ: không khao khát.
C: lạc trú = P: sukhavihàrì.
d)
Thiền thứ tư:
C:
(79b, 14-15): "Vị ấy sau khi xả lạc, xả khổ, diệt hỷ và
ưu, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả
niệm thanh tịnh."
P:
(182, 10-14): Giống nhau.
Trong
NC30, có một đoạn ba câu hỏi đáp chỉ có trong bản P, đề
cập sơ thiền thuộc sắc giới. Hai câu hỏi đáp đầu cũng
có trong bản C, nhưng trong NC31, P44: (i, 294, 24-28): Hỏi: Sơ
thiền là gì? Đáp: Khi một vị Tỳ-kheo ly dục, ly bất thiện
pháp, thì vị ấy chứng và trú sơ thiền với giác, quán,
hỷ và lạc do ly dục sinh.
P:
(i, 294, 28-32): Hỏi: Sơ thiền có mấy thiền chi? Đáp: Sơ thiền
có năm thiền chi. Khi một Tỳ-kheo đạt đến sơ thiền, thì
có tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm.
P:
(i, 294, 32-37; 295, 1-4): Hỏi: Sơ thiền từ bỏ bao nhiêu pháp,
có được bao nhiêu pháp? Đáp: Ở sơ thiền, năm pháp được
đoạn trừ, và năm pháp được chứng đắc. Đối với Tỳ-kheo
nhập sơ thiền, thì tham, sân, hôn trầm, trạo cử, nghi, được
trừ diệt và khởi lên tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm.
Trong
NC37, các thiền thuộc sắc giới được kể như sau:
C217:
(vii, 95a, 6-8): Nói đến sự chứng đắc bốn thiền thuộc
sắc giới bởi một vị thánh đệ tử trú trong các thiền
này, quán pháp phù hợp với pháp. Sau khi trú bốn thiền, quán
pháp như pháp, vị ấy hoặc đạt đến lậu tận, hoặc nếu
sự trừ diệt lậu hoặc chưa được hoàn toàn vì có tham
ái, hoan hỷ trong pháp này, vị ấy sẽ đoạn trừ năm hạ
phần kết sử và tự nhiên được hóa sinh vào trong cõi này,
và từ đó vị ấy sẽ chứng Niết-bàn, vị ấy đắc quả
Bất hoàn.
P52:
(i, 349, 29-30; 350, 351, 1-17): Gần giống như trên. Bốn thiền
được mô tả dài dòng như thường lệ chứ không ngắn gọn
như trong bản C. Sau khi chứng đắc một thiền, vị Tỳ-kheo
nghĩ rằng thiền ấy do suy tư tác thành, và bất cứ gì được
tạo tác, do suy tư tác thành đều vô thường và phải hoại
diệt. Khi an trú trong điều này, vị ấy đạt đến lậu tận
và nếu không, do tham ái, hoan hỷ đối với pháp này, vị
ấy sẽ đạt đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử
và tự nhiên hóa sinh, nhập Niết-bàn tại đấy, không trở
lui đời này.
Tất
cả những đoạn kinh trên cho chúng ta thấy rằng về phương
diện các thiền chứng, không có khác nhiều giữa hai bản
dịch.
4. Bốn
phạm trú hay bốn vô lượng:
Những
pháp này được đề cập trong NC số, 18, 21, 24, 25, 29, 36,
37, 63, 64, 82, 98.
Chúng
ta chọn NC6 để khảo sát tỉ mỉ những pháp này.
C93:
(vi, 13a, 15-17): "Vị Tỳ-kheo trú, biến mãn một phương với
tâm từ, cũng vậy phương thứ hai, thứ ba, thứ tư, bốn phương
trung gian, trên, dưới, biến mãn cùng khắp, với tâm câu hữu
với từ, không trói buộc, không hận, không sân, không tranh,
vô cùng quảng đại, lớn rộng, vô lượng, biến mãn tâm
từ khắp thế giới, vị ấy khéo tu tập và an trú tâm từ.
Cũng vậy với bi, hỷ và xả...".
P7:(i,
38, 20-30): Gần giống. C: bốn phương trung gian = P: tiriyam.
C: không trói buộc, không hận, không sân, không tranh = P:
averena abyàbajjhena - không hận thù, không ác ý. C: vô cùng
quảng đại, lớn rộng, vô lượng = P: gần giống, bỏ: vô
cùng. C: vị ấy khéo tu tập = P: không có.
Cả
hai bản C và P đều đồng ý rằng sự tu tập bốn vô lượng
sẽ đưa người ta tái sinh vào cõi Phạm thiên như được
thấy trong NC63:
C27:
(v, 34b, 1-5): Thượng tọa Xá-lợi-tử giảng bốn phạm trú
cho Bà-la-môn Đà Nhiên; sự thực hành các pháp này sẽ đưa
đến sự nhổ tận gốc tham dục và sau khi chết sẽ đưa
đến tái sinh ở cõi trời Phạm thiên.
P97:
(ii, 195, 1-17): Gần giống. Ở đây Thượng tọa Xá Lợi Phất
giảng cho Bà-la-môn Dhànanjàni về bốn phạm trú được xem
là con đường cộng trú với Phạm thiên.
Sự
tu tập bốn vô lượng thường đặt giữa sự tu tập bốn
thiền sắc giới và sự tu tập bốn thiền vô sắc, như được
thấy trong NC37, kinh C217: (vii, 95a,8-13) và P52: (i, 351, 18-36;
352,1-2). Nhưng trong NC25, 21, 64, trong khi bản C trung thành với
truyền thống này, nghĩa là, để sự tu tập bốn vô lượng
ở giữa sự tu tập các thiền sắc giới và các thiền vô
sắc giới, thì bản P không theo.
Đôi
khi sự tu tập bốn vô lượng được đặt ngay trước sự
chứng đắc quả A-la-hán, do vậy ngụ ý rằng sự tu tập
bốn vô lượng này có thể đưa đến quả A-la-hán, như được
thấy sau đây:
C183:
(vii, 33b, 17-20): "Vị ấy nghĩ, bất cứ tư tưởng gì, thô
hay tế, nổi lên và biến mất, vị ấy như thật biết rõ.
Khi biết rõ như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát
khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Khi giải thoát, vị
ấy biết mình đã giải thoát. Sanh đã tận; đời sống phạm
hạnh đã được hoàn tất; việc cần làm đã làm xong; không
còn sinh trở lại. Tri kiến ấy đúng như thật."
P7:
(i, 38, 31-36): Bản P sau khi đề cập bốn phạm trú còn nói
đến sự chứng đắc A-la-hán quả, với tri kiến về idam
(A-la-hán quả), về hìnam (ô nhiễm, nghĩa đen là thấp
kém), và panìtam (phương pháp diệt trừ ô nhiễm, nghĩa
đen là thù thắng). Một tri kiến như vậy đưa đến sự tận
trừ ba lậu hoặc, sự chấm dứt sinh, sự an lập đời sống
phạm hạnh, sự hoàn tất công việc và diệt trừ tái sinh.
Như
vậy, nghiên cứu tỷ giáo về sự tu tập bốn vô lượng trong
hai bản dịch cho thấy sự gần giống nhau giữa hai truyền
thống mà các bản kinh ấy tiêu biểu. Nhưng truyền thống
C dường như thích pháp tu này hơn truyền thống P. Khuynh hướng
này, một khuynh hướng đã tiềm tàng trong những bản kinh
cổ của Phật giáo Sanskrit, có thể giải thích sự đặt nặng
tâm từ bi của các nhà Đại thừa, những người đặt từ
bi ngang hàng với trí tuệ, và nhấn mạnh việc ăn chay.
5. Bốn
thiền vô sắc:
Sự
tu tập bốn thiền vô sắc được đề cập trong NC 21,25,30,37,42,67,75.
Trong
NC42, sự tu tập này được đề cập như sau:
C205:(vii,
77a, 12-18): "Khi ấy, nhờ vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt
trừ tất cả chướng ngại tưởng, không tác ý các tưởng,
vị ấy chứng trú Không vô biên xứ... Sau khi vượt qua Không
vô biên xứ, vị ấy chứng trú Thức vô biên xứ ... Sau khi
vượt qua Thức vô biên xứ, vị ấy chứng Vô sở hữu xứ
... Khi cảm thọ lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, vị ấy
quán sát cảm thọ ấy là vô thường, vị ấy quán sát sự
sinh diệt, quán ly dục, quán diệt, quán đoạn tận, quán từ
bỏ. Sau khi quán những cảm thọ ấy là vô thường, quán sự
sinh diệt của chúng, sau khi quán vô dục, quán diệt, quán
đoạn tận, quán từ bỏ, vị ấy không phải sinh lại vào
cuộc đời này. Vì không còn phải tái sinh vào đời này,
vị ấy sẽ không có sợ hãi, do không sợ hãi, vị ấy nhập
Niết-bàn. Sinh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm
đã làm xong, không còn tái sinh nữa, vị ấy biết như thật."
P64:(i,
436, 18-26; 437, 1-6): Gần giống. C: Khi ấy nhờ vượt qua mọi
sắc tưởng, nhờ tận trừ mọi chướng ngại tưởng, không
tác ý tất cả tưởng, vị ấy chứng trú không vô biên xứ
= P : Bhikkhu sabbaso rùpa sađđànam samatikkamà patigha sađđàna
atthagamà nànattasađđàna amanasikàrà ananto àkàso ti àkàsanađcàyatanam
upasampajja viharati. Như vậy cũng giống như bản C. Ở đây
pháp quán có hơi khác. Vị ấy quán bất cứ sắc, thọ, tưởng,
hành, thức nào cũng là vô thường, khổ, như bệnh, như cục
bướu, như mũi tên, như một vật xấu xa, một ách vận, xem
là xa lạ, là hư hỏng, là trống rỗng, không tự ngã, vị
ấy không để tâm đến các pháp này, tập trung vào bất tử
giới, nghĩ rằng: "Đây là thiện, đây là thù thắng, sự
tịnh chỉ tất cả hành, sự diệt trừ mọi chấp thủ, sự
dập tắt khát ái, ly dục, diệt, Niết-bàn". Nếu vững trú
ở đây, vị ấy sẽ đạt đến sự tận trừ lậu hoặc.
Nếu vị ấy không đạt đến lậu tận, do tham ái pháp ấy,
do thích thú trong pháp ấy, thì nhờ diệt trừ năm kiết sử
trói buộc vào hạ giới, vị ấy sẽ hóa sinh và từ đấy
sẽ đạt Niết-bàn, không còn trở lui đời này.
Ở
đây ta nhận thấy bản P và C bỏ cảnh giới thứ tư là Phi
tưởng phi phi tưởng xứ, vì cảnh giới này được xem gần
như là một chướng ngại cho giải thoát tối hậu, và vì
đề tài của kinh này chỉ giới hạn vào sự từ bỏ năm
hạ phần kiết sử.
Thông
thường, bản C mô tả sự tu tập bốn thiền dưới hình thức
ngắn gọn, trong khi bản P thì đề cập đầy đủ tất cả
bốn thiền, như được thấy trong NC 25:
C185:
(vii, 37b, 2-5): "Chúng ta đã vượt qua các tưởng về hình sắc
cho đến sự chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ và trú
trong đó."
P31:
(i, 208, 31-37): Gần giống. Ở đây bản P giải thích đầy
đủ bốn thiền vô sắc giới.
Nhận
xét: Như vậy, về bốn thiền vô sắc, không có nhiều
dị biệt giữa hai bản kinh.
6. Diệt
tận định và vô tưởng định:
Sau
khi tu tập bốn thiền vô sắc, bản P thường nói đến một
định khác gọi là diệt thọ tưởng, định này thường bị
bỏ trong bản C, như được thấy trong P66, kinh Ví dụ con
chim cáy: (i, 456, 3-6) và trong P113, kinh Chân nhân: (iii,
45, 1-5).
Trong
NC30 và 31, có một loạt hỏi đáp liên hệ đến Diệt tận
định và Vô tưởng định.
C211:(vii,
86b, 4-6):
H:
Gì là sự khác biệt giữa cái chết và nhập diệt thọ tưởng
định?
Đ:
Trong sự chết, thọ mạng đã tắt, hơi ấm đã dứt, và các
giác quan đều hư hoại. Nhưng nơi Tỳ-kheo nhập diệt định,
thọ mạng chưa tắt, hơi ấm chưa dứt, và các căn chưa hư
hoại.
P43:(i,
296,11-23) :
H:
Gì là sự khác nhau giữa một vật đã chết và Tỳ-kheo nhập
diệt thọ tưởng định?
Đ:
Nơi một người chết, thân hành chấm dứt, lắng xuống, ý
hành chấm dứt, lắng xuống, thọ mạng đã tắt, hơi ấm
đã nguội lạnh, các căn hư hoại. Về Tỳ-kheo nhập định
diệt thọ tưởng, thân hành đã chấm dứt, ngữ hành vị
ấy chấm dứt, lắng xuống, ý hành vị ấy chấm dứt, lắng
xuống, nhưng thọ mạng không tắt, hơi ấm không nguội lạnh,
các căn còn sáng.
C:
(vii, 86b, 6-8):
H:
Gì là sự khác nhau giữa nhập diệt định và nhập định
vô tưởng?
Đ:
Khi vị Tỳ-kheo nhập diệt định, thì thọ, tưởng đã tắt.
Khi vị Tỳ-kheo nhập định vô tưởng, thì thọ và tưởng
chưa tắt.
P:
không có.
C:
(vii, 86b, 8-11) :
H:
Gì là khác nhau giữa người xuất diệt định và xuất vô
tưởng định?
Đ:
Khi một Tỳ-kheo xuất diệt định, vị ấy không nghĩ như
sau: "Ta đang xuất diệt định." Khi một Tỳ-kheo xuất khỏi
định vô tưởng, vị ấy nghĩ như sau: "Ta có tưởng, ta không
tưởng."
P:
không có.
C:(vii,86b,11-12):
H:
Khi một Tỳ-kheo nhập diệt định, vị ấy từ bỏ pháp nào
trước, thân hành, ngữ hành hay ý hành?
Đ:
Khi một Tỳ-kheo nhập diệt định, trước hết vị ấy từ
bỏ thân hành, kế đến là ngữ hành, và cuối cùng là ý
hành.
P:
Không có ở đây, nhưng có trong P44: (i,301,36, 362,1-5). Bản
P nói rằng ngữ hành chấm dứt trước, rồi đến thân hành,
rồi đến ý hành.
C:
(vii,86b,12-14):
H:
Khi một Tỳ-kheo xuất diệt định, pháp nào khởi lên trước,
thân hành, ngữ hành hay ý hành?
Đ:
Khi một Tỳ-kheo xuất diệt định, ý hành khởi lên trước,
rồi đến ngữ hành, và cuối cùng là thân hành.
P:
Không có ở đây, nhưng có trong P44: (i,302,13-18): Ở đây bản
P nói rằng, ý hành xuất hiện trước, rồi thân hành, rồi
ngữ hành.
C:(vii,
86b, 14-16) :
H:
Khi một Tỳ-kheo xuất diệt định, có bao nhiêu loại xúc vị
ấy cảm xúc đầu tiên?
Đ:
Khi một Tỳ-kheo xuất diệt định, vị ấy cảm ba loại xúc:
vô tham, vô thực chất và vô tướng.
P:
Không có ở đây, nhưng có trong P44: (i,302,18-22). Ở đây bản
P nói đến không xúc, rồi vô tướng xúc và vô nguyện xúc.
Trong
NC31, lại có một loạt hỏi đáp liên hệ đến hai loại định
này:
C210:
(vii, 84b,5-7):
H:
Khi một người nhập diệt định, vị ấy có nghĩ rằng ta
đang nhập diệt định?
Đ:
Khi một người nhập diệt định, vị ấy không nghĩ ta đang
nhập diệt định. Do sự tu tập và luyện tâm của vị ấy
nên đưa đến sự chứng đắc ấy.
P44:
(I,301, 30-36): Tương tự:
H:
Thế nào là sự chứng đắc diệt thọ tưởng?
Đ:
Vị Tỳ-kheo chứng đắc diệt thọ tưởng không nghĩ rằng
ta sẽ chứng đắc diệt thọ tưởng, hoặc ta đang chứng diệt
thọ tưởng, hoặc ta đã chứng diệt thọ tưởng. Do vị ấy
tu tập về trước nên đưa đến sự chứng đắc ấy.
C:(84b,7-9):
H:
Khi một Tỳ-kheo xuất diệt định, vị ấy có nghĩ ta xuất
diệt tận định?
Đ:
Khi một Tỳ-kheo xuất diệt tận định, vị ấy không nghĩ
ta xuất diệt tận định. Nhưng do thân thể và sáu giác quan
tương ưng với mạng, vị ấy xuất khỏi định ấy.
P:(302,
6-13): Cũng sự khác nhau như đã thấy trong câu hỏi trước.
Một điểm khác nữa: C nói: nhưng do thân thể này... = P: do
trước kia vị ấy đã tu tập tâm theo cách ấy nên đưa đến
trạng thái này.
C:(84b,
9-10):
H:
Khi một Tỳ-kheo xuất diệt tận định, tâm vị ấy thích
thú gì, thiên về cái gì, khuynh hướng về gì?
Đ:
Khi một Tỳ-kheo xuất diệt tận định, tâm vị ấy thích
thú việc đi, thiên về việc đi, khuynh hướng việc đi.
P:
(302, 22-27): Tương tự:
C:
độc cư = P: viễn ly.
Nhận
xét: Như vậy, về phương diện định diệt thọ tưởng,
giữa hai bản C và P không khác nhau nhiều. Mặc dù bản C dùng
danh từ định diệt tận, bản P diệt thọ tưởng, định
nghĩa cũng giống nhau. Về sự khác nhau giữa hành nào khởi
trước hay diệt trước, thật khó mà phân biệt giữa thân
hành và ngữ hành, vì nếu miệng cử động để thốt lên
một âm thanh, thì điều này bao hàm cả ngữ hành và thân
hành. Bởi thế sự khác nhau giữa hành nào khởi trước hay
diệt trước trong hai bản C và P không phải là một điều
quan trọng.
7. Năm
thắng trí hay thần thông:
Năm
thắng trí được đề cập trong NC5, 25, 74.
Như
trong NC74, các pháp được nói đến như sau:
C81:(v,
114b, 15-17): "Vị Tỳ-kheo có thể đắc như ý túc, thiên nhĩ,
tha tâm thông, túc mạng thông, và sanh tử trí; rồi với sự
đoạn trừ các lậu hoặc, vị ấy tự mình chứng đắc ngay
trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chứng
quả A-la-hán."
P119:
(iii, 98, 2-28): Tương tự. Nhưng ở đây bản P nói dông dài
như thường lệ với cả năm thắng trí.
Trong
NC5, vị Tỳ-kheo lập nguyện đắc năm thần thông như được
thấy sau đây:
C105:
(vi, 29b, 12-13): "Mong ta chứng đắc các thần thông, thiên nhĩ,
tha tâm, túc mạng, sanh tử trí."
P6:
(i, 34, 10-37): Ở đây bản P cũng đề cập vấn đề này nhưng
chia thành sáu nguyện, thứ 12 là thần túc, thứ 13 là thiên
nhĩ, thứ 14 là tha tâm, thứ 15 là túc mạng, 16 là thiên nhãn
và 17 là lậu tận.
a)
Thần túc thông:
Trong
NC26, thần thông này được nói như sau:
C184:
(vii,35a, 14-19): "Vị Tỳ-kheo có đại thần thông, đại công
đức, đại oai thần lực, làm chủ vô số thần thông, thi
triển vô số thần thông, từ một vị ấy biến thành nhiều,
từ nhiều vị ấy trở thành một; vị ấy trở thành một
người có tri kiến; vị ấy đi ngang qua vách đá, qua tường
không bị chướng ngại như ngang qua hư không; vị ấy độn
thổ và trồi lên như đi trong nước; vị ấy đi trên nước
không chìm như đi trên đất; vị ấy bay trên trời và ngồi
xếp bằng như con chim. Những vật có đại oai thần như mặt
trăng, mặt trời, vị ấy với bàn tay sờ chạm thân của
mặt trời mặt trăng cho đến phạm thiên giới."
P32:
(ii,214, 18-28): Ở đây bản P hoàn toàn khác, khi đề cập sự
trả lời của Trưởng lão Ca Chiên Diên về luận thuyết (A-tỳ-đàm).
Nhưng trong P108 Gopakamoggallana (tập 3), thì tương đương
với bản C, nhưng bỏ: có thần thông lớn, công đức lớn,
phước lớn, đại oai thần, làm chủ vô số thần thông và
thi triển vô số thần thông; từ một biến thành một, có
tri kiến.
C:
Vị ấy đi xuyên qua đá, qua tường không chướng ngại như
qua hư không = P: Hiện rõ hoặc không ai thấy, vị ấy đi ngang
qua tường, qua thành, qua núi như ngang qua hư không.
C:
thần thông lớn, công đức lớn, phước lớn, đại oai thần
= P: có thần lực như vậy, đại oai thần như vậy. Bản P
thêm : vị ấy thi triển năng lực bằng thân thể của mình.
b)
Thiên nhĩ:
Trong
NC74, C81: (v,114b, 15-17) chỉ nói thiên nhĩ trong khi P 19 nói:
"Với thiên nhĩ thuần tịnh siêu nhân, vị ấy nghe được
tiếng của chư thiên và loài người, ở xa cũng như gần."
c)
Tha tâm:
Lại
nữa trong NC74, C81: (v, 114b, 15-17) chỉ nói tha tâm thông trong
khi P 119 nói dài như sau: "Với tâm mình vị ấy biết tâm của
những hữu tình khác, của người khác. Tâm có tham vị ấy
biết tâm có tham; tâm không tham vị ấy biết tâm không tham;
cũng vậy, có sân, không sân, có si, không si, có định, không
định, quảng đại, không quảng đại, hữu thượng, vô thượng,
tập trung, không tập trung, giải thoát, không giải thoát."
d)
Túc mạng trí:
Trong
NC43, trí biết đời trước được nói như sau:
C194:
(vii, 51b, 14-17): "Vị ấy với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
không lỗi lầm, không ưu não, nhu nhuyến, tập trung, không
giao động, vị ấy nhớ lại những đời trước, sau khi thực
chứng với trí tuệ, vị ấy có một đời như thế, dáng
vẻ như thế, nhớ lại vô số đời trước, một đời, hai
đời, trăm đời, ngàn đời, thành kiếp, hoại kiếp, vô số
thành và hoại kiếp, những hữu tình kia có tên như vậy,
chúng đã trải qua những đời trước như vậy: Ta sinh ra tại
đấy với tên như vậy, họ như vậy, dòng dõi như vậy, ăn
uống như vậy, thọ khổ lạc như vậy, thọ mạng như vậy,
mạng chung như vậy; sau khi mạng chung tại đấy ta đã tái
sinh ở đây. Khi tái sinh ở đây ta đã có tên như vậy, họ
như vậy, ăn đồ ăn uống như vậy, thọ khổ lạc như vậy,
thọ mạng như vậy, sau khi sống lâu như vậy, đã chết như
vậy." Đoạn kinh C này có thể so sánh với kinh P trong NC28
:
P39:
Tương tự. Về những tĩnh từ chỉ tâm, bản P thêm pariyodàte-
"thuần tịnh", kammaniye- "dễ sử dụng" .
C
: không sầu não = P: không cấu uế.
C:
với tâm không dao động = P: ànenjjappatte. P bỏ: sau khi
chứng đắc với trí tuệ, vị ấy có một đời như vậy,
dáng dấp như vậy.
C:
vị ấy nhớ vô số đời trước = P: nhớ lại nhiều đời
trước.
C:
một đời, hai đời, trăm đời, ngàn đời = P: một đời,
hai đời, ba, bốn, năm, mười, 20, 30 40,50, 100, 1000, một trăm
ngàn đời. Bản P bỏ: sống lâu như vậy, đã chết như vậy,
nhưng thêm: với tất cả đại cương và chi tiết.
e)
Thiên nhãn hay sinh tử trí:
Trí
này được đề cập trong NC26,28,38,43. Như trong NC43, trí này
được nói như sau:
C194:
(vii, 51b, 18-20): "Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không lỗi
lầm, không lo lắng, nhu nhuyến, tập trung, không dao động,
vị ấy chứng đắc sinh tử trí. Với thiên nhãn thuần tịnh
siêu nhân, vị ấy thấy những chúng sinh này chết và tái
sinh, đẹp, xấu, thanh, thô, hạnh phúc hay bất hạnh tùy theo
nghiệp của chúng. Vị ấy thấy phù hợp với chân lý. Nếu
những chúng sinh này làm các ác hành về thân, lời, ý, phỉ
báng các bậc thánh, có tà kiến, theo tà hạnh; do những nghiệp
này sau khi chết, chúng sẽ sanh vào các nơi đau khổ, vào địa
ngục. Nếu những chúng sanh này thực hành các thiện hành
về thân, lời, ý, không phỉ báng bậc thánh, có chánh kiến,
chánh hạnh; do những nghiệp này sau khi chết, chúng sẽ sanh
vào các thiện thú, cõi trời."
Đoạn
kinh C này có thể so với đoạn P trong NC28:
P39:
Tương tự, nhưng bỏ: vị ấy tu tập, chứng ngộ và chứng
đắc nhờ trí, và thêm: vị ấy khuynh hướng tâm về. C: đẹp,
xấu, thanh, thô, hạnh phúc, bất hạnh tùy theo nghiệp của
chúng = P: hìne panìte suvanne dubbanne sugate duggate yathàkammùpage
(hạ
liệt, cao sang, đẹp, xấu, sanh thiện thú, ác thú, tùy theo
hành nghiệp). Bản P bỏ: vị ấy thấy như thật. C: có tà
hạnh = P: làm ác nghiệp do tà kiến. C: trong đọa xứ, địa
ngục = P: cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. C: có chánh
hạnh = P: sammàditthikammasamàdànà.
Nhận
xét: Như vậy nghiên cứu tỷ giảo về năm thắng trí
giữa hai bản C và P cho ta thấy không có gì khác nhau nhiều
giữa hai truyền thống, trừ thêm bớt một vài tĩnh từ hoặc
hơi khác.
Chúng
ta có thể nói rằng về phương diện định uẩn, quan điểm
của hai bản C và P gần giống nhau. Ngoại trừ vài dị biệt
trong cách trình bày bốn niệm xứ, cả hai bản dường như
rút tài liệu từ một nguồn chung, và điều này giải thích
sự tương đồng giữa hai bản dịch C và P khi nói về định
uẩn.
Xem
Tiếp Phần Thứ hai của Chương Bốn