1.
Thất pháp phẩm : 10 kinh
(C:
Ch'i-fa-p'in; P: Sattadhammavagga)
2.
Nghiệp tương ưng phẩm : 10 kinh
(C:
Yeh-hsiang-ying-p'in; P: Kammasamyuttavagga)
3.
Xá-lợi-tử tương ưng phẩm : 11 kinh
(C:
Shê-li-tzu-hsiang-ying-p'in; P: Sàriputtasamyuttav.)
4.
Vị tằng hữu pháp phẩm : 10 kinh
(C:
Wei-ts'êng-yu-fa-p'in; P: Abhbhutadammavagga)
5.
Tập tương ưng phẩm : 16 kinh
(C:
Hsi-hsiang-ying-p'in; P: Samudayasamyuttavagga)
6.
Vương tương ưng phẩm : 14 kinh
(C:
Wang-hsiang-ying-p'in; P: Ràjasamyuttavagga)
7.
Trường thọ vương phẩm : 15 kinh
(C:
Ch'ang-shou-wang-p'in; P: Dìghàyuràjavagga)
8.
Uế phẩm : 10 kinh
(C:
Wei-p'in; P: Anganavagga)
9.
Nhân phẩm : 10 kinh
(C:
Yin-p'in; P: Nidànavagga)
10.
Lâm phẩm : 10 kinh
(C:
Lin-p'in; P: Vanavagga)
11.
Đại phẩm : 25 kinh
(C:
Ta-p'in; P: Mahàvagga)
12.
Phạm chí phẩm : 20 kinh
(C:
Fan-chih-p'in; P: Bràhamanavagga)
13.
Căn bản phân biệt phẩm : 10 kinh
(C:
Kên-pên-fên-pieh-p'in; P: Mùlavibhangavagga)
14.
Tâm phẩm : 10 kinh
(C:
Hsin-p'in; P: Cittavagga)
15.
Song phẩm : 10 kinh
(C:
Shuang-p'in; P: Yamakavagga)
16.
Đại phẩm : 10 kinh
(C:
Ta-p'in; P: Mahàvagga)
17.Bổ
lợi đa phẩm : 10 kinh
(C:
Pu-li-to-p'in; P: Potaliyavagga)
18.
Lệ phẩm : 11 kinh
(C:
Li-p'in; P: Samvidahanavagga)
------------------------------------------
Tổng
cộng : 222 kinh
Chương
một, Thất pháp phẩm (Ch'i-fa-p'in), có 10 kinh, được
gọi như vậy vì 10 kinh này đề cập bảy pháp (dharmas)
như kinh C số 1, Thiện pháp kinh (Shan-fa-ching), bài kinh
nói về các việc phước đức, trong đó đức Phật dạy rằng
Tỳ-kheo nào có được bảy thiện pháp thì sẽ dứt các lậu
hoặc, và Ngài giải thích bảy thiện pháp ấy. Trong kinh C
số 9, Thất xa kinh (Ch'i-ch'ê-ching), bài kinh nói về bảy
cỗ xe trong đó đức Phật lấy ví dụ bảy cỗ xe tiếp vận
để so sánh với bảy giai đoạn tu tập của một vị Tỳ-kheo.
Chương
hai, Nghiệp tương ưng phẩm (Yeh-hsiang-yin-p'in), là nhóm
kinh liên hệ đến nghiệp (karma), được gọi như thế
vì 10 kinh này đề cập đến vấn đề nghiệp và quả. Như
trong C11,Ví dụ hạt muối (Yen-yu-ching), đức Phật giải
thích rằng con người sẽ gặt hái hậu quả tùy theo hành
độâng của mình. Trong kinh C 12, Hoà phaù (Ho-p'o-ching),
nói về cuộc thảo luận giữa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên
(Ta-mu-chien-lien) và một Ni kiền tử tên là Hòa Phá (Ho-p'o)
về những nghiệp đưa đến những đời sống tương lai trong
một cõi bất hạnh.
Chương
ba, Xá-lợi-tử tương ưng phẩm (Shê-li-tzu-hsiang-ying-p'in),
là nhóm kinh liên hệ Xá-lợi-tử (Shê-li-tzu) vì trong
những kinh thuộc nhóm này Tôn giả Xá Lợi Phất đóng vai
trò chính. Như trong kinh C 27, Phạm chí Đà nhiên kinh (Fan-chih-t'o-jan-ching),
Tôn giả Xá Lợi Phất giảng cho bà la môn Đà Nhiên (T'o-jan)
những nguy hiểm của sự làm các việc bất thiện. Trong kinh
C 26,Cù ni sư kinh (Chu-ni-shih-ching), Tôn giả Xá Lợi Phất
kể ra 13 học giới của một Tỳ-kheo.
Chương
bốn, Vị tằng hữu pháp phẩm (Wei-ts'êng-yu-fa-p'in),
nói về những việc kỳ diệu, vì những kinh thuộc nhóm này
đề cập những pháp kỳ diệu. Như trong kinh C 32,Vị tằng
hữu pháp kinh, Tôn giả A Nan kể ra 24 đức tính kỳ diệu
của đức Phật. Kinh C 33, Thị giả kinh (Shih-che-ching),
đề cập việc chọn Tôn giả A Nan làm thị giả của đức
Phật và việc Phật khen ngợi những đức tính đặc biệt
của Tôn giả A Nan.
Chương
năm, Tập tương ưng phẩm (Hsi-hsiang-p'in), nói về sự
sinh khởi. Như trong kinh C42, Hà nghĩa (Ho-i-ching), đức
Phật giải thích cho Tôn giả A Nan sự sinh khởi lệ thuộc
lẫn nhau của các pháp, từ việc giữ giới cho đến giải
thoát tri kiến. Trong kinh C 44,Niệm kinh (Nien-ching), đức
Phật giảng sự sinh khởi của các pháp kế tiếp nhau, bắt
đầu từ sự thất niệm của một Tỳ-kheo dẫn đến sự
không đạt được chánh trí và cuối cùng đưa đến sự không
chứng Niết-bàn (Nirvàna).
Chương
sáu, Vương tương ưng phẩm (Wang-hsiang-ying-p'in), gồm
các kinh nói đến vua. Như trong kinh C 64, Thiên sưù (T'ien-shih-ching),
kinh nói về sứ giả nhà trời, Diêm Vương (C: Ya-no;
P: Yama) nói đến năm sứ giả của trời báo hiệu cho
người ta sự già chết đang đến để thúc giục họ bắt
đầu học pháp. Kinh C 62,Tần bệ sa la vương nghênh Phật kinh
(P'in-pi-so-lo-wang-ying-fo-ching),
kể chuyện vua tiếp đón đức Phật khi Phật đến thăm ông
ta.
Chương
bảy, Trường thọ vương phẩm (Ch'ang-shou-wang-p'in), nói
về vua Trường Thọ, có tên như vậy bởi vì bản kinh đầu
tiên của nó, C72,Trường thọ vương bản ký kinh (Ch'ang-shou-wang-pên-chi-ching),
nói về đời trước của vua Trường Thọ. Kinh C 75,Tịnh bất
động đạo (Ching-pu-tung-tao-ching), nói về đường lối
của sự bất động hoàn toàn, đức Phật giảng cho Tôn giả
A Nan trạng thái hoàn toàn bất động mà một Tỳ-kheo tinh
cần tu tập sẽ đạt được.
Chương
tám, Uế phẩm (Wei-p'in), được gọi như vậy vì các
kinh trong phẩm này đề cập những lỗi lầm làm ô nhiễm
tâm. Như trong kinh C 87, Uế phẩm, Tôn giả Xá-lợi-tử
mô tả bốn hạng người có cấu uế và không cấu uế. Trong
kinh C 88,Cầu Pháp kinh (Ch'iu-fa-ching), đức Phật khuyến
cáo các Tỳ-kheo hãy làm những người thừa tự pháp, đừng
làm kẻ thừa tự ăn uống.
Chương
chín, Nhân phẩm (Yin-p'in), đề cập chính yếu đến
nguyên nhân. Như trong kinh C 97,Đại nhân (Ta-yin-ching),
đức Phật giải thích cho Tôn giả A Nan lý duyên sinh. Trong
kinh C 106, Tưởng kinh (Hsiang-ching), đức Phật giải thích
cho các Tỳ-kheo những thái độ khác nhau của các hạng người
đối với các pháp, nguyên nhân định đoạt các thái độ
ấy, và mức độ giải thoát của họ do những thái độ này.
Chương
mười, Lâm phẩm (Lin-p'in), quy tụ những kinh nói về
đời sống ở rừng. Như kinh đầu tiên C 107, Lâm kinh (Lin-ching-ti-i),
đức Phật khuyên các Tỳ-kheo nên ở rừng để có được
chánh niệm, định, giải thoát, diệt trừ lậu hoặc và đạt
đến Niết-bàn. Trong Lâm kinh kế tiếp (Lin-ching-ti-êrh),
C 108, đức Phật khuyên các Tỳ-kheo ở rừng để có thể
đạt đến mục đích của Sa-môn hạnh và dễ có được những
vật cần dùng cho đời sống.
Chương
mười một, Đại phẩm (Ta-p'in), gồm đến 25 kinh, có
lẽ gọi "đại" vì số lượng kinh khá lớn. Trong kinh C 117,
Nhu nhuyến kinh (Jou-juan-ching), đức Phật kể lại đời
sống xa hoa của mình trước kia ở trong cung điện, Ngài ngồi
dưới cây Jambu, đắc sơ thiền và sự thiền tư của
Ngài về các pháp của những người ngu và pháp của riêng
Ngài trong ánh sáng của thiền định ấy. Trong kinh C 131,Hàng
ma (Hsiang-mo-ching) , Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đối
trị ma (Màra) quấy nhiễu và cuối cùng đã xua đuổi
được ma vương.
Chương
mười hai, Phạm chí phẩm (Fan-chih-p'in), có tên như vậy
vì những kinh trong phần này đề cập về những bà la môn
(bràhmanas). KinhToán số Mục-kiền-liên (Suan-shu-mu-chien-lien-ching),
C 144, nói về bà la môn Toán số Mục Kiên Liên hỏi Phật
về lối dạy tuần tự trong pháp luật (Dharma-vinaya)
của Ngài. Trong kinh C 145, Cù mặc Mục-kiền-liên kinh (Ch'u-mê-mu-chien-lien-ching),
Tôn giả A Nan nói chuyện với bà la môn này về những pháp
điều phục tăng chúng sau khi đức Phật nhập diệt, khiến
tăng già có thể duy trì sự thống nhất.
Chương
mười ba, Căn bản phân biệt phẩm (Kên-pên-fên-pieh-p'in),
phần lớn đề cập sự phân tích các pháp khác nhau. Như kinh
C162, Phân biệt lục giới (Fên-pieh-liu-chieh-ching), đức
Phật nói về sự phân tích sáu giới. Trong kinh C 163, Phân
biệt lục xứ kinh (Fên-pieh-liu-ch'u-ching), đức Phật
phân tích sáu xứ hay phạm vi của sáu giác quan.
Chương
mười bốn, Tâm phẩm (Hsin-p'in), mượn tên kinh đầu
tiên trong nhóm là C 172,Tâm kinh (Hsin-ching), trong đó đức
Phật giải thích sự dao động của tâm trên bậc hữu học
và vô học. Cũng trong phần này, kinh C 173, Phù di kinh (Fou-mi-ching),
đề
cập lý thuyết cho rằng nếu một người sống đời phạm
hạnh với quyết tâm hoặc không, với cả hai hoặc không cả
hai, người ấy chắc chắn được quả báo.
Chương
mười lăm, Song phẩm (Shuang-p'in), có tên ấy do các kinh
được nhóm thành đôi có cùng một nhan đề, như kinhMã ấp
(Ma-i-ching),
C182-183, hoặc kinh Ngưu giác sa la lâm (Niu-chiao-so-lo-lin-ching),
C 184-185.
Chương
mười sáu, có tên giống chương mười một, Đại phẩm, nhưng
chương này chỉ có 10 kinh. Trong kinh C 193, Mâu lê phá quần
na (Mou-li-p'o-ch'un-na-ching), đức Phật quở trách vị
Tỳ-kheo có tên này vì chơi thân với ni và bảo ông hãy an
trú tâm từ và tâm bi. Trong kinh C 194, Bạt-đà-hòa-lợi (P'o-t'o-ho-li-ching),
đức Phật chỉ cho Tôn giả Bạt Đà Hoà Lợi những nguy hiểm
của sự phá giới luật nhất tọa thực, cách xử phạt những
Tỳ-kheo vi phạm và những lợi ích của sự tôn trọng giới
này.
Chương
mười bảy, Bổ lợi đa phẩm (Pu-li-to-p'in), lấy tên
kinh đầu tiên Bổ lợi đa, C 203, trong đó đức Phật
bảo gia chủ Bổ Lợi Đa rằng theo pháp luật của bậc thánh,
người ta không thể được gọi là tu sĩ khi chỉ từ bỏ
những tục sự mà thôi. Trong kinh C 204, La ma kinh (Lo-mo-ching),
đức Phật giảng về hai loại tầm cầu, là thánh cầu (ariyan)
và phi thánh cầu (unariyan).
Chương
cuối cùng thứ mười tám, Lệ phẩm (Li-p'in), lấy tên
của kinh cuối cùng trong nhóm tức C 222, Lệ kinh (Li-ching),
nói về sự xếp đặt, trong đó đức Phật giảng muốn tận
diệt và hiểu rõ vô minh, già, chết để chấm dứt khổ,
ta cần phải thực hành bốn niệm xứ, bốn chánh đoạn(66)
, bốn thần túc, bốn thiền (dhyànas), năm căn, năm lực,
bảy giác chi, tám chánh đạo, mười biến xứ, mười pháp
của bậc vô học.
Trước
mỗi chương, có một bài kệ bốn dòng hoặc nhiều hơn, tóm
tắt tên kinh chứa trong phẩm ấy. Ví dụ, trong phẩm đầu,
bài kệ như sau :
"Thiện
pháp, Trú độ thoï (Shan-fa chou-tu-shu)
Thành,
Thủy, Mộc tích duï (Ch'êng, shui, mu-chi-yu)
Thiện
nhân vãng, Thế phước, (Shan-jên-wang,
shih-fu)
Nhật,
Xa, Lậu tận kinh.(Jih, ch'ê, lou-chin ch'i).
"
Nghĩa
là gồm các kinh sau:
Thiện
pháp kinh (Shan-fa-ching), Trú độ thọ kinh (Chou-tu-shu-ching),
Thành dụ kinh (Ch'êng-yu-ching), Thủy dụ kinh (Shui-yu-ching),
Mộc tích dụ kinh (Mu-chi-yu-ching), Thiện nhân vãng kinh
(Shan-jên-wang-ching), Thế gian phước kinh (Shih-chien-fu-ching),
Thất nhật kinh (Ch'i-jih-ching), Thất xa kinh (Ch'i-ch'ê-ching),
Lậu tận kinh (Lou-chin-ching).
II. Theo
quyển :