|
|
|
|
Phần
Một
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
Hai - Những điểm đồng và dị giữa bản Hán tạng
và bản Pàli
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
Ba - 15 mẫu nghiên cứu tỷ giảo giữa các kinh P và C tương
đương
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
Bốn - Phụ lục
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
SO SÁNH KINH TRUNG
A-HÀM CHỮ HÁN
VÀ KINH TRUNG-BỘ CHỮ
PÀLI
Hòa
thượng Thích Minh Châu (1961) - Thích Nữ Trí Hải dịch Việt
(1998)
Nguyên
tác: Bhiksu Thich Minh Chau (1961),"A Comparative Study of the Chinese
Madhyama Agama and the Pali Majjhima Nikaya", Ph.D. Thesis, Bihar
University, India
 |
 |
III. VÀI
ĐẶC ĐIỂM CỦA NHẤT THIẾT HỮU BỘ
VÀ THƯỢNG TỌA BỘ
Vì
kinh Trung a-hàm CMA thuộc truyền thống Nhất thiết hữu bộ
và Trung bộ kinh PMN thuộc truyền thống Thượng tọa bộ,
một cuộc khảo sát so sánh 98 kinh tương đương cho thấy nhiều
đặc điểm của mỗi bộ phái. Những đặc điểm này cũng
giúp chúng ta giải thích được một vài truyền thống khác
nhau mà hiện nay Tăng già (Sanghas) đang áp dụng. Những
đặc điểm này cũng giúp chúng ta thấy được những năng
lực đã hoạt động từ một thời gian rất sớm, đã đưa
đến sự ly khai giữa Nhất thiết hữu bộ và Thượng tọa
bộ như được thấy qua những báo cáo mâu thuẫn của kỳ
kết tập thứ III.
1. An
cư hàng năm :
Tu
sĩ bắt buộc phải tuân giữ mỗi năm ba tháng an cư. Nhưng
tạng kinh Trung Quốc nói đến an cư mùa hạ, còn kinh Pàli
thì nói đến an cư mùa mưa. Trong NC 20, sự an cư được gọi
là an cư mùa hạ (C9, v, ii b, 4-6 Thất xa), trong khi đoạn
kinh (P24, i, 145, 12-15 Trạm xe) tương đương nói đến
an cư mùa mưa. Trong cuốn Cuộc đời của Huyền Trang
do hội Phật Giáo Trung Quốc Bắc Kinh ấn hành, cũng có nói
đến an cư mùa hạ. Quyển ấy viết : "Vào lúc chư Tăng trải
qua an cư mùa hạ, một số đông nhiều ngàn người từ xa
gần tụ lại"(48)
Trong bản tường thuật kỳ kết tập thứ nhất, Huyền Trang
đã ghi lại như sau : "Trong ba tháng an cư mùa hạ, tam tạng
kinh điển (Tripitaka) được sưu tập và ghi chép trên
lá bối để lưu hành"(49)
. Điều này giải thích sự sai khác về thời gian tuân giữ
mùa an cư tại các xứ theo Thượng tọa bộ và tại Trung Hoa
và Việt Nam. Ví dụ ở Tích Lan, chư Tăng khởi sự an cư mùa
mưa từ ngày tiếp theo ngày trăng tròn tháng Àsàdha (khoảng
tháng 6,7 DL) hoặc một tháng chậm hơn, và chấm dứt mùa an
cư vào ngày 16-9 hoặc tháng 10. Nhưng chư Tăng Việt Nam ngày
nay khởi sự an cư vào ngày 16-4-AL, nghĩa là hai tháng sớm
hơn truyền thống Pàli. Huyền Trang trong tác phẩm Tây
du ký(50)
ghi rằng sự tuân giữ mùa an cư khởi từ 16-4-AL là sai, vì
những nhà phiên dịch không rành về tập tục và truyền thống
của các xứ Tây Vức [Ấn Độ]; mùa an cư đáng lẽ bắt
đầu vào 16-3 chứ không phải tháng 4, nghĩa là sớm hơn một
tháng. Xét theo nhận xét này của Huyền Trang, thì ta thấy
có sự sai biệt ba tháng giữa hai truyền thống. Vậy ta có
thể kết luận rằng vì mùa mưa ở xứ Ma-kiệt-đà (Magadha)
tương ứng với mùa hạ ở Tây Bắc Ấn cũng như ở Trung
Quốc, nên bản Hoa dịch sử dụng danh từ an cư mùa hạ thay
cho an cư mùa mưa.
Sự
khác nhau về mùa an cư chứng tỏ mỗi bản dịch tiêu biểu
cho một trường phái và truyền thống khác nhau. An cư mùa
hạ được Bắc tông áp dụng, tiêu biểu là chư Tăng Bắc
Ấn, Trung Á, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam;
trong khi chư Tăng Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Cao Miên và
Lào an cư mùa mưa.
2. Ni
sư đàn (nisìdana) hay tọa cụ :
Một
điểm khác nhau nữa chứng tỏ truyền thống khác nhau của
mỗi tạng kinh, đó là cách dùng tọa cụ. Bản C luôn luôn
nói đến Phật và chư Tăng để tọa cụ lên vai và trải
ra giữa đất mỗi khi vào rừng ngồi thiền, trong khi bản
P phần lớn không nói đến chi tiết này, thí dụ trong Nghiên
cứu tỷ giảo số 15(51)
, đức Thế tôn khi đêm đã tàn, vào buổi sáng đắp y, cầm
bát đi vào thành Ca Tỳ La Vệ để (C: Chia-wei-lo-wei;
P: Kapila-vatthu) khất thực. Sau khi ăn xong, vào buổi xế
trưa, Ngài thu dọn y bát, rửa tay chân, để tọa cụ lên vai,
đi đến rừng Trúc, vào Đại Lâm, đến một gốc cây trải
tọa cụ ngồi kiết già... . Đoạn kinh P tương đương (số
18, i, 108, 15-18) cũng gần như vậy, nhưng bỏ cử chỉ vác
tọa cụ trên vai và trải tọa cụ(52)
.
Sự
khác biệt này giải thích tại sao ngày nay, tập tục dùng
tọa cụ đã mất ở các xứ theo Thượng tọa bộ, nhưng ở
Trung Quốc và Việt Nam tập tục này vẫn còn. Khi một tu sĩ
thọ giới Cụ túc, vị ấy được trao ngoài ba y và bình bát,
còn thêm một tọa cụ, là một mảnh vải hình chữ nhật,
phần lớn có màu hoại sắc, bốn góc có bốn mặt vá để
bớt đẹp. Vị tu sĩ trong lúc sử dụng tọa cụ này mỗi
ngày phải đọc bài kệ (gàthà) như sau :"Ni sư đàn
(C: Ni-shih-t'an) này đệm ngủ, giúp hạt giống tâm nẩy mầm
và lớn lên, Nở ra bước lên mảnh đất của chư Thánh, Vâng
giữ mệnh lệnh của đức Như Lai".
Có
giả thuyết cho rằng sự tuân giữ ni sư đàn hay tọa cụ
chứng tỏ bộ phái Nhất thiết hữu là những người ở rừng
và đã đặt ra lối hành trì này cho những người trong bộ
phái. Nhưng ngày nay, vì tập tục đi vào rừng để thiền
định hầu như không còn nữa, sự sử dụng ni sư đàn chỉ
giới hạn trong tự viện và bởi thế mất hết hiệu lực
của nó. Tuy nhiên sự duy trì truyền thống này chứng tỏ
Tăng già Trung Quốc cũng như Việt Nam đã thừa hưởng truyền
thống được tiêu biểu trong kinh Trung a-hàm C.
3. Uy
nghi của đức Phật và sự hầu cận của Tôn giả A Nan :
Trong
NC 3, có một đoạn trong kinh C 88 (vi, 9a, 3-5),mô tả đức Phật
gấp tư y Uất đa la tăng ( C:Yu-to-lo-sêng; P: Uttaràsanga)
của Ngài trải lên giường, cuộn tròn y tăng già lê (C: Sêng-chia-li;
P: Sanghàti) làm thành một cái gối rồi nằm xuống hông
bên phải, hai chân chồng lên nhau, tưởng đến ánh sáng với
chánh niệm tỉnh giác và nghĩ đến lúc thức dậy. Đoạn
kinh này được bỏ trong bản P tương đương(53)
. Trong số 19 kinh C không có trong Nikàya, sự loại bỏ
kinh C 80, Ca-thi-na kinh (C:Chia-ch'ih-na-ching), rất có ý
nghĩa, vì kinh này mô tả đức Phật đã giúp một tay may áo
cho Tôn giả A-na-luật-đàø (C: A-na-lu-t'o; P: Anuruddha),
và sau khi may xong, Ngài đã nằm xuống trước mặt chư Tăng
để nghỉ ngơi, theo như cách mô tả trên. Rất có thể những
người kết tập kinh Pàli không được hài lòng về
thái độ này của đức Phật nên đã bỏ kinh ấy. Lại nữa,
trong NC số 15, 22,42,67,...ta luôn luôn thấy Tôn giả A Nan đứng
sau lưng Phật dùng quạt quạt cho Ngài, hoặc đứng hầu Ngài
tay cầm phất trần. Những chi tiết này không có trong bản
P(54)
. Có thể phái Thượng tọa bộ xem những hành vi này là không
xứng đáng nơi một vị Phật và nơi một Tỳ-kheo, vì có
thể khiến ngoại đạo phê bình chỉ trích, do vậy Thượng
tọa Bộ rất ít đề cập những chi tiết này. Nhưng Nhất
thiết hữu bộ có lẽ xem những hành vi này hoàn toàn tự
nhiên, có lý, vì sự liên hệ giữa Phật và các đệ tử,
nhất là với Tôn giả A Nan chẳng khác gì mối liên hệ cha
con, và cái lối Phật nằm xuống trước mặt chư Tăng không
có gì đáng chỉ trích. Vì xét như vậy, Nhất thiết hữu
bộ duy trì những chi tiết ấy.
4. Đặt
nặng tâm bi mẫn :
Khi
so sánh việc tu tập bốn tâm vô lượng hay bốn phạm trú
(P: Brahmavihàra) trong hai bản kinh ta thấy giữa truyền
thống Thượng tọa bộ và Nhất thiết hữu bộ có quan điểm
gần giống nhau, nhưng bản C đặt nặng pháp tu này hơn bản
kinh tương đương trong tạng P. Ví dụ trong NC số 21, 25, 64,
bản C kể ra việc tu tập bốn tâm vô lượng, trong khi bản
P không nói đến cách thiền quán này. Lại nữa trong bản
NC số 89, bản C nói đến những người nghèo, mồ côi và
hành khất trong số những người đáng được bố thí, còn
bản P lại không nói đến.
Kinh
C 170 (vii, 17b, 2-8), Anh vũ kinh : "Có những người không
bố thí, không bố thí cho Sa-môn, bà la môn (bràhmana),
kẻ nghèo, cô nhi và hành khất từ xa đến; họ không cho thực
phẩm..."
Kinh
P 135 (iii, 205, 6-15), Tiểu nghiệp phân biệt : Gần như
trên, nhưng chỉ nói đến bố thí cho Sa-môn, bà la môn, bỏ
người nghèo, cô nhi và hành khất từ xa đến.
Vậy,
khuynh hướng thiên về lòng bi mẫn vốn đã tiềm tàng trong
những bản kinh xưa nhất của Phật giáo Sanskrit có thể
giải thích sự đặt nặng tâm từ bi (Maitrì) của những
nhà theo Đại thừa, những người này đã đặt tâm từ bi
hầu như ngang hàng với trí tuệ hay Bát-nhã (Prajnà).
Khuynh hướng này cũng giải thích được sự tôn thờ đức
Quán Tự Tại hay Quan Thế Âm (C: Kuan-shih-yin; S: Avalokitesvara)
được xem như nữ thần của tâm đại bi được thờ phụng
rộng rãi tại Triều Tiên, Trung Quốc, Nhật Bản và Việt
Nam. Tại Tây Tạng, đức Dalai Lama được xem là hóa thân của
đức Quán Tự Tại.
5. Ăn
chay và ăn mặn:
Trong
số những học giới mà một Tỳ-kheo phải tuân giữ, kinh
P 112 (iii, 34, 12-13) có thêm giới này.
"Àømakamamsapatiggahanà
pativirato ahosim"
nghĩa
là không được nhận thịt sống, như vậy hàm ý cho phép
nhận thịt đã được nấu chín. Nhưng đoạn kinh C 187 (vii,
39b, 14-20; 40a, 1-10) tương đương, Thuyết trí kinh, bỏ
giới này, ngụ ý tất cả mọi thứ thịt đều cấm. Lại
nữa sự loại bỏ kinh P 55, Jìvakasutta, ra khỏi tất
cả kinh C, trong đó đức Phật cho phép các Tỳ-kheo ăn ba loại
thịt, đã xác định rõ thái độ của Nhất thiết hữu bộ
là phản đối việc ăn mặn. Bản kinh P như sau:
/
Tìhi kho aham Jìvaka thànehi mamsam aparibhogan ti vadàmi: dittham
sutam parisankitam... Tìhi kho aham Jìvaka thànehi mamsam paribhogan
ti vadàmi: adittham asutam aparisankitam.../
(Này
Jìvaka
,
ta tuyên bố rằng có ba trường hợp không được ăn thịt,
đó là khi thịt được thấy, được nghe và được nghi (là
đã bị giết). Này Jìvaka, ta công bố rằng trong ba trường
hợp sau đây thì được phép ăn thịt, đó là khi không thấy,
nghe, nghi.)
Trong
tác phẩm "Cuộc đời Ngài Huyền Trang", nhà chiêm bái Trung
Quốc nổi tiếng, được kể là đã ăn chay như sau:(55)
"Vào
ngày hôm sau, hoàng đế mời Sư đến cung điện để cúng
dường thực phẩm. Nhưng thức ăn có chứa ba loại tịnh nhục,
và Sư nhất định không nhận. Nhà vua lấy làm lạ, nên Sư
phải giải thích rằng theo tiệm giáo thịt được cho phép,
nhưng Ngài theo Phật giáo Đại thừa vốn cấm sự ăn thịt.
Bởi thế Ngài nhận một ít thức ăn khác."
Chúng
ta cũng tìm thấy trong kinh Lăng già (Lankàvatàtasùtra),
một bộ kinh Đại thừa, có một chương lên án gắt gao việc
ăn thịt.
Sự
dị biệt trong hai bản kinh về vấn đề ăn thịt có thể
giải thích tại sao ngày nay việc ăn thịt được cho phép
tại các xứ theo truyền thống Thượng tọa bộ (Ther.),
trong khi chư Tăng của các nước như Trung Quốc, Triều Tiên,
Việt Nam tuân giữ phép ăn chay.
6. Những
từ ngữ diễn tả sự tán thán:
Sau
mỗi bài giảng của đức Phật, những người lắng nghe Ngài
nói thường biểu lộ sự tán thán vui mừng của họ. Nhưng
những cách biểu lộ này không giống nhau trong hai bản kinh,
như được thấy trong NC 68.
C
144 (vi, 76a, 5),Toán số Mục-kiền-liên (C: Suan-chu-mu-chien-lien):
Tôn giả Mục-kiền-liên nói: "Bạch Thế tôn (C: Ch'u-t'an),
con đã hiểu, bạch Thế tôn, con đã biết." Rồi ông xin quy
y Tam bảo và xin đức Phật nhận ông làm đệ tử.
P
107 (iii, 7, 3-9): "Abhikkantam, bho Gotama, abhikkantam, bho Gotama.
Seyyathàpi, bho Gotama, nikkujjitam và ukkujjeyya, pati-channam và vivareyya,
mùlhassa và maggam àcikkheyya, andhakàre và telapajjotam dhàreyya:
cakkhumanto rùpàni dakkhintìti, – evam eva bhota Gotamena anekapariyàyena
dhammo pakàsito."
Ta
có thể nói tương tự về NC 39, giữa kinh C 133 (vi, 57a, 12),
Ưu
ba ly kinh, và P 56 (i, 378, 30-35), trong đó những người lắng
nghe đức Phật thuyết diễn đạt sự thán phục một cách
khác nhau.
Như
vậy ta có thể bảo rằng mỗi trường phái có truyền thống
riêng, ngôn từ riêng mang dấu ấn riêng, mà họ theo một cách
trung thành từ đầu chí cuối tam tạng kinh (Tripitaka)
thuộc bộ phái mình.
7. Những
cách xưng hô:
Mỗi
bộ phái tuân theo một loạt những công thức xưng hô mà các
Tỳ-kheo sử dụng khi nói với đức Phật hay với nhau. Trong
kinh P, các Tỳ-kheo gọi đức Phật với danh từ Bhante,
còn kinh C xử dụng danh từ Thế tôn (Shih-tsun). Khi các
Tỳ-kheo xưng hô với nhau, nếu vị Tỳ-kheo được nói tới
là một vị trưởng thượng, thì bản P sử dụng danh từ
Bhante,
và bản C dùng danh từ Tôn giả (Tsun-che). Nếu vị Tỳ-kheo
được nói tới là một vị nhỏ hơn, bản P dùng danh từ
Àvuso,
còn bản C dùng danh từ Hiền giả (Hsien-che). Như vậy,
Thượng tọa bộ phái với cách sử dụng danh từ
Bhante
để gọi đức Phật và các vị trưởng lão, dường như trung
thành với truyền thống của mình là xem đức Phật và các
Tỳ-kheo trưởng lão hầu như ngang hàng, sự chứng đắc của
cả hai gần tương đương, chỉ khác là đức Phật đã khám
phá ra Con đường, Ngài là một người chỉ đường, trong
khi các bậc A-la-hán thì không. Nhưng Nhất thiết hữu bộ
dùng danh từ Thế tôn để chỉ đức Phật, và như vậy tôn
đức Phật lên một địa vị rất cao vượt hơn chư Tăng.
Điều này có thể giải thích sự thần thánh hóa về sau của
các nhà Đại thừa đối với đức Phật; họ đã phát triển
thành một loại tín ngưỡng (Bhakti) thờ Phật, trong
khi Thượng tọa bộ luôn luôn xem chư Tăng là những người
có thể chứng quả là A-la-hán, và bởi thế đáng đặt ngang
hàng với đức Phật.
8. Danh
từ Thượng tọa bộ (Theravàdin) :
Trong
NC 22, kinh P 26, Thánh Cầu (Ariyapariyesana), có đoạn sau
đây, trong đó danh từ Thượng tọa (Theravàda) được
nhắc đến:
"So
kho aham bhikkhave tàvataken' eva otthapahatamattena lapitalapà-namattena
nànavàdan ca vadàmi theravàdan ca, jànàmi passàmìti ca patijànàmi
ahan c' eva anne ca."
(Này
các Tỳ-kheo, về phương diện nói suông, ta nói lý thuyết
về tri kiến, lý thuyết của các bậc Thượng tọa và ta cũng
công bố như những người khác rằng ta biết, ta thấy.) (i,
164, 3-6).
Nhưng
kinh La ma, C 204 tương đương, đã bỏ hẳn đoạn văn
ấy. Về ý nghĩa này, Tiến sĩ Anesaki có những nhận xét đáng
chú ý như sau:
"Chúng
ta thấy tạng kinh P (Pali Nikàyas) rất thường xuyên đề
cập các Thượng tọa (Theras). Nhưng trong kinh C, danh từ
này chỉ được nhắc đến ba lần, những lần khác chỉ dùng
danh từ Àyushman. Ta có thể kết luận hay không, rằng
hoặc là bản C xuất xứ từ những truyền thống thuộc thời
đại lịch sử trong đó thẩm quyền của các vị Thượng
tọa không được củng cố, hoặc nó bắt nguồn từ một
bộ phái đối nghịch với thẩm quyền của các Thượng tọa
chính thống?"(56)
9. Danh
từ Bồ-tát (Bodhisatta):
Một
danh từ khác len lỏi vào trong bản P nhưng không có trong bản
C, đó là danh từ Bồ-tát. Như trong NC 16, đoạn kinh P 19 :
(i, 114, 25) nói đến danh từ Bồ-tát để chỉ đức Phật
trước khi giác ngộ. Nhưng danh từ này không được tìm thấy
trong đoạn kinh C tương đương cũng như trong bất cứ kinh
nào trong số 98 kinh C được dùng để so sánh. Lại nữa, trong
NC 78, khi kể lại cuộc đời về trước của đức Phật ở
cung trời 33 (Tàvatimsa) và cuộc đời hiện tại của
Ngài trong hoàng cung, bản P luôn luôn dùng danh từ Bồ-tát
để chỉ đức Phật trước khi giác ngộ, như trong P 123, iii,
119, dòng 20, 21, 25, 26, 27, 30, 31, 32, 35; trang 1, 5, 21, 23, 28,
29... trong khi kinh tương đương C 32, v, 44a, dòng 2, 4, 11...Vị
tằng hữu pháp, sử dụng danh từ Thế tôn (Shih-tsun)
từ đầu chí cuối.
Sự
bất đồng này có thể được giải thích nếu ta nhận rằng
trong bản kinh sớm nhất của tam tạng, danh từ Bồ-tát (Bodhisatta)
hoàn toàn không xuất hiện, bằng cứ là trong bản C danh từ
này bị loại bỏ. Nhưng về sau, khi lý thuyết Bồ-tát đạo
được thịnh hành trong một số bộ phái Đại thừa (Mahayànic)
và đe dọa thay thế sự tối thượng của quả vị A-la-hán,
thì những nhà kết tập Thượng tọa bộ mới bắt đầu đưa
danh từ Bồ-tát vào tam tạng kinh của mình, và gán cho nó
ý nghĩa đặc biệt, ám chỉ đức Phật trước khi giác ngộ,
và như vậy gạt ra ngoài mọi ý nghĩa khác mà những nhà Đại
thừa gán cho danh từ ấy .
10. Nghiệp
(P: Kamma) hay hành động:
Trong
bản NC số 40, lối giải thích về định nghĩa của nghiệp
không giống nhau trong hai bản, và sự khác biệt này rất quan
trọng vì nó nêu lên thái độ khác nhau giữa hai bộ phái
mà hai tạng kinh tiêu biểu.
Kinh
C14,
La Vân, (v, 17a, 5-20; 17b, 1-2), nói rõ rằng nếu thân
hành (hay ngữ hành hay ý hành) là vô tội, nhưng nếu nó hại
mình, hại người, hại cả hai, thì nó là một ác nghiệp,
và Tỳ-kheo phải từ bỏ. Danh từ "vô tội" này có nghĩa là
hành động ấy được kinh điển chấp thuận, hoặc không
vi phạm giới luật tu sĩ. Nhưng theo kinh P 61:( i, 415, 25-36;
416, 417; 418; 419) nếu thân hành (hay ngữ hành hay ý hành) mà
ta sắp làm sẽ đưa đến hại mình, hại người, hại cả
hai, thì đó là một ác nghiệp đưa đến đau khổ, kết quả
trong đau khổ, và vị ấy chắc chắn không nên làm.... Như
vậy kinh P, khi bỏ danh từ vô tội, là không cho phép vi phạm
một học giới nào đã được chế định, trong khi định
nghĩa của Nhất thiết hữu bộ có phạm vi rộng rãi đưa
đến một thái độ phóng khoáng trong việc giải thích các
giới luật tu sĩ. Từ sự khác biệt này, chúng ta có thể
giải thích tại sao những Tỳ-kheo nguyên thủy thuộc Thượng
tọa bộ chính thống, ngay cả ngày nay cũng sẽ chau mày trước
bất cứ mưu toan nào muốn nới lỏng, giải thích một cách
khác, những quy luật đã được ấn định; trong khi Nhất
thiết hữu bộ và những bộ phái xuất phát từ đấy lại
có một thái độ ít nhiều rộng rãi hơn đối với sự tuân
giữ giới luật Tỳ-kheo.
11. Vài
pháp (dharmas) căn bản:
Cả
hai bản kinh đều kể một loạt các pháp căn bản nhưng không
giống nhau, chứng tỏ mỗi bản kinh tiêu biểu một truyền
thống khác. Trong NC 1, kinh C 100, Tưởng kinh, (vi, 29b,
20; 30a, 1-4) kể ra 29 pháp căn bản theo thứ tự như sau: 1.
Đất, 2. Nước, 3. Lửa, 4. Gió, 5. Thần, 6. Trời, 7. Sinh chủ,
8. Phạm thiên (Brahmà), 9. Vô phiền thiên, 10. Vô nhiệt
thiên, 11. Tịnh thiên, 12. Vô lượng không xứ, 13. Vô lượng
thức xứ, 14. Vô sở hữu xứ, 15. Phi hữu tưởng phi vô tưởng
xứ, 16. Đồng nhất, 17. Dị biệt, 18. Đa diện, 19. Sở kiến,
20. Sở văn, 21. Sở thức, 22. Sở tri, 23. Sở đắc, 24. Sở
quán, 25. Sở niệm, 26. Sở tư, 27. Từ đời này đến đời
kia, 28. Từ đời kia đến đời này, 29. Tất cả.
Kinh
tương đương P1 (i, 1-2) chỉ nói đến 24 pháp trong thứ tự
như sau: 1. Địa, 2. Thủy, 3. Hỏa, 4. Phong, 5. Chúng sinh, 6.
Chư thiên, 7. Sinh chủ (Pajàpati), 8. Phạm thiên (Brahmà),
9. Quan âm thiên (Àbhassara), 10. Biến tịnh thiên (Subhakinna),
11. Quảng quả thiên (Vehapphala), 12. Thắng giải (Abhibhù),
13. Không vô biên xứ, 14. Thức vô biên xứ, 15. Vô sở hữu
xứ, 16. Phi tưởng phi phi tưởng xứ, 17. Sở kiến, 18. Sở
văn, 19. Sở giác, 20. Sở tri, 21. Đồng nhất, 22. Sai biệt,
23. Tất cả, 24. Niết-bàn (Nibbàna).
Như
vậy những pháp sau đây không có trong bản P: 1. Thần, 2. Vô
phiền, 3. Vô nhiệt, 4. Tịnh thiên, 5. Đa diện, 6. Sở đắc,
7. Sở quán, 8. Sở niệm, 9. Sở tư, 10. Từ đời này đến
đời kia, 11. Từ đời kia đến đời này.
Sáu
pháp sau đây không có trong bản C: 1. Chúng sinh, 2. Quan âm thiên,
3. Biến tịnh thiên, 4. Quảng quả thiên, 5. Thắng giải, 6.
Niết-bàn.
Sự
khác nhau về các pháp căn bản này cho ta thấy truyền thống
khác nhau mà mỗi tạng kinh tiêu biểu, tạng P theo truyền thống
Thượng tọa bộ, và tạng C theo truyền thống Nhất thiết
hữu bộ.
12. Chương
trình huấn luyện:
Trong
NC số 98, kinh C 86, Thuyết xứ, (vi, 2a-5a) đưa ra một
chương trình huấn luyện tu sĩ trẻ do đức Phật dạy cho
A Nan, khi Tôn giả đưa nhiều sa di đến hầu Ngài và thỉnh
vấn đường lối giáo dục, khuyến khích, giảng pháp cho các
tu sĩ trẻ này. Đức Phật kê ra một danh sách gồm 30 pháp
cần phải dạy, cho thấy nét đặc sắc của Nhất thiết hữu
bộ khác xa với Thượng tọa bộ. Ba mươi pháp là : 1) Năm
uẩn, 2) Sáu nội xứ, 3) Sáu ngoại xứ, 4) Sáu thức thân,
từ nhãn thức đến ý thức, 5) Sáu xúc, 6) Sáu thọ, từ cảm
thọ của mắt cho đến của ý, 7) Sáu loại tưởng, từ tưởng
của mắt cho đến tưởng của ý, 8) Sáu tư , từ tư duy do
mắt cho đến do ý, 9) Sáu ái, từ ái của mắt cho đến ái
của ý, 10) Sáu giới, 11) Duyên sinh, 12) Bốn niệm xứ, 13)
Bốn chánh đoạn, 14) Bốn như ý túc, 15) Bốn thiền (dhyànas)
sắc giới (rùpa), 16) Bốn thánh đế, 17) Bốn tưởng
là nhỏ, lớn, vô lượng và vô sở hữu tưởng, 18) Bốn vô
lượng, 19) Bốn thiền vô sắc (arùpa), 20) Bốn thánh
chủng là cách sử dụng y, thức ăn và chỗ ở [thiếu 1],
21) Bốn quả Sa-môn là Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn và A-la-hán,
22) Năm loại giải thoát tưởng, ấy là tưởng về vô thường,
tưởng về khổ, tưởng về vô ngã, tưởng về bất tịnh,
tưởng về tất cả những bất lạc trên thế gian, 23) Năm
giải thoát xứ là giảng pháp, tụng đọc những gì đã được
nghe, giải thích rộng rãi những gì đã được tụng, được
nghe, suy tư phân tích những gì đã được tụng nghe, nắm
vững đặc tính của thiền, 24) Năm căn, 25) Năm lực, 26) Năm
xuất yếu giới là quán về dục, sân, hại, sắc, tự thân;
27) Bảy thánh tài : tín, giới, tàm, quý, văn, thí, tuệ; 28)
Bảy lực: tín, tấn, tàm, quý, niệm, định, tuệ; 29) Bảy
giác chi, 30) Tám thánh đạo.
Cách
phân chia chương trình huấn luyện này thành 30 pháp rất khác
với sự phân chia thông thường thành 37 bồ đề phần (Bodhipakkhiyas)
như được thấy trong bản P. Nó cũng cho thấy sự phân chia
này thuộc về một giai đoạn phát triển khá xa với thời
nguyên thủy Phật giáo. Lại nữa trong kinhC 222, Li-ching, cuối
cùng, ngoài 37 bồ đề phần, còn thêm hai pháp là 10 biến
xứ (Krtsnàyatanàni) và 10 pháp của bậc Vô học (Asekha),
nghĩa là tám thánh đạo, cộïng thêm chánh giải thoát và
chánh trí. Nếu ta so sánh với bảng liệt kê thông thường
của kinh P, thì bản P nói đến tám thắng xứ (Abhibhàyatanàni)
chứ không phải 10 biến xứ. Còn về 10 pháp của bậc Vô
học, thì bản P cũng nói đến nhưng đổi chỗ hai pháp cuối
cùng là chánh giải thoát (sammàvimutti) và chánh trí (sammàpannà).
Tất cả những dị biệt này chứng tỏ rằng ngay cả về
kinh tạng (Suttapitaka), hai truyền thống Nhất thiết hữu
bộ và Thượng tọa bộ cũng không giống nhau, và những bất
đồng này dọn đường cho những dị biệt căn bản trong luận
tạng (abhidharma) của hai bộ phái.
13. Thần
thông:
Bản
kinh C dường như thích mô tả những thần thông của đức
Phật và các đệ tử, trong khi bản P lại bỏ qua những thần
thông. Ví dụ trong NC 54, bản C kể sau khi Lại-tra-hòa-la (C:
Lai-cha-ho-lo)
về thăm cha mẹ, ông bay trong không để trở về ngồi trong
rừng (C 132, vi, 53b, 8); trong khi kinh P 82 (vi, 65, 7-9) tương đương
chỉ nói Trưởng lão Ratthapàla
sau khi thốt lên bài kệ
đã đến vườn nai của vua Koravya
để ngồi nghỉ ban
ngày dưới một gốc cây. Lại nữa trong NC 83, bản C72 (v,
97a, 18), Trường thọ vương kinh, kể đức Thế tôn sau
khi đọc một bài kệ, đã vận thần thông bay lên không để
đi đến làng Bà-la-lâu-la (C: P'o-lo-lou-lo), trong khi bản
P tương đương bỏ đoạn ấy.
Sự
thích thần thông ấy của Nhất thiết hữu bộ có thể giải
thích việc dồi dào năng lực thần thông được gán cho đức
Phật và các đệ tử của Ngài trong các bản kinh Đại thừa.
14. Tương
quan với tư tưởng Đại thừa:
Ngoài
sự ưa thích thần thông, bản C đầy rẫy những đoạn kinh
phảng phất tư tưởng Đại thừa mà Phật giáo nguyên thủy
không có.
Trong
NC 36, khi kể lại câu chuyện của Phật Câu Lưu Tôn (C: Chio-liang-chu-hsun-ta;
P: Kakusandha), C 131(vi, 50b, 8), Hàng ma kinh, mô tả
Ngài được vây quanh bằng vô số trăm ngàn tín đồ, trong
khi P50 tương đương bỏ qua chi tiết này. Trong NC số 63, khi
đức Phật thuyết kinh xong, C 27 (v, 34b, 11), Phạm chí Đà
nhiên, nói Tôn giả Xá-lợi-tử (C: Shê-li-tzu; P: Sàriputta)
cùng vô số trăm ngàn Tỳ-kheo hoan hỷ nghe lời Phật dạy,
trong khi P97 tương đương bỏ cả lời kết thông thường.
Như vậy những con số này vượt xa con số thông thường 1250
vị Tỳ-kheo đi theo đức Phật trong các cuộc du hành. Lại
nữa, những cách mô tả về đức Phật ngồi đẹp như vừng
trăng giữa các vì sao, chiếu sáng, rạng rỡ như núi vàng,...như
được thấy trong NC 48, C 153 (vi, 90a, 1), kinh Man nhàn đề,
trong NC53, C 63 (v, 69a, 15-16), kinh Bệ bà lăng kỳ, và
trong NC 64, C152 (vi, 87a, 11), kinh Anh vũ, có một giọng
điệu hơi quá đáng, xa lạ với thái độ vừa phải của
Phật giáo nguyên thủy. Tất cả những chi tiết này không
có trong bản P.
Một
ví dụ về sự quá đáng này là một đoạn kinh C khác trong
NC số 91, ca tụng đức Như Lai (Tathàgata) là người
có biện tài bậc nhất, sống tới 100 tuổi và luôn luôn giảng
Pháp cho đệ tử suốt cả 100 năm trừ khi ăn, đại tiểu
tiện, ngủ nghỉ và hội họp (kinh C số 163, vii, 7b, 16-17,
Phân
biệt lục xứ).
Tất
cả những điều xét trên đây chứng tỏ chúng thuộc về
một giai đoạn Phật giáo về sau, trong đó một vài tư tưởng
Đại thừa đã từ từ len vào, và đây là khởi điểm cho
sự phát triển của văn học Đại thừa hậu kỳ.
Sự
khác nhau giữa hai bản C và P không chấm dứt ở đây. Một
nghiên cứu chi tiết về 32 tướng tốt của đức Phật (57),
về các tướng phụ của Ngài (58)
, về những cách tra tấn và hình phạt(59),
về những loại địa ngục khác nhau(60),
về những thân phần khác nhau(61),
về câu chuyện Lại-tra-hòa-la (Ratthapàla)(62),...cho
thấy mỗi bản dịch thừa hưởng một truyền thống khác
nhau.
Như
vậy, những đặc tính trên đây chứng tỏ mỗi tạng kinh
tiêu biểu một bộ phái, bản P tiêu biểu Thượng tọa bộ
và bản C tiêu biểu Nhất thiết hữu bộ. Những đặc tính
này cũng cho thấy rằng ngay cả trong kinh tạng cũng đã có
những năng lực phân hóa bắt đầu làm việc để cuối cùng
hình thành những dị biệt rõ rệt trong những bộ luận (abhidharma)
của mỗi bộ phái và đưa đến sự chia rẽ giữa hai bộ
phái. Chúng cũng giúp chúng ta tìm thấy được nguyên nhân
của một số tập tục khác nhau mà các quốc gia Phật giáo
ngày nay đang tuân theo.
(50)
Hsi-yu-Chi, Book II.
(51)
C No 115, vi, 35b, 15-17.
(53)
Câu mẫu này được thấy trong kinh Hữu ước P 53, Sekhasutta.
(54)
Trong Đại bát Niết bàn kinh, Trường bộ ii, p.138. Roman
edition, elder Upavano is described as fanning the Blessed One.
(56)
JRAS. 1901, P. 8977.
(57)
Chương V, 4, 32 Auspicious marks - 32 hảo tướng.
(58)
Chương V, 2, Marvellous qualities - các tướng phụ.
(59)
Chương IV, C Panna, g) Kammavipaka, ii, 2nd kind of suffering - Nghiệp
dị thục, loại khổ thứ hai.
(60)
Chương IV, C Panna, g) Kammavipaka, iii, Suffering in the Hell - Khổ
địa ngục.
(61)
Chương IV, B Smadhi, a) 4Satipatthana, I) Contemplation of body - Niệm
xứ quán thân.
(62)
Chương III, m) To Lai - cha - ho Lo.

|