|
|
|
|
Phần
Một
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
Hai - Những điểm đồng và dị giữa bản Hán tạng
và bản Pàli
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
Ba - 15 mẫu nghiên cứu tỷ giảo giữa các kinh P và C tương
đương
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
Bốn - Phụ lục
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
SO SÁNH KINH TRUNG
A-HÀM CHỮ HÁN
VÀ KINH TRUNG-BỘ CHỮ
PÀLI
Hòa
thượng Thích Minh Châu (1961) - Thích Nữ Trí Hải dịch Việt
(1998)
Nguyên
tác: Bhiksu Thich Minh Chau (1961),"A Comparative Study of the Chinese
Madhyama Agama and the Pali Majjhima Nikaya", Ph.D. Thesis, Bihar
University, India
 |
 |
II. NHỮNG
BẰNG CỨ CHỨNG MINH
TRUNG A-HÀM THUỘC NHẤT THIẾT HỮU BỘ
Các
học giả ngày nay đều đồng ý có hiện hữu một tạng kinh
Sanskrit
song
song với tạng Pàli nếu không muốn nói là phong phú
hơn. Họ còn công nhận những kinh bản Sanskrit
này là
thuộc về Nhất thiết hữu bộ (Sarv.). Giáo sư Winternitz(15)
viết trong H.I.L: "Các kinh Nikàya của tạng Pàli có
tương đương trong tạng Sanskrit là những kinh A-hàm (Àgamas):
Trường A-hàm (Dìrghàgama) tương đương với Trường
bộ kinh (Dìgha-nikàya), Trung A-hàm (Madhyama Àgama)
với Trung bộ (Majjhima Nikàya), Tạp A-hàm (Samyuktàgama)
với Tương ưng bộ (Samyutta Nikàya) và Tăng nhất A-hàm
(Ekottaràgama) với Tăng chi bộ kinh (Anguttara Nikàya)".
Ông còn viết rằng Nhất thiết hữu bộ (Sarv.) có riêng
một tạng kinh Sanskrit, và mặc dù không còn lại đầy
đủ đến ngày nay, chúng ta được biết đến nó là nhờ
khám phá được nhiều phân đoạn lớn có nhỏ có, ở miền
Đông Thổ (Eastern Turkestan), thứ đến là nhờ những
trích dẫn trong các tác phẩm Sanskrit khác về Phật giáo
như các bộ Màha-vastu, Divyàvadàna và Lalita-Vistara,
và cuối cùng nhờ những bản dịch Hoa ngữ và Tạng ngữ(16)
. Tiến sĩ N. Dutt cũng đồng ý kiến khi ông xếp loại bốn
bộ A-hàm (Àgamas) vào văn học Nhất thiết hữu bộ
(Sarv.).(17)
Ông lại viết: "Các truyền thống Tây Tạng, được hỗ trợ
bởi những khám phá gần đây, những cảo bản tại Đông
Thổ (Eastern Turkestan), làm cho ta không còn nghi ngờ gì nữa
rằng, Nhất thiết hữu bộ (Sarv.) đã dùng văn pháp
Sanskrit
(thuần
túy) để biên tập văn học Phật giáo, và bộ phái này đã
có một tạng kinh toàn vẹn gồm ba phần kinh (sùtra),
luật (vinaya), luận (abhidharma)"(18)
. Tiến sĩ A.C Banerjee trong tác phẩm "Văn học Nhất thiết
hữu bộ (Sarvastivàda)" đã viết : "Thư mục Nanjio dưới
tiêu đề kinh Tiểu thừa (Hìnayàna), đã nói đến một
số tác phẩm khác gồm 56 quyển, ngoài bốn bộ A-hàm (Àgamas),
mà dường như là những bản dịch các kinh khác nhau thuộc
vào các bộ A-hàm (Àgama) khác nhau. Tuy nhiên cần chú
ý rằng bốn bộ A-hàm (Àgamas) và các kinh sách Hoa ngữ
khác bao gồm trong thư mục kinh Tiểu thừa (Hìnayàna),
hầu hết đều thuộc về Nhất thiết hữu bộ (Sarv.)
hay Tỳ-bà-sa (Vaibhàsika)."(19)
Chúng ta không lạc quan đến độ xác nhận rằng tất cả
các kinh A-hàm (Àgama) đều thuộc về Nhất thiết hữu
bộ (Sarv.), nhưng sự nghiên cứu so sánh này giữa kinh
Trung A-hàm (CMA) và kinh Trung bộ (PMN), nhờ một loạt bằng
chứng nội tại và ngoại tại, sẽ giúp ta tuyên bố một
cách chính xác rằng kinh Trung A-hàm (CMA) tiêu biểu cho quan
điểm của Nhất thiết hữu bộ (Sarv.).
1. Danh
từ Àgama và Nikàya :
Hoa
ngữ dùng danh từ Trung A-hàm (Chung-a-han), Trung (Chung)
để chỉ ở giữa (Madhyama), còn A-hàm (A-han) là
phiên âm của Àgama. Tạng Pàli thì chọn danh từ
Majjhima
Nikàya. Về các danh từ này, theo tự điển Phạn-Anh của
Monier Williams(20)
, Trung A-hàm có nghĩa là "sưu tập kinh văn thiêng liêng", danh
từ này có vẻ rất phù hợp với giáo lý Phật; còn Trung
bộ kinh có nghĩa là "giáo lý truyền thống, sự sưu tập những
giáo lý ấy, những tác phẩm thiêng liêng", ám chỉ những
tác phẩm đã ra đời nhiều thế kỷ trước khi có đạo Phật.
Một điều hiển nhiên là cả hai danh từ ấy gần như đồng
nghĩa, và tạng Pàli sử dụng danh từ Nikàya để
chỉ sự sưu tập kinh điển, trong khi những tạng kinh khác
bằng Sanskrit và Pràkrit đã xử dụng danh từ Àgama
cho
những bản kinh của mình. Một bia ký ở Nàgàrjunikonda
(trụ
đá C 2) ghi rằng bộ phái Aparamahàvina-seliya (có lẽ
là một với Aparasaila, Andhraka) có các kinh Trường
bộ (Dìgha), Trung bộ (Majjhima) và Tương ưng bộ
(Samyutta Nikàya) chứ không phải là A-hàm (Àgama) (21).
Bộ phái này có kinh điển viết bằng thứ tiếng địa phương
ngữ (Prakrit) với một vài điểm giống nhưng rõ ràng
là khác biệt với ngôn ngữ Pali. Dường như có sự
phân chia lại theo vùng về hai danh từ này, danh từ Àgama
được
dùng ở miền Bắc và miền Trung Ấn còn danh từ
Nikàya
được
dùng ở Deccan và ở Tích Lan?(22) .
Nhưng chúng ta có quá ít bằng chứng để kết luận về điểm
này. Chúng ta cũng tìm thấy danh từ Àgama được dùng
trong kinh tạng Pàli. Ví dụ trong từ điển Pàli-Anh(23)
có nói đến việc xử dụng danh từ Svàgamo "uyên thâm
về giáo lý" và Àgatàgamo "một người đã được truyền
trao kinh A-hàm (Àgama) hay các bộ kinh A-hàm (Àgamas)".
Như vậy, sự khác nhau giữa hai danh từ này hoàn toàn không
rõ rệt. Vì Thượng tọa bộ (Ther.) dùng danh từ Nikàya
để
chỉ tạng kinh của mình, còn danh từ Àgama được Nhất
thiết hữu bộ (Sarv.) và các bộ phái khác dùng, nên
chúng ta có thể tin rằng danh từ Àgama được dùng để
chỉ tạng kinh của Nhất thiết hữu bộ (Sarv.), bởi
vì cho đến nay người ta không khám phá được tạng kinh nào
khác trừ một vài phân đoạn bằng Sanskrit của tạng
kinh Nhất thiết hữu bộ (Sarv.).
2. Tạng
Sanskrit :
Trong
số những kinh A-hàm (Àgamas) được tìm thấy tại Đông
Thổ (Eastern Turkestan), người ta tìm được hai bản kinh
thuộc Trung a-hàm (Màdhyama Àgama): kinh Upàli và
kinh Suka.(24)
Nếu
so sánh những đoạn kinh Upàli với những đoạn tương
ứng bằng chữ Hán, ta thấy rất nhiều điểm tương đồng
giữa những kinh chữ Hán và kinh chữ Phạn (Sanskrit),
mặc dù không thể nói là hoàn toàn giống nhau.
Những
đoạn kinh sau đây bằng chữ Hán và chữ Phạn (Sanskrit)
được trích từ C số 133, Ưu ba ly kinh (Yu-p'o-li-ching) (vi,
58b, 20; 59a, 19), và từ M.R.E.T.(25),
chứng tỏ có sự giống nhau rõ rệt:
C
2a: Đức Thế tôn, với sự tự chế toàn vẹn
với
sự thánh thiện đạt được, với sự khéo nói.
Sk
2a : Àryasya bhàvitâtmana prâpatipraptasya vyàkaranesu/
C
2b: Với chánh niệm thiện xảo, với chánh quán vi tế/ Không
cao cũng không thấp/
Sk
2b: Smrtimato vipasyasya anabhinatasya no apanatasya/
C
2c: Bất động, luôn luôn tự chủ,
Ưu
ba ly (Yu-p'o-li), đệ tử Phật//
Sk
2c: Aninjyasya yasiprâptasya Bhagavatas tasya sràvaka Upàli//
C
5a: Ngài, bậc đại tượng(26)
, thích ở chỗ cao, đã dập tắt những kiết sử, đã đạt
giải thoát/
Sk
5a: Nàgasya prântasayànasya ksìnasamyojnasya muktasya/
C
5b: Thiện xảo về luận nghị, thanh tịnh,
Trí
tuệ sinh, sầu ưu đã được đoạn trừ/
Sk
5b: Pratimantrakasya dhantasya prajnà-dhvajasya vìtaràgasya/
C
5c: Không trở lại cõi hữu, người Sakya,
Ưu
ba ly (Yu-p'o-li), đệ tử Phật//
Sk
5c: Anàvrttakasya Sakrasya Bhagavatas tasya sràvaka Upàli//(27)
Tiến
sĩ Bapat có quan điểm rằng bản C gần với bản P hơn gần
bản Sanskrit, và nó có thể có nguồn gốc từ một kinh
bằng tiếng Prakrit . Như vậy, trong kinh Upàli, bản C
5c(28)
nói đến Sakya như ở bản P, còn bản Sanskrit lại nói
đến Sakrasya. Trong kinh Suka (kinh tương đương là
C số 170, Ying-wu-ching = P số 135, Cùlakammavibhangasutta)
bản C gần Pali hơn. Giữa bản Sanskrit và bản
C có rất ít điểm chung, và bản C không nói đến 10 pháp
mà bản Sanskrit đề cập rất chi tiết(29).
Do đó Bapat quả quyết rằng bản gốc chữ Hán có lẽ là
một loại tiếng Prakrit xưa hơn bản Sanskrit. Tuy
nhiên, trong kinh này, thứ tự các bài kệ bằng chữ Hán lại
giống với thứ tự trong bản Sanskrit chứ không giống
thứ tự bản P(30)
. Có vài dị biệt giữa những đoạn văn C và Sanskrit có
lẽ do in sai hoặc hiểu lầm; như:
C:
thích ở chỗ cao = S: Pràntasayanasya;
C:
sầu ưu đã được đoạn trừ = S: Vìtaràgasya.
3. Sự
kế thừa tổ vị :
Trong
đồ biểu ở trang 18 của quyển sách nhan đề "Đại thừa
(Mahàyàna) và sự liên hệ với Tiểu thừa (Hìnayàna)",
Ma Ha Ca Diếp được xem là sơ tổ (àcariya) của Nhất
thiết hữu bộ (Sarv.), Xá Lợi Phất Sàriputta được
xem là sơ tổ (àcariya) của Thượng tọa bộ (Ther.).
Dữ kiện này thêm vững chắc khi hai nhà Phật học Buston và
Tàranàtha(31)
cho chúng ta biết Ma Ha Ca Diếp (Mahàkassapa) giao phó sự
lãnh đạo tăng già cho A Nan (Ànanda), trong khi Buddhaghosa(32)
đưa ra một bản kê những luận sư (àcariyas) A tỳ đàm
(Abhidhamma) khởi từ Xá Lợi Phất (Sàriputta). Chúng
ta thấy trong kinh tạng chữ Hán (C. S.) số 26 rằng Xá Lợi
Phất (C: Shê-li-tzu, P: Sàriputta) gọi Đại Ca Diếp
(C: Ta-chia-yeh, P: Mahàkassapa) là Tôn giả (C: Tsun-che,
P: Bhante), còn Đại Ca Diếp gọi Xá Lợi Phất là hiền
giả (C: Hsien-che, P: Àvuso) (C số 184, vii, 35a, 10-11).
Nhưng trong bản Pali, Xá Lợi Phất (Sàriputta) gọi
Ma Ha Ca Diếp (Mahàkassapa) là hiền giả (Àøvuso)
và Ma Ha Ca Diếp cũng gọi Xá Lợi Phất với danh xưng ấy
(Àvuso). Sự khác nhau về danh từ xưng hô này, chứng
tỏ kinh Trung a-hàm chữ Hàn (CMA) thuộc truyền thống Nhất
thiết hữu bộ (Sarv.), một truyền thống tôn Ma Ha Ca
Diếp (Mahàkassapa) làm sơ tổ, trong khi Trung bộ kinh Pali
(PMN) thuộc truyền thống Thượng tọa bộ (Ther.) vốn
xem Xá Lợi Phất là bậc thầy cao hơn cả Ma Ha Ca Diếp. Sự
kiện này càng rõ rệt hơn khi ta thấy bản kinh Pali số 111,
Anupadasutta,
hoàn toàn bị gạt bỏ trong tất cả kinh A-hàm (Àgama),(33)
vì trong kinh ấy đức Phật đã tán dương Trưởng lão Xá
Lợi Phất (Sàriputta) như sau:
(iii,
29, 10-15) : "Sàriputtam eva tam sammà vadamàno vadeyya: Bha-gavato
putto oraso mukhato jàto dhammajo dhammanimmito dhamma-dàyàdo no àmisadàyàdo
ti. Sàriputto, Bhikkhave, Tathàgatena anuttaram dhammacakkam pavattitam
sammad eva anuppavattetìti."
(Về
Xá Lợi Phất, có thể nói một cách chân chính như sau: Vị
ấy là con trai của đức Thế tôn, sinh ra từ miệng của Ngài,
sinh ra từ Pháp, được uốn nắn bởi Pháp, một vị thừa
tự Pháp, không phải một vị thừa tự tài vật. Này các
Tỳ-kheo, Xá Lợi Phất chân chính chuyển bánh xe pháp tối
thượng mà đức Như lai đã chuyển.)
Với
lời Phật khen ngợi Tôn giả Xá Lợi Phất một cách nồng
nhiệt như thế nên sự thiếu mất kinh này trong bộ kinh A-hàm
có thể được hiểu theo hai cách: hoặc Nhất thiết hữu bộ
(Sarv.) đã loại bỏ kinh này ra khỏi tạng kinh của mình,
hoặc Thượng tọa bộ (Theravàdins) thêm kinh này vào
tạng của mình. Điểm dị biệt này về vị trí của Ma Ha
Ca Diếp và Xá Lợi Phất trong hệ truyền thừa (àcariyaparamparaø)
giữa Thượng tọa bộ và Nhất thiết hữu bộ cũng có thể
giải thích sự kiện ngay cả ngày nay, sự tôn thờ xá lợi
của Xá Lợi Phất (Sàriputta) và Mục-kiền-liên (Moggallàna)
rất phổ thông trong các nước theo Thượng tọa bộ, trong
khi tại các chùa ở Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt
Nam, tượng Phật thường được hầu hai bên bởi các tượng
Ma Ha Ca Diếp và A Nan (Ànanda) chứ không phải Xá Lợi
Phất và Mục-kiền-liên.
4. Chín
bộ (angas) và 12 bộ (angas) kinh :
Một
điểm khác nhau rõ rệt nữa giữa hai bản dịch C và P là
bản C chia kinh điển thành 12 phần (anga), trong khi bản
P nói có 9 phần.
Trong
C.S. số 19, bản chữ Hán (C No. 200, vii, 64b, 4-5) dùng cách phân
chia và thứ tự như sau: 1. Chánh kinh (Chêng-ching: ); 2.
Ca vịnh (Ko-yung: ); 3. Ký thuyết (Chi-shuo: ): tiên
đoán; 4. Kệ tha (Chieh-t'a: ): kệ tụng; 5. Nhân duyên
(Yin-yuan: ): phần dẫn nhập; 6. Tuyển lục (Hsuan-lu:
): trích dẫn; 7. Bản khởi (Pên-ch'i: ): chuyện quá khứ;
8. Thử thuyết (Tz'u-shuo: . ): điều này được nói; 9.
Sinh xứ (Shêng-ch'u: ):nơi sinh; 10. Quảng giải (Kuang-chieh:
): giải thích chi tiết; 11. Vị tằng hữu pháp (Wei-ts'êng-yu-fa:
): những việc nhiệm mầu; 12. Thuyết nghĩa (Shuo-i: ):
giải thích ý nghĩa.
Bản
Pali (P No. 22, i, 133, 24-25) theo một bản kê và thứ tự khác:
1.Suttam; 2. Geyyam; 3. Veyyàkaranam; 4. Gàthà;
5. Udànam; 6. itivutta-kam; 7.Jàtakam; 8. Abbhutadhammam;
9. Vedallam.
Trước
hết, nếu so sánh danh mục Pali với danh mục Niết-bàn
kinh (Nieh-p'an-ching)(34)
chúng ta sẽ thấy cả hai bản gần giống nhau, chỉ trừ kinh
Niết-bàn thay đổi thứ tự của hai loại cuối cùng. Chúng
ta cũng nhận thấy rằng trong danh sách của bản kinh Niết-bàn,
pháp thứ ba, Ký thuyết (C: Chi-shuo, S: Vyàkarana)
có nghĩa là những lời tiên đoán, trong khi P Veyyàkarana
có nghĩa là trả lời, giải thích, trình bày. Nếu chúng ta
so sánh danh mục kinh C với danh mục kinh P ta có thể thấy
những từ tương đương như sau:
C1=P1;
C2=P2; C3=P3 (không cùng nghĩa); C4=P4; C8=P6; C9=P7; C10=P9; C11=P8.
Còn
lại P5 udànam có thể sánh với C6 Tuyển lục (Hsuan-lu);
nhưng không tương đương lắm vì Hoa ngữ thường dịch udànam
là Vô vấn tự thuyết (Wu-wên-tzu-shuo: ), nghĩa là Phật
tự nói không ai hỏi, trong khi ở đây tuyển lục nghĩa là
trích dẫn chọn lọc. Bây giờ còn lại ba từ Trung Hoa không
có trong Pàli là C5: Nhân duyên (C: Yin-Yuan; P: Nidàna):
đề tài dẫn nhập; C7: Bản khởi (C: Pên-ch'i; S: Avadàna):
chuyện quá khứ; và C12: Thuyết nghĩa (C: Shuo-i, S: Upadesa):giải
thích ý nghĩa. Tiến sĩ Dutt nhận xét rất đúng:
"Nhưng
sự phân chia kinh điển thành 12 phần này không phải là công
của những nhà Đại thừa (Mahàyànists), mà của Nhất
thiết hữu bộ (Sarv.) và Đại chúng bộ (Mahasanghikas),
và nhiều bộ phái Tiểu thừa (Hìnayànic) khác cũng theo
cách ấy. Ba bộ (angas) thêm vào là nidàna, avadàna
và
upadesa."(35)
Đoạn
này
rất quan trọng vì nó cho thấy CMA thuộc Nhất thiết hữu
bộ. Tiến sĩ Anesaki cho rằng sự phân chia trong luận Trí độ
(Prajnapàramità sàstra) thành 12 bộ (pravacanas) loại
mà Long Thụ cho là cách chia của Đại thừa, trái với Tiểu
thừa chỉ có 9 bộ loại, kỳ thực không phải chỉ riêng
của Đại thừa, vì bốn kinh A-hàm thuộc về Tiểu thừa.(36)
5. Pháp
(dharmas) quá khứ, hiện tại, vị lai:
Trong
bản nghiên cứu so sánh (NC) số 95 có một đoạn nói về năm
uẩn, chứng tỏ một điểm đặc sắc của Nhất thiết hữu
bộ mà tạng kinh Trung a-hàm (CMA) tiêu biểu, như sau:
C
số 31: (V,42b,11-13): "Có các uẩn tăng trưởng là sắc, tho,ï
tưởng, hành, thức. Nói tóm lại, năm uẩn tăng trưởng là
đau khổ. Như vậy diệu đế về khổ này đã hiện hữu trong
quá khứ, đang hiện hữu trong hiện tại, và sẽ hiện hữu
trong tương lai. Đây là chân lý đích thực, không sai lầm,
không lạc xa sự thật, mà các bậc thánh đã đạt được,
đã biết đến, đã thấy, đã hiểu, đã hoàn toàn đạt đến
và chân chính giác ngộ, cho nên gọi là thánh đế về khổ."
P
số 141 : (iii, 250, 26-31) : "Katame c'àvuso, sankhittena pancupadàna-kkhandhà
dukkhà? - Seyyathìdam: rùpùpàdànakkhandho vedanùpàdàna-kkhandho
sannùpàdànakkhandho sankhàrùpàdànakkhandho vinnànùpà-dànakkhandho;
ime vuccant', àvuso, sankhittena pancupàdàna-kkhandhà dukkhà. Idam
vuccat', àvuso, dukkham ariyasaccam."
(Và
này chư hiền, thế nào là tóm lại năm thủ uẩn là khổ?
Như sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành
thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này chư hiền, như vậy tóm lại
năm thủ uẩn là khổ.)
Như
vậy bản P hoàn toàn loại bỏ sự nhấn mạnh về hiện hữu
của khổ trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Đoạn này cốt
giải thích lý thuyết "tất cả đều hiện hữu" (Sabbam
atthi) của Nhất thiết hữu bộ chủ trương hiện hữu
của năm pháp vốn có thực chất (dravyasàt) vào mọi
thời gian, dù quá khứ, hiện tại hay vị lai. Lý thuyết của
Nhất thiết hữu bộ (Sarv.) được giải thích như sau:
"Tất cả (sarvam) đều hiện hữu (asti)". Quá khứ
(atìta) và vị lai (anàgata) thực sự đều hiện
hữu một cách như thật. Đây là giáo điều căn bản của
họ. Đức Thế tôn đã nói trong một bản kinh (sùtra):
"Này các Tỳ-kheo, nếu các sắc (rùpas) quá khứ đã
không hiện hữu, thì vị đệ tử đa văn không nói đến các
sắc quá khứ... Nếu các sắc tương lai không hiện hữu, thì
đệ tử đa văn sẽ không thích thú trong các sắc vị lai..."
Lại nữa, thức (vijnàna) hiện hữu do hai nguyên nhân
đó là nhãn căn (caksu-rindriya) và sắc (rùpa), ý
(manas) và các pháp (dharmas). Thật không thể có
chuyện trong cùng một con người (pudgala) lại có một
lúc hai tâm (cittas), đặc biệt là tâm sở tri - đối tượng
(àlambana) được biết, và tâm năng tri. Bởi thế một
tâm phải ở về quá khứ khi tâm kia xuất hiện, và tâm sau
còn ở vị lai khi tâm trước xuất hiện. Nếu các pháp quá
khứ và vị lai không hiện hữu, thì sẽ không có sự gặp
gỡ giữa năng tri và sở tri, và như vậy mọi tri thức sẽ
trở thành bất khả, nghĩa là không thể xảy đến. Nhưng
sự thực là vẫn có sự hiểu biết về các pháp quá khứ,
vị lai, như ký ức và sự đoán trước. Nếu các pháp quá
khứ và vị lai không hiện hữu thì tri thức không thể có,
vì nó sẽ không có đối tượng; vì mỗi cái biết phải có
một đối tượng thực hữu. Hơn nữa cùng một con người
không thể đồng thời tạo nghiệp (karma) và thọ quả
dị thục (vipàkaphala) của nghiệp ấy. Khi nghiệp đã
hoàn tất thì quả báo của nó còn là một pháp vị lai; và
khi người làm thọ quả báo, thì hành vi đã gây nên quả
báo ấy đã là một pháp thuộc về quá khứ. Nếu các pháp
quá khứ và vị lai không hiện hữu, thì những nghiệp quá
khứ sẽ không thể đem lại quả báo, bởi vì nghiệp ấy
không hiện hữu."(37)
Bản
P loại bỏ bất cứ đề cập nào về thực hữu của khổ
trong quá khứ, hiện tại, vị lai, đấy là một điều rất
ý nghĩa, vì nó chứng tỏ Thượng tọa bộ phủ nhận một
sự hiện hữu như vậy. Giáo sư Stcherbatsky khi tham khảo đoạn
văn: " Tất cả đều hiện hữu, có nghĩa là 12 xứ (àyatanas)
hiện hữu"(38) mà
tạng P không có, đã nói rằng rõ ràng Thượng tọa bộ (Ther.)
đã bỏ đoạn ấy vì không phù hợp với giáo điều đặc
biệt của họ(39)
. Sự hiện hữu đoạn văn trên đây trong bản C nhưng lại
không có trong P là một bằng chứng nữa chứng tỏ kinh Trung
a-hàm thuộc về Nhất thiết hữu bộ.
6. Về
kinh Trung a-hàm được trích dẫn trong luận của Samathadeva(40):
Tác
phẩm của giáo sư Sakurabe đã nói trên, là một bằng chứng
nữa cho thấy kinh Trung A-hàm (CMA) thuộc về Nhất thiết hữu
bộ. Samathadeva có viết một luận giải về tác phẩm A-tỳ-đạt-ma
Cu-xá luận (Abhidharma-kosa) của luận sư Thế Thân (Vasubandhu)
tên là Abhidharmakosopàyika-Nàma-Tïìkà. Bản luận này
chỉ được gìn giữ dưới dạng bản Tây Tạng và có trích
dẫn một số đoạn trong kinh A-hàm. Nhà học giả uyên bác
ấy đã đi đến kết luận rằng những đoạn này giống với
bản CMA hơn là với bản PMN. Vì tác phẩm này là một luận
giải về tác phẩm của ngài Thế Thân đề cập chính yếu
về lý thuyết Nhất thiết hữu bộ, nên nó thuộc về phái
Nhất thiết hữu bộ và lẽ tự nhiên nó trích dẫn các tác
phẩm của bộ phái này.
Những
lý do sau đây giúp ta chứng minh được rằng những đoạn
kinh Trung a-hàm được trích dẫn trong tác phẩm Abhidharmakosopàyika-Nàma-Tïìkà
là
gần với Trung a-hàm (CMA) hơn là với Trung bộ kinh (PMN) :
a)
Phần lớn các đề kinh trong Trung a-hàm (Ms) mà Samathadeva trích
dẫn đều trùng hợp với những kinh Trung a-hàm C mặc dầu
đôi khi chúng không giống với những kinh trong Trung bộ P:
Ms
: Kinh Tỳ-kheo ni Dharmadinnà (Bhiksunìdharmadinnà)=
CMA số 210, Pháp lạc Tỳ-kheo nikinh (C: Fa-lo-pi-ch'iu-ni-ching;
S: Bhiksunì-dharmadinnà Sùtra), không giống với Trung bộ
P số 44, Tiểu kinh phương quảng (Cùlavedalla-sutta).
Ghi
chú: Dhammadinnà đôi khi được viết thành Dhammanandì,
nên dịch thành Pháp lạc.
Ms:
Kinh Avarabhàgìya = CMA số 205, Ngũ hạ phần kết kinh
(C: Wu-hsia-fên-chieh-ching; S: Panca avarabhàgìya); không
giống với PMN số 64, Kinh Mahà-Malunkya (Mahà-Malunkyasutta).
b)
Sự xếp đặt các kinh trong Trung a-hàm S (Ms) rất giống với
Trung a-hàm C (CMA) mà lại hoàn toàn khác với Trung bộ kinh
P (PMN). Như kinh MS, Mahànidànapariyàya sùtra, và kinh CMA
số 97, Đại nhân kinh (C: Ta-yin-ching), cả hai đều
bao gồm trong Trung a-hàm, trong khi kinh Pali tương đương số
15,Đại nhân duyên kinh (Mahànidànasutta), thì lại nằm
trong Trường bộ kinh (Dìghanikàya). Kinh MS, Sùryasaptakasùtra,
và kinh CMA số 8, Thất nhật kinh (Ch'ih-jih-ching), cả
hai đều nằm trong Trung a-hàm, nhưng kinh Pali tương đương
số 62 thì lại nằm trong Tăng chi bộ kinh (Anguttara Nikàya),
vii, 63. Kinh MS nhan đề Sapta-satpurusagati và kinh CMA số
6,Thiện nhân vãng kinh (C: Shan-jên-wang-ching), cả hai đều
nằm trong Trung a-hàm, nhưng kinh Pali tương đương thuộc về
Tăng chi bộ kinh (Anguttara Nikàya), vii, 52.
7. Giáo
lý Trung a-hàm (CMA) giống với giáo lý Nhất thiết hữu bộ
(Sarv. Abhidharma Sàstras):
Một
bằng chứng khác chứng minh CMA thuộc về Nhất thiết hữu
bộ là, những lời dạy trong kinh CMA được khai triển trong
các bộ luận của Nhất thiết hữu bộ (Sarv. Abhidharma Sàstras).
a) Bốn
đạo và bốn quả:
Kinh
chữ Hán, Úc già trưởng giả (Yu-ch'ieh-chang-che-ching),
(số 39, v, 54a, 6-7) có đoạn sau đây: "Người này là một
vị A-la-hán hướng (C: A-la-han-hsiang; S: Pratipannaka
arhat), người này là A-la-hán; người này là A-na-hàm hướng
(C: A-na-han-hsiang; S: Pratipannaka anàgànì), người
này là A-na-hàm; người này là Tư-đà-hàm hướng (C: Ssu-t'o-han-hsiang;
S: Pratipannaka sakrdàgàmì), người này là Tư-đà-hàm;
người này là Tu-đà-hoàn hướng (C: Hsu-t'o-yuan-hsiang;
S: Pratipannaka srota-àpanna), người này là Tu-đà-hoàn."
Sự phân chia làm hai hạng A-la-hán, hai hạng A-na-hàm, hai hạng
Tư-đà-hàm, hai hạng Tu-đà-hoàn được khai triển rộng rãi
và được luận giải trong tác phẩm A tỳ đạt ma câu xá
luận (Abhidharmakosa) của Thế Thân (Vasubandhu), chương
6 nhan đề Các thánh đạo (Aryamàrganirdesa)(41)
. Chúng tôi trích dẫn đoạn sau đây mô tả sự tu hành và
chứng đắc Dự lưu hướng (Pratipannaka Srota-àpanna) và
dự lưu quả (Srota-àpanna):
Laukikebhyo'
gradharmebhyo dharmaksàntir anàsrava// 25//
Kàmaduhkhe;
tato' traiva dharmajnànam tathà punah/
Sesaduhkhe'
nvayaksànti jnàne; satyatraye tathà//26//
Evam
sodasacitto' yam satyàbhisamayah;/
Đoạn
văn này trình bày sự tu hành và chứng đắc Dự lưu hướng
và Dự lưu quả. Khi một người đạt đến 15 sát na sau đây
thì được gọi là một vị Dự lưu hướng 1. Khổ pháp trí
nhẫn (duhïkhe dharma-jnàna-ksànti), 2. Khổ pháp trí (duhïkhe
dharma-jnàna), 3. Khổ loại trí nhẫn (duhïkhe anvayajn-ànaksànti),
4. Khổ loại trí (duhïkhe anvayajnàna), 5. Tập pháp trí
nhẫn (samudaye dharma-jnàna-ksànti), 6. Tập pháp trí (samudaye
dharma-jnàna), 7. Tập loại trí nhẫn (samudaye anvayajnàønaksànti),
8. Tập loại trí (samudaye anvayajnàna), 9. Diệt pháp trí
nhẫn (nirodhe dharma-jnàna-ksànti), 10. Diệt pháp trí (nirodhe
dharma-jnàna), 11. Diệt loại trí nhẫn (nirodhe anvayajnàønaksànti),
12. Diệt loại trí (nirodhe anvayajnàøna), 13. Đạo pháp
trí nhẫn (màrge dharma-jnàna-ksànti), 14. Đạo pháp trí
(màrge dharma-jnàna), 15. Đạo loại trí nhẫn (màrge
anvayajnàønaksànti). Khi sát na thứ 16 cuối cùng, gọi là
Đạo loại trí (màrge anvayajnàøna) được đạt đến,
thì hành giả được gọi là một vị Dự lưu (Srota àpanna).
Ba quả kia được đề cập trong những trang kế tiếp. Trích
dẫn trên đây rút từ A-tỳ-đạt-ma Cu-xá, một bộ luận
của Nhất thiết hữu bộ, cốt chứng minh rằng CMA trong đó
có kinh trên đây là thuộc về bộ phái Nhất thiết hữu.
b) 62
giới (dhàtus) :
Trong
NC số 72, bản chữ Hán (số 181, vii. 31b, 15-20; 32a, 1-4) kể
ra tất cả 62 giới, trong khi bản Pali chỉ có 41 giới. Tác
phẩm A-tỳ-đạt-ma Cu-xá của Thế Thân, trong phần luận giải
bài kệ (kàrika) số 27 nói về cách phân loại các pháp
thành uẩn (skandhas), xứ (àyatanas), giới (dhàtus),
đã mượn cách phân chia 62 giới này từ kinh CMA chứ không
phải cách phân chia 41 giới của bản Pali như được thấy
dưới đây:
Evam
Bahudhàtuké pi dvàsastirdhàtavo desitàh.
Đoạn
này trong quyển "Abhidharmakosa de Vasubandhu"(42)
được dịch ra Pháp ngữ như sau:
"De
même les 62 dhàtus énumérés dans le Bahudhàtuka doivent être rangés
dans les 18 dhàtus en tenant compte de leur nature"
(Cũng
thế, 62 giới được kể trong Bahudhàtuka nên được
xếp thành 18 giới tùy theo tính chất của chúng.)
c) Tám
bậc hữu học (C: hsueh-jên; S: sekha) :
Trong
kinh CMA C số 127, Kinh Phước Điền (C: Fu-tien-ching) (vi,
46a, 7-9), hai loại phước điền được kể là 18 bậc hữu
học (saiksas) và 9 bậc vô học (asaiksas). 18 hữu
học là: 1. Tín hành(C: Hsin-hsing; S: Sraddhà-nusàrin),
2. Pháp hành (C: Fa-hsing; S: Dharmànusàrin), 3. Tín
giải thoát (C: Hsin-chieh-t'o; S: Sraddhàdhimukta), 4.
Kiến đáo (C: Chien-tao; S: Drstipràpta), 5. Thân chứng
(C: Shên-chêng; S: Kàyasàksin), 6. Gia gia (C: Chia-chia;
S: Kulamkula), 7. Nhất chủng (C: I-chung; S: Ekavìjika),
8. Hướng Tu-đà-hoàn (C: Hsiang-hsu-t'o-yuan; S: Pratipannaka
Srota-àpan-na), 9. Đắc Tu-đà-hoàn (C: Tê-hsu-t'o-yuan;
S: Srota àpanna phala), 10. Hướng Tư-đà-hàm (C: Hsiang-ssu-t'o-
han; S : Pratipannaka Sakrdàgàmì), 11. Đắc Tư-đà-hàm
(C: Tê-ssu-t'o-han; S: Sakrdàgàmì phala), 12. Hướng
A-na-hàm (C: Hsiang-a-na-han; S: Pratipannaka anàgàmì),
13. Đắc A-na-hàm (C: Tê-a-na-han; S: Anàgàmì phala),
14. Trung bát Niết-bàn (C: Chung-pan-nieh-p'an; S: Antaràparinirvàyin),
15. Sinh bát Niết-bàn (C: Shêng-pan-nieh-p'an; S: Upapadyaparinirvàyin),
16. Hành bát Niết-bàn (C: Hsing-pan-nieh-p'an; S: Sàbhisamskàrapari-nirvàyin)
, 17. Vô hành bát Niết-bàn (C: Wu-hsing-pan-nieh-p'an; S:
Anabhisamskàraparinirvà-yin),
18. Thượng lưu sắc cứu cánh (C: Shang-liu-sê-chiu-ching;
Ùrdhva-srota
- rùpantimàt).
A-tỳ-đạt-ma
Cu-xá(43)
viết:
"Đức
Thế tôn dạy Cấp Cô Độc (C: Kei-ku-tu; P: Anàthapindika):
'Này cư sĩ, ngươi nên biết có hai loại phước điền, hữu
học và vô học. Hữu học có 18: 1. Tu-đà-hoàn hướng, 2.
Tu-đà-hoàn quả, 3. Tư-đà-hàm hướng, 4. Tư đàm quả, 5.
A-na-hàm hướng, 6. A-na-hàm quả, 7. A-la-hán hướng, 8. Tùy
tín (S: Sraddhànusàrin), 9. Tùy pháp (S: Dharmànusàrin),
10. Tín giải thoát (S: Sraddhàdhimukta), 11. Kiến đáo (Drstipàpta),
12. Gia gia, (S:Kulamkula), 13.Nhất sinh (S: Ekavìjika),
14.Trung gian Niết-bàn (S: Antaràpanrinirvàyin), 15. Sinh bát
Niết-bàn, 16. Hữu hành bát Niết-bàn , 17. Vô hành bát Niết-bàn,
18. Thượng lưu sắc cứu cánh' ".
Như
vậy luận A-tỳ-đạt-ma Cu-xá cũng trích dẫn 18 bậc hữu
học nhưng không theo cùng một thứ tự, bỏ vị thân chứng
(kàyasàksin) và thêm vào A-la-hán hướng. Một điều
khá lạ lùng là A-tỳ-đạt-ma Cu-xá dường như cũng trích
dẫn chính bản kinh mà Trung a-hàm C đề cập. Đáng tiếc là
tác phẩm Phật học đại tự điển (Fu-hsueh-ta-tzu-tien)
không nói đến nguồn gốc của kinh này.
d) 9 bậc
vô học ( C: Wu-hsueh; S: asaiksas) :
Cũng
trong kinh Hoa ngữ số 127 nhan đề Phật điển kinh (Fu-tien-ching),
có 9 bậc vô học được kể ra như sau: 1. Tư pháp (C: Ssu-fa;
S: Cetanàdharman), 2. Thăng tấn pháp (C: Shêng-chin-fa;
S: Prativedhanà-dharman), 3. Bất động pháp (C: Pu-tung-fa;
S: Akopyadharman)ï, 4. Thối pháp (C: T'ui-fa; S: Parihànadharman),
5) Bất thối pháp (C: Pu-t'ui-fa; S: Aparihànadharman),
6. Hộ pháp (C: Hu-fa; S: Anuraksanà-dharman), 7. Thật
trụ pháp (C: Chu-fa; S: Sthitàkampya), 8. Tuệ giải
thoát (C: Hui-chieh-t'o; S: Prajnàvimukta), 9. Câu phần
giải thoát (C: Chu-chieh-t'o; S: Ubhayatobhàgavimukta).
Nhưng,
tác phẩm "A-tỳ-đạt-ma Cu-xá củ Thế Thân"(44)
trích dẫn: "Có 6 loại A-la-hán: Arhantahï san matàhï".
Kinh (Trung a-hàm 30,4: Tạp a-hàm 33,10) nói rằng có 6 loại A-la-hán
là: 1. Parihànadharman 2. Cetanà-dharman, 3. Anuraksanàdharman,
4. Sthitàkampya, 5. Prativedhanà-dharman, 6. Akopyadharman.
Ngược
lại Phật học đại tự điển(45)
trích dẫn A-tỳ-đạt-ma Cu-xá q.xxv nói có 6 hạng A-la-hán
như trên, rồi lại kể 7 hạng A-la-hán như trên thêm Aparihàna
arahà; lại kể 9 loại A-la-hán, thêm Tuệ giải thoát và
Câu phần giải thoát. Như vậy ta không thể bảo rằng những
trích dẫn trong hai tác phẩm Trung a-hàm C và A-tỳ-đạt-ma
Cu-xá đều giống nhau. Nhưng các pháp được trích dẫn thì
hầu như đồng nhất trong luận Nhất thiết hữu bộ và trong
Trung a-hàm C, và khác với Trung bộ kinh P.
8. A-la-hán
có thể mất địa vị A-la-hán:
Trong
cách phân chia chín hạng vô học như đã thấy trên, bản C
nói đến một hạng A-la-hán gọi là Thối pháp (C: T'ui-fa;
S: Parihàna-dharman), và như vậy công nhận rằng có một
loại A-la-hán có thể mất địa vị ấy. Đây là một bằng
chứng nữa chứng minh Trung a-hàm C thuộc về Nhất thiết hữu
bộ, như được chứng minh bằng đoạn văn sau đây:(46)
"Trong
bộ luận của Vasumitra cũng như trong Kathàvatthu (
Biện thuyết), đều nói bộ phái Nhất thiết hữu tin rằng
A-la-hán có thể thối đọa. Về điểm này Thượng tọa bộ
phái có quan điểm khác. Họ tin rằng các vị A-la-hán cũng
như Phật, hoàn toàn thanh tịnh, không thể thối đọa khỏi
địa vị ấy. Phái Đại chúng bộ (Mahasanghikas) cũng
không đồng ý với Nhất thiết hữu bộ về điểm này(47)
. Tất cả những bằng cứ nội tại ngoại tại trên đây
đã cho ta nhiều lý do để tin rằng kinh Trung a-hàm CMA thuộc
về Nhất thiết hữu bộ.
(21)
H. Sastri, Epigraphia Indica Vol. XX, 1929-30, Delhi, p.20.
(22)
Do Gs. Andre Bareau cung cấp tài liệu
(26)Nàga,
cần được dịch là voi.
(29)
Xem M.R.E.T. p.48-50.
(33)
Phụ lục No 6, p.533.
(34)
Fu-hsueh-ta-tzu-tien, vol.ii, p. 64c
(37)
Dịch từ: "Les sectes bouddhiques du Petit vehicule" của Andre Bareau,
p.137.
(38)
Samyukta xiii, p.16, Mc Govern.
(39)
The Central conception of Buddhism, p.4, footnote No 13
(40)
Do Gs. Sakurabe cung cấp.
(41)
L'Abhidharmakosa de Vasubandhu, iv, p. 119-302.
(43)
Fu-hsueh-ta-tzu-tien, vii, p. 1020.
(46)
A.M.R.H. p.25, note 3.
(47)
Masuda, Origin etc., p.27; Kathàvatthu, i,2.

|