|
|
|
|
Phần
Một
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
Hai - Những điểm đồng và dị giữa bản Hán tạng
và bản Pàli
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
Ba - 15 mẫu nghiên cứu tỷ giảo giữa các kinh P và C tương
đương
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
Bốn - Phụ lục
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
SO SÁNH KINH TRUNG
A-HÀM CHỮ HÁN
VÀ KINH TRUNG-BỘ CHỮ
PÀLI
Hòa
thượng Thích Minh Châu (1961) - Thích Nữ Trí Hải dịch Việt
(1998)
Nguyên
tác: Bhiksu Thich Minh Chau (1961),"A Comparative Study of the Chinese
Madhyama Agama and the Pali Majjhima Nikaya", Ph.D. Thesis, Bihar
University, India
 |
 |
Phần
Một
I.
DẪN NHẬP
Khoảng
một thế kỷ sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, cộïng đồng
Tăng lữ phân thành 18 bộ phái hay hơn nữa. Hai bộ phái trong
đó là Thượng tọa bộ (Theravàda) và Nhất thiết hữu
bộ (Sarvàstivàda), do khối lượng kinh tạng và ảnh
hưởng rộng rãi, đã đẩy lùi vào bóng tối tất cả bộ
phái khác.
Nhưng
trong khi hầu như toàn vẹn tạng kinh của Thượng tọa bộ
(Ther.) được truyền đến chúng ta, ta lại không thể
nói như vậy về tạng kinh của Nhất thiết hữu bộ (Sarv.).
Nguyên bản Sanskrit của tạng kinh này phần lớn đều
mất hết, chỉ trừ vài đoạn được tìm thấy ở Trung Á,
một ít được mang từ Nepal, và gần đây có những văn liệu
Gilgit được khám phá cùng với những bản dịch chữ Hán
và chữ Tây-Tạng. Một sự nghiên cứu so sánh về hai tạng
kinh này sẽ rọi nhiều ánh sáng vào nguồn gốc của tạng
kinh cổ, những tương đồng và biệt dị giữa các lý thuyết
của hai bộ phái. Nhiều học giả danh tiếng đã cố làm việc
theo chiều hướng này, nhưng phần đông chỉ giới hạn vào
tạng luật (Vinayapitaka), như Tiến sĩ W. Pachow trong tác
phẩm "Nghiên cứu so sánh về giới bản Ba-la-đề-mộc-xoa
(Pràtimoksa)"; và Tiến sĩ A. C. Banerjee trong cuốn "Văn
học Nhất thiết hữu bộ (Sarvàstivàda)", đều nói đến
những giới luật mà Tăng Ni phải tuân theo. Tiến sĩ Bapat
đã mở ra một chân trời mới trong tác phẩm Arthapadasùtra
bằng
cách so sánh hai bản kinh chữ Hán và Pàli, nhưng tác
phẩm của vị này chỉ giới hạn vào một phần của kinh
Suttanipàta.
Bởi vậy chúng ta vẫn còn khao khát có được một nghiên
cứu so sánh có hệ thống về toàn thể kinh tạng (Sùtrapitaka)
của Thượng tọa bộ (Ther.) và Đại chúng bộ (Sarv.).
Tác phẩm này "So sánh kinh Trung A-hàm và kinh Trung bộ" là một
cố gắng để bù lấp vào khoảng trống ấy.
Tầm
quan trọng của tác phẩm
Trong
tác phẩm này, chúng tôi đã cố gắng giới thiệu một phần
quan trọng của tạng kinh thuộc Nhất thiết hữu bộ (Sarv.)
là kinh Trung A-hàm (Madhyama Àgama) trong hình thức toàn
vẹn của nó. Bộ kinh này từ trước đến nay người ta chỉ
biết đến qua bản dịch chữ Hán, được nghiên cứu rộng
rãi, gồm những phẩm, quyển, ngày tụng và kinh(1)
, được chia thành Giới (Sìla), Định (Samàdhi),
Tuệ (Panna) cùng với những vi phân khác(2)
. Chúng tôi cũng đề cập đến đời đức Phật(3)
, Tăng chúng với đời sống hằng ngày của họ(4)
, những ẩn dụ, kệ tụng và kết luận của các kinh(5)
. Chúng tôi không bỏ sót một chi tiết nào ngõ hầu đem lại
một cái nhìn sáng sủa về những điểm cốt yếu trong kinh
Trung A-hàm (Madhyama Àgama) thuộc Nhất thiết hữu bộ
(Sarv.). Trong khi xét đến lý thuyết của Nhất thiết
hữu bộ (Sarv.), chúng tôi cũng sưu tập một số bằng
chứng nội tại và ngoại tại với mục đích chứng minh rằng
kinh Trung A-hàm bằng chữ Hán (CMA) quả thuộc về Nhất thiết
hữu bộ (Sarv.). Điều này chỉ được các học giả
trước đây phỏng đoán(6)
.
Tỷ
lệ cao những điểm tương đồng giữa hai bản kinh chữ Hán
và Pàli, sự hiện diện nhiều đoạn văn giống nhau chứng
tỏ rằng đã có một nguồn gốc chung cho cả hai bản dịch
Pàli và chữ Hán; và căn bản chung ấy không chỉ về lý thuyết
mà còn về hình thức văn bản. Ví dụ, trong số 98 kinh tương
đương giữa chữ Hán và Pàli, có 45 kinh có nhan đề giống
nhau, 15 kinh gần giống, 62 kinh có cùng một địa danh và 15
kinh gần như đồng một địa danh(7)
. Sự đề cập những lý thuyết nòng cốt như Niệm xứ (Satipatthàna),
Bát chánh đạo, các thiền (Jhàna) thuộc sắc (rùpa)
và vô sắc (arùpa) giới, bốn chân lý(8)
... đều gần giống nhau và cách hành văn của một vài đoạn
có thể nói là hoàn toàn giống nhau trong cả hai bản dịch.
Tất cả điều này chứng tỏ đã hiện hữu một tạng kinh
cổ, có lẽ là tạng kinh Magadhi đã mất mà học giả
Winternitz đã nói đến trong tác phẩm Lịch sử văn học
Ấn độ(9).
Giáo sư André Bareau công nhận có một tạng kinh cổ, đã viết:
"Giả thiết này - cho rằng sự giống nhau không phải vì có
một tạng kinh cổ, mà vì có sự vay mượn lẫn nhau giữa
các bản kinh hậu kỳ - đối với tôi dường như không vững,
ít nhất là nói về toàn tạng kinh, vì sự giống nhau ấy
có thể được thực hiện trong một vài hoàn cảnh đặc biệt."
(L'hypothèse selon laquelle cette identité serait due, non à l'existence
de ce Proto Canon, mais à des emprunts mutuels entre Canons tardifs me
parait pratiquement insoutenable, due moins pour l'ensemble des textes,
car elle a pu se réaliser dans certains cas particuliers).
Toàn
thể phần hai, từ chương 1 đến chương 9 sách này, là một
nghiên cứu so sánh về các lý thuyết và truyền thống của
hai bộ phái Nhất thiết hữu bộ (Sarv.) và Thượng tọa
bộ (Ther.) để chứng minh các điểm tương đồng và
dị biệt của hai truyền thống.
Chương
nói về những đặc tính của Nhất thiết hữu bộ (Sarv.)
và Thượng tọa bộ (Ther.)(10)
có thể xem như là toát yếu của toàn tác phẩm, trong đó
những điểm đặc sắc của mỗi bộ phái được tập hợp
lại và giải thích. Nó cũng có mục đích giải thích một
vài lối hành trì khác nhau mà các xứ Phật giáo hiện đang
áp dụng. Tỷ số cao những điểm tương đồng đã chứng
minh được thẩm quyền và sự chính xác đáng tin cậy của
truyền thống kinh tạng Pàli, như học giả Winternitz
đã nói : "Càng mở văn tạng Sanskrit, so sánh với tạng
Pàli,
ta càng thấy Oldenberg đã đúng khi nói rằng bản
Pàli mặc
dù không phải hoàn toàn chính xác, vẫn đáng xem là khá toàn
hảo."(11)
Khi sưu tầm những dị biệt, và nếu xét thật kỹ, ta sẽ
thấy những người sưu tập đã tự do thêm những đoạn văn
và chi tiết thích hợp cho bộ phái của mình và bớt những
chi tiết nào không phù hợp. Ví dụ bản Hoa ngữ ngang nhiên
bỏ kinh Kỳ-bà (Jìvakasutta) trong đó đức Phật cho phép
Tỳ-kheo ăn ba thứ thịt(12)
, còn tạng Pàli thì bỏ đoạn nói về hiện hữu của đau
khổ trong quá khứ hiện tại và vị lai(13)
. Điều này cho thấy Tiến sĩ N. Dutt đã nhận xét đúng :
"Tạng kinh Pàli (Pàli Pitakas) chắc chắn đã trải qua
nhiều lần biên tập với nhiều thêm bớt trước khi nó trở
thành dạng bản mà chúng ta có hiện nay. Hình thức đơn điệu
và giả tạo của mỗi kinh đã làm mất vẻ tươi sáng ban
đầu của những lời dạy và rõ ràng để lộ bàn tay cắt
xén uốn nắn của những người biên tập ở vào một thời
rất xa thời đại đức Đạo sư."(14)
Dĩ nhiên ta cũng có thể nói như vậy về tạng kinh của Nhất
thiết hữu bộ (Sarv.). Tác phẩm này cũng cốt làm sáng
tỏ công trình tiên phong vĩ đại của Sanghadeva (Tăng-già-đề-bà)
một
vị sư Ấn từ Kashmir đã truyền bá đạo Phật tại Trung
Quốc. Theo lời đề nghị của Giáo sư André Bareau, tôi đã
sưu tập nhiều từ tương đương Pàli Hoa ngữ để làm thành
một mục nhỏ về các từ tương đương Pàli-Hoa-Anh; nhưng
vì giới hạn của quyển sách này, tôi phải giảm mục này
đến mức tối thiểu.
Điểm
qua những tác phẩm trước
Trong
khi làm công cuộc khảo sát so sánh kinh A-hàm (CMA) với kinh
Trung bộ (PMN), tôi không khỏi có cảm giác đang dẫm chân
lên một vùng đất hầu như mới mẻ, vì cho đến nay có rất
ít tác phẩm có hệ thống đề cập đến lãnh vực này của
văn học Phật giáo.
Tác
giả Chizen Akanuma trong tác phẩm "So sánh mục lục các kinh
A- hàm (Àgamas) chữ Hán và kinh bộ Pàli (Pàli Nikàyas)"
là người đầu tiên cố khảo sát so sánh hai tạng kinh này.
Mặc dù tác phẩm này khá quan trọng, nó cũng chỉ giới hạn
trong việc làm mục lục nhan đề của những kinh tương đương
chứ không đi sâu vào chi tiết. A. F. Rudolf Hoernle trong quyển
"Những di tích bản thảo văn học Phật giáo được tìm thấy
ở miền Đông thổ (Eastern Turkestan)" đã làm một cuộc khảo
sát có hệ thống về những đoạn kinh bằng Phạn ngữ được
tìm thấy ở Trung Á so với những kinh Pàli tương đương.
Nhưng riêng về kinh Trung A-hàm (Madhyama Àgama), chỉ có
những đoạn thuộc về hai kinh Ưu-ba-ly (Upàlisùtra) và
Suka (Sukasùtra) được tìm thấy, mà chúng lại quá ít
ỏi không đủ để so sánh và lượng giá. Khi tôi tìm hiểu
có học giả Tây phương nào đã làm về đề tài này chưa,
Giáo sư André Bareau, một học giả nổi danh của Pháp, đã
cho biết có một nhóm học giả Đức dưới sự hướng dẫn
của Giáo sư Waldschmidt ở Bá Linh đang làm việc về những
gì còn lại của kinh Trường A-hàm (Dìrgha Àgama) và
Tạp A-hàm (Samyukta Àgama), chứ không làm về Trung A-hàm
(Madhyama Àgama). Về những học giả người Nhật, tôi
được Giáo sư Sakurabe cho biết thỉnh thoảng vài học giả
Nhật như Sakurabe, Chizen Akanuma, Mochizuki... viết những mục
báo nói về kinh Trung A-hàm, nhưng vì phần lớn bằng tiếng
Nhật nên không thể phổ cập đến độc giả; vả lại họ
cũng chỉ giới hạn vào một vài khía cạnh của kinh Trung
A-hàm (CMA). Bởi thế một tác phẩm khảo sát tỷ giảo về
kinh Trung A-hàm (CMA) và kinh Trung bộ (PMN) vẫn là một điều
đáng làm.
Phương
pháp được áp dụng
Trong
tác phẩm này, tôi đã chọn bản văn Trung A-hàm (CMA) do Tăng
Già Đề Bà dịch để so sánh với kinh Trung bộ (PMN). Tôi
buộc lòng phải bỏ qua một số kinh Trung A-hàm (Madhyama
Àgama) của những dịch giả khác, vì phạm vi tác phẩm
này không cho phép tôi để những kinh ấy vào. Tôi chỉ giới
hạn vào 98 kinh A-hàm so với những kinh Trung bộ tương đương.
Cuộc nghiên cứu so sánh đề cập đến các vấn đề như
đề kinh, địa điểm nói kinh, phân loại phẩm (vargas),
giới (sìla), định (samàdhi), tuệ (panna)...Nhưng
chúng tôi cũng không quên nghiên cứu tỷ giảo từng kinh một,
15 kinh tất cả. Khi so sánh một đoạn kinh văn, chúng tôi cố
dịch đoạn văn Hoa ngữ càng trung thực càng hay, trong khi đoạn
văn Pàli
tương đương thì chỉ nêu lên cái cốt tủy;
đồng thời ghi chú những điểm tương đồng và dị biệt
với đoạn văn Hoa ngữ. Vì bản kinh Pàli đã được
biết đến một cách rộng rãi nên không cần khai triển nhiều.
Với mỗi đoạn văn so sánh, chúng tôi ghi rõ số quyển, trang,
dòng của cả hai tạng kinh để độc giả dễ tra cứu. Khi
cần chúng tôi thêm một vài nhận xét vào những đoạn kinh
văn được so sánh. Về việc La tinh hóa những tiếng Hoa ngữ,
tôi đã theo phương pháp Wade-Giles trong cuốn Tự điển Hán-Anh
của Mathews được nhiều người biết đến. Về bản kinh
văn Trung A-hàm (Madhyama) Àgama) bằng Hoa ngữ, tôi đã theo bản
in của ngài Huyền Trang (Hsu-ts'ang) có sẵn, và vì bản
in của Tai-sho không có tại Nalanda. Về bản kinh Pàli,
tôi đã chọn ấn bản Trung bộ kinh (Majjhima Nikàya) của
Hội Pàli Text.
Bố cục
của luận án
Tác
phẩm này chia làm bốn phần chính :
Phần
một : Dẫn nhập, gồm có bài dẫn nhập này cùng với
một số bằng chứng để chứng minh Trung A-hàm (CMA) thuộc
về Nhất thiết hữu bộ (Sarv.); một số đặc tính
của hai bộ phái Nhất thiết hữu bộ (Sarv.) và Thượng
tọa bộ (Ther.), tương quan giữa Trung A-hàm (CMA) và Trung
Bộ Kinh (PMN); cùng với bản kê 98 kinh chung ở cả hai tạng
được chọn để so sánh.
Phần
hai : Đề cập những điểm tương đồng và dị biệt giữa
hai bên trong việc sắp xếp những phẩm và những kinh, những
tên kinh, địa điểm thuyết kinh, và vai trò của các nhân
vật được nói trong kinh, những giáo lý được phân loại
theo Giới (Sìla) - Định (Samàdhi) - Tuệ (Panna),
Phật và tăng chúng, những ẩn dụ, kệ tụng và những phần
kết của các kinh.
Phần
ba : Gồm 15 kinh được chọn từ 98 kinh để khảo sát so
sánh. Việc nghiên cứu so sánh toàn bộ 98 chung đã được
hoàn tất trong bản thảo của tôi, nhưng chỉ có 15 kinh được
in vì thiếu chổ trong luận án này.
Phần
bốn : là những phụ lục, gồm có tiểu sử của Tăng
Già Đề Bà (Sanghadeva), vài nhận xét về bản dịch
của ngài, vài nhận xét về bản dịch Trung Bộ Kinh của cô
Horner, bản liệt kê 222 kinh Trung A-hàm (CMA) chia theo phẩm,
quyển, ngày tụng đọc, nhan đề tương đương và vị trí
xảy ra của những kinh Hán-Pàli tương đương, bản kê những
thuật ngữ tương đương Pàli-Hoa-Anh ngữ, những đoạn còn
lại của hai kinh Phạn ngữ (Sanskrit) thuộc Trung A-hàm
(Madhyama Àgama) ...
Ước
mong rằng việc nghiên cứu so sánh giữa Trung A-hàm (CMA) và
Trung bộ kinh (PMN) này sẽ được xem như một đóng góp mới
mẻ và khiêm tốn vào lĩnh vực kiến thức và văn học Phật
giáo.
(9)
H.I.L., ii, pp. 232-233.

|