SỒNG TRONG
TỪNG SÁT NA
Trường
Đinh
Kinh Bốn Lãnh
Vực Quán Niệm
Tôi
nghe như vầy: Một thuở nọ, Đức Phật đang cư trú ở Kammasadamma,
một khu phố của dân Kuru. Một hôm, Ngài gọi các vị chư
tăng: “Nầy các thầy”. Chư tăng đáp: “Thưa Đức Thế
Tôn”. Đức Phật nói: “Nầy các vị, đây là con đường
duy nhất để thanh tịnh thân tâm, vượt thắng phiền não,
diệt trừ ưu khổ, đạt tới chánh đạo và chứng nhập niết
bàn - đó là con đường của bốn lãnh vực quán niệm”.
Bốn
lãnh vực quán niệm là những lãnh vực gì?
Nầy
các vị, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân
thể nơi thân thể, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt
về thân thể, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc
đời.
Người
ấy an trú trong sự quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ,
tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về cảm thọ, xa lìa
mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.
Người
ấy an trú trong sự quán niệm về tâm thức nơi tâm thức,
tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về tâm thức, xa lìa
mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.
Người
ấy an trú trong sự quán niệm về đối tượng của tâm thức
nơi đối tượng của tâm thức, tinh cần, ý thức rõ ràng
và sáng suốt về đối tượng của tâm thức, xa lìa mọi
tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.
Nầy
các vị, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân
thể nơi thân thể như thế nào?
Người
ấy tìm đến một khu rừng, tới một gốc cây, hay một nơi
vắng vẻ, ngồi xuống trong tư thế kiết già, giữ thân hình
ngay thẳng và thiết lập sự quán niệm trên đối tượng
thiền định. Với ý thức rõ ràng và sáng suốt, người ấy
thở vào. Với ý thức rõ ràng và sáng suốt, người ấy thở
ra.
Thở
vào một hơi thở dài, người ấy ý thức rằng: “ta đang
thở vào một hơi thở dài”. Thở ra một hơi thở dài, người
ấy ý thức rằng: “ta đang thở ra một hơi thở dài”.
Thở
vào một hơi thở ngắn, người ấy ý thức rằng: “ta đang
thở vào một hơi thở ngắn”. Thở ra một hơi thở ngắn,
người ấy ý thức rằng: “ta đang thở ra một hơi thở ngắn”.
Người
hành giả tự mình thực tập như sau:
Với
ý thức rõ ràng về toàn hơi thở, ta thở vào. Với ý thức
rõ ràng về toàn hơi thở, ta thở ra.
Với
ý thức rõ ràng về sự lắng dịu nơi hơi thở, ta thở vào.
Với ý thức rõ ràng về sự lắng dịu nơi hơi thở, ta thở
ra.
Như
người thợ tiện khéo tay hay người thợ học nghề, khi xoay
một vòng dài, người ấy ý thức rằng: “ta đang xoay một
vòng dài”. Hay xoay một vòng ngắn, người ấy ý thức rằng:
“ta đang xoay một vòng ngắn”.
Cũng
như người hành giả thở vào một hơi thở dài, người ấy
ý thức rằng: “ta đang thở vào một hơi thở dài”. Thở
ra một hơi thở dài, người ấy ý thức rằng: “ta đang thở
ra một hơi thở dài”.
Thở
vào một hơi thở ngắn, người ấy ý thức rằng: “ta đang
thở vào một hơi thở ngắn”. Thở ra một hơi thở ngắn,
người ấy ý thức rằng: “ta đang thở ra một hơi thở ngắn”.
Người
hành giả tự mình thực tập như sau:
Với
ý thức rõ ràng về toàn hơi thở, ta thở vào. Với ý thức
rõ ràng về toàn hơi thở, ta thở ra.
Với
ý thức rõ ràng về sự lắng dịu nơi hơi thở, ta thở vào.
Với ý thức rõ ràng về sự lắng dịu nơi hơi thở, ta thở
ra.
Và
như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân
thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên
trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán
niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc
quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể.
Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có thân thể đây”,
như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về
thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi
tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời.
Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là
như vậy, thưa các vị.
Khi
đi, người hành giả ý thức rằng: “ta đang đi”. Khi đứng,
người hành giả ý thức rằng: “ta đang đứng”. Khi ngồi,
người hành giả ý thức rằng: “ta đang ngồi”. Khi nằm,
người hành giả ý thức rằng: “ta đang nằm”. Bất cứ
thân thể đang ở trong tư thế nào, người hành giả cũng
ý thức về tư thế đó.
Và
như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân
thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên
trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán
niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc
quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể.
Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có thân thể đây”,
như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về
thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi
tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời.
Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là
như vậy, thưa các vị.
Khi
đi tới hay đi lui, người hành giả ý thức rõ ràng về việc
đó. Khi nhìn trước hay nhìn sau, cúi xuống hay đứng lên,
người hành giả ý thức rõ ràng về việc đó. Khi mặc áo
cà sa hay mang bình bát, người hành giả ý thức rõ ràng về
việc đó. Khi ăn hay uống, nhai hay nếm, người hành giả ý
thức rõ ràng về việc đó. Khi đi đại tiện hay tiểu tiện,
người hành giả ý thức rõ ràng về việc đó. Khi đi hay
đứng, nằm hay ngồi, ngủ hay thức, nói hay im lặng, người
hành giả cũng ý thức rõ ràng về việc đó.
Và
như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân
thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên
trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán
niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc
quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể.
Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có thân thể đây”,
như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về
thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi
tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời.
Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là
như vậy, thưa các vị.
Người
hành giả quán niệm về chính thân thể nầy, từ gót chân
trở lên và từ đỉnh đầu trở xuống, bao bọc bởi một
lớp da và chứa đầy các loại bất tịnh. Thuộc về thân
thể nầy: “tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy,
thận, gan, hoành cách mạc, lá lách, phổi, ruột, bao tử, phân,
mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước bọt,
nước mủ, nước khớp xương, nước tiểu”.
Nầy
các vị, thí dụ có một cái bao đựng các loại ngũ cốc
như gạo lức, gạo hẻo rằng, lúa, đậu xanh, đậu ngự,
mè, gạo trắng. Hai đầu bao có thể mở ra được. Một người
có mắt tốt khi mở bao ra, thấy rõ mọi loại hạt chứa đựng
trong đó. Đây là gạo lức, gạo hẻo rằng, lúa, đậu xanh,
đậu ngự, mè, gạo trắng.
Cũng
như thế, khi quán niệm về thân thể nầy, người hành giả
thấy được mọi thứ, từ gót chân đến đỉnh đầu và
từ đỉnh đầu xuống gót chân, bao bọc bởi một lớp da
và chứa đầy các loại bất tịnh. Thuộc về thân thể nầy:
“tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận,
gan, hoành cách mạc, lá lách, phổi, ruột, bao tử, phân, mật,
đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước bọt, nước
mủ, nước khớp xương, nước tiểu”.
Và
như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân
thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên
trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán
niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc
quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể.
Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có thân thể đây”,
như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về
thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi
tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời.
Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là
như vậy, thưa các vị.
Lại
nữa, nầy các vị. Trong bất cứ tư thế nào của thân thể,
người hành giả cũng quán niệm về những yếu tố cấu tạo
thành thân thể. Trong thân thể nầy, có yếu tố đất, có
yếu tố nước, có yếu tố lửa, có yếu tố gió. Như người
đồ tể rành nghề hay người thợ học nghề, khi giết một
con bò, ngồi giữa ngả tư và xẻ con bò ra thành nhiều phần.
Người hành giả cũng vậy, trong bất cứ tư thế nào của
thân thể, cũng quán niệm về những yếu tố cấu tạo thành
thân thể. Trong thân thể nầy, có yếu tố đất, có yếu
tố nước, có yếu tố lửa, có yếu tố gió.
Và
như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân
thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên
trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán
niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc
quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể.
Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có thân thể đây”,
như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về
thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi
tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời.
Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là
như vậy, thưa các vị.
Lại
nữa, nầy các vị. Như khi thấy một xác chết bị bỏ nơi
bãi tha ma, đã được một ngày, hai ngày, hoặc ba ngày, sình
trương, thâm tím và thối rữa. Người hành giả quán niệm
về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế,
không có cách nào tránh thoát.
Và
như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân
thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên
trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán
niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc
quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể.
Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có thân thể đây”,
như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về
thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi
tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời.
Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là
như vậy, thưa các vị.
Rồi
như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, bị quạ rỉa,
bị diều hâu, kên kên và chó sói rừng gặm xé, bị dòi bọ
rúc rỉa. Người hành giả quán niệm về thân thể đây cũng
vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh
thoát.
Và
như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân
thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên
trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán
niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc
quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể.
Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có thân thể đây”,
như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về
thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi
tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời.
Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là
như vậy, thưa các vị.
Rồi
như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại
bộ xương dính ít thịt và máu, các khớp xương còn gắn
liền nhau bởi gân cốt.
Rồi
như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại
bộ xương không còn chút thịt nào nhưng vẫn còn dính chút
máu, các khớp xương còn gắn liền nhau bởi gân cốt.
Rồi
như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại
bộ xương không còn chút thịt nào và cũng không còn chút
máu nào, các khớp xương còn gắn liền nhau bởi gân cốt.
Rồi
như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại
đống xương rời rạc, chỗ nầy là xương tay, xương chân,
chỗ kia là xương đùi, xương mông, xương sống, đầu lâu.
Rồi
như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại
đống xương trắng màu vỏ ốc.
Rồi
như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại
đống xương khô đã hơn một năm.
Rồi
như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại
đống xương rã nát thành tro bụi.
Người
hành giả quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ
trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.
Và
như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân
thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên
trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán
niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc
quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể.
Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có thân thể đây”,
như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về
thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi
tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời.
Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là
như vậy, thưa các vị.
Nầy
các vị, người hành giả an trú trong sự quán niệm về cảm
thọ nơi cảm thọ như thế nào?
Khi
có một cảm giác khoái lạc, người hành giả ý thức: “ta
đang có một cảm giác khoái lạc”. Khi có một cảm giác
đau khổ, người hành giả ý thức: “ta đang có một cảm
giác đau khổ”. Khi có một cảm giác không khoái lạc cũng
không đau khổ, người hành giả ý thức: “ta đang có một
cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ”.
Khi
có một cảm giác khoái lạc về thể xác, người hành giả
ý thức: “ta đang có một cảm giác khoái lạc về thể xác”.
Khi có một cảm giác khoái lạc về tinh thần, người hành
giả ý thức: “ta đang có một cảm giác khoái lạc về tinh
thần”.
Khi
có một cảm giác đau khổ về thể xác, người hành giả
ý thức: “ta đang có một cảm giác đau khổ về thể xác”.
Khi có một cảm giác đau khổ về tinh thần, người hành giả
ý thức: “ta đang có một cảm giác đau khổ về tinh thần”.
Khi
có một cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về
thể xác, người hành giả ý thức: “ta đang có một cảm
giác không khoái lạc cũng không đau khổ về thể xác”. Khi
có một cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về
tinh thần, người hành giả ý thức: “ta đang có một cảm
giác không khoái lạc cũng không đau khổ về tinh thần”.
Và
như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về cảm
thọ nơi cảm thọ, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên
trong và bên ngoài cảm thọ. Người ấy an trú trong sự quán
niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc
quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi cảm thọ.
Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có cảm thọ đây”,
như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về
cảm thọ. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi
tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời.
Người hành giả quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ là
như vậy, thưa các vị.
Nầy
các vị, người hành giả an trú trong sự quán niệm về tâm
thức nơi tâm thức như thế nào?
Khi
tâm thức có tham dục, người hành giả ý thức là tâm thức
mình có tham dục. Khi tâm thức không có tham dục, người hành
giả ý thức là tâm thức mình không có tham dục.
Khi
tâm thức có sân hận, người hành giả ý thức là tâm thức
mình có sân hận. Khi tâm thức không có sân hận, người hành
giả ý thức là tâm thức mình không có sân hận.
Khi
tâm thức có si mê, người hành giả ý thức là tâm thức
mình có si mê. Khi tâm thức không có si mê, người hành giả
ý thức là tâm thức mình không có si mê.
Khi
tâm thức có thu nhiếp, người hành giả ý thức là tâm thức
mình có thu nhiếp. Khi tâm thức có tán loạn, người hành
giả ý thức là tâm thức mình có tán loạn.
Khi
tâm thức trở thành rộng lớn, người hành giả ý thức là
tâm thức mình trở thành rộng lớn. Khi tâm thức trở thành
hạn hẹp, người hành giả ý thức là tâm thức mình trở
thành hạn hẹp.
Khi
tâm thức đạt đến trạng thái cao nhất, người hành giả
ý thức là tâm thức mình đạt đến trạng thái cao nhất.
Khi tâm thức không đạt đến trạng thái cao nhất, người
hành giả ý thức là tâm thức mình không đạt đến trạng
thái cao nhất.
Khi
tâm thức có định, người hành giả ý thức là tâm thức
mình có định. Khi tâm thức không có định, người hành giả
ý thức là tâm thức mình không có định.
Khi
tâm thức có giải thoát, người hành giả ý thức là tâm
thức mình có giải thoát. Khi tâm thức không có giải thoát,
người hành giả ý thức là tâm thức mình không có giải
thoát.
Và
như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về tâm
thức nơi tâm thức, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc
bên trong và bên ngoài tâm thức. Người ấy an trú trong sự
quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt,
hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi tâm thức.
Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có tâm thức đây”,
như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về
tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi
tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời.
Người hành giả quán niệm về tâm thức nơi tâm thức là
như vậy, thưa các vị.
Nầy
các vị, người hành giả an trú trong sự quán niệm về đối
tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức như
thế nào?
Trước
hết, người hành giả quán niệm về năm hiện tượng ngăn
che như đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của
tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?
Khi
có một niệm ái dục, người hành giả ý thức mình có một
niệm ái dục. Khi không có một niệm ái dục, người hành
giả ý thức mình không có một niệm ái dục.
Khi
một niệm ái dục chưa phát sanh, nay bắt đầu phát sanh, người
hành giả ý thức được sự sanh khởi ấy. Khi một niệm
ái dục đã phát sanh, đang được khử diệt, người hành
giả ý thức được sự khử diệt ấy. Khi một niệm ái dục
đã được khử diệt và không còn phát khởi lại nữa, người
hành giả cũng ý thức được về điều đó.
Khi
có một niệm sân hận, người hành giả ý thức mình có một
niệm sân hận. Khi không có một niệm sân hận, người hành
giả ý thức mình không có một niệm sân hận.
Khi
một niệm sân hận chưa phát sanh, nay bắt đầu phát sanh,
người hành giả ý thức được sự sanh khởi ấy. Khi một
niệm sân hận đã phát sanh, đang được khử diệt, người
hành giả ý thức được sự khử diệt ấy. Khi một niệm
sân hận đã được khử diệt và không còn phát khởi lại
nữa, người hành giả cũng ý thức được về điều đó.
Khi
có sự mê muội và buồn ngủ, người hành giả ý thức mình
có sự mê muội và buồn ngủ. Khi không có sự mê muội và
buồn ngủ, người hành giả ý thức mình không có sự mê
muội và buồn ngủ.
Khi
sự mê muội và buồn ngủ chưa phát sanh, nay bắt đầu phát
sanh, người hành giả ý thức được sự sanh khởi ấy. Khi
sự mê muội và buồn ngủ đã phát sanh, đang được khử
diệt, người hành giả ý thức được sự khử diệt ấy.
Khi sự mê muội và buồn ngủ đã được khử diệt và không
còn phát khởi lại nữa, người hành giả cũng ý thức được
về điều đó.
Khi
có sự giao động bất an và hối hận, người hành giả ý
thức mình đang có sự giao động bất an và hối hận. Khi
không có sự giao động bất an và hối hận, người hành giả
ý thức mình không có sự giao động bất an và hối hận.
Khi
sự giao động bất an và hối hận chưa phát sanh, nay bắt
đầu phát sanh, người hành giả ý thức được sự sanh khởi
ấy. Khi sự giao động bất an và hối hận đã phát sanh, đang
được khử diệt, người hành giả ý thức được sự khử
diệt ấy. Khi sự giao động bất an và hối hận đã được
khử diệt và không còn phát khởi lại nữa, người hành giả
cũng ý thức được về điều đó.
Khi
có sự nghi ngờ, người hành giả ý thức mình đang có sự
nghi ngờ. Khi không có sự nghi ngờ, người hành giả ý thức
mình không có sự nghi ngờ.
Khi
sự nghi ngờ chưa phát sanh, nay bắt đầu phát sanh, người
hành giả ý thức được sự sanh khởi ấy. Khi sự nghi ngờ
đã phát sanh, đang được khử diệt, người hành giả ý thức
được sự khử diệt đó. Khi sự nghi ngờ đã được khử
diệt và không còn phát khởi lại nữa, người hành giả cũng
ý thức được về điều đó.
Và
như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về đối
tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức, hoặc
bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài đối
tượng của tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm
về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá
trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi đối tượng của
tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có đối tượng
của tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán
chiếu và ý thức về đối tượng của tâm thức. Người
ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không
bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả
quán niệm về năm hiện tượng ngăn che như đối tượng của
tâm thức nơi đối tượng của tâm thức là như vậy, thưa
các vị.
Tiếp
đó, người hành giả quán niệm về sự bám víu vào năm uẩn
như đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm
thức. Quán niệm bằng cách nào?
Người
hành giả quán niệm như sau:
“đây
là hình sắc, đây là sự phát sinh của hình sắc, đây là
sự hủy diệt của hình sắc”.
“đây
là cảm thọ, đây là sự phát sinh của cảm thọ, đây là
sự hủy diệt của cảm thọ”.
“đây
là tri giác, đây là sự phát sinh của tri giác, đây là sự
hủy diệt của tri giác”.
“đây
là sự vận hành tâm tư, đây là sự phát sinh của sự vận
hành tâm tư, đây là sự hủy diệt của sự vận hành tâm
tư”.
“đây
là ý thức phân biệt, đây là sự phát sinh của ý thức phân
biệt, đây là sự hủy diệt của ý thức phân biệt”.
Và
như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về đối
tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức, hoặc
bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài đối
tượng của tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm
về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá
trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi đối tượng của
tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có đối tượng
của tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán
chiếu và ý thức về đối tượng của tâm thức. Người
ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không
bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả
quán niệm về sự bám víu vào năm uẩn như đối tượng của
tâm thức nơi đối tượng của tâm thức là như vậy, thưa
các vị.
Tiếp
đó, người hành giả quán niệm về sáu giác quan và sáu đối
tượng của giác quan như đối tượng của tâm thức nơi đối
tượng của tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?
Người
hành giả ý thức về mắt, ý thức về đối tượng của
mắt là hình sắc, ý thức về những ràng buộc tạo nên do
mắt và hình sắc. Người ấy ý thức về những ràng buộc
chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về những ràng buộc đã
phát sanh, nay đang được khử diệt, về những ràng buộc
đã được khử diệt và không còn phát khởi lại nữa.
Người
hành giả ý thức về tai, ý thức về đối tượng của tai
là âm thanh, ý thức về những ràng buộc tạo nên do tai và
âm thanh. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát
sanh, nay đang phát sanh, về những ràng buộc đã phát sanh,
nay đang được khử diệt, về những ràng buộc đã được
khử diệt và không còn phát khởi lại nữa.
Người
hành giả ý thức về mũi, ý thức về đối tượng của mũi
là mùi hương, ý thức về những ràng buộc tạo nên do mũi
và mùi hương. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa
phát sanh, nay đang phát sanh, về những ràng buộc đã phát
sanh, nay đang được khử diệt, về những ràng buộc đã được
khử diệt và không còn phát khởi lại nữa.
Người
hành giả ý thức về lưỡi, ý thức về đối tượng của
lưỡi là vị nếm, ý thức về những ràng buộc tạo nên
do lưỡi và vị nếm. Người ấy ý thức về những ràng buộc
chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về những ràng buộc đã
phát sanh, nay đang được khử diệt, về những ràng buộc
đã được khử diệt và không còn phát khởi lại nữa.
Người
hành giả ý thức về thân, ý thức về đối tượng của
thân là sự xúc chạm, ý thức về những ràng buộc tạo nên
do thân và sự xúc chạm. Người ấy ý thức về những ràng
buộc chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về những ràng buộc
đã phát sanh, nay đang được khử diệt, về những ràng buộc
đã được khử diệt và không còn phát khởi lại nữa.
Người
hành giả ý thức về tâm ý, ý thức về đối tượng của
tâm ý là tư tưởng, ý thức về những ràng buộc tạo nên
do tâm ý và tư tưởng. Người ấy ý thức về những ràng
buộc chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về những ràng buộc
đã phát sanh, nay đang được khử diệt, về những ràng buộc
đã được khử diệt và không còn phát khởi lại nữa.
Và
như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về đối
tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức, hoặc
bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài đối
tượng của tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm
về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá
trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi đối tượng của
tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có đối tượng
của tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán
chiếu và ý thức về đối tượng của tâm thức. Người
ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không
bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả
quán niệm về sáu giác quan và sáu đối tượng của giác
quan như đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của
tâm thức là như vậy, thưa các vị.
Tiếp
đó, người hành giả quán niệm về bảy yếu tố của sự
giác ngộ như đối tượng của tâm thức nơi đối tượng
của tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?
Khi
có yếu tố chánh niệm, người hành giả ý thức là mình
đang có chánh niệm. Người ấy quán niệm rằng: “tâm mình
đang có chánh niệm”. Khi không có chánh niệm, người hành
giả ý thức là mình không có chánh niệm. Người ấy ý thức
về chánh niệm chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về chánh
niệm đã phát sanh, nay đang thành tựu.
Khi
có yếu tố trạch pháp, người hành giả ý thức là mình
đang có sự quyết trạch về các pháp. Người ấy quán niệm
rằng: “tâm mình đang có sự quyết trạch về các pháp”.
Khi không có sự quyết trạch về các pháp, người hành giả
ý thức là mình không có sự quyết trạch về các pháp. Người
ấy ý thức sự quyết trạch về các pháp chưa phát sanh, nay
đang phát sanh, về sự quyết trạch về các pháp đã phát
sanh, nay đang thành tựu.
Khi
có yếu tố tinh tấn, người hành giả ý thức là mình đang
có sự tinh tấn. Người ấy quán niệm rằng: “tâm mình đang
có sự tinh tấn”. Khi không có sự tinh tấn, người hành
giả ý thức là mình không có sự tinh tấn. Người ấy ý
thức về sự tinh tấn chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về
sự tinh tấn đã phát sanh, nay đang thành tựu.
Khi
có yếu tố hoan hỷ, người hành giả ý thức là mình đang
có sự hoan hỷ. Người ấy quán niệm rằng: “tâm mình đang
có sự hoan hỷ”. Khi không có sự hoan hỷ, người hành giả
ý thức là mình không có sự hoan hỷ. Người ấy ý thức
về sự hoan hỷ chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về sự hoan
hỷ đã phát sanh, nay đang thành tựu.
Khi
có yếu tố khinh an, người hành giả ý thức là mình đang
có sự khinh an. Người ấy quán niệm rằng: “tâm mình đang
có sự khinh an”. Khi không có sự khinh an, người hành giả
ý thức là mình không có sự khinh an. Người ấy ý thức về
sự khinh an chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về sự khinh an
đã phát sanh, nay đang thành tựu.
Khi
có yếu tố định, người hành giả ý thức là mình đang
có định. Người ấy quán niệm rằng: “tâm mình đang có
định”. Khi không có định, người hành giả ý thức là
mình không có định. Người ấy ý thức về sự định tâm
chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về sự định tâm đã phát
sanh, nay đang thành tựu.
Khi
có yếu tố buông xả, người hành giả ý thức là mình có
buông xả. Người ấy quán niệm rằng: “tâm mình có buông
xả”. Khi không có buông xả, người hành giả ý thức là
mình không có buông xả. Người ấy ý thức về sự buông
xả chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về sự buông xả đã
phát sanh, nay đang thành tựu.
Và
như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về đối
tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức, hoặc
bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài đối
tượng của tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm
về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá
trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi đối tượng của
tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có đối tượng
của tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán
chiếu và ý thức về đối tượng của tâm thức. Người
ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không
bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả
quán niệm về bảy yếu tố của sự giác ngộ như đối tượng
của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức là như vậy,
thưa các vị.
Tiếp
đó, người hành giả quán niệm về bốn sự thật cao quý
như đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm
thức. Quán niệm bằng cách nào?
Khi
sự kiện là đau khổ, người hành giả quán niệm: “đây
là đau khổ”. Khi sự kiện là nguyên nhân đưa đến đau
khổ, người hành giả quán niệm: “đây là nguyên nhân đưa
đến đau khổ”. Khi sự kiện là sự chấm dứt đau khổ,
người hành giả quán niệm: “đây là sự chấm dứt đau
khổ”. Khi sự kiện là con đường đưa đến sự chấm dứt
đau khổ, người hành giả quán niệm: “đây là con đường
đưa đến sự chấm dứt đau khổ”.
Và
như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về đối
tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức, hoặc
bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài đối
tượng của tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm
về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá
trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi đối tượng của
tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có đối tượng
của tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán
chiếu và ý thức về đối tượng của tâm thức. Người
ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không
bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả
quán niệm về bốn sự thật cao quý như đối tượng của
tâm thức nơi đối tượng của tâm thức là như vậy, thưa
các vị.
Nầy
các vị, người hành giả nào thực hành được bốn lãnh
vực quán niệm trên trong bảy năm, người ấy có thể đạt
được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp này.
Hoặc nếu còn dư báo thì cũng sẽ đạt được quả vị không
còn trở lại.
Nầy
các vị, đừng nói gì đến bảy năm. Người nào thực hành
được bốn lãnh vực quán niệm trên trong sáu năm, năm năm,
bốn năm, ba năm, hai năm, hoặc một năm, người ấy cũng có
thể có khả năng đạt được quả vị chánh trí ngay nơi
đây và trong kiếp này. Hoặc nếu còn dư báo thì cũng sẽ
đạt được quả vị không còn trở lại.
Nầy
các vị, đừng nói gì đến một năm. Người nào thực hành
được bốn lãnh vực quán niệm trên trong bảy tháng, sáu
tháng, năm tháng, bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng,
hoặc nửa tháng, người ấy cũng có thể có khả năng đạt
được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp nầy.
Hoặc nếu còn dư báo thì cũng sẽ đạt được quả vị không
còn trở lại.
Nầy
các vị, đừng nói gì đến nửa tháng. Người nào thực hành
được bốn lãnh vực quán niệm trên trong một tuần, người
ấy cũng có thể có khả năng đạt được quả vị chánh
trí ngay nơi đây và trong kiếp nầy. Hoặc nếu còn dư báo
thì cũng sẽ đạt được quả vị không còn trở lại.
Đó
là lý do tại sao mà tôi đã nói: “đây là con đường duy
nhất để thanh tịnh thân tâm, vượt thắng phiền não, diệt
trừ ưu khổ, đạt tới chánh đạo và chứng nhập niết bàn
- đó là con đường của bốn lãnh vực quán niệm”.
Đức
Phật đã nói như vậy. Các vị hành giả hoan hỷ ghi nhận
và thực tập theo lời Ngài.
- source:
four foundations of mindfulness, Trường Đinh dịch thuật