SỒNG TRONG
TỪNG SÁT NA
Trường
Đinh
4. quán pháp
Lãnh
vực thứ tư là quán pháp. Về phần niệm pháp, đây là pháp
quán về các đối tượng của tâm thức, bao gồm các lãnh
vực về thân thể, cảm thọ và tâm thức.
Trong
bốn lãnh vực quán niệm, pháp căn bản làm nền tảng cho
sự tu tập là pháp quán hơi thở. Phương pháp quán niệm hơi
thở rất thiết thực cho cuộc sống, đơn giản, dễ hành
trì, hiệu lực lại rất cao. Nuôi giữ ý thức trên hơi thở
có thể giúp cho thân tâm được vững chải, phát triển định
lực tập trung, duy trì được tính khí và sức khỏe. Do vậy,
pháp quán niệm hơi thở được coi là trọng tâm điểm của
sự tu tập bốn lãnh vực quán niệm.
Trong
phần thực tập về tuệ quán ở các lãnh vực thân thọ tâm,
đã có đề cập đến ít nhiều về các pháp quán vô thường,
tàn hoại, giải thoát và buông bỏ. Ở đây, phương pháp quán
niệm về các đối tượng của tâm thức, tức pháp quán về
các pháp, được đặt trên căn bản các pháp quán vô thường
và tàn hoại. Thực tập thiền quán mà không đi vào cửa ngõ
của các pháp quán về vô thường thì chẳng thể nào soi thấu
được bản chất thật của mọi phiền trược khổ đau và
phù du khoái lạc trong cuộc đời.
Các
đối tượng của tâm thức:
- năm
hiện tượng ngăn che của tâm thức (ngũ triền cái)
-
năm uẩn (ngũ uẩn)
-
sáu giác quan và sáu đối tượng của giác quan (sáu nội ngoại
xứ)
-
bảy yếu tố của sự giác ngộ (thất giác chi)
-
bốn sự thật cao quý (tứ diệu đế)
Quán
về ngũ triền cái
Đây
là 5 hiện tượng phóng túng gây nhiều trở ngại cho sự giác
ngộ tâm linh, gồm ái dục, sân hận, mê muội và buồn ngủ,
giao động bất an và hối hận, nghi ngờ.
- Ái
dục
Hiện
tượng ngăn che đầu tiên của sự giác ngộ là dục niệm.
Theo quan điểm Phật giáo, dục niệm bao gồm năm phương diện
tham đắm của con người (ngũ dục) là tiền của, sắc đẹp,
danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ. Năm nhóm ái dục nầy là
những trở ngại rất lớn cho người hành giả trên con đường
tu tập thiền quán.
Khi
trong tâm chợt phát khởi một ý niệm ái dục, tâm thức chỉ
cần ghi nhận rõ ràng về sự phát khởi của dục niệm đó.
Ngay khi một ý niệm ái dục phát khởi và tâm thức đã giác
tỉnh nhận biết được liền thì ngay đó làn sóng dục niệm
cũng đã bị giảm suy. Hãy đưa tâm ý trở về với hơi thở
ý thức. Thở vào, ta biết ta đang thở vào và ta biết có
một dục niệm đang sinh khởi. Thở ra, ta biết ta đang thở
ra và ta biết dục niệm đó đang suy diệt.
Ta
quán sát và ghi nhận sự phát khởi, tăng trưởng, suy yếu
và hủy diệt của dục niệm. Chỉ cần khách quan ghi nhận
về điều đó. Hãy nhìn ngắm mọi dục niệm như gió
thoảng như mây bay, tâm thức sẽ tìm thấy được sự bình
an ít nhiều.
- Sân
hận
Khi
sân niệm trổi dậy trong tâm thức, ta cần ghi nhận khách
quan về sự phát khởi đó. Nhận biết trong tâm đang có một
ý niệm sân hận. Cũng như phương thức đối trị về dục
niệm, tâm ý hoàn toàn thụ động để ghi nhận sự việc.
Hãy
bình tâm để quán sát mọi sân niệm. Hãy nhận biết một
cách tỉnh thức trong suốt quá trình sinh khởi, tăng trưởng,
giảm suy và hủy diệt của nó. Hãy cố gắng giữ thân tâm
bình thản với lửa lòng sân niệm. Đừng nói một lời nào.
Đừng suy nghĩ bất cứ điều chi. Cũng đừng làm bất cứ
việc gì. Hãy đưa tâm ý trở về với hơi thở ý thức. Thở
vào, ta biết ta đang thở vào và ta biết có một sân niệm
đang sinh khởi. Thở ra, ta biết ta đang thở ra và ta biết
sân niệm đó đang suy diệt.
Khi
ý niệm giận dữ phát sinh, tâm thức tỉnh giác nhận biết
được liền thì ngay đó ngọn đuốc sân hận cũng đã bị
giảm suy ít nhiều. Hãy duy trì hơi thở trong ý thức. Khách
quan ghi nhận mọi vận hành biến chuyển và suy diệt của
sân niệm. Với hơi thở ý thức, với sức mạnh của định
lực tập trung và ý thức chánh niệm, thân tâm sẽ trở nên
tươi mát lại và sân niệm cũng dần tan biến đi.
- Mê
muội và buồn ngủ (hôn trầm)
Khi
đang ngồi thiền, đôi lúc trong tâm có sự mờ mịt, tưởng
thức mơ màng như buồn ngủ, ta hãy liền ý thức về điều
đó. Khách quan ghi nhận về sự phát khởi của nó. Hãy đưa
tâm ý trở về với hơi thở. Thở vào, ta biết ta đang thở
vào. Thở ra, ta biết ta đang thở ra. Ta biết ta đang có sự
mê muội và buồn ngủ. Ngay khi nhận biết có sự mê muội
phát sinh thì ánh sáng tâm thức cũng đã tự tỏ sáng.
Đối
với tất cả ý niệm mơ màng buồn ngủ trổi dậy trong lúc
ngồi thiền, ta chỉ cần chú tâm quán sát khách quan và ghi
nhận tất cả mọi diễn biến của nó trong suốt quá trình
sinh diệt. Ta an trú trong sự quán niệm “có sự mê muội
và buồn ngủ đây”. Với sự ghi nhận như vậy đủ để
giúp ta quán chiếu và ý thức được sự có mặt của mê
muội và buồn ngủ trong tâm thức.
- Giao
động bất an (trạo cử) và hối hận
Lúc
đang ngồi thiền, đôi khi có những giao động trong tâm trí,
cảm thức như thân xác động chuyển, gây tạo cho tâm thức
bất an. Khi ấy, cảm thức của thân và tâm trong sự giao động
cũng giống như đang ngồi trên con thuyền giữa biển khơi.
Khi
tâm thức xao xuyến bất an, hãy cố gắng nhận biết về điều
đó. Khách quan ghi nhận như vậy đúng như thật. Hãy giữ
sự bình tâm để quán sát sự việc. Hãy bình thản nhẹ nhàng
đưa tâm ý trở về với hơi thở. Tập trung tất cả tâm
trí vào hơi thở. Thở vào, ta biết ta đang thở vào và ta
biết thân thể đang có sự giao động. Thở ra, ta biết ta
đang thở ra và ta biết tâm thức đang có sự bất an.
Hãy
thực tập thản nhiên để nhìn sự việc, ghi nhận về sự
giao động bất an trong suốt quá trình sinh khởi và hoại diệt
của nó.
Ngoài
những giao động trạo cử trong khi ngồi thiền, còn có những
ảnh hưởng giao động khác ở thân thể, ngay trên lời nói
và trong tâm thức (làm việc cẩu thả, đi đứng thiếu chỉnh
tề, hành động vụït chạt, nói năng lung tung, tư tưởng
tán loạn…) Tất cả đó đều là những giao động bất an.
Lúc
ngồi thiền, đôi khi tâm thức trổi dậy với những ý tưởng
hối hận về hành vi của mình, về công việc mình bất cẩn,
về ngôn từ mình đã nói trong lúc giận dữ, về cách cư
xử thô tệ với người... gây tạo cho ta những buồn phiền
hối hận trong nội tâm. Đối với những ý niệm sầu ưu
như vậy, tâm thức cần tỉnh giác ghi nhận về điều đó.
Hãy đưa tâm ý trở về với hơi thở ý thức. Thực tập
bình thản mà nhìn sự kiện từ lúc nó phát sinh, tăng trưởng,
suy yếu, cho đến khi nó hoàn toàn tan biến đi.
Hãy
nhìn ngắm sự kiện một cách khách quan. Không dính mắc vào
đề mục ta, những việc ta đã làm, những lời ta đã nói.
Chỉ cần nhận biết khách quan “đang có những ý tưởng
hối hận phát sinh”. Tỉnh giác nhận biết như vậy và thản
nhiên trở về với hơi thở ý thức. Thở vào, ta biết ta
đang thở vào và nhận biết ta đang có sự hối hận. Thở
ra, ta biết ta đang thở ra và nhận biết đang có sự ray rứt
trong ta. Thực tập ghi nhận và tiếp xúc với sự hối hận
một cách thản nhiên, như nước nhìn trời, như mây nhìn trăng.
Sự
ghi nhận và quán sát về sự hối hận cần phải thật khách
quan. Đừng suy nghĩ quá nhiều về ta. Cố gắng tỉnh giác
không để bị rơi vào vòng quay náo loạn của tư duy.
Sự
ghi nhận về hối hận nên hiểu là khách quan nhận biết về
những sai lầm ta đã làm để không tạo dựng thêm khổ đau.
Tự tâm ta quán chiếu để soi sáng tâm thức ta với ngọn
đuốc giác tỉnh, để sẽ không tạo tác thêm ra những lỗi
lầm cho mình cho người.
Như
vậy, sự nhận biết về hối hận không phải để ưu tư
ray rứt mà trở lại xâu xé cõi lòng. Cần tỉnh biết mà
ngắm nhìn từng đợt sóng sầu ưu đó.
Bất
cứ sự giao động nào gây tạo cho tâm thể bất an, hãy liền
nhận biết đúng như vậy. Biết đang có sự giao động. Biết
đang có sự bất an. Chỉ khách quan nhận biết như vậy, thế
thôi. Không chạy đuổi phân tích sự kiện. Hãy đưa tâm ý
nhẹ nhàng trở về với hơi thở. Chỉ hơi thở đây là vấn
đề tối quan trọng mà ta phải để hết tâm sức vào sự
an trú. Cố gắng không nghĩ gì khác, cũng không bận tâm về
bất cứ điều gì khác. Tâm trí chỉ cần ghi nhận sáng suốt,
nhận biết rõ ràng ngay khi vọng tưởng phát sinh, tăng trưởng,
suy yếu và tan biến. Thản nhiên mà nhìn sự kiện phát khởi
đổi thay trong từng mỗi phút giây vô thường.
Nếu
có một ý nghĩ trổi dậy, nhận biết “có một ý nghĩ”,
rồi nhẹ nhàng trở về với hơi thở. Nếu có một cảm giác
phát sinh, nhận biết “có một cảm giác”, rồi nhẹ nhàng
trở về với hơi thở. Có sự giao động trên thân xác, ta
nhận biết thân xác đang có sự giao động. Có sự bất an
trong tâm thức, ta nhận biết tâm thức đang có sự bất an.
Rồi nhẹ nhàng trở về với hơi thở. Thực tập bình thản
trong ý thức đó. Thở vào, ta biết ta đang thở vào. Thở
ra, ta biết ta đang thở ra. Cố gắng duy trì hơi thở trong
ý thức và thản nhiên mà nhìn sự việc.
Mọi
ý tưởng có sinh có diệt. Sự giao động có đến có đi.
Cảm thức có phát khởi có tan biến. Những gì đến cứ để
nó đến, không xao xuyến mến ưa. Những gì đi cứ để nó
đi, không nuối tiếc sầu tư. Hãy thực tập nhận định sự
kiện như thiền sư Shunryu Suzuki - “chính ngươi đã tạo dựng
ra những làn sóng trong tâm tư ngươi, nếu cứ thản nhiên
để tâm trí như bình thường thì tâm trí sẽ tự trở thành
vắng lặng” (zen mind). Một ý tưởng khởi dậy, một cảm
thức phát sinh, tất cả cũng chỉ là những trổi dậy diệt
sinh vô thường của các ý niệm.
Sự
ghi nhận về giao động bất an không những chỉ thực tập
trong lúc ngồi thiền mà phải tỉnh biết ghi nhận về điều
đó trong mọi thời lúc. Khi đang đi, đang ngồi, đang nằm,
đang đứng, hay đang làm việc, nếu tâm thức bất an, thần
trí giao động, hãy liền tỉnh biết ghi nhận về điều đó.
Những khi không còn sự giao động bất an, tâm trí cũng nhận
biết sáng suốt như vậy. Hãy cố gắng duy trì hơi thở trong
ý thức. Hãy nhìn vào tâm thức mình để thấy rõ sự sinh
khởi và hoại diệt của mọi vọng động biến sinh.
Ma
cảnh
Riêng
về phần giao động bất an, cần nói thêm về các cảnh giới
huyễn ảo gây tác hại đến tâm thức, tạo cho tâm trí bất
an và sợ hãi. Đó là kinh nghiệm khi đi vào thiền định,
ở giai đoạn khi mà hơi thở trở nên vi tế, tâm thể vắng
lặng, thỉnh thoảng có những cảnh giới khác nhau xuất hiện
trong tâm thức.
Hãy
kinh nghiệm lấy chính mình: Trong bất cứ cảnh giới nào,
tốt đẹp, xấu ác, siêu nhiên, hay ghê gớm, cũng phải thật
bình tâm quán chiếu “tất cả các pháp đều như mộng huyễn”
- nhất thiết chư pháp giai như huyễn (ngộ tánh luận). Hãy
quán chiếu đấy chỉ là những tưởng vọng lung linh của
nội thức. Tất cả không có thật. Chỉ ảo ảnh, chỉ tưởng
suy, gây ra những biến hình muôn trạng. Những gì có hình
tướng đều là giả dối hư tạo (phàm sở hữu tướng giai
thị hư vọng - kim cang).
Hãy
cố gắng định tỉnh. Khách quan ghi nhận rằng: “có một
cảnh giới ảo tưởng đang phát sinh”. Rồi nhẹ nhàng trở
về với hơi thở. Hãy cố gắng duy trì hơi thở trong ý thức.
Tỉnh biết rằng tất cả cảnh giới đều là huyễn mộng.
Hãy tỉnh biết: “tất cả những gì có hình tướng, như
chiêm bao huyễn ảo, như bọt nước bóng mờ, như sương rơi,
như ánh chớp, phải luôn xem là vậy” (nhất thiết hữu vi
pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điển, ưng
tác như thị quán - kim cang).
- Nghi
ngờ
Đây
là hiện tượng ngăn che thứ năm trong ngũ triền cái. Có thể
sự nghi ngờ trổi dậy trong lúc ngồi thiền nhưng cũng có
thể phát khởi trong mọi thời lúc khác. Tất cả bao gồm
những nghi ngờ về lời kinh Phật, về chân lý Như Lai, về
công phu hành trì, về kinh nghiệm thiền tập, về những sự
việc đã xảy ra, về những người chung quanh. Tất cả đều
xem như sự nghi ngờ phát sinh từ tâm thức.
Những
khi trong tâm có sự nghi ngờ, ta liền nhận biết như vậy.
Chú tâm quán sát và ghi nhận sự diễn biến của các ý niệm
nghi ngờ. Nhận biết về quá trình sinh khởi và hoại diệt
của nó bằng tất cả sự sáng suốt. An trú trong sự quán
niệm “có sự nghi ngờ đây”, như vậy đủ để giúp ta
quán chiếu và ý thức được sự có mặt của nghi ngờ trong
tâm thức.
Cố
gắng không để bị vướng mắc trong nội dung của sự nghi
ngờ. Không chạy đuổi theo nó. Không phân tích mổ xẻ vấn
đề. Cố gắng duy trì hơi thở trong ý thức. Thở vào, ta
biết ta đang thở vào. Thở ra, ta biết ta đang thở ra. Ta ý
thức rõ ràng về từng hơi thở. Tâm trí chỉ cần ghi nhận
khách quan “đang có sự nghi ngờ trong tâm thức”, thế thôi.
Hãy thực tập an nhiên tiếp xúc với mọi biến động của
tâm thức.
Quán
về ngũ uẩn
Thực
tập quán chiếu về sự bám víu vào ngũ uẩn và sự ràng
buộc của các nội ngoại xứ là những bước thực tập chính
yếu trong quá trình quán niệm về các đối tượng của tâm
thức. Lãnh vực đầu tiên của ngũ uẩn là sắc. Tự mình
quán niệm như sau: “đây là hình sắc, đây là sự phát sinh
của hình sắc, đây là sự hủy diệt của hình sắc”.
Sắc
ở đây có nghĩa là thân xác, do tứ đại đất nước lửa
gió hợp thành, trong đó có gan, tim, máu, mủ, hơi thở, nhiệt...
Khi xác thân bị hủy diệt, các cấu thể từ thân xác trở
về với vũ trụ. Không có sự thêm. Không có sự bớt. Không
có sự được. Không có sự mất. Hãy quán chiếu: “năm uẩn
như mây bay qua rồi bay lại” (ngũ ấm phù vân không khứ
lai - chứng đạo ca). Hãy chú tâm quán sát về quá trình sinh
khởi và hoại diệt của hình sắc. Tất cả mọi vật thể
đều không có tự tánh riêng biệt. Tất cả đều không. Như
thiền sư Shunryu Suzuki đã nhận định: “cái mà chúng ta gọi
là “tôi” chỉ là cánh cửa đong đưa đang di động khi chúng
ta hít vào và khi chúng ta thở ra” (zen mind).
Nếu
như thân xác một mai bị tan hoại, tim gan gởi về cho đất,
hơi thở gởi về cho gió, sức nóng trong cơ thể gởi về
cho lửa, mủ máu gởi về cho nước… rồi thì thân xác đây
không còn gọi là thân xác nữa. Đó là sự tan rã của hình
sắc. Tất cả và tất cả đều không có tự tánh. Mọi sự
việc đều vô thường biến đổi. Đó là bản chất thật
của cuộc đời. Sắc tức là không, không tức là sắc. Không
có gì thêm, không có gì bớt. Không có gì tăng, không có gì
giảm. Tất cả chỉ là sự biến dịch và trở về. Với sự
hành trì tinh chuyên pháp niệm thân, có thể đạt được sự
hiểu biết lớn về tánh không, khổ và vô ngã của sắc uẩn.
Lãnh
vực thứ hai trong ngũ uẩn là thọ. Tự mình quán niệm như
sau: “đây là cảm thọ, đây là sự phát sinh của cảm thọ,
đây là sự hủy diệt của cảm thọ”.
Như
đã trình bày nơi phần niệm thọ, cảm thọ là những xúc
cảm thọ nhận, gồm các cảm giác dễ chịu, khó chịu, không
dễ chịu cũng không khó chịu. Cảm thọ phát khởi do sự
tiếp xúc của sáu căn với sáu trần. Sáu căn là mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân và ý. Sáu trần là hình sắc, âm thanh, mùi
hương, vị nếm, xúc chạm và tư tưởng. Mắt thấy sắc màu
nên sinh mến chuộng, tai nghe tiếng chửi nên sinh buồn khổ,
mũi ngửi mùi hôi nên sinh khó chịu, lưỡi nếm vị ngọt
nên sinh ưa thích, thân xúc chạm vật thể nên sinh mến yêu,
ý khởi niệm phiền lo nên sinh sợ hãi. Với sự hành trì
pháp niệm thọ thật tinh chuyên và đúng phương pháp, ta có
thể đạt được sự hiểu biết lớn về tánh vô thường,
khổ và vô ngã của thọ uẩn.
Riêng
trong pháp hành thiền tứ niệm xứ, không cần dùng đến óc
suy nghiệm (chiếu kiến) để phân tích tự tánh không của
ngũ uẩn như trong bát nhã tâm kinh (Ngài Quán tự tại bồ
tát thực hành sâu xa trí tuệ bát nhã, ngài soi thấy năm uẩn
đều không, liền vượt qua tất cả mọi khổ nạn - tâm kinh).
Ở
đây, ta chỉ cần tỉnh biết sáng suốt và ghi nhận rõ ràng
về từng cảm giác đang thọ nhận ngay lúc nó phát sinh, tăng
trưởng, suy yếu, cho đến khi bị hủy diệt. Như khi nhận
biết mình đang có một cảm giác sợ hãi thì ngay đó sự
sợ hãi đã bị giảm suy bởi ảnh hưởng của sự định
tỉnh có được từ hơi thở ý thức. Ta khách quan quán sát
và ghi nhận sáng suốt về sự kiện để trực nghiệm bản
chất vô thường và tánh không của cảm thọ, để không còn
bám víu vào những phù du ngũ uẩn trong cuộc đời.
Lãnh
vực thứ ba trong ngũ uẩn là tưởng. Tự mình quán niệm như
sau: “đây là tri giác, đây là sự phát sinh của tri giác,
đây là sự hủy diệt của tri giác”.
Tưởng
có nghĩa là tri giác, tức sự nhận biết của các giác quan,
phát sinh từ sự tiếp xúc của sáu căn với sáu trần.
- mắt
thấy hình sắc
-
tai nghe âm thanh
-
mũi ngửi mùi hương
-
lưỡi nếm các vị
-
thân xúc chạm vật thể
-
ý biết các tư tưởng
Do
có mắt và hình sắc, mắt tiếp xúc với hình sắc mà phát
sanh sự nhận biết về cái thấy. Do có tai và âm thanh, tai
tiếp xúc với âm thanh mà phát sanh sự nhận biết về cái
nghe. Do có mũi và mùi hương, mũi tiếp xúc với mùi hương
mà phát sanh sự nhận biết về cái ngửi. Do có lưỡi và
vị nếm, lưỡi tiếp xúc với vị nếm mà phát sanh sự nhận
biết về cái nếm. Do có thân và vật thể, thân tiếp xúc
với vật thể mà phát sanh sự nhận biết về sự xúc chạm.
Do có tâm ý và tư tưởng, tâm ý tiếp xúc với tư tưởng
mà phát sanh sự nhận biết về các ý niệm.
Ta
quán sát và ghi nhận đây là tri giác, đây là sự phát sinh
của tri giác, do bởi có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp
xúc với hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm,
tư tưởng mà có được sự nhận biết của tri giác.
Lãnh
vực thứ tư trong ngũ uẩn là hành. Tự mình quán niệm như
sau: “đây là sự vận hành tâm tư, đây là sự phát sinh
của sự vận hành tâm tư, đây là sự hủy diệt của sự
vận hành tâm tư”.
Hành
có nghĩa là tâm tư, tức sự vận hành lưu chuyển của các
luồn tư tưởng phát khởi và diễn biến liên tục trong tâm
thức. Dòng suy tưởng không bao giờ ngừng nghỉ. Hết ý niệm
nầy đến suy tưởng khác. Vừa nghĩ đến ý tưởng nầy thì
ý tưởng kia đã tan biến. Vừa nghĩ đến ý tưởng nọ thì
ý tưởng kia đã lặn chìm. Đây là sự phát sinh của tâm
tư. Đây là sự hủy diệt của tâm tư. Những niệm tưởng
nghĩ suy sinh sinh diệt diệt vô cùng tận.
Hành
trì pháp niệm tâm nghiêm mật và đúng phương thức, có thể
đạt được sự hiểu biết lớn về tánh vô thường, khổ
và vô ngã của tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn.
Lãnh
vực thứ năm trong ngũ uẩn là thức. Tự mình quán niệm như
sau: “đây là ý thức phân biệt, đây là sự phát sinh của
ý thức phân biệt, đây là sự hủy diệt của ý thức phân
biệt”.
Thức
có nghĩa là ý thức hiểu biết phân biệt về sự việc. Thức
phát sinh do sự tiếp xúc của sáu căn với sáu trần. Tất
cả bao gồm có sáu loại:
- nhãn
thức (sự phân biệt của mắt)
-
nhĩ thức (sự phân biệt của tai)
-
tỷ thức (sự phân biệt của mũi)
-
thiệt thức (sự phân biệt của lưỡi)
-
thân thức (sự phân biệt của thân)
-
ý thức (sự phân biệt của ý)
Khi
mắt nhìn thấy hình thể vật sắc, tâm có sự nhận biết
về hình sắc (tưởng) và có sự phân biệt đẹp xấu trắng
đen (thức).
Khi
tai nghe thấy một tiếng động, tâm có sự nhận biết về
âm thanh (tưởng) và phân biệt loại âm thanh gì, lớn nhỏ,
ồn náo hay dễ chịu (thức). Khi mũi ngửi thấy mùi hương,
tâm có sự nhận biết về mùi hương (tưởng) và có sự phân
biệt thơm hôi (thức).
Khi
lưỡi nếm mùi vị, tâm có sự nhận biết về mùi vị (tưởng)
và phân biệt mặn ngọt hay đắng nồng ra sao (thức). Khi thân
có sự sờ chạm vào một vật thể, tâm có sự nhận biết
về sự xúc chạm (tưởng) và có sự phân biệt vật đó là
vật gì, lớn hay nhỏ, mềm hay cứng (thức). Khi tâm ý sinh
khởi một ý tưởng, tâm có sự nhận biết về ý niệm (tưởng)
và phân biệt ý niệm đó tốt hay xấu, thiện hay ác (thức).
Ta
khách quan quán sát và ghi nhận “đây là năm uẩn” “đây
là sự phát sinh của năm uẩn” “đây là sự hủy diệt
của năm uẩn”, do bởi có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý
(sáu căn) tiếp xúc với hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị
nếm, xúc chạm, tư tưởng (sáu trần) mà có sự nhận biết
của tưởng, có sự lưu chuyển tâm tư của hành, có sự phân
biệt của thức.
Từ
sự quán sát khách quan về ngũ uẩn, ta ghi nhận về sự ràng
buộc của sáu căn và sáu trần, để soi thấu bản chất vô
thường vô ngã của sáu nội ngoại xứ, để không còn bám
víu chấp chặt vào năm uẩn.
Quán
về sáu nội ngoại xứ
Bước
kế tiếp là quán niệm về sáu giác quan và sáu đối tượng
của giác quan. Sáu giác quan là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
và ý. Sáu đối tượng của giác quan là hình sắc, âm thanh,
mùi hương, vị nếm, xúc chạm và tư tưởng.
Những
ràng buộc của sáu nội ngoại xứ:
- sự
ràng buộc của mắt và hình sắc
-
sự ràng buộc của tai và âm thanh
-
sự ràng buộc của mũi và mùi hương
-
sự ràng buộc của lưỡi và vị nếm
-
sự ràng buộc của thân và xúc chạm
-
sự ràng buộc của ý và tư tưởng
Khi
mắt nhìn thấy sự vật là do bởi có mắt và có sự vật,
có sự tiếp xúc của mắt với sự vật nên ta có sự thấy
biết của mắt (tưởng) và nhận thức phân biệt về sự
vật (thức). Đấy là sự ràng buộc tạo nên do mắt tiếp
xúc với hình sắc. Khi ý thức về sự ràng buộc, hãy ghi
nhận sự thấy biết phân biệt của tâm thức. Ý thức khách
quan và tỉnh biết từ lúc sự ràng buộc chưa phát sinh, nay
đang phát sinh, do bởi sự tiếp xúc của mắt với hình sắc.
Khi ý thức được sự ràng buộc đang phát sinh, hãy tập trung
tâm trí vào hơi thở, quán chiếu rằng mắt và hình sắc không
có tự tánh riêng. Và khi sự ràng buộc bị suy yếu và tan
biến đi, ta cũng ý thức về điều đó. Về những lãnh vực
khác của sáu nội ngoại xứ cũng tương tự như vậy.
Khi
tai nghe thấy một âm thanh là do bởi có tai và có âm thanh,
có sự tiếp xúc của tai với âm thanh, gây tạo cho tâm thức
sự nghe biết (tưởng) và nhận thức phân biệt về âm thanh
(thức).
Khi
mũi ngửi thấy một mùi hương là do bởi có mũi và có mùi
hương, có sự tiếp xúc của mũi với mùi hương, gây tạo
cho tâm thức sự ngửi biết (tưởng) và nhận thức phân biệt
về mùi hương (thức).
Khi
lưỡi nếm biết một vị nếm là do bởi có lưỡi và có
vị nếm, có sự tiếp xúc của lưỡi với vị nếm, gây tạo
cho tâm thức sự nếm biết (tưởng) và nhận thức phân biệt
về vị nếm (thức).
Khi
thân chạm biết vật thể là do bởi có thân và có vật thể,
có sự tiếp xúc của thân với vật thể, gây tạo cho tâm
thức sự chạm biết (tưởng) và nhận thức phân biệt về
vật thể (thức).
Khi
tâm ý khởi biết có một niệm tưởng là do bởi có tâm ý
và có tư tưởng, có sự tiếp xúc của ý với tư tưởng,
gây tạo cho tâm thức sự khởi biết về tư tưởng (tưởng)
và nhận thức phân biệt về các ý niệm (thức).
Thí
dụ, về sự ràng buộc của mắt và hình sắc, khi nhìn thấy
một cô gái trẻ đẹp với thân hình duyên dáng và nụ cười
hồn nhiên (ảnh hưởng từ bên ngoài) gây tạo cho ta một
sự mê thích của dục tính (ảnh hưởng bên trong). Về sự
ràng buộc của tai và âm thanh, khi nghe một âm thanh chửi bới
(ảnh hưởng từ bên ngoài) gây tạo cho ta sự nghe hiểu và
cảm giác khó chịu (ảnh hưởng bên trong).
Trong
kinh kim cang, Đức Phật đã thuyết giảng về yếu nghĩa của
việc sanh tâm không trụ nơi sáu trần:
“bất
ưng trụ sắc sanh tâm
bất
ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm
ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”
Chẳng
nên trụ vào hình sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ vào âm
thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm, tư tưởng mà sanh tâm,
nên trụ vào chỗ không chỗ trụ để mà sanh tâm.
Theo
tinh thần kinh bốn lãnh vực quán niệm, an trụ tâm mà Đức
Phật đã đề cập trong kinh kim cang có nghĩa là tâm khởi
niệm không chấp chặt vào sáu trần, không vướng kẹt nơi
cái thấy ở màu sắc, nơi cái nghe ở âm thanh, nơi cái ngửi
ở mùi hương, nơi cái nếm ở mùi vị, nơi cái cảm biết
từ sự xúc chạm của xác thân, nơi ý thức phân biệt của
suy tưởng. An trụ như thế gọi là trụ tâm vào chỗ không
chỗ trụ, nghĩa là không chấp chặt vào trần cảnh mà sanh
tâm thanh tịnh vậy. Con đường thánh đạo để hành giả
nương dựa vào đó tu tập sống tỉnh thức, an trụ tâm trong
ý thức chánh niệm, vượt bỏ sự bám víu vào ngũ uẩn -
đó là con đường của tứ niệm xứ, tức bốn lãnh vực
quán niệm.
Khi
quán niệm về sự ràng buộc của các giác quan và các đối
tượng của giác quan, hãy khách quan ghi nhận sự gây tạo
ảnh hưởng của nó đến tâm thức và cảm thọ. Ta ý thức
sự ràng buộc ngay khi nó bắt đầu phát sinh, tăng trưởng,
suy yếu, cho đến khi bị hủy diệt hoàn toàn. Ta an trú trong
sự quán niệm về quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt
của nó để thấy rõ bản chất vô thường của sự ràng
buộc nơi các giác quan. Ta quán niệm rằng “có sáu giác quan
đây” “có sáu đối tượng của giác quan đây” và tất
cả chỉ là sáu giác quan, sáu đối tượng của giác quan.
Với sự quán niệm như vậy đủ để giúp ta ý thức được
sự có mặt của các pháp đối tượng của tâm thức.
Quán
về thất giác chi
Bước
tiếp đó là quán niệm về bảy yếu tố của sự giác ngộ
(thất giác chi / thất bồ đề phần). Bảy yếu tố của sự
giác ngộ bao gồm chánh niệm, trạch pháp, tinh tấn, hoan hỷ,
khinh an, định và xả.
- Chánh
niệm
Yếu
tố giác ngộ đầu tiên là chánh niệm. Chánh niệm là ý thức
sáng suốt và giác tỉnh về những gì đang xảy ra trong giờ
phút hiện tại.
Những
khi tâm thức có chánh niệm, ý thức mình đang có chánh niệm.
Trong pháp hành thiền tứ niệm xứ, sự quán niệm phải được
dựa trên tinh thần vô ngã, không có sự liên hệ buộc ràng
với cái nhìn về “ta” “của ta”. Đó là vấn đề căn
bản của sự ghi nhận sáng suốt và quán sát khách quan, rất
quan trọng cho sự hành trì tu tập đúng phương thức. Đây
cũng là điều căn bản trong việc thực tập vô ngã - “học
đạo của Phật là học về chính mình, học về chính mình
là quên đi chính mình” (three pillars of zen).
Khi
tâm thức không có chánh niệm, ta cũng nhận biết về điều
đó. Duy trì hơi thở trong ý thức, nhận biết tâm thức mình
không có chánh niệm. Khi có ý thức sáng suốt để nhận biết
về việc mình không có chánh niệm thì ngay phút giây đó chánh
niệm đã đang bắt đầu được thiết lập trong tâm
thức. Hãy tỉnh biết với ý thức chánh niệm ngay đó để
nhận biết rằng tâm mình đang có chánh niệm. Đấy chính
là giây phút tỉnh thức để quán chiếu về yếu tố chánh
niệm đang phát sinh. Hãy khách quan quán sát và ghi nhận từ
khi chánh niệm chưa phát sinh, nay đang bắt đầu phát sinh.
Nếu đã phát sinh, bây giờ đang bắt đầu thành tựu.
- Trạch
pháp
Yếu
tố giác ngộ thứ hai là trạch pháp. Trạch pháp là sự quyết
trạch về các pháp, nghĩa là sự nghiên cứu tìm hiểu về
Phật pháp. Như khi đọc kinh tứ niệm xứ, ta cố gắng tìm
hiểu ý nghĩa huyền diệu của từng câu từng chữ trong bài
kinh, bằng cách thọ trì đọc tụng hằng đêm để cố gắng
thể nhập mọi nghĩa lý. Tất cả như vậy đều được xem
là trạch pháp.
Khi
yếu tố quyết trạch chưa phát sinh, nay đang phát sinh, ta ý
thức rõ ràng về điều đó. Khách quan ghi nhận trong tâm đang
có sự quyết trạch về các pháp. Ngay khi không có sự quyết
trạch về các pháp, ta cũng nhận biết tỉnh giác về điều
đó.
Với
ánh sáng chánh niệm, ta ý thức tâm mình còn thiếu sót yếu
tố trạch pháp, ta suy xét để phát triển sự thiếu sót đó,
đưa đến sự phát sinh yếu tố trạch pháp. Và khi trạch
pháp đã phát sinh, sẽ đi đến thành tựu. Do bởi trạch pháp
thành tựu, ta thấu hiểu được ý nghĩa của lời kinh tâm
yếu và phương thức hành trì, để áp dụng vào đời sống
tu trì.
- Tinh
tấn
Yếu
tố giác ngộ thứ ba là sự tinh tấn. Như đã đề cập ở
phần đầu, yếu tố tinh tấn rất quan trọng trong quá trình
tu tập tứ niệm xứ. Thực tập quán niệm mà thiếu sự tinh
chuyên thì khó thể thành đạt được ý nguyện. Hãy nỗ lực
tu tập. Hãy kiên nhẫn hành trì. Thực tập sống tỉnh thức
trong từng sát na. Sống trong hành động hiện tại.
Khi
thực tập bốn pháp quán niệm nghiêm túc và cần mẫn, ta
ý thức được tâm mình đang có sự tinh tấn hành trì. Khi
có yếu tố tinh tấn, ta ý thức mình có tinh tấn. Khi không
có tinh tấn, ta ý thức mình không có tinh tấn. Ta ý thức
về sự tinh tấn ngay khi nó bắt đầu phát sinh. Khi đã phát
sinh, ta ý thức về sự thành tựu của nó. Ta an trú trong sự
quán niệm “có sự tinh tấn đây”, như vậy đủ để giúp
ta quán chiếu và ý thức được sự có mặt của yếu tố
tinh tấn trong tâm thức.
- Hoan
hỷ
Yếu
tố giác ngộ thứ tư là sự hoan hỷ. Do bởi chánh niệm phát
khởi và thành tựu, tâm trí ta sáng suốt ghi nhận sự việc,
cố công nghiên cứu tìm học Phật pháp. Những yếu chỉ lời
kinh được tỏ bày trong ánh sáng trí tuệ, bản thân nỗ lực
tinh chuyên hành trì, thực tập sống trong từng sát na. Ta tỉnh
biết và ghi nhận sáng suốt về mọi sự việc đang diễn
biến trong giờ phút hiện tại. Ta ý thức sống trong từng
mỗi hơi thở, trong từng nhịp đập con tim, trong mọi tư thế
và cử động của thân thể, trong mọi diễn biến vận hành
của tâm tư. Ta thực tập sống tỉnh thức trong mọi phút
giây.
Ánh
đuốc chánh niệm sáng soi đưa đến sự chứng nghiệm về
bản chất vô ngã của mọi sự thể và lý nghĩa vô thường
của cuộc đời người. Tâm thức sáng tỏ trong hân hoan vui
mừng, đưa đến sự phát sinh của yếu tố hoan hỷ.
Khi
yếu tố hoan hỷ bắt đầu phát sinh, ta ý thức về sự phát
sinh của nó. Và khi đã phát sinh, ta ý thức về sự thành
tựu của nó. Ta an trú trong sự quán niệm “có sự hoan hỷ
đây”, như vậy đủ để giúp ta quán chiếu và ý thức được
sự có mặt của yếu tố hoan hỷ trong tâm thức.
- Khinh
an
Yếu
tố giác ngộ thứ năm là sự khinh an, tức cảm giác thảnh
thơi nhẹ nhàng trong tâm thức. Trước hết là yếu tố chánh
niệm đã thành tựu, đưa đến sự tăng trưởng yếu tố
trạch pháp và sự tinh tấn phát sinh và thành tựu. Sau đó,
sự hoan hỷ bắt đầu phát khởi và đi đến thành tựu, thân
tâm cảm nhận nhữngï thư thái nhẹ nhàng và bình an. Mọi
sự vận hành của thân tâm trong vững chải, tâm trí thảnh
thơi và thư thái, đưa đến yếu tố khinh an phát sinh.
Khi
sự khinh an bắt đầu phát sinh, hãy tỉnh giác và nhận biết
về điều đó. Ta ý thức tâm mình đang có sự khinh an. Khi
yếu tố khinh an thành tựu, ta ý thức rõ ràng về sự thành
tựu của nó. Khi yếu tố khinh an đã thành tựu, thân tâm
cảm nhận sự nhẹ nhàng, ung dung và vững chải. Hơi thở
ý thức trong từng mỗi phút giây tĩnh lặng.
- Định
Yếu
tố giác ngộ thứ sáu là định. Từ sự thành tựu của các
yếu tố giác ngộ căn bản đã đưa đến sự thành tựu của
yếu tố khinh an. Khi sự khinh an thành tựu, sẽ đưa đến
sự phát sinh của yếu tố định. Ngay giờ đây, mọi hơi
thở vào ra trong ý thức. Tâm thể vắng lặng tịch tĩnh. Vọng
tưởng đọng lắng. Tâm thức bình an như mặt hồ thu sớm.
Chánh niệm sáng tỏ trong từng mỗi hơi thở, trong từng mỗi
sát na của cuộc sống. Đây là giai đoạn yếu tố định
đang bắt đầu thành tựu.
Trong
phần niệm tâm, yếu tố định đã được đề cập chi tiết.
Ở đây, chỉ xin nhấn mạnh, yếu tố định được xem như
hoa trái của sự giác tỉnh. Khi tâm thức có định, ta ý thức
rõ ràng tâm thức đang có định. Khi tâm thức không có định,
ta cũng ý thức rõ ràng tâm thức không có định.
Ta
ý thức về sự định tâm từ khi nó chưa phát sinh, nay đang
phát sinh. Khi phát sinh, ta ý thức về sự phát sinh của nó.
Và khi thành tựu, ta ý thức rõ ràng về sự thành tựu của
nó.
- Xả
Yếu
tố giác ngộ cuối cùng là hành xả, tức sự buông bỏ. Khi
định lực phát triển, lúc đó tâm trí đi vào sự tịch tĩnh
vắng lặng không một móng niệm. Khi ấy, tâm thức hoàn toàn
thật sự buông xả tất cả. Thân và tâm không còn bị trói
buộc vào bất cứ gì trong cuộc đời. Ta sống tự tại ung
dung với đất trời như mây đi như gió về – “nhập triền
thùy thủ” (thỏng tay vào chợ – thập mục ngưu đồ).
Ta sống trong cuộc đời nhưng không bị cuộc đời làm não
loạn sầu tư. Những sự việc biến động chung quanh cũng
không làm chao động não tâm (“bất dĩ ngoại vật động
kỳ tâm”).
Người
hành giả sống ung dung và thản nhiên như mây như gió, thanh
thản như ngọn cỏ như lá hoa, điềm nhiên như hạt nắng
chiều tà, tự tại như giọt sương rơi sớm. Không bị hoàn
cảnh trói buộc. Không bị vọng tưởng gây não phiền. Không
náo động trong hiện tại. Không bấn loạn phân tâm với sự
đời.
Do
bởi sống an nhiên và tỉnh thức, trực nghiệm sự nhiệm
mầu của tạo hóa, ý nghĩa và sự hiện hữu của đời người.
Sự sống chết cũng không luống hề bận tâm – “túng ngộ
phong đao thường thản thản, giả nhiên độc dược giã nhàn
nhàn” - nếu gặp gươm đao vẫn cứ đùa giỡn, ví nhằm
thuốc độc vẫn cứ an nhàn (chứng đạo ca). Sống trọn
vẹn với chính ta, hoan hỷ an vui trong hiện tại. Sống và
thật sự sống trong từng sát na nhiệm mầu của cuộc sống.
Sống
vẫn sống, sống để sống, sống thật sự với cuộc sống
nhưng không chấp chặt vào đó – “hòa kỳ quang, đồng kỳ
trần, vô vi nhi vô bất vi” của Lão Tử nào có khác chi (hòa
chung ánh sáng, đồng cùng bụi bặm, không làm nhưng không
có gì không làm). Một cái phất tay rũ sạch tất cả mọi
não phiền. Thong dong tự tại. An nhiên tịch tĩnh. “không
dứt trừ vọng tưởng cũng không cầu chân giác” (chứng
đạo ca). Sống hoàn toàn với cái tâm “không không”. Đó
là yếu chỉ “vô tướng vô không vô bất không” trong chứng
đạo ca của đại sư Huyền Giác (không hình tướng, không
phải không, cũng không phải chẳng không).
Khi
biết tâm thức có sự buông xả hay không có buông xả, ta
đều nhận biết đúng như vậy. Ta ý thức ngay khi sự buông
xả phát sinh, ý thức về sự tăng trưởng của nó, sự thành
tựu của nó. Yếu tố hành xả đưa đến sự thảnh thơi
và giải thoát hoàn toàn cho tâm thức. Nó là điểm linh quang
của trí tuệ. Đại sư Huyền Giác đã chỉ rõ tinh túy của
sự hành thiền là yếu tố buông xả - “thị dĩ thiền
môn liễu khước tâm” - cho nên thiền học dạy buông hết
(chứng đạo ca). Điều đó có nghĩa là tiến lên một bước
nữa trên sự buông xả để xả cái xả, buông bỏ cái buông
bỏ vậy.
Quán
về tứ diệu đế
Bước
kế tiếp, thực tập quán niệm về bốn sự thật cao quý.
- Khổ
đế
Sự
thật cao quý thứ nhất là khổ đế, tức sự khổ đau của
con người: “khi sự kiện là đau khổ, hành giả quán niệm
đây là đau khổ”.
Tất
cả những gì trên thế gian vô thường nầy đều là khổ.
Mọi sự việc luôn biến dịch đổi dời – “sinh sinh chi
vị dịch” (sinh ra sinh ra mãi nên gọi là biến dịch - kinh
dịch). Không một hình tướng nào, một tưởng suy nào nằm
nguyên một trạng thái (“vật cùng tắc biến, vật cực tắc
phản” là vậy - vạn vật đến chỗ cùng sẽ biến đổi,
mọi vật đến điểm cuối sẽ quay lại). Đó là chân lý
biến dịch vô thường của vạn vật. Và bởi sự vô thường
biến đổi luôn có mặt trên cuộc đời đã gây tạo biết
bao đổi thay, từ sinh khởi, rồi biến thể, rồi hư hoại,
do đó nên có sự đau khổ. Khi đã biến thể, đã hư hoại,
tất phải tan biến với thời gian nên cuối cùng tất cả
đều là không. Tất cả mọi sự thể đều không có tự tánh
riêng biệt.
Khi
nhìn sự việc, quán chiếu sự việc và cảm nhận sự việc
là đau khổ, ta ý thức rõ ràng “đây là đau khổ”. Sự
đau khổ của con người kể cả tinh thần lẫn thể xác có
tới 84.000 thứ phiền não, không thể nào nói hết cùng tận
được. Từ lúc mới sinh ra, ngây dại cất tiếng khóc chào
đời thì đó đã là khổ rồi. Lớn lên, già yếu, bệnh tật,
chết đi… tất cả đều là khổ. Người mình thương mà
phải xa lìa cũng là khổ. Những mong cầu mơ ước không đạt
được cũng là khổ. Kẻ oán thù mà phải sống chung cũng
là khổ. Những khống chế buộc ràng gắn liền với thân
xác ngũ uẩn đây cũng đều là khổ.
Những
khi mắt chứng kiến sự kiện xảy ra trong cuộc đời, cảm
nhận sự khổ của chính mình, ta tỉnh biết ghi nhận về
điều đó và tập trung quán chiếu về sự khổ. Biết rằng
“đây là đau khổ”. Cố gắng duy trì hơi thở trong ý thức.
Thở vào, ta biết ta đang thở vào. Thở ra, ta biết ta đang
thở ra. Dùng hơi thở làm nền tảng để nuôi giữ sự tỉnh
thức, để nhìn sâu vào sự kiện, để thấy rõ sự đau khổ
và gốc nguồn của đau khổ.
- Tập
đế
Chân
lý cao cả thứ hai là tập đế, tức nguyên nhân của sự
đau khổ: “khi sự kiện là nguyên nhân đưa đến đau khổ,
hành giả quán niệm đây là nguyên nhân đưa đến đau khổ”.
Khi
quán chiếu về sự khổ, ta nhìn thấy được nguyên nhân đưa
đến sự đau khổ cho con người. Những ái dục tham mê, những
oán hờn ganh ghét, những si mờ chấp ngã, những nghi oan ngờ
vực, những ngã mạn cao ngạo, những ác kiến tà ý… Tất
cả vậy đều là những nguyên nhân gây tạo nên sự đau khổ
cho con người.
Ngay
cả sự chấp dính buộc ràng của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý với hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm,
tư tưởng cũng đều là những khổ đau dày xé tâm linh con
người. Trong kinh phú lâu na, Phật đã thuyết: “mắt thấy
sắc đuổi theo chấp chặt là đau khổ, tai nghe tiếng, mũi
ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý duyên pháp, tất
cả chấp chặt đuổi theo đều là đau khổ”.
Cũng
như thân xác do tứ đại hợp thành, do duyên mà sinh khởi,
hết duyên lại hoại tàn. Nhưng nếu ta cứ chấp chặt vào
đó và cho thân xác là mãi của ta thì đó là u mê khổ ải.
Cũng như cố chấp mà nhận lầm vọng tưởng là tâm ta, mãi
sống với những nghĩ suy tham cuồng, gây tạo biết bao nghiệp
chướng ưu phiền. Đau khổ cũng bởi từ sự chấp chặt cuồng
mê nơi thân tâm mãi mãi không thôi (“ấm giới sáu trần
dậy, ách nạn nghiệp theo kề” - thiếu thất lục môn).
Khi
cảm nhận sự khổ, hãy quán chiếu để nhìn thấy rõ nguyên
nhân đã đưa đến sự đau khổ cho con người. Duy trì sự
quán niệm trong hơi thở ý thức. Ta biết ta đang thở vào.
Ta biết ta đang thở ra. Ta chú tâm quán sát mọi gốc nguồn
của sự kiện, để thấy rõ bản chất của đau khổ và nguyên
nhân đã đưa đến đau khổ. Ta quán niệm “đây là nguyên
nhân đưa đến đau khổ”.
- Diệt
đế
Chân
lý cao cả thứ ba là diệt đế, tức sự chấm dứt của đau
khổ: “khi sự kiện là sự chấm dứt đau khổ, hành giả
quán niệm đây là sự chấm dứt đau khổ”.
Do
bởi quán chiếu về đau khổ, ta nhận hiểu và thấy rõ gốc
nguồn của đau khổ, nguyên nhân đã đưa đến sự đau khổ
cho con người. Ngay đây, nếu bản thân nỗ lực tiêu trừ
những tà kiến của sự chấp ngã thì tâm trí cũng sẽ vơi
đi ít nhiều thống khổ.
Khi
đau khổ đã thật sự chấm dứt thì con đường giải thoát
là trước mắt. Điều đó được hiểu như một chân lý niết
bàn tuyệt đối của tâm linh con người. Đó là sự bình an
và tự tại vô ngại của tâm thức.
Chúng
ta, nếu như cứ mãi chấp chặt xác thân là của ta chơn thật,
mãi đắm mê thân xác, mãi bám víu và tiếc thương thì ta
vẫn mãi khổ đau phiền não. Sự bám víu vào thân xác cũng
là gốc nguồn của sự sợ hãi. Như trong đạo đức kinh –
“ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vi ngô hữu thân, cập
ngô vô thân, ngô hữu hà hoạn!” (ta sở dĩ có lo lớn là
vì ta có thân, nếu ta không có thân, ta nào có lo). Hãy nhận
thức rằng: Sống là sống trong cuộc đời, là sống với
xác thân đây, nhưng tâm trí không bám chặt vào tham đắm,
không quay cuồng trong bão gió lòng đời. Sống là để sống
trong đời. Không nhàm chán sự sống. Không mê lụy sắc thân.
Đó là sống đúng với ý nghĩa của cuộc sống làm người.
Thân
xác đây, theo duyên mà hình thành, hết duyên mà hư hủy. Có
đó rồi mất nó. Biết vậy, nên tâm đừng quá nuối tiếc
khi phải mất thân. Đây không những với cái nhìn về thân
ta mà ngay cả cái nhìn của ta đối với người thân ta cũng
thế. Kẻ sinh ra, kẻ mất đi, tất cả là đau khổ, diệt
diệt sinh sinh vô cùng tận (“sanh diệt biến dị, hư ngụy
vô chủ” - sinh diệt biến thay đổi dời, hư giả cũng không
có chủ thể - kinh bát đại nhân giác).
Do
bởi nhận thức như vậy nên khi thân nầy sắp mất đi, ta
không mấy não phiền hối tiếc. Hãy dửng dưng mà ra đi. Hãy
an nhiên mà trở về. Hãy thực tập quán niệm về sự sống
và sự chết như thiền sư Mumon: “đời sống như cụm mây
bay ngang đỉnh núi, sự chết như mặt trăng vượt biển khơi”.
Khi
người thân ta mất đi, ta biết ta đã mất thể xác người,
đã mất tiếng nói và hành động của người. Và, bởi tình
luyến ái, ta sầu bi, ta khổ ải. Đó có sinh, đó có mất,
cũng theo duyên mà tạo dựng, cũng tùy duyên mà hư hoại. Tất
cả đều vô thường. Cuộc đời người khác nào như mộng
ảo (“xử thế nhược đại mộng” - Lý Bạch).
Hãy
nhìn cuộc đời bằng ánh mắt vô thường. Hãy vui với đời
như hoa nở. Hãy đi vào cuộc đời như đang đi trong giấc
mộng (“gá thân mộng, dạo cảnh mộng, mộng tan rồi, cười
vỡ mộng” - thiền sư Thích Thanh Từ). Hãy nhận biết sự
việc như vậy. Những người thân ta rồi cũng sẽ ra đi. Ta
thản nhiên nhìn sự việc với con mắt hiểu và biết, không
quá khổ đau sầu muộn. Trong kinh bát đại nhân giác, Phật
đã thuyết – “thế gian vô thường, ngũ ấm vô ngã” (cuộc
đời là vô thường, thân năm ấm cũng không có tự ngã riêng
biệt). Hãy hằng luôn nhắn nhủ với chính mình: “người
có đến và người sẽ ra đi, ta đã đến và rồi ta sẽ đi,
há luống bận tâm chi những vô thường!”
Do
bởi ý thức được sự vô thường của cuộc đời, khi những
người thân của ta còn sống thì ta nên biết quý trọng những
giây phút còn có mặt của người bên ta. Nếu lỡ ngày mai,
khi người đã ra đi, thâm tình đã vỡ, thì hối tiếc chi
chữ hiếu chưa kịp báo đền, chữ ân chưa kịp trả, tất
cả còn lại là suối lệ sầu vương trong thương tiếc muộn
màng.
Trong
giai đoạn đầu tu tập, chúng ta đây vẫn là con người đầy
ắp những ray rứt sầu tư. Nếu như, những người thân của
ta một mai ra đi, thân ta chắc cũng phải úa sầu hoen lệ.
Nhưng bởi hiểu và biết gốc nguồn của ái dục si mê, rễ
nguồn của đau khổ muôn đời, chúng ta có thể giảm bớt
được ít nhiều mức độ sầu bi. Được vậy thì mục đích
hành thiền đây cũng đã gặt hái được ít nhiều lợi ích
lắm thay! Hãy cố gắng tinh chuyên hành trì cho đến giây phút
cuối cùng của cuộc sống thì định lực đã được tu bồi
vững mạnh. Và rồi, khi sự việc đến, cứ thanh thản ra
đi, cứ an nhiên trở về, như gió bay xa, như mây trở lại.
- Đạo
đế
Chân
lý cuối cùng là đạo đế, tức con đường diệt khổ để
giải thoát tâm linh: “khi sự kiện là con đường đưa đến
sự chấm dứt đau khổ, hành giả quán niệm đây là con đường
đưa đến sự chấm dứt đau khổ”.
Khi
nhìn thấy sự đau khổ, cảm nhận được sự đau khổ, ta
nhận biết “đây là đau khổ”. Quán chiếu về sự kiện
để thấy rõ đâu là gốc nguồn của đau khổ. An trú tâm
trong sự quán niệm “đây là nguyên nhân đưa đến đau khổ”.
Và khi sự kiện là con đường đưa đến sự chấm dứt đau
khổ, ta quán niệm và ghi nhận “đây là con đường đưa
đến sự chấm dứt đau khổ”.
Ta
an trú trong sự quán niệm “có bốn sự thật cao quý”, như
vậy đủ để giúp ta quán chiếu và ý thức được sự có
mặt của các đối tượng của tâm thức.
Hãy
nỗ lực tinh chuyên hành trì sống tỉnh thức trong từng mỗi
phút giây. Cố gắng tinh tấn thọ trì kinh điển, thực tập
thiền định, để chiếu soi bước đường trí tuệ, đem giới
luật và yếu nghĩa kinh pháp áp dụng vào con đường tu tập
cho bản thân.
Hãy
thực tập sống tỉnh thức và sống với tâm nguyện: “nâng
cao ngọn lửa hồng trí tuệ, để giải thoát cho tâm linh chính
mình, và để cùng chiếu soi đến tất cả những ai đang cùng
trên con thuyền trôi dạt hữu duyên”.
Để
khử trừ những chướng ngại của ái dục, sân, si, ngã mạn,
ngông tàn… tất phải dùng đến phương tiện. Cho nên Đức
Phật đã đưa ra con đường bát chánh đạo, tức con đường
trung đạo, với tám phạm trù cần yếu và chân chánh để
giúp người hành giả nương dựa vào đó mà tu trì:
- chánh
kiến (thấy biết chân chánh)
-
chánh tư duy (nghĩ suy chân chánh)
-
chánh ngữ (lời nói chân chánh)
-
chánh nghiệp (hành động chân chánh)
-
chánh mạng (sinh sống chân chánh)
-
chánh tinh tiến (cố gắng chân chánh)
-
chánh niệm (ý thức chân chánh)
-
chánh định (tập trung chân chánh)
Tám
phạm trù trên được chia thành ba nhóm là giới, định và
huệ:
- giới
(đạo đức) gồm chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng
-
định (tâm linh) gồm chánh tinh tiến, chánh niệm và chánh
định
-
huệ (tri thức) gồm chánh tư duy và chánh kiến
Nền
tảng của bát chánh đạo là giới với 3 phạm trù căn bản
về đạo đức (chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng). Con
đường nương dựa để tu tập chánh niệm và để thành tựu
về chánh định là con đường tứ niệm xứ, tức bốn lãnh
vực quán niệm.
Trên
bước đường tu tập, yếu tố chánh tinh tiến là để trợ
lực cho ta có một ý chí mạnh mẽ trong quá trình tu tập chánh
niệm, từ đó mở rộng 2 phạm trù tri thức là chánh kiến
và chánh tư duy, giúp ta ý thức được vai trò quan trọng của
con đường giải thoát tâm linh. Khi yếu tố chánh niệm thành
tựu, đưa đến sự phát sinh và thành tựu yếu tố chánh
định, giúp ta vượt thắng những phiền não và đạt đến
sự giải thoát cho tâm linh.