SỒNG TRONG
TỪNG SÁT NA
Trường
Đinh
Sống
Trong Từng Sát Na là phương pháp thực tập sống tỉnh thức,
sống và ý thức về sự sống trong từng phút giây. Đây là
phương thức tu tập dựa trên tinh thần kinh bốn lãnh vực
quán niệm (four foundations of mindfulness).
Kinh
bốn lãnh vực quán niệm (satipatthana sutta), còn gọi là kinh
tứ niệm xứ, là bản kinh do Ngài đại đức Ananda thuật
lại lời thuyết giảng của Đức Phật lúc Đức Phật đang
cư trú tại thành phố Kammasadamma, thủ phủ của xứ Kuru.
Con
đường tu tập bốn lãnh vực quán niệm là con đường độc
nhất một lối đi để đạt tới đích điểm, là con đường
tu tập tỉnh thức mà bản thân mình tự nỗ lực hành trì.
Đó là con đường thiền quán mà Đức Phật đã giác ngộ,
là con đường đưa đến mục tiêu giải thoát tâm linh, đạt
tới niết bàn thanh tịnh ngay trong giờ phút hiện tại.
Bốn
lãnh vực quán niệm là phương pháp tu trì dùng trực giác
để ghi nhận và quán sát về các sự kiện đang xảy
ra liên quan đến thân thể, cảm thọ, tâm thức và đối tượng
của tâm thức. Sự ghi nhận cần phải thật khách quan, nghĩa
là ý thức về sự việc không dính mắc đến đề mục “ta”
trong quá trình quán niệm.
Phương
pháp tu tập tứ niệm xứ bao gồm 2 tiến trình là niệm và
quán. Niệm là chú tâm ghi nhận. Ghi nhận để thấy rõ quá
trình sinh và diệt của sự việc, để không bám víu vào năm
uẩn. Quán là quán sát khách quan. Quán sát để trực nghiệm
về tánh vô thường và bản chất vô ngã của mọi sự kiện.
Như vậy, quán niệm là chú tâm ghi nhận và quán sát khách
quan về các sự việc đang xảy ra liên quan đến thân thọ
tâm pháp trong giờ phút hiện tại, còn được hiểu là “niệm
xứ” hay “niệm trú”, nghĩa là an trú tâm trong ý thức
giác tỉnh.
Lãnh
vực đầu tiên là quán thân nơi thân. Quán niệm về hơi thở,
các tư thế của thân thể, các cử động của thân thể,
các bộ phận trong thân thể, bốn yếu tố cấu thành thân
thể, chín giai đoạn tan rã của một tử thi.
Lãnh
vực thứ nhì là quán thọ nơi thọ. Quán niệm về các cảm
giác khoái lạc, cảm giác đau khổ, cảm giác trung tính không
khoái lạc cũng không đau khổ.
Lãnh
vực thứ ba là quán tâm nơi tâm. Quán niệm về các ý niệm
tham dục, sân hận, si mê, tâm ý thu nhiếp, tán loạn, tâm
ý trở thành rộng lớn, hạn hẹp, tâm ý đạt đến trạng
thái cao nhất, tâm ý có định, tâm ý giải thoát.
Lãnh
vực thứ tư là quán pháp nơi pháp. Quán niệm về năm hiện
tượng ngăn che của sự giác ngộ, năm uẩn, sáu giác quan,
sáu đối tượng của giác quan, bảy yếu tố của sự giác
ngộ, bốn sự thật cao quý.
Tại
sao gọi là quán thân nơi thân, quán thọ nơi thọ, quán tâm
nơi tâm, quán pháp nơi pháp? Có nghĩa là ghi nhận và ý thức
về thân thể ở nơi thân thể của chính mình, về cảm thọ
ở nơi cảm thọ của chính mình, về tâm thức ở nơi tâm
thức của chính mình, về đối tượng tâm thức ở nơi đối
tượng tâm thức của chính mình. Ta chú tâm quán sát và ghi
nhận, thân thể chỉ là thân thể, cảm thọ chỉ là cảm
thọ, ý niệm chỉ là ý niệm, các pháp chỉ là các pháp.
Không dựa vào nghĩ suy luận lý của tâm thức để phân tích
về cảm thọ, cũng không dùng cảm thọ để phân tích về
thân thể hay tâm thức hay đối tượng của tâm thức, cũng
không dính mắc vào đề mục “ta” “thuộc về ta” trong
quá trình quán niệm.
Yếu
tố cần yếu trong quá trình tu tập là sự tinh tấn. Bản
thân nỗ lực tinh chuyên hành trì trong mọi phút giây. Thực
tập sống tỉnh thức trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống,
bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Tu tập bốn lãnh vực
quán niệm mà thiếu sự tinh tấn thì không thể nào gặt hái
được thành quả của sự tỉnh thức.
1.
quán thân
Lãnh
vực đầu tiên là niệm thân. Phương pháp căn bản làm nền
tảng cho quá trình tu tập quán thân là pháp quán niệm về
hơi thở.
Trước
hết, chọn một chỗ tương đối yên tịnh để hành thiền.
Có thể vào một khu rừng, tìm đến một gốc cây, hoặc một
nơi im vắng nào đó, ở phía sau vườn nhà, một căn phòng
riêng, hay một thiền đường.
Khi
tọa thiền, ngồi theo tư thế kiết già. Ngồi trên gối dầy,
hai chân xếp chéo, bàn chân trái để lên đùi chân phải,
bàn chân phải để lên đùi chân trái. Hai bàn tay lật ngữa
xếp lên nhau và đặt nhẹ trên hai bàn chân. Bàn tay phải
đặt lên bàn tay trái, đầu hai ngón tay cái chạm nhẹ vào
nhau. Mắt nhắm. Miệng ngậm. Thở vào và thở ra bằng mũi.
Mặt quay vào tường. Tập trung tâm ý vào một điểm nhỏ
nơi đầu mũi. Giữ lưng, vai, cổ và đầu cho ngay thẳng. Thân
tâm buông thả trong một tư thế thoải mái và vững chải.
Nếu
cách ngồi kiết già quá khó khăn trong bước đầu tu tập,
có thể ngồi theo tư thế bán già, một chân nầy xếp chéo
lên đùi chân kia:
- chân
phải để lên đùi chân trái (tư thế hàng ma)
-
chân trái để lên đùi chân phải (tư thế kiết tường)
Nếu
không thể ngồi bán già được, có thể ngồi theo kiểu Miến
Điện. Hai chân xếp lại nhưng không cần chéo lên nhau, chân
phải để phía trước chân trái.
Hoặc
có thể ngồi trên ghế theo kiểu Ai Cập. Hai chân chạm mặt
đất. Hai bàn tay úp xuống để nhẹ trên hai bắp đùi. Chủ
yếu là giữ lưng, vai, cổ và đầu cho ngay thẳng trong một
tư thế thoải mái.
Cũng
có thể thực tập bằng cách nằm dài trên giường hay trên
ghế dài. Nằm ngữa và thẳng lưng. Hai chân duỗi thẳng. Hai
tay lật úp xuống, xếp lên nhau và để nhẹ trên bụng. Phương
pháp nằm có thể được thực tập trên giường trước khi
ngủ, hay khi mới thức dậy, hoặc sau những giờ làm việc
mệt mỏi khi thân xác và tâm trí cần một sự nghỉ ngơi
thư giãn.
Khi
xả thiền, trước hết dùng hai tay xoa nhẹ đều hai mi mắt,
xoa khắp trên mặt, hai bên vai phải trái. Sau đó xoa đều
trước ngực, chà xát phía sau hông nơi cuối cột xương sống.
Rồi từ từ tháo chân ra, xoa bóp từng chân cho bớt tê mỏi.
Theo
tinh thần kinh tứ niệm xứ, pháp quán hơi thở cần được
thực tập trong tư thế kiết già. Nhưng trong giai đoạn đầu,
nếu chưa thể ngồi kiết già được, ta vẫn có thể thực
tập theo tư thế bán già hay Miến Điện. Điều quan trọng
là ngồi trong một tư thế vững chải và thoải mái. Chủ
yếu là giữ lưng, vai, cổ và đầu cho ngay thẳng.
Tư
thế ngồi rất cần yếu cho việc tu tập thiền định. Nên
ngồi ít nhất mỗi ngày một lần hay nhiều hơn nữa. Mỗi
lần ngồi từ 15 phút đến một tiếng trở lên, thời điểm
ngồi tốt nhất là sáng sớm hay lúc chiều tối trước giờ
ngủ nghỉ. Tu tập thiền quán theo tinh thần kinh bốn lãnh
vực quán niệm không phải chỉ thực tập trong lúc ngồi không
thôi mà cần phải tinh chuyên hành trì trong mọi thời lúc.
Pháp quán hơi thở có thể được thực tập trong bất cứ
tư thế nào của thân thể. Lúc đang đứng, đang ngồi, đang
nằm, hay đang đi, ngay cả trong khi đang làm việc hay ngủ nghỉ
cũng đều có thể áp dụng tu tập được.
Thiền,
theo tinh thần kinh bốn lãnh vực quán niệm, là thực tập
sống tỉnh thức trong giờ phút hiện tại. Thiền là một
phương thức sống, một nghệ thuật sống, sống giác tỉnh
trong từng sát na của cuộc sống. Cố gắng không đánh mất
chính mình trong những nghĩ suy về tương lai, về dĩ vãng.
Đừng quá loạn náo trong giờ phút hiện tại. Trong bất cứ
hoàn cảnh nào, ở nơi đâu, bất cứ lúc nào, cố gắng nuôi
giữ ý thức tỉnh giác trong từng hơi thở và dùng phương
tiện hơi thở để điều hòa thân tâm, làm lắng dịu mọi
sự điều hành trong thân thể.
Quán
về hơi thở
Đối
tượng thiền định căn bản trong pháp niệm thân là hơi thở.
Trong bốn lãnh vực quán niệm, các phương thức tu tập về
thiền quán đều được dựa trên nền tảng là pháp quán
niệm hơi thở. Quán hơi thở là chú tâm ghi nhận và quán
sát về hơi thở. Khi thở vào, ta ý thức rõ ràng về
hơi thở vào trong suốt quá trình thở vào. Khi thở ra, ta ý
thức rõ ràng về hơi thở ra trong suốt quá trình thở ra.
Khi
quán niệm về hơi thở, ta tập trung tâm ý ở đầu chớp
mũi, như thế sẽ dễ dàng nhận biết được hơi thở vào
ra và cũng dễ dàng thu nhiếp tâm ý đi vào định. Con mắt
tâm chỉ biết có hơi thở, không nghĩ suy về bất cứ điều
gì khác. Ở đây, chỉ có hơi thở là vấn đề trọng yếu
nhất mà ta phải để hết tâm trí vào.
Khi
thở, ta vẫn thở bình thường, thở một cách tự nhiên. Tâm
trí chỉ cần ghi nhận tỉnh biết từng mỗi một hơi thở
vào ra. Ta nhận biết rõ ràng ta đang ở đâu, ta đang làm gì.
Thở vào, ta biết ta đang thở vào. Thở ra, ta biết ta đang
thở ra. Điều quan trọng là tránh sự lập lại bằng từ
ngữ trong tâm trí “ta đang thở vào” “ta đang thở ra”.
Vấn đề quan trọng ở đây là ghi nhận khách quan “ta đang
thở vào” “ta đang thở ra”, chứ không phải đọc đi đọc
lại mãi những từ ngữ đó trong tâm trí.
Khi
thở, đôi khi ta thở với hơi thở ngắn, đôi khi ta thở với
hơi thở dài. Ta chỉ cần ghi nhận một cách rõ ràng về chiều
dài của mỗi hơi thở. Ta ý thức sáng suốt về từng mỗi
một hơi thở vào ra trong từng mỗi sát na.
Khi
thở vào một hơi thở dài, ta biết ta đang thở vào một hơi
thở dài. Khi thở ra một hơi thở dài, ta biết ta đang thở
ra một hơi thở dài. Chỉ cần ý thức khách quan về điều
đó một cách đúng như thật. Tránh sự lập đi lập lại
bằng từ ngữ “ta đang thở vào một hơi thở dài” “ta
đang thở ra một hơi thở dài”.
Khi
thở vào một hơi thở ngắn, ta biết ta đang thở vào một
hơi thở ngắn. Khi thở ra một hơi thở ngắn, ta biết ta đang
thở ra một hơi thở ngắn. Chỉ cần ý thức khách quan về
điều đó một cách đúng như thật. Tránh sự lập đi lập
lại bằng từ ngữ “ta đang thở vào một hơi thở ngắn”
“ta đang thở ra một hơi thở ngắn”.
Trong
quá trình thực tập quán niệm về hơi thở dài ngắn, ta chỉ
cần ghi nhận một cách khách quan về chiều dài của hơi thở
trong suốt quá trình thở vào và trong suốt quá trình thở
ra. Khi hơi thở vào, ta biết là hơi thở vào. Khi hơi thở
ra, ta biết là hơi thở ra. Hơi thở vào không là hơi thở
ra. Hơi thở ra không là hơi thở vào. Khi hơi thở dài, ta biết
là hơi thở dài. Khi hơi thở ngắn, ta biết là hơi thở ngắn.
Hãy
an trú trong ý thức giác tỉnh. Tập trung tất cả tâm trí
vào hơi thở trong suốt quá trình thở vào và trong suốt quá
trình thở ra. Không dính mắc vào cái ta đang thở. Ngay lúc
nầy và ở nơi đây, chỉ có một điều quan trọng tối yếu
là chú tâm tất cả vào hơi thở và chỉ biết có hơi thở.
Mỗi khi thở vào, mỗi khi thở ra, mỗi hơi thở dài, mỗi
hơi thở ngắn, ta đều có sự nhận biết rõ ràng về điều
đó. Thân tâm buông thả trong một tư thế thoải mái và vững
chải. Hãy nhìn thẳng vào giây phút thực tại. Đừng tiếc
nuối về dĩ vãng. Đừng nghĩ suy về tương lai. Đừng mong
cầu một điều gì. Nếu như tâm ý vẫn còn cố bám víu vào
những mong cầu trong giờ phút quán niệm nầy, ngồi thiền
để được an lạc, để đào luyện tính khí, để duy trì
sức khỏe… điều đó có nghĩa là tâm ý vẫn còn bị trói
buộc trong cái nhìn về tự ngã ta, về mục đích hành thiền
của ta trong giờ phút nầy. Như thế, sẽ gây nhiều chướng
ngại cho sự giải thoát và buông xả mọi vọng tưởng trong
lúc thiền tập.
Khi
thở vào, ta thở với hơi thở tự nhiên và bình thường.
Ta biết ta đang thở vào, ta ý thức về toàn hơi thở vào.
Ta biết ta đang ngồi và đang thở. Ta ý thức về toàn hơi
thở vào trong suốt quá trình thở vào, từ lúc hơi thở vào
cho đến khi hơi thở vào chấm dứt để bắt đầu cho một
hơi thở ra. Hơi thở đang bắt đầu đi vào thân thể, đang
vào được nửa chừng, đang bắt đầu chấm dứt, đã chấm
dứt, ta đều nhận biết về điều đó một cách rõ ràng
đúng như thật.
Khi
thở ra, ta thở với hơi thở tự nhiên và bình thường. Ta
biết ta đang thở ra, ta ý thức về toàn hơi thở ra. Ta biết
ta đang ngồi và đang thở. Ta ý thức về toàn hơi thở ra
trong suốt quá trình thở ra, từ lúc hơi thở ra cho đến khi
hơi thở ra chấm dứt để bắt đầu cho một hơi thở mới
đi vào. Hơi thở đang bắt đầu đi ra khỏi thân thể, đang
ra được nửa chừng, đang bắt đầu chấm dứt, đã chấm
dứt, ta đều nhận biết về điều đó một cách rõ ràng
đúng như thật.
Như
người thợ tiện đang chú tâm làm việc. Trong từng mỗi phút
giây, người ấy đều nhận biết về sự việc mình đang
làm một cách giác tỉnh. Khi xoay một vòng dài trên món đồ
đang tiện, người ấy ý thức rằng đang xoay một vòng dài.
Khi xoay một vòng ngắn, người ấy ý thức rằng đang xoay
một vòng ngắn. Cũng như khi thở, ta ý thức về hơi thở
bằng tất cả sự sáng suốt và tỉnh biết. Khi thở vào,
ta ý thức rõ ràng về toàn hơi thở vào trong suốt quá trình
thở vào, từ lúc bắt đầu thở vào cho đến lúc hơi thở
vào chấm dứt. Khi thở ra, ta ý thức rõ ràng về toàn hơi
thở ra trong suốt quá trình thở ra, từ lúc bắt đầu thở
ra cho đến lúc hơi thở ra chấm dứt.
Kinh
bốn lãnh vực quán niệm được áp dụng để tu tập bất
cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào, đang đứng hay đang ngồi,
đang nằm hay đang đi, lúc nghỉ ngơi hay đang làm việc. Cũng
như người thợ tiện ý thức được công việc mình đang
làm một cách giác tỉnh trong từng mỗi sát na.
Phương
pháp thực tập về hơi thở khởi đầu là theo dõi hơi thở
vào ra để nuôi dưỡng ý thức chánh niệm. Ta ý thức về
chiều dài của hơi thở và toàn hơi thở. Khi hơi thở đã
có sự lắng dịu, ta ý thức về sự an tịnh nơi hơi thở
và điều hòa thân tâm để đi vào sự tịch tĩnh. Ta ý thức
về hơi thở vào và sự lắng dịu nơi hơi thở vào trong suốt
quá trình thở vào. Ta ý thức về hơi thở ra và sự lắng
dịu nơi hơi thở ra trong suốt quá trình thở ra.
Khi
hơi thở trở nên nhẹ nhàng, tưởng chừng như có như không,
mọi sự vận hành trong thân thể bắt đầu tĩnh lặng. Ngay
đây, ta phải dồn hết mọi nỗ lực để có thể ý thức
được rõ ràng về hơi thở. Hãy tập trung tất cả tâm ý
vào một điểm nhỏ nơi đầu mũi, như thế sẽ dễ dàng nhận
biết được sự vào ra vi tế của hơi thở. Có sự tập trung
mãnh liệt vào một điểm duy nhất như thế sẽ giúp ta an
tịnh được hơi thở và đi vào sự định tâm tương đối
dễ dàng hơn.
Khi
thở một hơi thở vào, ta ý thức về hơi thở đang đi vào
thân thể trong suốt quá trình thở vào. Ta ý thức hơi thở
bắt đầu vào (sự sinh khởi của hơi thở vào). Ta ý thức
hơi thở vào bắt đầu chấm dứt (sự hủy diệt của hơi
thở vào).
Khi
thở một hơi thở ra, ta ý thức về hơi thở đang đi ra khỏi
thân thể trong suốt quá trình thở ra. Ta ý thức hơi thở
bắt đầu ra (sự sinh khởi của hơi thở ra). Ta ý thức hơi
thở ra bắt đầu chấm dứt (sự hủy diệt của hơi thở
ra).
Ta
quán niệm “có hơi thở đây” và hơi thở chỉ là hơi thở.
Không có ta đang thở. Tất cả chỉ là hơi thở và hơi thở
ở nơi hơi thở. Với sự quán niệm như thế đủ để giúp
ta phát khởi được ý thức về hơi thở, để quán chiếu
về sự vô thường của hơi thở.
Quán
về bốn oai nghi
Khi
ta muốn đi, tâm trí phát khởi ý định muốn đi. Ý định
muốn đi sinh khởi trước, kế đó sự đi mới bắt đầu.
Trước nhất, ta ghi nhận về sự sinh khởi của ý định muốn
đi. Khi bắt đầu đi, ta ý thức rõ ràng sự bắt đầu đi.
Khi đang đi, ta ý thức rõ ràng sự đang đi và từng cử động
của chân. Ta có sự ghi nhận bàn chân dở lên, bước tới,
hạ xuống trên từng mỗi bước đi.
-
chân phải dở lên, bước tới và hạ xuống
-
chân trái dở lên, bước tới và hạ xuống
Đừng
nghĩ suy về nơi ta sẽ đến. Hãy tập trung tâm trí vào sự
đang đi trong giây phút thực tại nầy. Ta ý thức và nhận
biết từng sự xúc chạm của bàn chân với mặt đất trên
từng mỗi nhịp bước trong suốt quá trình đi.
Khi
ta muốn đứng, tâm trí phát khởi ý định muốn đứng. Ý
định muốn đứng sinh khởi trước, kế đó sự đứng mới
bắt đầu. Trước nhất, ta ghi nhận về sự sinh khởi của
ý định muốn đứng. Khi bắt đầu đứng lên, ta ý thức
rõ ràng sự bắt đầu đứng lên. Khi đang đứng, ta ý thức
rõ ràng sự đang đứng. Ta nhận biết từng cử động của
chân tay, từng sự di động của thân thể lúc bắt đầu đứng
lên. Ta ý thức từng sự xúc chạm của bàn chân với mặt
đất trong khi đang đứng.
Khi
ta muốn ngồi, tâm trí phát khởi ý định muốn ngồi. Ý định
muốn ngồi sinh khởi trước, kế đó sự ngồi mới bắt đầu.
Trước nhất, ta ghi nhận về sự sinh khởi của ý định muốn
ngồi. Khi bắt đầu ngồi xuống, ta ý thức rõ ràng sự bắt
đầu ngồi xuống. Khi đang ngồi, ta ý thức rõ ràng sự đang
ngồi. Ta nhận biết từng cử động của chân tay, từng sự
di động của thân thể lúc bắt đầu ngồi xuống. Ta ý thức
từng sự xúc chạm của thân thể với mặt ghế trong khi đang
ngồi.
Khi
ta muốn nằm, tâm trí phát khởi ý định muốn nằm. Ý định
muốn nằm sinh khởi trước, kế đó sự nằm mới bắt đầu.
Trước nhất, ta ghi nhận về sự sinh khởi của ý định muốn
nằm. Khi bắt đầu nằm xuống, ta ý thức rõ ràng sự bắt
đầu nằm xuống. Khi đang nằm, ta ý thức rõ ràng sự đang
nằm. Ta nhận biết từng cử động của chân tay, từng sự
di động của thân thể lúc bắt đầu nằm xuống. Ta ý thức
từng sự xúc chạm của thân thể với mặt giường trong khi
đang nằm.
Trong
bất cứ tư thế nào của thân thể, ta cũng đều ý thức
về toàn thân thể và tư thế của thân thể. Khi đi, ta ý
thức về toàn thân thể và tư thế đang đi của thân thể.
Khi đứng, ta ý thức về toàn thân thể và tư thế đang đứng
của thân thể. Khi ngồi, ta ý thức về toàn thân thể và
tư thế đang ngồi của thân thể. Khi nằm, ta ý thức về
toàn thân thể và tư thế đang nằm của thân thể.
Ta
ghi nhận về ý định muốn đi, muốn đứng, muốn ngồi, muốn
nằm đã sinh khởi và tan biến trong sát na đó. Ta ý thức
về từng cử động bắt đầu và chấm dứt nơi thân thể
khi bắt đầu đi, bắt đầu đứng, bắt đầu ngồi, bắt
đầu nằm. Ta ghi nhận về từng chi tiết bắt đầu và chấm
dứt của từng cử động nơi thân thể trong suốt quá trình
đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm.
Thí
dụ, khi đang ngồi, ta muốn đứng dậy để đi. Trước nhất,
tâm thức phát khởi ý định muốn đứng. Ta ghi nhận sự
sinh khởi của ý định đó. Ta ghi nhận thân thể đang bắt
đầu cử động để đứng dậy. Ta ghi nhận từng cử động
bắt đầu và chấm dứt của thân thể. Ta ý thức về toàn
thân thể và tư thế của thân thể khi bắt đầu đứng dậy,
bắt đầu cử động để đi. Ta ý thức từng sự xúc chạm
của bàn chân với mặt đất trong suốt quá trình đi.
Ta
an trú trong sự quán niệm “có sự đi đây” “có sự đứng
đây” “có sự ngồi đây” “có sự nằm đây” và tất
cả chỉ là sự đi, sự đứng, sự ngồi, sự nằm. Không
có ta đang cử động. Tất cả chỉ là ý định muốn đi muốn
đứng muốn ngồi muốn nằm và tất cả chỉ là sự đi đứng
ngồi nằm của thân thể. Với sự quán chiếu như thế đủ
để giúp ta phát khởi được ý thức về các tư thế của
thân thể, để quán chiếu về sự vô thường của các tư
thế của thân thể.
Quán
về thân hành
Cũng
như ý thức về các tư thế của thân thể khi đi đứng ngồi
nằm, bất cứ thân thể đang cử động trong việc gì, ăn
hay uống, nhai hay nếm, cúi xuống hay đứng lên, đi tới hay
đi lui, nhìn trước hay nhìn sau, mặc áo cà sa hay mang bình
bát, đi đại tiện hay tiểu tiện, ngủ hay thức, nói hay im
lặng… ta đều phải ý thức được sự sinh khởi của từng
ý định “muốn” của tâm thức, từng cử động của thân
thể, đang làm gì, đang ở đâu một cách rõ ràng tỉnh biết.
Khi
nói hay im lặng, ta ý thức rõ ràng về điều đó. Khi im lặng,
ta ý thức là đang im lặng. Khi nói, ta ý thức về từng lời
nói. Khi lắng nghe, ta ý thức là đang lắng nghe. Ta ý thức
rõ ràng và sáng suốt trong mọi lúc mọi nơi, nhận biết mình
đang ở đâu, đang nói với ai, đang nói những gì, đang lắng
nghe những gì.
Khi
ngủ hay thức, ta ý thức rõ ràng về điều đó. Khi nằm ngủ,
ta an trú tâm nơi hơi thở. Thở vào, ta biết ta đang thở vào.
Thở ra, ta biết ta đang thở ra. Tập trung tất cả tâm ý vào
hơi thở và chỉ biết có hơi thở. Ta ghi nhận sự xúc chạm
của thân thể với mặt giường khi đang nằm. Ta ý thức về
toàn thân thể và tư thế đang nằm của thân thể. Những
khi thân thể thay đổi tư thế nằm, hoặc chân tay cử động,
ta không bỏ sót bất cứ một chi tiết nào mà không có sự
ghi nhận. Ta theo dõi hơi thở cho đến khi hơi thở trở nên
nhẹ nhàng, mọi sự điều hành trong thân thể trở nên lắng
dịu. Và rồi, giấc ngủ an bình tự nhiên đến, ta an giấc
trong sự thư thái của thiền định.
Những
khi chợt giật mình thức giấc nửa đêm, điều trước tiên
mà ta cần ý thức là biết mình đã thức giấc. Ta ý thức
về tư thế đang nằm của thân thể. Ta ghi nhận sự xúc chạm
của thân thể với mặt giường. Ta trở về với hơi thở
và chỉ biết có hơi thở. Và cứ như thế, cho đến khi giấc
ngủ trở lại một cách tự nhiên, ta đi vào giấc ngủ trong
sự bình an của tâm thức.
Khi
thức dậy, ý thức đầu tiên là ghi nhận mình đã thức và
đang nằm trên giường. Ta ghi nhận về tư thế đang nằm của
thân thể. Ta ý thức rõ ràng về từng hơi thở. Ta ghi nhận
về ý định muốn thức dậy. Ta ghi nhận từng cử động
của thân thể khi trở mình, bắt đầu ngồi dậy, đứng lên,
cử động chân tay, thân thể di chuyển tới lui thu dọn chăn
mền. Ta ý thức một ngày mới đang sinh khởi và tất cả
mọi sự việc ngày hôm nay đều mới lạ như chiếc lá bình
minh vừa đâm trổ đầu cành.
Cố
gắng tinh chuyên hành trì nắm giữ hơi thở trong mọi lúc.
Với ảnh hưởng của ánh sáng chánh niệm, mọi cử động
của thân thể sẽ tự động giảm chậm xuống. Thư thả,
nhẹ nhàng và vững chải. Một kinh nghiệm đầu tiên vừa
phát khởi trên bước đầu của sự tỉnh thức. Đó là định
lực do kết quả hành thiền không ngoài yếu chỉ “động
tịnh thể an nhiên” trong chứng đạo ca của đại sư Huyền
Giác - “đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói im động tịnh
thảy đều an nhiên” (hành diệc thiền, tọa diệc thiền,
ngữ mặc động tịnh thể an nhiên).
Bất
cứ đang làm việc gì, ở nơi đâu, trong hoàn cảnh nào, một
mình, hay đang tiếp xúc với người, ta cố gắng đừng để
đánh mất sự ghi nhận và quán sát về hơi thở, về tư thế
của thân thể, về các cử động của thân thể. Ý thức
từng mỗi phút giây sống trong giờ phút hiện tại. Khi đang
làm một việc gì, ta tập trung tất cả tâm ý vào công việc
đó. Ta biết ta đang thở vào. Ta biết ta đang thở ra. Ta ý
thức về công việc đang làm. Ta ghi nhận về tư thế của
thân thể, về từng cử động của chân tay, từng sự di động
của thân thể, từng sự xúc chạm của tay chân với vật
thể trong khi đang làm công việc đó.
Ta
ghi nhận về sự sinh khởi của ý định muốn đi tới đi
lui, đứng lên cúi xuống, ăn uống, nhai nếm... Ta ý thức
từng cử động của thân thể trong sự bắt đầu của các
cử động. Ta ý thức từng cử động bắt đầu và chấm
dứt của thân thể trong suốt quá trình đi tới đi lui, đứng
lên cúi xuống, nhai nếm, ăn uống, nói hay im lặng... Ta ý
thức từng cử động sinh khởi và chấm dứt nơi thân thể
trong từng mỗi phút giây vô thường trong suốt quá trình cử
động của thân thể.
Ta
an trú trong sự quán niệm “có sự đi tới đây” “có sự
đi lui đây” “có sự đứng lên đây” “có sự cúi xuống
đây” “có sự ăn đây” “có sự uống đây”… và tất
cả chỉ là các cử động của thân thể. Không có ta đang
cử động. Tất cả chỉ là ý định và các cử động của
thân thể. Với sự quán niệm như thế đủ để giúp
ta phát khởi được ý thức về các cử động của thân thể,
để quán chiếu về sự vô thường của các cử động nơi
thân thể.
Quán
về thân bất tịnh
Ta
quán niệm về thân thể nầy, từ đỉnh đầu đến gót chân,
được bao bọc bởi một lớp da, bên trong chứa đầy các
loại bất tịnh. Ta quán niệm về các loại bất tịnh bên
trong và bên ngoài thân thể, như tóc, lông, móng, răng, da,
thịt, gân, xương, tủy, thận, gan, hoành cách mạc, lá lách,
phổi, ruột, bao tử, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ,
nước mắt, nước bọt, nước mủ, nước khớp xương, nước
tiểu.
Thí
dụ, một cái bao tải chứa đựng các loại ngũ cốc. Khi mở
bao ra, ta có thể thấy đủ các loại hạt chứa đựng trong
đó, nào là các loại gạo, đậu, lúa, mè... Ta quán chiếu
thân nầy cũng vậy, tất cả được bao bọc bởi một lớp
da, bên trong chứa đầy các loại bất tịnh và nhơ nhớp.
Ta
quán chiếu về các loại bất tịnh sinh khởi từ thân thể,
bị hủy diệt từ thân thể, bị thải bỏ ra ngoài thân thể
như mủ, đàm, mồ hôi, nước tiểu, phân... Ta an trú trong
sự quán niệm “có các chất bất tịnh trong thân thể đây”
“có các chất bất tịnh từ thân thể thải bỏ ra ngoài
đây”. Ta ý thức về các chất bất tịnh và tất cả chỉ
là các chất bất tịnh. Không có ta liên hệ đến các chất
bất tịnh nơi thân thể. Ta ý thức các chất bất tịnh chỉ
là các chất bất tịnh, không có người thọ lãnh hay thải
bỏ. Với sự quán niệm như thế đủ để giúp ta phát khởi
được ý thức về các chất bất tịnh trong thân thể, để
quán chiếu về sự vô thường của các chất bất tịnh nơi
thân thể.
Quán
về thân tứ đại
Trong
bất cứ tư thế nào của thân thể, thường xuyên quán chiếu
xác thân nầy do bởi bốn yếu tố chính cấu tạo thành là
đất, nước, lửa và gió.
- yếu
tố đất như da, xương, thịt, tim, gan...
-
yếu tố nước như máu, mủ, đàm...
-
yếu tố lửa như sức nóng trong người...
-
yếu tố gió như hơi thở vô ra...
Thí
dụ, một người đồ tể giết bò, ngồi giữa ngả tư và
cắt xẻ con bò ra thành nhiều mảnh nhỏ. Mỗi một phần để
riêng ở mỗi một góc đường. Nhìn lại, thân thể đây cũng
vậy, do bởi bốn yếu tố căn bản cấu thành gồm đất nước
lửa và gió.
Do
bởi hành trì tinh chuyên pháp quán tứ đại, ta có thể trực
nghiệm được bản chất không và yếu tố vô ngã của ngũ
uẩn tự thân. Tánh không ở đây có nghĩa là những gì hiện
hữu ở xác thân hoàn toàn không có tự tánh riêng biệt. Nếu
như một mai thân xác ta có mất đi, có tan rã, thì gió sẽ
về với gió, lửa sẽ về với lửa, nước sẽ về với nước,
cát bụi sẽ trở về với cát bụi. Không có sự mất. Không
có sự được. Không có sự thêm. Không có sự bớt. Tất
cả chỉ là sự trở về và là sự trở về với đất nước
lửa gió. Do bởi quán chiếu như vậy, ta sẽ không còn quá
đắm mê thân xác và sẽ có cái nhìn đúng đắn hơn về bản
chất thật của tất cả mọi sự vật hiện hữu trong cuộc
đời.
Ta
quán niệm về các yếu tố của tứ đại bên trong và bên
ngoài thân thể, như hơi thở từ ngoài vào, hơi thở từ trong
ra, sức nóng trong thân thể, nhịp đập của con tim, mồ hôi,
phân, nước tiểu... Tất cả chỉ là đất nước lửa gió
tạm bợ hòa hợp trong một xác thân vô thường.
Ta
quán niệm về các yếu tố của tứ đại sinh khởi từ thân
thể và bị thải bỏ ra ngoài thân thể, như hơi thở vô ra,
nước mắt, nước tiểu, mồ hôi... Tất cả chỉ là đất
nước lửa gió sinh sinh diệt diệt mãi trong một xác thân
tạm bợ vô thường.
Ta
an trú trong sự quán niệm “có yếu tố đất đây” “có
yếu tố nước đây” “có yếu tố lửa đây” “có yếu
tố gió đây”. Tất cả chỉ là các yếu tố cấu thành thân
thể và chỉ là các yếu tố đất nước lửa gió. Không có
ta gắn liền với tứ đại nơi thân thể. Với sự quán niệm
như thế đủ để giúp ta phát khởi được ý thức về bốn
yếu tố cấu thành thân thể, để quán chiếu về sự vô
thường của tứ đại.
Quán
về cửu tưởng
9 giai
đoạn tan rã của một tử thi:
- xác
chết sình trương, thâm tím và thối rữa
-
xác chết bị diều hâu và sói rừng gặm xé
-
xác chết chỉ còn lại xương, thịt và máu
-
xác chết chỉ còn lại xương và máu
-
xác chết chỉ còn lại bộ xương
-
xác chết chỉ còn lại đống xương rời rạc khắp đó đây
-
xác chết chỉ còn lại đống xương trắng màu vỏ ốc
-
xác chết chỉ còn lại đống xương khô
-
xác chết chỉ còn lại đống xương đã hóa thành tro bụi
Ta
trình tự quán chiếu qua từng giai đoạn của cửu tưởng,
từng mỗi giai đoạn ta trở lại quán chiếu về xác thân
của chính ta, da thịt xương cốt thận gan tim phổi… bên
trong cũng như bên ngoài, tất cả và tất cả rồi cũng sẽ
sình trương, cũng sẽ thối rữa, cũng sẽ hoại tàn tro bụi.
Thân
thể đây, đã được sinh ra từ máu huyết mẹ cha, mà khi
đã có sự sinh ra thì sẽ có sự mất đi. Rồi một ngày,
thân xác đây cũng sẽ hư hoại. Cuộc đời người, ai cũng
phải một lần chết. Khi sự chết đến, ta không thể nào
trốn thoát. Cuối cùng, xác thân đây cũng sẽ bị tiêu hoại.
Không có bất cứ gì gọi là riêng mãi của ta đối với mọi
vật thể vô thường trong vũ trụ.
Thường
xuyên quán niệm như vậy, ta sẽ có cái nhìn bình tỉnh hơn
đối với sự sống, bình thản hơn đối với sự chết. Một
ngày mai đây, những người thân của ta sẽ ra đi và chính
bản thân ta cũng sẽ ra đi. Tất cả sẽ là vậy. Có sinh ắt
có diệt. Có được ắt có mất. Sự sống không thể nào
tránh né. Sự chết chẳng thể nào đổi thay.
Ta
quán niệm “có thân thể đây” và tất cả chỉ là thân
thể. Không có thân thể của ta. Tất cả chỉ là thân thể
và là thân thể ở nơi thân thể. Với sự quán niệm như
thế đủ để giúp ta phát khởi được ý thức về thân thể,
để quán chiếu về sự vô thường của thân thể.
Quán
niệm về cửu tưởng tinh cần sẽ giúp ta bình tỉnh hơn khi
đối diện với sự chết. Bản thân không còn quá luyến tiếc
xác thân nầy và cảm thấy rất bình thản để ra đi. Tất
cả có đến và có đi như gió hoàng hôn đưa lá thu vàng về
cùng cát bụi.