MỤC LỤC
Lời
nói đầu
Giới
thiệu
Chu
Kỳ Ngày và Đêm
Phác
họa chủ đề của bản văn
Chú
Thích Bản Văn Căn Cứ trên Bình Giảng Miệng của Namkhai Norbu
Đôi
Nét về Tiểu Sử của Tác Giả
Về
Dịch Giả
Thuật
Ngữ những từ Kỹ Thuật
Chu
Kỳ Ngày và đêm (tiếng Tây Tạng)
Lời
nói đầu
Bản
văn này, có tựa đề tiếng Tây Tạng là gDod-ma’i rnal-‘byor
gyi lam khyer nyin mtshan ‘khor-lo-ma, được Namkhai Norbu Rinpoche
viết trước một cuộc nhập thất do ngài hướng dẫn ở
Cộng Đồng Dzog-chen của Conway, Massachusetts, tháng Mười, 1983.
Trong bộ Longde của những giáo lý Dzogchen, có tìm thấy những
giáo huấn của Garab Dorje về thực hành tham thiền liên tục
cả ngày và đêm như thế nào. Bản văn này là một toát yếu
những thực hành ấy.
Theo
truyền thống Phật giáo Tây Tạng, Garab Dorje là vị thầy
nhân loại đầu tiên của hệ thống Dzogchen thực hành tham
thiền. Từ Dzogchen của Tây Tạng thường được dịch là
“Đại Toàn Thiện” và ở Tây Tạng nó tiêu biểu tinh túy
của những giáo lý Phật giáo. Garab Dorje sanh ở xứ Udïdïiyana
tây bắc Ấn Độ và đã nhận sự trao truyền Dzogchen trực
tiếp từ Vajrasattva, phương diện Báo thân của Phật quả.
Vajrasattva đã nhận sự trao truyền trực tiếp tâm qua tâm
từ Phật Bổn Nguyên Samantabhadra (Phổ Hiền). Từ Garab Dorje,
Dzogchen được truyền cho Manjusù-rimitra, và từ vị này đến
Buddhajnana và Srisimïha. Trong thế kỷ thứ tám, sự trao truyền
những lời dạy Dzogchen được Guru Padmasambhava, Vimalamitra và
dịch giả Vairocana đem vào Tây Tạng.
Từ
thời của những vị thầy ở trên, những giáo lý Dzogchen
đã được truyền từ thầy qua trò không dứt đoạn. Trong
hệ thống Nyingma Tây Tạng, Dzog-chen hay còn gọi là Atiyoga
được xem là thừa thứ chín trong chín thừa Phật giáo. Nhiều
vị thầy lỗi lạc thuộc bốn phái chính của Phật giáo Tây
Tạng, trong đó có những nhân vật nổi bật như Dalai Lama
thứ Năm, Karmapa thứ Ba, và Drugpa Padma Karpo đã thực hành
công khai những giáo lý này. Nhiều vị khác đã thực hành
chúng một cách bí mật. Bởi thế, chắc rằng Dzogchen không
phải là một tài sản đặc biệt của phái nào, và thực
ra những giáo lý này vượt khỏi mọi giới hạn nhánh phái,
văn hóa hay quốc gia.
Dzogchen
gắn liền với sự liễu ngộ trong kinh nghiệm trực tiếp
trạng thái bổn nguyên của cá nhân, bản tánh không điều
kiện của tâm. Bản tánh này của tâm siêu vượt những nội
dung riêng biệt của tâm, tức là những tư tưởng khởi lên
trong tâm, chúng phản chiếu sự quy định về tâm lý, văn
hóa và xã hội của người ta. Người ta có thể phân biệt
tương tự giữa tấm gương có khả năng phản chiếu tự nhiên
bẩm sinh với những hình bóng phản chiếu xuất hiện trong
đó. Sự trình bày Dzogchen ở đây, gỡ khỏi những giới hạn
ấy, theo truyền thống Rimed hay không bộ phái của những vị
thầy vĩ đại gần đây của miền đông Tây Tạng, như Jamyang
Khyentse Wangpo, Jamgon Kongtrul, Chogyur Lingpa và Adzom Drugpa.
Những
chữ số trong bản dịch để chỉ những câu kệ trong bản
Tây Tạng. Những chú thích sau bản dịch được xếp đặt
phù hợp theo đó. Những chú thích này rút ra từ bình giảng
của Namkhai Norbu Rin-poche ở kỳ nhập thất Conway, 8-9 tháng
Mười 1983. Vào thời gian đó, Norbu Rinpoche nói bằng tiếng
Ý, trong khi Kennard Lipman và John Shane dịch bình giảng sang tiếng
Anh.
Cuối
cùng, dịch giả bản văn muốn được cám ơn Dr. Kennard Lipman
và ông John Shane trong việc phụ giúp dịch bản văn này ra
tiếng Anh thích hợp. Nó cũng muốn cám ơn nhiều thành viên
của Cộng Đồng Dzogchen ở Conway đã tham dự vào công trình
này bằng cách này hay cách khác. Mong rằng bản dịch này tỏ
ra có lợi lạc thực tiễn cho mọi người đọc nó.
SARVA
MANGALAM.
John
Myrdhin Reynolds
Conway,
Massachusetts
Tháng
Mười 1983
08-06-2007
08:32:15