NỘI
DUNG
Lời
Nói Đầu
Lời
Khai Lộ
.
LỜI
NÓI ĐẦU
Dù
dạy những tôn giáo Á châu ở Smith College hay xuất hiện tại
những cuộc hội thảo quốc tế về nghiên cứu tôn giáo,
Giáo sư Unno luôn luôn cố gắng khắc dấu sự lắng nghe sâu
xa và sự tinh tế của tâm hồn. Tự chế, tự xóa mình, và
biết đùa rất tỉnh, ông chuyển “cuộc đối thoại” giữa
hai nền văn hóa Đông-Tây thành sự nói chuyện bạn hữu,
đầy thành quả. (Hình bên phải: Giáo
sư Unno)
Trong
khi D. T. Suzuki là người đầu tiên mở tâm trí của người
Hoa Kỳ ra với Phật giáo Thiền, bây giờ với cuốn sách này
Unno giới thiệu một cách xuất sắc một niềm tin Phật giáo
khác, rất bình dân ; tức là truyền thống Tịnh Độ cổ
xưa được Pháp Nhiên và Thân Loan khai triển vào thế kỷ
mười ba tại Nhật. Tôn giáo năng động và quan trọng này
là một cái gì mà ít người Tây phương biết, cho đến lúc
này.
Thiên
tài của Pháp Nhiên và Thân Loan là họ “đã khám phá ra con
đường để đưa Phật giáo sống động vào giữa đời sống
gia đình...”, Unno nói với chúng ta như vậy. Những lời của
Thân Loan :
Mọi
người – đàn ông, đàn bà, địa vị cao hay thấp –
Không
hạn chế gì trong việc xướng lên danh hiệu A Di Đà
Khi
đi, đứng, ngồi hay nằm,
Cũng
không thời gian, nơi chốn hay điều kiện.
Cái
gì khác phân biệt niềm tin bình dân này với Thiền có tính
cách thượng lưu ? Unno trả lời bằng một trích dẫn chính
xác và tuyệt vời của Pháp Nhiên : “Trong Con Đường của
những người Thông Tuệ, người ta hoàn thiện trí huệ và
thành tựu giác ngộ ; trong Con Đường Tịnh Độ người ta
trở lại bản ngã ngu dốt của mình để được cứu vớt
bởi A Di Đà.”
Nhưng
trở lại “bản ngã ngu dốt” không phải là chuyện dễ
dàng. Trên con đường ấy, chiến đấu và khổ đau cũng đi
theo. “Tha hóa”, ông ba bị của thời hiện đại, không là
gì mới cả. Chứng cớ là Achilles của Homer, Hamlet của Shakespeare,
và “K” tương đối vô tội của Kafka. Nhân vật chính trong
Tấn Trò Đời của Dante đã hy vọng đi thẳng lên, nhưng té
ra nó phải đi xuống trước tiên. Và như vậy với tất cả
chúng ta.
Unno
nhận xét thẳng thừng : “Câu hỏi trở nên cá nhân và hiện
sinh một cách sâu xa. Tôi là ai ? Đời tôi đến từ đâu ?
Nó đang đi về đâu ? Cái gì là mục đích của đời tôi
? Tôi đương đầu với sự chết như thế nào ? Khi cố gắng
thăm dò những câu hỏi chúng ta nỗ lực tranh đấu với chính
mình, với bóng tối của mình, và với sự tự mê lầm của
mình.”
Tuy
nhiên, ở đây không có thuyết giáo. Thay vào đó, Unno cho chúng
ta những câu chuyện đau xót, đôi khi là những giai thoại
cá nhân buồn cười, và những bản dịch đơn giản mà đáng
yêu từ những bản văn thích hợp. Chẳng hạn hãy xem bài
hài cú nổi tiếng của Basho :
Tịch
lặng bao nhiêu –
Tiếng
kêu của những con ve
Chìm
vào trong đá núi.
Bài
thơ này, Unno nói, “chỉ ra một sự việc xảy ra ở mức
độ sâu thẳm nhất của đời sống, hợp nhất tiếng kêu,
đá, nhà thơ và vũ trụ thành một kinh nghiệm phi thường.”
Nắm sự can đảm của mình trong bàn tay và với cảm hứng
về Basho tràn đầy nơi mình, từ đó Unno viết thành một
bài hài cú thấu suốt một cách sâu xa theo cách của mình
:
Buồn
phiền bao nhiêu –
Tiếng
kêu của đại bi chân thật
Chìm
vào bản ngã cứng rắn của tôi.
Người
ta liền nhớ đến những dòng này từ Helen của Euri-pide trong
bản dịch của J. T. Sheppard :
Tôi
đã giặt những chiéc áo dài màu đỏ của tôi
Và
trên những cây cối xanh tươi
Trong
những bãi cỏ đầy hơi mát
Vũng
nước óng ánh mập mờ
Để
ánh mặt trời vàng làm khô ráo,
Khi
tôi nghe một tiếng nói, một tiếng kêu ;
Một
tiếng kêu như thế như điều trục trặc
Hòa
với âm nhạc vui tươi của cây đàn tôi :
Và
tôi tự hỏi cái gì
Là
nguyên nhân của điệu nhạc xa lạ đó,
Rất
buồn tuy rất rõ ràng lạ lùng.
Một
số câu Kinh thánh trả lời khá rõ :
Một
tiếng nói cất lên “Hãy kêu khóc !”
Và
tôi nói, “Tôi sẽ kêu khóc điều gì ?”
“Tất
cả thịt xương là cỏ chăng ?”
Chắc
chắn nhân dân là cỏ.
Bài
giảng của Rudolph Steiner Về Cái Xấu (giảng tại Berlin trong
mùa đông tối tăm của Thế Chiến Thứ Nhất) biện luận
rằng “Gốc rễ của mọi cái xấu trong bản tánh con người
là cái mà chúng ta gọi là chấp ngã. Mọi loại bất toàn
của con người, của cái xấu từ những khuyết điểm vô
nghĩa cho đến những tội ác tệ hại nhất, có thể quy về
điểm duy nhất này.” Và Steiner tiếp tục khẳng định, một
cảm thức cảnh giác về cái ta là cần thiết cho sự phát
triển tâm linh : “Khi chúng ta đi vào thế giới tâm linh, chúng
ta phải sống với sức mạnh chúng ta đã phát triển trong
con người bên trong của chúng ta. Nhưng chúng ta không thể
có được sức mạnh này sẵn ở đó ; nó phải được chiếm
lĩnh bằng một đời sống vị tha trong thế giới vật chất.”
Thật
vậy, chúng ta như là những đám cỏ hay hoa trong cánh đồng.
Khai mở, tinh lọc, thưởng thức và hoàn mãn tự ngã con người
trong đời sống không hề lặp lại này có vẻ là một lý
tưởng tự nhiên. Nhưng sự quy ngã, ích kỷ của con người
luôn luôn là một mầm mống cho cái xấu ác ! Đó là cái nghịch
lý khủng khiếp, cái mâu thuẫn sống luôn luôn chạm mặt
mỗi chúng ta hàng ngày. Nó làm cho thế giới chạy lòng vòng,
có thể nói như vậy, và chúng ta không thể làm gì để làm
tiêu tan nghịch lý ấy. Tuy nhiên tôn giáo, chiêm nghiệm, nghệ
thuật và thi ca, cả bốn cái đó có thể giúp ta soi sáng thêm
chân trời của thực tại. Như Thân Loan hoan hỷ :
Khi
nhiều dòng sông của xấu ác
Chảy
vào đại dương của Lời Nguyện Đại Bi
Của
ánh sáng vô ngại, soi sáng khắp mười phương,
Chúng
trở thành một vị với nước của trí huệ.
Vâng,
Đông và Tây gặp nhau. Chúng đã luôn luôn gặp nhau. Vì tất
cả chúng ta là một nhân dân, một số phận ngu ngốc và tự
hủy hoại – tuy nhiên đồng thời được ban ân sủng để
sống sót.
Những
cõi trời tuyên bố sự vinh hiển của Thượng Đế
Và
bầu trời biểu lộ công việc thủ công của ngài
Ngày
tiếp ngày thốt lên lời nói
Và
đêm nối đêm tỏ bày hiểu biết.
Không
nói quá, Unno đã bộc lộ tâm can của Chân tông Phật giáo.
Giống như Thiên Chúa giáo Quaker chẳng hạn, tôn giáo của
ông không trí thức mà chiêm nghiệm, tham thiền, không tôn
ti cấp bậc mà bình đẳng bình dân. Sự trình bày đức tin
của ông vẫn trí thức vì cần thiết, nhưng đầy chất thơ
không kém. Thật vậy, nó trôi chảy trong trẻo rõ ràng, như
một dòng cá hồi ; cá hồi là tấm lòng khiêm hạ của ông.
Do đó ít ra đối với độc giả, cuốn sách của Unno vượt
khỏi mục tiêu được xác định của nó. Nó cải thiện cái
hiểu của tôi về đức tin của riêng tôi – và thậm chí
hiểu biết thêm về chính tôi.
ALEXANDER
ELIOT
VENICE,
1997
LỜI
KHAI LỘ
Theo
Phật giáo, có tám vạn bốn ngàn con đường tới giải thoát
và tự do khỏi vọng tưởng mê lầm. Sự phong phú những khả
thể này làm cho giải thoát có vẻ dễ dàng hơn, nhưng chúng
không dễ như có thể đặt hàng “giác ngộ” qua đường
bưu điện. Con đường một người theo đuổi thường không
phải do sự chọn lựa mà do những tình cờ về sự sanh ra,
hoàn cảnh, gặp gỡ và những ngẫu nhiên của số phận. Tuy
nhiên có những phút giây quyết định cho mỗi người khiến
họ có thể thay đổi toàn bộ dòng đời. Một phút giây như
vậy đối với tôi là việc tự tử chấn động của người
bạn tốt nhất của tôi. Lúc đó tôi hai mươi bốn tuổi.
Tôi
đã ở Nhật hai năm, sau khi tốt nghiệp Đại học Cali-fornia
ở Berkeley năm 1951. Tham vọng của tôi là trở thành một học
giả Phật giáo. Qua trung gian của D. T. Suzuki, người mà tôi
đã gặp trong năm cuối ở San Francisco, tôi vào Đại học
Tokyo như một sinh viên đặc biệt trước khi được nhận
vào chương trình chính quy nghiên cứu Phật giáo.
Sống
ở Nhật, vào thời gian còn khổ đau sau sự tàn phá của Thế
Chiến Thứ Hai, tôi có những xúc cảm trộn lẫn ở nơi quê
hương mới của mình. Lớn lên trong một gia đình Nhật-Mỹ,
tôi có thể dễ dàng hòa nhập với quá khứ văn hóa phong
phú của nó, nhưng không phải với lịch sử và dân chúng
đương thời. Thật khó hiểu cho đầy đủ loại khổ đau
nào cuộc chiến tranh đã đem lại cho họ. Nhưng ở tại Mỹ,
tôi cũng chưa từng thực sự cảm thấy mình đang ở quê hương.
Gia đình tôi và tôi nằm trong một trăm hai mươi ngàn người
Mỹ gốc Nhật đã bị giam trong những hàng rào dây thép gai
của những “trại tập trung” (bấy giờ Tổng Thống Roosevelt
gọi như vậy) không vì điều luật nào. Bây giờ ở Nhật
vẫn còn mất mát và rối rắm, một người lạ trong một
xứ lạ, tôi tìm cách bỏ neo. Vào thời điểm đó tôi được
Teruo kết bạn, anh này là một sinh viên xuất sắc, lớn tuổi
hơn tôi, ở Đại học Tokyo.
Tôi
cảm thấy một quan hệ thân thiết với anh, một phần vì
chúng tôi chia xẻ sự thích thú bàn luận những vấn đề
có tính triết lý. Chúng tôi so sánh những nhận xét về hai
nền văn hóa Nhật Mỹ, trò chuyện về những vị giáo sư
và về những bài học, trao đổi ý kiến về những quan hệ
nông nỗi với người khác phái, và chia xẻ những mơ tưởng
và hy vọng về tương lai. Nhưng một đám mây đen, dai dẳng
vờn trên tương lai tươi sáng của Teruo : sức khỏe yếu ớt
của anh, do bệnh lao thời trẻ. Thuốc men trị liệu thiếu
thốn vào thời đó, và thân thể anh đã bị tàn phá bởi
hậu quả của bệnh. Anh thường kiệt sức và đau nhiều.
Anh càng nản lòng khi không thể theo những yêu cầu gắt gao
của cuộc đời cạnh tranh cao ở đại học. Một ngày nghiên
cứu nhiều cần đền bù bằng hai ngày nghỉ trọn.
Khi
chúng ta kinh nghiệm đau và khổ, hỏi “tại sao ?” là điều
tự nhiên. Đó đúng là trường hợp khi một ngày nọ Teruo
hỏi tôi, “Nghiệp là cái gì trong Phật giáo ?” Ấy là hôm
trước ngày anh tốt nghiệp đại học, và chúng tôi ngồi
uống bia trong một quán nói tiếng Đức ở quận Ginza Tokyo.
Tôi không đánh giá được cảm giác sâu xa của câu anh hỏi,
và tôi liến thoắng trích ra vài lý thuyết trừu tượng mà
tôi vừa đọc, rồi vội vàng thay đổi chủ đề. Khi rời
quán về nhà, Teruo nói rằng anh có hai vé khiêu vũ vào tối
mai. Chúng tôi từ giã nhau, và tôi hẹn với anh tối mai tôi
sẽ đến. Chúng tôi có thể cùng nhau đi dự tiệc.
Hôm
sau, như đã hứa, tôi đến nhà anh sau buổi trưa. Khi gõ cửa,
mẹ của Teruo đi ra với một vẻ lo âu trên mặt. Trong tiếng
thì thầm lo lắng, bà nói, “Teruo không về nhà tối hôm qua
!” Biết rằng anh có thể đi uống suốt đêm (như đôi khi
vẫn thế) tôi bình thản trấn an bà, “Con chắc anh sẽ về
nhà sớm. Con sẽ trở lại sau.”
Vào
buổi chiều, tôi đến một tiệm mì. Tờ báo buổi chiều
vừa tới, khi tôi cầm báo lên, tôi đọc dòng chữ lớn với
nỗi kinh hoàng – “Sinh viên tự tử”. Tức khắc tôi biết
đó là Teruo. Anh đã dùng quá liều thuốc ngủ, uống với
nước ngọt, trong một khu vực của một Thiền viện phía
nam Tokyo. Anh quyết định chấm dứt đời sống có phải vì
sức khỏe tồi tệ, vì lo âu bởi sự học hành thi tuyển
hay một khủng hoảng đời người nào khác ?
Tôi
vội vàng trở lại nhà anh, hy vọng an ủi mẹ anh, bà cũng
vừa nghe những tin tức bi thảm về con mình. Sụp đổ, bà
đã mất đứa con độc nhất mà bà đã phủ trùm bằng lòng
yêu mến, bà chỉ còn biết than khóc buồn rầu tuyệt vọng.
Bà cứ khóc mãi. Dù tôi có tìm kiếm vô vọng những lời
để biểu lộ lòng thương mến của tôi và an ủi bà, tôi
không nói được lời nào.
Tối
đó tôi thức suốt đêm nhớ đi nhớ lại biến cố bi thảm.
Ba câu hỏi phóng lớn trong tâm trí tôi. Thứ nhất, tôi tự
hỏi bây giờ Teruo có hạnh phúc không, bây giờ anh có bình
an không ? Tôi nghĩ về điều này rất lâu, nhưng không có
sự trả lời nào, chỉ có sự im lặng. Thứ hai, tôi tự hỏi
tôi có thể nói gì với mẹ Teruo. Một lời nào của lòng
bi mẫn tôi có thể mang đến cho bà vì sự mất mát đau thương
này của bà ? Tôi không mong chờ những câu nói an ủi sáo
mòn mà những lời nâng cao tâm hồn thật sự. Nhưng rồi,
tôi lại không biết – chỉ có một sự trống không. Và thứ
ba, tôi nghĩ về câu hỏi của Teruo đã đặt ra cho tôi –
thực sự, nghiệp là gì ? Khi nghĩ sâu xa về nó, tôi nhận
ra rằng một câu hỏi khách quan như vậy, lại quá ít dính
dáng đến đời tôi, nó chỉ mời gọi những câu trả lời
trừu tượng, trống rỗng, cùng loại như những câu trả lời
tôi đã nói với Teruo tối hôm trước. Để có một câu trả
lời thực sự ý nghĩa, câu hỏi về nghiệp phải trở nên
cụ thể hơn : Tôi là ai ? Tôi là gì ? Đời sống của tôi
đến từ đâu và sẽ đi đâu ? Chỉ có một khoảng trống
không.
Như
thế tôi thấy mình ở nơi một ngõ cụt tuyệt đối. Tôi
không thể thay đổi quá khứ. Tôi không thể tiến lên. Tôi
không thể ở yên và tìm thấy an bình trong hiện tại. Dù
sao tôi phải tìm ra con đường thoát khỏi tình trạng bế
tắc này, nhưng tôi cảm thấy lạc lõng hoàn toàn. Tuy nhiên,
khi mọi câu hỏi và những thất vọng này lưu chuyển trong
tâm trí tôi, tôi nhớ lại câu chuyện ví von của Tịnh Độ
về hai dòng sông và con đường “trắng”. Thí dụ ấy của
ngài Thiện Đạo, vị tổ Tịnh Độ Trung Hoa thế kỷ thứ
bảy, nó nói đến tình trạng bế tắc của cuộc đời, trong
đó người ta cần đánh thức nguyện vọng giác ngộ (Bồ
đề tâm). Cuộc chiến đấu đau đớn của tôi lần lần trở
nên được sáng tỏ bằng thí dụ cổ xưa này.
Trong
thí dụ đó, một du khách đi qua một vùng hoang vu nguy hiểm.
Rồi anh ta bị bọn cướp và thú dữ đuổi theo, và anh ta
chạy trốn. Chạy về phía tây, cuối cùng anh đến một dòng
sông chia thành hai, ngăn cách nhau bởi một con đường hẹp
màu trắng. Con đường trắng rộng chỉ vài tấc nối từ
bờ gần sang bờ xa. Một bên con đường, dòng sông đầy ngọn
lửa bốc cao mấy thước ; bên kia, một dòng sông sâu chảy
mạnh đầy sóng dữ. Dù con đường trắng là khả năng độc
nhất để thoát khỏi dòng sông nguy hiểm, đó không phải
là sự chọn lựa an toàn bởi vì lửa liếm cháy và nước
ào quét. Đầy sợ hãi, du khách không thể tiến lên, không
thể trở lại, và cũng không thể đứng yên. Như lời của
Thiện Đạo, anh ta đối mặt với “ba loại chết hiểm nghèo”.
Chính
vào lúc đó, du khách tuyệt vọng kia nghe một tiếng nói ngay
phía sau bên bờ đông, thúc dục anh tiến lên trên con đường
trắng : “Hãy tiến lên chớ sợ ; không có nguy hiểm đâu.
Nhưng nếu ở lại, chắc chắn bạn sẽ chết.” Rồi anh nghe
một tiếng gọi vẫy tay từ xa : “Hãy cứ thế một lòng
đi qua. Chớ sợ những ngọn lửa và những ngọn sóng ; Ta
sẽ bảo vệ con !”
Thiện
Đạo nói cho chúng ta rằng dòng sông lửa là sân giận ; dòng
sông nước là tham luyến. Hai cái phối hợp thành một bức
tranh kỳ quặc, nhưng chúng minh họa tham và giận có thể tràn
ngập cuộc đời chúng ta như thế nào. Bờ đông là nơi du
khách gặp phải những mâu thuẫn, lưỡng nan của mình, là
thế giới mê lầm – sanh tử. Bờ tây là Bờ Bên Kia của
giác ngộ – niết bàn. Bờ bên này là vùng đất nhiễm ô,
bờ bên kia là Tịnh Độ. Nối hai bờ là con đường trắng
nhỏ hẹp. Sự mỏng manh của con đường biểu trưng sự yếu
đuối của nguyện vọng con người muốn xuyên phá sự mê
lầm bước qua giải thoát và tự do.
Bọn
cướp tượng trưng những giáo lý hấp dẫn có đầy trong
thế giới, tất cả đều hứa hẹn những lợi lạc vật chất
tức thời và sự nhẹ nhõm tâm lý. Chúng cung cấp những giải
đáp tạm thời nhưng không phải giải thoát chân thực. Những
con thú dữ là những đam mê trói buộc chúng ta ở lại bờ
bên này của vọng tưởng mê lầm. Cả hai đẩy chúng ta đi
xa khỏi con đường. Tiếng nói khuyến khích từ bờ đông
là của Đức Phật lịch sử, những giáo lý của Phật Thích
Ca ; tiếng kêu gọi vẫy tay từ bờ tây đến từ Phật Vô
Lượng Quang và Vô Lượng Thọ, Phật A Di Đà. Khi người ta
lưu tâm đến sự thúc dục của Phật Thích Ca, nguyện vọng
tiến lên trở nên thanh tịnh mạnh mẽ. Và khi người ta để
cho tiếng gọi của Phật A Di Đà nhập vào mình, nó trở nên
nhất tâm và không thể lay chuyển. Nguyện vọng giác ngộ
tối thượng này không gì khác hơn con đường trắng, bây
giờ trải rộng và an toàn, bây giờ là một lối đi mở rộng
qua những ngọn lửa của sân và những ngọn sóng của tham.
Nhưng
dù bước đầu đã bước thì sự đe dọa vẫn chưa chấm
dứt. Khi du khách tiến về phía trước, những kẻ cướp tung
ra những hứa hẹn quyến rũ và những thú dữ cho y đủ loại
cám dỗ, tìm cách gọi y trở lại bờ mê này. Nhưng được
hộ trì bởi những lời của đức Thích Ca và tiếng gọi
của đức A Di Đà, du khách không ngần ngại, tiến lên và
đạt đến Bờ Bên Kia an toàn trong vòng tay chờ đợi của
một người bạn tốt (kalyanamitra, thiện tri thức) không ai
khác hơn là Phật A Di Đà.
Khi
suy nghĩ về thí dụ, tôi thấy mình như người du khách kia,
một kẻ tạm trú trong cuộc đời với một lịch sử chìm
nổi. Thúc đẩy bởi những tham vọng giả tạo và bị những
ma quỷ bên trong theo đuổi, giờ đây tôi đối diện với
“ba loại chết chắc chắn”. Dù được an ủi khi thấy sự
bế tắc của mình được diễn tả chính xác trong thí dụ
này, nó không nói rõ cho tôi làm sao thoát ra. Tôi bắt đầu
tìm kiếm một cách vô vọng những vị thầy chỉ đường.
Khi tôi không thể tìm kiếm ai chung quanh tôi, tôi bắt đầu
đọc ngấu nghiến và hú họa văn học hiện sinh – Camus,
Sartre, Nietzsche, Heidegger – và kinh điển những tôn giáo thế
giới – văn học Phật giáo, gồm cả những bình giảng đương
thời, Bhavagad Gita, Lão tử và Trang tử, Tân Ước v.v... Một
số ích lợi cho một mức độ, nhưng không có cái soi sáng
cho mê mờ đang ngự trị. Ánh sáng chói chang ban ngày khó chịu
đựng, bóng đêm có vẻ làm nhẹ bồn chồn, rượu thực sự
làm dịu nỗi đau. Có lúc tôi nghĩ đến việc bỏ học ; lúc
khác tôi có ý trở thành một ông tăng.
Tuy
nhiên dần dà, sau những tháng bất định và bất quyết, tôi
bắt đầu tìm ra một chiều hướng còn chưa rõ ràng. Sức
nặng của nền tảng gia đình tôi – những thế hệ tu sĩ
Phật giáo Chân tông về cả nội ngoại – trở nên rõ ràng.
Cho đến lúc đó sự thích thú Phật giáo của tôi chủ yếu
vẫn mang chất học viện, hàn lâm ; thật vậy tôi ít có quan
tâm đến sự an ủi được hứa hẹn, nhất là trong hình thức
Tịnh Độ. Nhưng bây giờ tiêu điểm của tôi trở nên một
truy tìm cá nhân. Khi tôi tiến lên trên con đường trắng,
thế giới Tịnh Độ Nhật Bản mở ra. Được chào đón bởi
những vị thầy tốt và những tín đồ cư sĩ gương mẫu,
họ giúp tôi hình thành những câu trả lời, tuy còn thử nghiệm,
cho ba câu hỏi chúng đã làm dừng dòng chảy của đời tôi.
Nhưng tiến trình tìm kiếm sự an bình nội tâm không dễ dàng
bởi vì mê cung của những giáo thuyết mờ ảo và những từ
ngữ kỹ thuật tôn giáo mà tôi cần tháo gỡ. Tôi cần tinh
giản chúng đến mức chúng hòa âm với chiều hướng thực
tiễn trong bản chất của tôi. Từ lúc đó những cuộc dạo
chơi đa dạng của tôi vào những lĩnh vực triết học, tôn
giáo và tâm lý đều tập trung vào việc theo đuổi những
câu trả lời trong khuôn khổ ba câu hỏi căn bản liên quan
đến cái chết và việc chết, ý nghĩa của lòng bi chân thật
và hiện hữu nghiệp báo của tôi như một hữu hạn vô cùng.
Khi
tiến hành sự tìm kiếm của mình, tôi khám phá rằng những
câu hỏi đó không phải là riêng trong dân chúng đương thời,
bất kể có tôn giáo hay không. Vì có ai không mất một người
thân vì ung thư hay bệnh AIDS hay không từng hỏi về số mệnh
con người ? Có ai không tìm một lời bi mẫn thôi để chia
xẻ với người đang trải qua mất mát khổ đau không thể
cứu vãn ? Và có ai không tự hỏi, như Ivan Ilyich của Tolstoy
đã làm, khi anh ta hỏi vào lúc cuối của một đời người
có vẻ thành công như một lời phán xét của tòa chung thẩm,
“Là cái gì nếu toàn bộ đời sống của tôi, toàn bộ cuộc
đời ý thức của tôi, không phải là một sự việc thật
?”
Tất
cả mọi tôn giáo thế giới đều vật lộn với những câu
hỏi này, nhưng phần tôi nhờ duyên nghiệp may mắn, Phật
giáo Chân tông cung cấp cho những câu trả lời sáng tỏ, thách
thức và thường trực phát triển. Mặc dù sự giàu có những
khả năng chúng ta có thể có trong tám vạn bốn ngàn con đường
đến giác ngộ, chính là nhờ gặp phải những khó khăn lớn
lao và đi đến một ngõ cụt không thể tưởng – như du khách
kia – mà chúng ta khám phá những con đường cho cá nhân chúng
ta. Truyền thống Tịnh Độ đã là con đường của tôi. Chính
là kinh nghiệm cá nhân của tôi mà tôi muốn chia xẻ với
những người có thể chưa quen lắm với chiều sâu, viễn
cảnh và sự phong phú của sự bày tỏ đầy ý nghĩa này của
Phật giáo. Để bắt đầu chúng ta cần vạch ra ngắn gọn
sự tiến hóa của Phật giáo Tịnh Độ.