.
SỐNG HẠNH PHÚC -
CHẾT BÌNH AN
The Joy
of Living - Dying in Peace
Ðạt
Lai Lạt Ma thứ 14
Dịch:
Chân Huyền
CHƯƠNG 8
TRÍ TUỆ
Tất
cả các pháp hành trì đã nói trong các chương trước đây
như bố thí, tinh tấn, nhẫn nhục v.v... là giáo pháp Bụt
Thích Ca đã dạy chúng ta để đạt được trí tuệ. Trí tuệ
hay hiểu biết có nhiều ý nghĩa, nhưng nơi đây chúng ta bàn
tới trí tuệ về tánh Không, sự hiểu biết về thực tại.
Thầy Long Thọ (Narajuna) của xứ Ấn Ðộ đã dạy:
"Tôi
xin xưng tán Bụt đã dạy cho những giáo pháp tuyệt vời:
Duyên khởi, Không cũng như Trung đạo, Nhân duyên, tất cả
đều cùng một ý nghĩa".
Bụt
là người có rất nhiều tướng tốt, đức tính và ngôn từ
của ngài đều tuyệt diệu. Nhưng trong câu trên đây thầy
Long Thọ muốn ca tụng trí tuệ của ngài. Thầy muốn nói
rõ là khi có trí tuệ ta sẽ hiểu tánh Không, thuyết Duyên
khởi và Trung đạo, tất cả đều có nghĩa tương đồng.
Có nhiều lý do quan trọng về chuyện này. Giáo lý duyên khởi
có nhiều hàm ý rộng rãi, đại cương là mỗi vật hiện
hữu đều tùy thuộc vào nhiều nguyên nhân và điều kiện
khác nhau. Tỷ dụ niềm vui, nỗi khổ của chúng ta phát khởi
lên, tùy thuộc vào những nhân duyên đặc biệt nào đó. Vì
muốn được an lạc, chúng ta phải tìm hiểu những nhân duyên
của hạnh phúc và đem ra thực tập. Không muốn đau khổ thì
ta tìm hiểu nguyên nhân gây ra đau khổ và loại trừ chúng
đi. Ðó là ý nghĩa của giáo lý Tứ Diệu Ðế là bài giảng
chuyển pháp luân đầu tiên của Bụt: có khổ và nguyên nhân
gây ra khổ; có thể dứt khổ và có con đường diệt khổ.
Ðiều chúng ta thực sự cần là hạnh phúc. Khi còn trong vòng
luân hồi, ta có thể có hạnh phúc nhưng nó không bền vững,
ta thực sự mong có được an lạc vĩnh cửu. Xa lìa vĩnh viễn
khổ đau chính là hạnh phúc bền vững. Ðó là mục tiêu ta
muốn đạt tới và Ðạo là con đường giúp ta hoàn thành
ý nguyện này.
1.-
HIỂU
BIẾT VỀ VÔ NGÃ
Mọi
sự đều do duyên khởi mà hiện hữu, kinh điển đạo Bụt
không bao giờ nói tới cái ngã độc lập. Không có hạnh phúc
hay đau khổ nào mà không liên hệ tới nhiều nhân duyên. Kinh
điển cũng không khẳng định có một đấng sáng tạo ra vũ
trụ. Quả quyết về một đấng sáng tạo hay về một cái
ngã riêng biệt là trái với lý duyên khởi - mọi sự đều
do nhân duyên mà thành. Khi ta công nhận mọi sự vật đều
do duyên khởi, thì ta không thể chấp nhận một cái ngã bất
biến, hoàn toàn và độc lập được. Như vậy, nếu ta chấp
nhận có một đấng sáng tạo ra toàn thể vũ trụ thì thật
phi lý.
Một
hiện tượng không có tự tánh, vì nó hiện hữu tùy thuộc
nhiều nhân duyên. Nó cũng tùy thuộc vào các thành tố, tùy
vào khái niệm và tên người ta đặt cho nó. Tuy nhiên, vật
thể tuy không có tự tánh nhưng không phải là nó không hiện
hữu, nó hiện hữu vì có nhiều nhân duyên tập hợp, tùy
vào những nhân duyên đó nó biểu hiện ra, nên chúng không
có tự tánh độc lập. Ðiều này chứng minh KHÔNG cũng có
nghĩa là Duyên khởi. Hiểu như vậy ta không bị rơi vào cực
đoan của chủ thuyết Hư vô (Không có gì hết). Khi nói rằng
mọi vật do duyên khởi mà thành, ta hiểu chúng không có tự
tánh độc lập và ta không bị vướng vào quan niệm thường
hằng bất biến. Vậy nên Không, Duyên khởi và Trung đạo
có cùng một ý nghĩa.
Vì
mọi hiện tượng đều trống rỗng, không có tự tánh, những
cảm thọ bất an trong tâm ta cũng không có tự tánh, không
phải do bẩm sinh mà có. Nó không hiện diện ngay từ đầu,
nó phát khởi vì những ý nghĩ tiêu cực nên kết cục nó
cũng có thể bị loại trừ. Nguyên thủy, tâm ta sáng láng
và tỉnh thức, đó là những tính chất nguyên thủy của tâm.
Sân si và tham đắm chỉ khởi lên lúc nào hội đủ vài điều
kiện, nên chúng cũng có thể bị loại trừ. Trong bản chất,
tâm ta có khả năng xả bỏ vọng tâm và nuôi dưỡng chân
tâm hay Phật tâm.
Trong
số các đệ tử của Bụt, có nhiều loại người, nhiều
ý hướng khác nhau. Bụt hiểu như vậy nên ngài giảng dạy
Phật pháp theo nhiều trình độ khác nhau. Do đó chúng ta có
thể thấy hầu như có chút khác biệt giữa các kinh điển.
Vì thế, lời dạy của Bụt có thể được xếp thành loại
kinh điển "đủ nghĩa" hay loại kinh "cần diễn nghĩa". Trong
các bài giảng "đủ nghĩa", chúng ta có thể chấp nhận nguyên
văn lời Bụt dạy; nó khác với những bài giảng mà ta cần
tìm hiểu ý Bụt về sự hiện hữu của mọi vật.
Chẳng
hạn như trong cuốn kinh "Kho tàng trí huệ" (Treasure of Knowledge),
kích thước của mặt trời và mặt trăng được tả bằng
một nửa chiều cao núi Meru, ngọn núi được coi như trục
trái đất thời đó. Theo đo lường thời xưa, nó vào khoảng
400 dậm. Kinh điển nói tới mặt trời và mặt trăng mà ngày
nay khoa học đã đo được rõ ràng. Trong kinh đó, quan niệm
về đo lường khác với khoa học thực nghiệm, và ta cũng
phải công nhận sự đo lường trong kinh sai với kiến thức
khoa học thời hiện đại. Dù kinh là do Bụt dạy, mà ngài
là vị thầy rất khả kính, trường hợp này ta không thể
công nhận "nguyên văn" lời kinh như vậy. Ta phải diễn giải
ý nghĩa kinh theo mục tiêu và ý nghĩa mà Bụt muốn giảng
dạy lúc đó.
Cũng
trong kinh đó, tâm của ta khi chết được coi như có tính thiện
và có tính bất thiện. Nhưng trong sách "Trí huệ trích yếu"
(Compendium of Knowledge) lại nói tâm lúc chết trung tính, không
tốt không xấu. Cuốn "Du Già Mật Tông Cao Cấp" thì dạy rằng
chúng ta có thể thực tập các tính thiện ngay khi sắp chết.
Những lý giải này không giống nhau, ta khó dùng lý trí để
làm cho các kinh sách đó hòa hợp với nhau được. Khi thấy
sự khác nhau nho nhỏ như vậy, ta nên nhớ là các bài giảng
trong sách Mật tông rất chú trọng vào các biểu hiện của
tâm, gồm nhiều trình độ từ thô đến vi tế. Sách cũng
giải thích cho ta biết cách để quán vào nhiều từng lớp
của tâm. Nhiều quá trình thực tập Yoga có thể được chứng
minh bằng lý luận hay bằng sự chứng nghiệm của chính mình.
Vậy nên khi dùng những kinh sách Mật tông làm căn bản, ta
phải hiểu rằng những dữ kiện trong kinh điển của hệ
phái khác cần phải được giải thích chứ không thể chấp
nhận nguyên văn.
Ngày
nay trong khoa học có nhiều ngành như thiên văn, thần kinh,
tâm lý, vật lý hạt nhân, là những ngành học do kết quả
của nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm. Những ngành
này có nhiều khám phá rất gần với giáo pháp của Bụt.
Tôi nghĩ rằng, do dó, các nhà trí thức Phật tử và các triết
gia cần làm quen nhiều với những ngành khoa học này. Trong
khi đó cũng có nhiều điều khoa học không chấp nhận. Có
hai lý do: có thể vì những thứ đó không hiện hữu - hoặc
sự hiện hữu của những thứ đó chưa được chứng minh.
2.-
CHUYỂN
MÊ SANG NGỘ
Chúng
ta không thể chấp nhận kinh điển chỉ vì đó là lời Bụt
dạy, mà ta phải phân tích để tìm hiểu ý nghĩa và mục
tiêu của bài giảng, rồi đem diễn giải. Ta cần nghiên cứu
kỹ lưỡng những gì được nhấn mạnh nhiều lần trong Phật
pháp.
Có
nhiều phương pháp nghiên cứu, vì ta dùng tâm để nghiên cứu
nên ta phải có một trí óc sáng suốt, không lầm lẫn về
đối tượng nghiên cứu. Làm được như vậy mới đáng tin
tưởng. Ta không thể căn cứ vào những kết qua nghiên cứu
do một bộ óc lầm lẫn và đáng nghi ngờ đưa ra. Không giống
như các cuộc nghiên cứu những đối tượng như ngoài đời,
khi ta tìm hiểu tâm thức thì mục tiêu số một là ta phải
đi tới sự chuyển hóa tốt đẹp. Ta phải tìm ra cách chuyển
hóa tâm vọng động, vô kỷ luật thành tâm thanh tịnh, an
bình. Ðó là lý do trong đạo Bụt có rất nhiều bài bình
giảng về tánh chất của tâm, về các tâm hành. Cũng có rất
nhiều những bài giảng chi tiết về các trạng thái của tâm
thức khi nó chuyển đổi từ tình trạng mê vọng tới trình
độ tâm sáng suốt, tỉnh thức.
Tiến
trình chuyển hóa từ mê sang ngộ, nhìn sâu hơn vào tự tánh
các pháp, diễn ra từ từ. Khởi đầu, chúng ta có thể quan
niệm hoàn toàn sai lạc về thực tại. Sau khi quán chiếu,
dần dà ta hiểu được những duyên do khiến ta phải thay đổi,
từ hoàn toàn mê lầm thành ra lúc nghi, lúc lầm. Ta bắt đầu
nghĩ sự vật có thể thế này, cũng có thể thế kia. Quán
chiếu sâu hơn nữa, ta tiến tới chỗ nhận biết những mê
lầm của mình khi trước. Tuy nhiên phải lâu hơn nữa trí
ta mới từ từ có thể rút ra được kết luận xác đáng.
Thiền quán về những gì ta đã hiểu, sẽ làm quen với những
điều đó. Vì ta đã thông suốt được với các pháp và tâm
thức ta trở thành trí tuệ. Ðó là phương pháp luyện tâm.
Khi
tâm trí ta quán chiếu như vậy, trước hết ta cần biết rằng
mọi sự vật đều có một cách hiện hữu tự nhiên và bẩm
sinh. Khi tâm bắt đầu quán chiếu nó đi tìm bản chất của
thực tại. Thực tại hay chân như không phải là thứ tâm
ta mới chế tác ra. Ði tìm ý nghĩa thực tại tức là tìm
chân lý, tìm bản chất sự hiện hữu của các pháp. Muốn
hiểu được đối tượng bên trong hay bên ngoài, ta đều phải
hiểu cách nó sinh tồn và hoạt động - tức là cái logic của
chân như. Chúng ta quán chiếu vào chân như các pháp. Chẳng
hạn như đối với tâm trước hết ta phải nhận biết những
vận hành tự nhiên của nó. Ta cần phân biệt được tâm
trong sáng và những biểu hiện của vọng tâm khi có tham đắm
khởi lên.
Ta
có thể quán chiếu một cách khác, như quan sát các kinh nghiệm
hàng ngày. Buổi sớm nếu ta cảm thấy buồn phiền, thì cái
buồn đó có thể ảnh hưởng lên các cảm thọ khác suốt
ngày hôm đó, dù cho nó không phải là duyên trực tiếp: vì
buồn buổi sáng nên ta khó chịu buổi chiều. Trong thế giới
vật chất, khi có hai chất hợp nhau tạo ra chất thứ ba, chất
sau này có thể không giống những tính cách đặc biệt của
hai chất đầu. Ta có thể quan sát chuyện này dễ dàng trong
các ngành hóa học. Nếu buổi sáng cảm thấy buồn hay rất
vui, thì suốt ngày ta cảm thấy dễ buồn hay dễ vui hơn ngày
khác (tùy theo cảm xúc đầu ngày). Vì khi đã buồn thì tâm
dễ bị động. Khi đã vui thì dù có người nào làm lỗi,
bạn cũng coi nhẹ và bỏ qua dễ dàng. Bạn thấy rõ ràng những
xúc động trong tâm ta tùy thuộc vào nhiều nhân duyên mà thay
đổi. Hạnh phúc giúp ta coi những phiền trược nhẹ nhàng
hơn, trong khi khổ đau khiến chúng ta trở nên hẹp hòi, dễ
nổi giận hơn.
Sự
thật là vạn pháp đều do tâm khởi. Như thế không có nghĩa
là mọi sự vật do tâm khởi đều hiện hữu. Chẳng hạn
do tâm, ta có thể tưởng tượng ra sừng con thỏ, mà trong
thực tế thì thỏ không có sừng. Nếu mọi thứ trong tâm
đều hiện hữu thì phải có sừng thỏ thiệt. Ta cần biết
xem các pháp hiện hữu cách nào? Vì vạn pháp không thể thay
đổi luật biến hóa tùy theo tâm của ta, nên ta phải theo
tiến trình của chúng và chuyển hóa tâm ta cho khỏi kình chống
với các biến hóa đó. Như vậy, ta có thể sống hạnh phúc
hơn và giảm bớt được đau khổ.
Vì
cái giận gây ra phiền não nên ta biết nếu không giận thì
tốt hơn. Vì lòng từ bi tạo ra hạnh phúc nên ta thấy cần
phát triển tâm thiện này. Sân hận và từ bi là hai thái cực
trái ngược nhau, không thể cùng hiện hữu. Vì đó là hai
trạng thái tâm đối nghịch nhau, nếu ta cố gắng phát triển
và nuôi dưỡng tâm từ bi thì tâm sân hận sẽ yếu đi. Ðó
là phương pháp chúng ta theo để tu tập tâm linh. Chúng ta cố
gắng nuôi dưỡng lòng từ bi vì nó mang hạnh phúc tới và
xả bỏ sân hận vì nó mang lại đau khổ. Quán chiếu như
thế rất là quan trọng.
Chúng
ta đi tìm chân lý và chúng ta có thể đạt được niềm tin
vào chân lý qua sự phân tích và tìm hiểu. Nhà phê bình trứ
danh người Ấn chia Phật tử làm hai loại: những người rất
thông minh chỉ học Phật pháp sau khi thấy nó có nghĩa lý
và những người kém thông minh theo học vì có tín tâm. Loại
trên tìm hiểu ý nghĩa những lời giảng, Họ dùng lý trí
để tìm xem giáo pháp có chứa những điều thiếu hợp lý
chăng? Khi họ đã hài lòng, thấy các bài pháp không vô lý
và không bất nhất mà lại có nền tảng vững chắc, thì
họ sẽ tin tưởng và có hứng khởi theo học dù cho họ chưa
hiểu thấu ý nghĩa kinh điển cho lắm. Trong giáo pháp này,
thường người ta dùng lý luận để loại bỏ những tâm thức
sai lầm. Ai nghi ngờ một chủ đề nào đặc biệt đều có
cơ duyên dùng lý trí tìm hiểu. Vậy nên tôi thường khuyên
những người muốn trở thành Phật tử là trước tiên nên
có thái độ bi quan.
Trong
đời sống, chúng ta có vô số hoạt động và nhận rất nhiều
dữ kiện qua ngũ quan. Chúng ta có khuynh hướng coi những sinh
hoạt và hiện tượng ta gặp như những sự thật tuyệt đối.
Nói khác đi, chúng ta lầm tưởng, cho là mọi sự hiện hữu
giống như hình tướng ta nhận thấy. Sự trái chống nhau giữa
các pháp hiện bày và bản chất thực của chúng là nguồn
gốc gây ra nhiều vấn đề cho ta. Cuối cùng, khảo sát sự
khác biệt đó và tìm hiểu về thực tại, về chân như là
đầu mối của các triết thuyết trong Phật giáo. Sự hiện
hữu chân thực của các pháp có thể hiểu được qua những
phân tích, quán chiếu và thực tập.
3.-
BỐN
PHÁP ẤN
Tất
cả các tông phái Phật giáo đều công nhận bốn dấu ấn
của Phật pháp: vạn pháp đều vô thường, những gì bất
tịnh đều khổ, mọi hiện tượng đều không có tự tánh
(vô ngã) và Niết bàn là sự tịch tĩnh. Tất cả các hiện
tượng ngay từ khi mới khởi sanh, đều có bản chất thay
đổi vô thường không lúc nào yên. Ðó là do nhân quả không
vì lý do nào khác. Mọi sự do duyên khởi đều vô thường,
thay đổi, không tồn tại vĩnh viễn mà liên tục tàn hoại.
Tính cách vô thường này đã được các chứng nghiệm khoa
học xác nhận. Những hiện tượng tập hợp và vô thường,
nói chung đều do nhân duyên tạo ra. Chúng ta đặc biệt quan
tâm tới bản chất của thân và tâm, những phần tử tạo
nên con người chúng ta. Ðó là những nghiệp quả của các
cảm thọ bất an và hành nghiệp ô nhiễm, bất tịnh. Vậy
nên người ta nói thân tâm là những thứ lậu hoặc (bất
tịnh). Những cảm thọ phiền não bị chỉ huy bởi vô minh
và cái thấy sai lầm về tự tánh. Ðối tượng của si mê
và bất an là khổ, khi thoát được những bất an đó thì
được hòa bình. Vậy nên có câu: những gì bất tịnh đều
khổ. Câu hỏi là chúng ta có bị khổ não vô tận hay không?
Pháp ấn thứ ba nói rõ là không có cái khổ vĩnh cửu vì
vạn pháp đều trống rỗng, không có tự tánh. Ðó là thực
tánh của vạn pháp, tuy bề ngoài chúng hiện ra những thứ
có tự tánh vậy. Khái niệm vạn pháp có tự tánh là một
khái niệm sai lầm, không có nền tảng. Chúng ta có thiên kiến
sai lầm này vì lâu nay có thói quen suy tưởng như thế, Nếu
nay chúng ta cố gắng để hiểu ý nghĩa của tánh "Không" và
bản chất của vô ngã, ta có thể phá được tà kiến và
có cái thấy chân thật về bản chất của các pháp. Nguyên
nhân của những tà kiến đó - những cảm thọ bất an - là
thứ có thể bị loại trừ. Ta cũng có thể bỏ được mê
lầm và tri kiến sai lạc về tự tánh các pháp. Khi chúng ta
loại trừ được những nguyên nhân lậu hoặc này, ta sẽ
đạt được sự an vui. Vậy nên Niết bàn là hòa bình thật
sự, thứ hòa bình không lọc lừa, giả dối.
Nền
tảng của tất cả giáo pháp và các phép tu Phật giáo là
nguyên lý Duyên khởi. Tại sao? Trước hết sự tu tập có
được cũng nhờ nhiều nhân duyên. Tu tập để thấy được
thực tại, hiểu được sự hiện hữu trống rỗng của các
pháp. Mọi sự đều nương vào nhau mà có mặt, không có cái
gì có tự tánh hay hiện hữu hoàn toàn độc lập. Hiểu thuyết
duyên khởi rồi, ta sẽ có cái thấy mới mẻ về tánh Không,
để có thể phát triển và quảng bá triết thuyết này. Thứ
hai, biết mọi sự đều tùy thuộc vào các pháp, ta sẽ hiểu
được rằng niềm vui nỗi khổ của ta đều là kết quả
của các hành động do chính mình làm. Tương tự như thế,
đa số các hành nghiệp của ta cũng có ảnh hưởng tốt hay
xấu vào người khác. Nếu ta không để tâm tới họ, ta sẽ
thua thiệt. Ngược lại. ta cũng được lợi lạc. Ðó là những
lời giảng căn cứ vào thuyết duyên khởi, các lối sống
Phật giáo cũng dựa vào thuyết này. Người Phật tử hành
sử bất bạo động không làm hại ai. Quan niệm vô ngã và
các phép tu tập đều có nền tảng của thuyết Duyên khởi.
"Không"
là một cách diễn giải khác của lý Duyên khởi. Theo lý luận
của thuyết này, bạn có thể hiểu được rằng, các pháp
đều không có hoặc thiếu tự tánh độc lập. Do bối cảnh
các hiện tượng đều nương nhau mà có mặt nên mới có liên
hệ tất yếu giữa nhân với quả. Và do đó, chúng ta mới
tham gia vào việc hành trì các tính thiện như từ bi, thương
yêu, bố thí, nhẫn nhục, trì giới và tinh tấn, thiền định.
Những
tâm sở như tham, sân là do khái niệm sai lầm về sự hiện
hữu riêng biệt của sự vật. Khi ta nuôi dưỡng cái tâm chỉ
chú ý vào vô ngã, nó sẽ đối đầu được với vọng tưởng
sai lầm về thực tại, do đó tham đắm hay sân hận sẽ tự
động yếu đi. Những tâm thiện như từ bi, thương yêu có
thể phát triển, không cần sự yểm trợ của vô minh và cái
thấy sai lạc về thực tại. Khi ta thực tập về Không phối
hợp với các phương tiện thiện xão của tâm tỉnh thức,
thì hai thứ này phối hợp với nhau và làm cho khả năng tâm
thức ta được gia tăng. Dần dà, tâm hiểu biết về tánh
Không của một đối tượng, sẽ thoát được tính phân biệt
và các khái niệm, để trực tiếp thấy được tánh Không.
Khi ta đã quen tu tập theo lối này, ta sẽ ngừng được các
mê vọng, lầm lỗi để vào cõi thanh tịnh. Trạng thái tĩnh
lặng chấm dứt được hết các vọng tưởng, đạt tới chân
tướng Phật tánh.
Ðể
vượt thoát được tâm bất an, ta cần phát triển cái thấy
về Không. Khi nào bạn còn tưởng thân tâm của mình là những
thứ có tự tánh, bạn còn khái niệm sai lầm về ngã. Chấp
ngã một cách sai lạc, khiến bạn tích lũy thêm nghiệp xấu
và những nghiệp dĩ này đưa tới kiếp sau. Muốn đạt tới
Niết bàn, thoát khỏi luân hồi, bạn cần trau dồi chánh kiến
về Không. Những người tu cho chính mình cũng cần phải đạt
tới cái thấy về Không. Muốn như vậy, bạn phải nuôi dưỡng
tâm mình sao cho luôn được an tịnh. Trong nhiều loại Trí,
bạn nên đặc biệt chăm sóc cái trí đối trị được những
cản trở của tánh giác. Thực tập ngũ giới là những ảnh
hưởng đầu tiên lên Trí đó. Những phương tiện tu luyện
đều được dạy để tiến tới quả vị Bụt. Tất cả giáo
pháp của Bụt đều căn cứ vào thuyết Duyên khởi, và mục
tiêu của nó là thoát khổ.
Chỉ
thấy tánh Không chưa đủ, bạn cần phải tập thật sự làm
quen với nó. Bạn nghĩ về ý nghĩa của Không và quán chiếu
sự vật trong cái thấy đó. Chẳng hạn quan sát một đám
đông, chắc ai cũng mong có hạnh phúc, tránh được khổ đau.
Nhưng gương mặt họ diễn ra vô số những diện mạo khác
nhau, tùy nhân duyên của mỗi người. Không có sự vật nào
có tự tánh, dù mọi thứ đều hiện ra như có tự tánh vậy.
Vì thế, giữa thực chất và hình tướng của mọi vật có
sự khác biệt.
Khi
bạn hiểu như vậy, bạn sẽ thấy mọi thứ chỉ như giấc
mộng hay ảo ảnh. Bạn sẽ biết quý cái "Không có bản chất"
đó của mọi pháp và bạn có thể giảm thiểu được tham
đắm và sân hận. Vì vạn pháp đều không, nên không có gì
mất hay còn, được hay thua. Ðạt Lai Ðạt Ma thứ 7 khi giảng
về bản chất thực tại đã nói rằng các thứ: "Sắc, thanh,
hương... biểu hiện ra vì có sáu giác quan (lục căn). Dù bề
ngoài, ta thấy bao nhiêu cảnh sắc đẹp đẽ phong phú, nhưng
thực chất của nó không giống bên ngoài. Ðối với tâm bạn,
mọi thứ đều hình như có tự tánh, đó là vì tâm bạn bị
ngăn che, si mê. Chúng ta cần phải hiểu như vậy, và do đó
biết rằng những gì hiện ra trong tâm ta đều do cái Si đầy
quyền lực in ấn lên tâm ta. Khi có một ảnh tượng nào hiện
ra trong tâm, mà ta biết thực ra nó không hiện hữu như hình
tướng ta thấy, thì ta sẽ không bị thất vọng".
Khi
ta đối diện với cảm thọ vui hay buồn mà nhìn thấy được
thực chất của nó, thì có cái gì để ta sung sướng hay thất
vọng đâu? Ta vướng mắc với ai và tại sao ta lại vướng
mắc? Ta thường cho là người này ở trên, kẻ kia ở dưới,
bạn thì thân tình, kẻ thù thì dễ ghét... Nhưng chính ta,
ta nên coi tất cả họ đều là giấc mộng, là ảo giác, và
ta nên có thái độ bình đẳng với mọi người. Như vậy,
không phải là ta không biết phân biệt tốt xấu hay những
điều đó không hiện hữu. Dù thông thường ham muốn được
coi là xấu, nhưng mong đạt tới Niết bàn cũng là một ham
muốn vậy. Theo ước lệ, Niết bàn là thứ nên tiến tới
trong khi cõi luân hồi là thứ nên bỏ đi. Vậy nên ta cần
quán về Không. Và ta phải hiểu là không nên nhìn Niết bàn
hay Ta bà là những gì hiện hữu thật sự và có tự tánh
độc lập. Chúng ta có bạn và kẻ thù, những người tạo
phúc lợi cho ta được gọi là bạn, những người làm hại
ta gọi là kẻ thù. Gọi là kẻ thù hay bạn không có gì hại,
điều có hại là ta bị vướng mắc vào người mà ta gọi
là bạn - họ thế nào ta cũng vẫn thương. Ta cũng sẽ lầm
lẫn nếu ta luôn luôn giận ghét kẻ thù, coi họ là người
hoàn toàn xấu ác. Thái độ đó là sai lầm. Hiểu được
mọi chuyện đều hiển hiện ra như vậy là do nhiều nhân
duyên kết hợp, ta sẽ coi mọi thứ đều huyền ảo như giấc
mộng.
Chúng
ta mong được hạnh phúc và coi mình là một thực thể có
tự tánh riêng biệt. Quan niệm sai lầm này làm cho ngã chấp
ta nặng thêm. Những thái độ chấp ngã này tiềm ẩn tự
nhiên và thoải mái trong tâm chúng ta, chúng ta luôn luôn nương
tựa và cúi đầu trước những tự ái đó như trước một
vị thầy khả kính, và chúng ta vui lòng để nó ngự trị
trong tâm ta. Hãy nhìn lại coi dấu vết của nó trong những
tình huống chúng ta đã sống, đã trải qua. Chư Bụt coi những
thái độ chấp ngã đó là kẻ thù khó chịu nhất. Các ngài
chiến đấu thắng được nó nên đạt tới giải thoát.
Một
số quý thầy Kalampa nói về các thái độ chấp ngã như sau:
"Dù cho toàn thể con người tôi bị ép dưới sức mạnh của
khổ đau, tôi sẽ cố gắng dùng răng cắn vào các chấp ngã
và xé chúng ra thành từng mảnh". Các ngài cũng thách đố
chúng: "Ta nhìn thấy ngươi rồi, ngã chấp ơi! Mi mang tới
cho ta bao nhiêu vấn đề, ta phải đánh bại mi, bẻ cổ mi
mới được!".
Thái
độ chấp ngã này cùng với quan niệm sai lầm về tự tánh
các pháp luôn luôn mang đau khổ tới chúng ta. Vì vậy cho nên,
dù ta luôn mong cầu có hạnh phúc, ta vẫn gặp toàn vấn đề
khó khăn và đau khổ. Từ đầu, chúng ta đã sống như vậy.
Có thể chúng ta đã sanh ra làm vua trời trong một kiếp nào
đó, nhưng trong trường hợp ấy, cái ngã chấp cũng vẫn nằm
sâu trong tâm thức ta. Vậy nên ta không có hạnh phúc lâu bền.
Trong cõi luân hồi, ta không có niềm vui vĩnh hằng vì chấp
ngã và khái niệm sai lầm về tự tánh.
Vì
chấp ngã, chúng ta bị quay liên tục trong vòng luân hồi. Dù
có khi ta được hưởng sự an lạc tạm thời, nhưng nếu vô
ý đi lầm đường, bị đọa vào những cõi thấp kém hơn,
thì ta lại gặp toàn đau khổ. Những người tự coi là Phật
tử thuần thành thì thọ các giới luật, thường cho mình
là người hành trì tinh tấn. Nhưng nếu sự thật bạn vẫn
bị chấp vào ngã và hiểu sai về tự tánh các pháp, bạn
sẽ lầm tưởng mình là con người đặc biệt. Bạn hành sử
giống như một người chuyên cứu giúp người và đứng đó
để làm chỗ nương tựa cho kẻ khác. Tự mãn như thế, bạn
sẽ bị tái sanh vào chỗ không tốt sau này.
4.-
TÔI
NGUYỆN GIÚP ÐỜI
Phương
pháp thoát khổ là hiểu và quán chiếu vào tánh cách rỗng
không, không có tự tánh của các pháp. Nếu bạn coi trọng
pháp này, bạn sẽ được lợi lạc, sẽ đạt tới giải thoát
và giác ngộ. Trước hết là Văn: bạn phải nghe giảng về
pháp, rồi Tư và Tu: học hỏi và quán chiếu. Bạn rán để
hiểu được những căn bản của phép tu, và coi những điều
giảng đó là những lời khuyên quý báu. Kiến thức mà thôi,
không có ích lợi gì, bạn phải chuyên tâm tu tập. Khi nhập
thất, nếu bạn chỉ ở trong căn phòng nhỏ để sống thoải
mái và tiện nghi thì không phải là kiên trì tu học. Bạn
phải thực tập nghiêm chỉnh thật sự.
Tôi
nghe nói có những thiền sư ngồi thiền rất đẹp và rất
lâu, nhưng họ hầu như không có tình cảm ấm áp đối với
các thiền sinh. Tâm họ không cảm được những khổ đau hay
an lạc của các chúng sanh khác. Có thể đó là vì họ luôn
luôn thiền quán trong sự buông lơi. Khi quá buông lung tâm ý,
họ không còn sáng suốt hay nhạy cảm nữa. Hoặc là thay vì
quán về sự trống rỗng của tự tánh, họ lại quán về
cái trống không hư vô nên mới không có cảm xúc?
Khi
tu tập mà ta biến thành người không có trái tim, không quan
tâm tới an vui, đau khổ của kẻ khác thì lối tu đó không
tốt. Vậy thì, không phải chỉ trong lúc thiền quán mà sau
đó nữa, bạn nên luôn luôn có chánh niệm và tỉnh thức
về ngũ quan của bạn. Luôn luôn quán chiếu tâm mình, khi quán
về tâm tỉnh thức chẳng hạn, bạn nên ca ngợi các tính
thiện của người khác, dấu những đức tính của mình đi.
Bạn cần nuôi dưỡng tín tâm cho mạnh và quán sát các hành
nghiệp thập thiện. Nên tránh các sinh hoạt bất thiện và
ồn ào, nên học hỏi và quán chiếu về ý nghĩa các lời
kinh và làm việc để giúp ích chúng sanh.
Tôi
xin kết luận bằng mấy câu trong kinh Shantideva mà tôi thường
tụng hằng ngày:
Khi
còn thế giới,
Khi
còn chúng sanh.
Tôi
nguyện đời mình,
Giúp
người bớt khổ.
