.
SỐNG HẠNH PHÚC -
CHẾT BÌNH AN
The Joy
of Living - Dying in Peace
Ðạt
Lai Lạt Ma thứ 14
Dịch:
Chân Huyền
CHƯƠNG THỨ
4
CUỘC SỐNG
TỈNH THỨC
Tôi
thấy rằng con người nuôi dưỡng tâm tỉnh thức (hay tâm
chánh niệm) là nguồn gốc của tất cả mọi hạnh phúc. Ðó
là con đường đáp ứng và thỏa mãn được mục tiêu của
đời ta và của mọi chúng sanh. Làm sao chúng ta bỏ qua được
chuyện này?
Những
người trong chúng ta muốn đi theo con đường của Bồ tát
là những con người có tinh thần trách nhiệm cao: muốn giúp
cho mọi loài trong vũ trụ được an vui. Chúng ta cần học
hỏi những giới luật khác nhau, cần biết nên thực tập
cách nào và tránh những lỗi lầm ra sao? Thực hành được
như vậy chưa đủ, chúng ta cần phải sống đời hàng ngày
sao cho thân, khẩu, ý của ta không tạo ra những nghiệp bất
thiện. Chúng ta phải biết tự kềm chế để không hành sử
sai lầm. Ta phải phát triển phương cách tu tập sao cho ngay
trong giấc mơ, ta cũng vẫn tỉnh thức. Làm được như vậy
là chúng ta có thể giữ gìn được tâm chánh niệm, không
để nó bị tàn hoại.
Cho
dù chỉ trong khoảnh khắc, ta ngăn cản các chúng sinh khác
không cho họ được hưởng phúc lợi; hoặc trong một vài
giây phút nào đó, ta gây trở ngại cho tâm chánh niệm thì
ta cũng đã cản bước các Bồ tát đang muốn giúp đỡ muôn
loài. Kết quả là trong nhiều kiếp sau, ta sẽ phải sống
khổ sở. Nếu phá hoại an lạc của một chúng sinh có thể
gây ra chuyện đọa sanh vào kiếp khác thấp kém hơn, thì việc
phá hủy an lạc của vô số chúng sanh sẽ đưa ta tới đâu?
Vậy nên nếu chúng ta cứ lẫn lộn tâm tỉnh thức với vọng
tâm, lúc ngộ lúc mê, nuôi dưỡng tâm chánh niệm rồi có
khi lại thất niệm, phạm lỗi nặng thì ta còn lâu mới tinh
tấn, để tinh thần đạt tới mức cao hơn. Muốn dốc tâm
tu tập một cách can đảm và tự tin, ta phải thực hiện đầy
đủ các giới hạnh Bồ tát.
Bạn
nên quán tưởng là nếu bạn không nỗ lực trong việc học
tập và thực hành Bồ tát đạo, thì bạn còn bị luân hồi
trong nhiều kiếp thấp kém. Nếu vì những phiền não và các
hành nghiệp bất thiện, bạn bị rớt vào những kiếp sống
khổ đau thì Bụt cũng không giúp gì cho bạn. Vô lượng chư
Bụt đại từ đại bi đã thị hiện để cứu giúp chúng
sanh, nhưng vì lỗi lầm của chính mình bạn không được các
ngài độ cho. Nếu bạn không cẩn trọng, để những phiền
não xâm lấn tâm trí mình, bạn sẽ tiếp tục bị đọa vào
cõi bất an. Bụt cũng không cứu được bạn. Cho dù thoát
được những kiếp tối tăm bạn cũng sẽ là một sinh vật
bị nhiều thương tích đau ốm hay các trở ngại khác. Vậy
thì điều quan trọng là chính bạn phải tự mình thu nhập
được các nghiệp thiện và loại trừ được những nghiệp
dữ.
Hiện
nay chúng ta đang rất may mắn, chúng ta được làm người và
gặp được giáo pháp của Bụt; ta có niềm tin và cơ hội
để phát triển những tính thiện. Ðây là điều hiếm có.
Chúng ta có thể khỏe lúc này, có thể giàu có và không gặp
nguy hiểm. Nhưng cuộc đời có nhiều bất ngờ cùng với năm
tháng trôi qua. Thân này là thứ ta vay mượn. Nếu hiện nay
ta bị vướng mắc vào những khổ đau và hành nghiệp bất
thiện, thì chắc chắn trong tương lai ta sẽ không được làm
người. Nếu may mắn sinh ra được làm người, thì cũng lại
phải vào hoàn cảnh tệ hơn, và ta cũng chỉ tiếp tục gom
nhặt được những hành nghiệp xấu mà không biết tới những
nghiệp tốt. Trừ vài trường hợp ta gặp cơ may, nhưng phải
cố gắng lắm ta mới làm được vài việc thiện. Ta sẽ rất
đau khổ, tâm trí ta bối rối và mê mờ. Vậy nên ta không
có may mắn làm được chuyện gì tốt đẹp. Sống đau khổ
như thế, ta càng tạo nhiều nghiệp bất thiện, có thể tai
ta không hề được nghe tới tiếng
"hạnh
phúc", nói gì tới chuyện tái sanh sang kiếp tốt lành hơn?
Bụt
Thích Ca từ bi đã dạy chúng ta một câu chuyện ngự ngôn
như sau. Hãy tưởng tượng trên đại dương có một cái vòng
nhỏ bồng bềnh trên sóng. Dưới đáy biển có con rùa mù,
mỗi trăm năm mới trồi lên mặt nước một lần. Cơ may được
làm kiếp người của chúng sanh, cũng giống như cơ may của
con rùa khi nó nổi lên chui được vào cái vòng tròn đó. Chúng
ta thường tạo nhiều ác nghiệp, vậy nên ta sẽ phải tái
sanh trong địa ngục đầy khổ đau. Không phải cứ sống trong
khổ đau là ta trả hết được quả xấu đâu. Vì khi sống
trong hoàn cảnh tệ hại, chúng ta lại hay tạo thêm nghiệp
dữ, lại càng đau khổ. Chúng ta có sẵn trong tâm thức những
hạt giống và điều kiện để thêm nhiều phiền trược và
tạo thêm nghiệp ác. Một khi bị đọa vào những cõi thấp
kém, ta khó thoát ra được. Vậy nên khi đang được may mắn
sống đời tự do, nếu chúng ta không nuôi dưỡng tâm linh
làm quen với tính thiện, thì cũng như ta vô tình làm hại
chính mình vậy.
Chúng
ta mong được hạnh phúc, không muốn bị khổ đau. Ta lại
có cơ hội nuôi dưỡng các nhân duyên của hạnh phúc, hủy
bỏ những gốc rễ khổ đau. Bỏ qua cơ duyên như vậy là
chuyện điên rồ nhất đời. Nếu chúng thu thập nhiều ác
nghiệp, thì khi chết ta sẽ nhìn thấy địa ngục khủng khiếp
và ta sẽ chết trong sợ hãi lo lắng. Sau thời gian ngắn ở
trong cõi Trung ấm, ta sẽ bị tái sanh vào cảnh giới xấu
xa, rất có thể bị đọa xuống địa ngục. Những niềm đau
và nỗi khổ làm cho ta ân hận tâm tư tràn đầy phiền não.
Chúng ta đang có được cơ hội hãn hữu, do tình cờ hay do
may mắn. Ta hãy nhận biết và phân biệt cái gì tốt đẹp
tạm thời, cái gì là vĩnh cữu. Nếu chúng ta không chăm sóc
phần hồn, chỉ sống buông thả vào cuộc đời ô trược
thì tâm ta sẽ rơi vào mê lộ. Giống như ta là người không
có đầu óc vậy.
Những
cảm thọ phiền não tiềm ẩn lặng lẽ trong tâm thức phá
hoại ta. Hãy coi chúng làm hại ta ra sao. Chẳng hạn khi cái
giận phát khởi thì nó giống như một người bạn tốt đến
bảo ta: "Ðừng lo, tôi tới giúp bạn đây". Bạn có thể đã
bỏ đối phương đi chỗ khác nhưng cái giận phát khởi, làm
như nó cho bạn vay mượn sự can đảm giả tạo, khiến cho
bạn thấy mình táo bạo và trả đủa đối phương một cách
điên rồ. Sự ngu muội (Si) cũng tới với ta như một người
bạn nhỏ nhẹ, rồi nó làm cho ta thất vọng và tàn hoại
ta. Khi giận ta hầu như phát điên và mất hết ý niệm về
sự bất phân biệt. Bạn có thể đánh một người này nhưng
lại trúng kẻ khác. Khi giận bạn nói ra những điều vô lý
và gây hấn đáng lẽ không nên nói. Khi sự sân si giảm xuống,
ta sẽ nhận ra lỗi lầm của mình và ân hận, nhưng ta đã
tạo nghiệp xấu mất rồi!
1.-
KẺ THÙ LÀ AI?
Bình
thường ta nghĩ tới kẻ thù như những người ở ngoài ta.
Ta nghĩ tới những lực ma quái hay thù hận như những thứ
ở đâu khác. Ta nhắm vào đối phương và các thứ bên ngoài
để tìm cách bảo vệ mình. Nhưng theo giáo pháp của Bụt,
kẻ thù bên ngoài không hẳn là kẻ thù. Sự thù hận từ
bên ngoài trong thời gian này có thể trở thành tình bằng
hữu thân thiện sau đó. Dù cho đó là kẻ thù chăng nữa,
thì họ cũng giống như mình mong được hạnh phúc, không muốn
khổ đau. Ðó là những kẻ cần tới lòng từ bi của chúng
ta.
Nếu
chúng ta nghĩ kẻ thù là những gì mang tai hại tới cho ta,
dù chỉ có tác hại trong thời gian ngắn ngủi, thì chính cái
thân ta cũng là kẻ thù của ta vậy. Nó mang tới cho ta bao
nhiêu đau đớn. Tương tự ta cũng có thể coi tâm trí cũng
là kẻ thù của ta nữa, vì khi thất vọng nản lòng, ta thật
khổ sở. Kẻ thù bên ngoài mai kia có thể là bạn, không bao
giờ là kẻ thù mãi mãi. Kẻ thù chính là tâm phiền não của
chính ta. Ðó chính là kẻ thù thật sự và nó sẽ hiện hữu
vĩnh viễn trong ta. Trong kinh Bụt dạy: những tâm phiền não
là kẻ thù, là thứ gây họa cho ta. Muốn được giải thoát
hay tới cõi Niết bàn không phải là thay đổi cái thân mạng
này, hay dọn tới một hành tinh khác. Người dân Tây Tạng
thường nói về đời sống gia đình như "Tôi đang lang thang
trong vòng luân hồi" làm như nếu không có gia đình thì họ
sẽ được giải thoát. Nhưng đó không phải là sự giải
thoát đích thực. Vì chính sinh mạng mình là một sinh hoạt
luân hồi, và chính vì cái thân này mà chúng ta tích tụ nghiệp
dữ. Tham, sân, si được coi là những kẻ thù nội tại nằm
ngay trong chúng ta. Dù chúng không có khí giới, chúng vẫn chế
ngự và sai khiến ta được. Chúng tạo nên ảnh hưởng và
hậu quả tàn hại vô cùng.
Khi
chúng ta không chống cự được thì ta có thể chạy trốn
những kẻ ngoại thù. Năm 1959, khi bị quân Trung quốc vây
khốn, chúng tôi đã qua đèo, vượt núi trốn thoát. Thời
xưa người ta có thể ẩn náo trong đồn lũy kiên cố, nhưng
ngày nay nếu ẩn trong đồn ta sẽ trở thành mục tiêu cho
họ tấn công. Các vị vua chúa thời cổ xưa sống trong thành
quách, tưởng như họ sẽ sống vĩnh viễn. Ðó là lý do khiến
ta còn thấy rất nhiều đồn lũy ở Ấn Ðộ. Vạn Lý Trường
Thành bên Trung Hoa cũng vậy, xây dựng bằng bao nhiêu mạng
người cũng vì một lý do đó. Nhưng nấp sau các công trình
kiến trúc, nếu kẻ thù vẫn còn hiện hữu ngay trong con người
bạn, thì bạn không làm chi được. Bạn làm sao trốn được
kẻ thù này? Nếu có vài giống vi trùng độc hại ở trong
bạn, thì bạn có thể uống hay chích thuốc để diệt chúng,
nhưng chúng ta không thể dùng một sức lực bên ngoài để
diệt trừ phiền não trong tâm ta. Ðó là những kẻ thù thứ
thiệt.
Dù
cho tất các vị thần trong vũ trụ hay tất cả các sinh vật
trên thế gian thù nghịch với bạn, họ cũng không thể đưa
bạn vào địa ngục được. Phiền não, trái lại có thể
đẩy bạn vào đó tức thời. Vậy nên từ thuở sơ khai, phiền
não luôn luôn là kẻ thù làm hại và hủy diệt chúng ta. Không
có kẻ thù nào dai sức như những tâm hành phiền não. Kẻ
thù nào cũng sẽ chết và biến đi. Nếu ta thuận theo yêu
cầu của một kẻ thù bình thường, thì từ từ họ sẽ trở
thành bạn, mang lại lợi lạc cho ta. Nhưng ta càng nương tựa
vào phiền não, thì chúng lại càng tác hại và mang đau khổ
tới cho ta. Ðó là thứ kẻ thù thường trực, lâu dài và
là nguyên nhân duy nhất gây ra những khổ đau của chúng ta.
Còn để chúng hiện hữu an ổn trong ta thì ta chưa thể có
hạnh phúc.
Nếu
mình đã bị sa vào cái lưới vướng mắc, thì bạn đừng
mong cầu hạnh phúc. Bạn phải nhận diện, biết những cảm
thọ phiền não là kẻ thù thật sự của mình. Nhận diện
được chúng rồi, bạn sẽ dùng các chất giải độc và có
can đảm đối diện để chống lại chúng. Bạn phải hiểu
rằng đó là nguồn gốc của tất cả khổ lụy của mình.
Trong
đời sống bình thường, khi gặp một chuyện nhỏ là ta nổi
giận và muốn trả đủa ngay. Khi không bỏ qua được chuyện
gì là ta mất ngủ. Khi một người lính ra trận họ tình nguyện
chịu bị thương và chỉ trở về sau khi chiến tranh chấm
dứt, tự hào khoe những vết thẹo trên mình họ. Vậy thì
tại sao ta lại không kiêu hảnh về công trình khổ cực chiến
đấu chống phiền não của ta? Ðể được hưởng lợi chút
ít, người ngư phủ, người đồ tể hay nhà nông rất chịu
thương chịu khó trong công việc. Vậy tại sao chúng ta không
chịu cực với công tác khó khăn hơn: đó là việc đạt tới
quả vị Bụt để cứu độ chúng sanh?
Khi
lâm chiến chúng ta có thể thắng kẻ thù và đuổi họ ra
khỏi bờ cõi mình. Họ có thể tập họp lại, tăng cường
quân lực và trở lại trận tiền. Nhưng khi chiến đấu chống
phiền não, một khi bạn đã thắng và loại được chúng thì
chúng không thể quay lại nữa. Trong khía cạnh này, phiền
não là một thứ kẻ thù yếu ớt. Ta cũng không cần vũ khí
nguyên tử hay bom đạn để phá hủy chúng. Chúng yếu ớt
vì một khi ta đã nhìn thấy sự thật và nuôi dưỡng được
tuệ nhãn đó, ta có thể loại trừ được phiền não. Khi
ta đã phá hủy được phiền não trong tâm, thì chúng sẽ đi
đâu? Chúng biến mất vào hư vô, không có chỗ nào trú ẩn.
Vậy nên chúng không thể trở lại làm hại ta.
Không
có một thứ phiền não nào hiện hữu độc lập. Khi sân si
nổi lên trong tâm ta, chúng khá mạnh và làm cho tâm ta rối
loạn. Tuy vậy nếu nhìn nó cho kỹ thì nó sẽ không còn chỗ
trú. Nó không ở trong cơ thể hay trong các giác quan của ta
được. Nếu ta cố tìm những cảm thọ phiền não trong các
thành tố tinh thần hay vật chất của ta thì ta sẽ không tìm
thấy chúng. Chúng giống như những ảo giác mà thôi. Sao ta
lại để chúng lôi ta xuống địa ngục?
2.-
ÐIỀU PHỤC TÂM
Nếu
chúng ta luôn tỉnh thức và quán chiếu kỹ càng thì ta sẽ
biết nên huân tập hay nên bỏ bớt những tính khí nào. Khi
biết được cái gì có giá trị rồi thì ta sẽ nhận diện
được ngay mỗi khi chúng bắt đầu khởi lên. Và ta có thể
tự kềm chế được. Sự chú tâm và cẩn trọng rất cần
thiết, tùy theo mức độ tỉnh thức mà ta chú tâm được
nhiều hay ít. Ta cần theo dõi thân khẩu và ý của ta bất
cứ lúc nào. Tâm ta giống như con voi, nếu ta để nó đi lang
thang không điều khiển thì nó sẽ phá hoại. Tâm chưa được
điều phục có sức tàn phá mạnh hơn loài voi rừng nhiều.
Vấn
đề là làm sao cho tâm vào kỷ luật? Bạn cần có chánh niệm,
nó là sợi dây kiểm soát thân, khẩu, ý nghiệp của bạn.
Sợi dây chánh niệm sẽ cột con voi tâm bạn vào đối tượng
quán chiếu như vào một cây cột. Nói khác đi là ta buộc
con voi tâm vào những tánh thiện, không để nó lang thang về
những hướng bất thiện. Ðể ý coi tâm đi về hướng nào,
nếu là hướng thiện thì bạn nên vui mừng và làm cho nó
mạnh thêm. Khi bạn hướng được tâm về phía tích cực,
bạn sẽ vượt thoát được sự sợ hãi.
Thiện
hay bất thiện đều khởi lên từ tâm, tùy theo tâm bạn đã
được chuyển hóa hay chưa. Ðiều quan trọng nhất là phải
điều phục được tâm, cho nó vào kỷ luật. Tất cả những
khổ đau, sợ hãi đều phát khởi từ tâm ta. Bụt dạy rằng
không có kẻ thù nào mạnh hơn tâm của mình. Trong cuộc đời
không có gì đáng sợ, đáng ghê cho bằng tâm mình. Bụt cũng
nói rằng chính tâm mình là nơi phát khởi những đức tính
tuyệt hảo. Thực tập tính thiện, ta có hạnh phúc, huân tập
tính ác, ta bị khổ đau. Dù chỉ mới thực tập, khi càng
chế ngự và kiểm soát được tâm ý, ta càng sung sướng,
thảnh thơi.
Khi
ta an lạc, nhẹ nhõm, dù cho cả vũ trụ coi ta là kẻ thù,
cũng không sợ hãi hay đau khổ. Mặt khác, khi nội tâm ta bị
xáo động hay phiền não, thì cho dù có món ăn ngon tuyệt để
trước mặt, ta cũng không thưởng thức được nó. Nghe những
chuyện hay ho ta cũng chẳng thấy vui. Vậy nên tùy theo tâm
ta có kỷ luật hay không, ta sẽ vui sướng hay đau khổ.
Khi
đã chuyển hóa tâm ta không tham đắm, không chiếm hữu là
ta đạt tới hạnh Bố thí Ba la mật. Bố thí Ba la mật nghĩa
là bạn cho chúng sanh hết thảy những gì bạn có, kể cả
những quả lành do hạnh bố thí này. Sự tu chứng hoàn toàn
tùy thuộc vào tâm mình. Trì giới cũng vậy, đó là một tâm
thức bất hại đối với tất cả chúng sanh. Ðó là sự thực
chứng vô ngã. Nhẫn nhục Ba la mật cũng thế, vọng tâm của
chúng sanh thì vô lượng, nhưng khi bạn đã điều phục được
tâm mình, bạn có thể loại bỏ được tất cả kẻ thù từ
ngoài tới. Khi tâm bạn an bình, dù cả vũ trụ thù nghịch
bạn, bạn vẫn không phiền não. Ðể bảo vệ chân khỏi bị
sây xước, bạn không thể che phủ tất cả mặt đất bằng
da. Bạn lót một lớp da dưới gót chân bạn thì hữu hiệu
hơn.
3.-
TÂM CHÁNH NIỆM
Muốn
bảo vệ tâm ý mình, bạn cần cố gắng giữ gìn chánh niệm.
Khi bạn không để ý chánh niệm sẽ bị hao hụt, công phu
thu nhặt được trong quá khứ sẽ bị mất như bị kẻ trộm
cướp đi vậy. Hệ quả là bạn sẽ sinh vào một cõi thấp
kém. Những ác nghiệp giống như kẻ cướp, kẻ trộm chúng
luôn tỉnh táo chờ cơ hội, nếu có dịp là chúng cướp ngay
công đức bạn có. Chúng lấy di cuộc đời hạnh phúc của
bạn. Vậy nên đừng để cho chánh niệm bị yếu đi. Nếu
đôi khi lỡ thất niệm, bạn nên nghĩ tới những khổ đau
vô hạn của cuộc đời để nhớ tăng cường chánh niệm
lên.
Làm
sao giữ được chánh niệm và tỉnh thức? Gần cận các bậc
thầy và nghe họ giảng dạy để biết nên tu tập ra sao. Bạn
càng kính trọng giáo pháp thì bạn càng tỉnh thức. Khi gần
tăng thân tốt, bạn cũng có thêm chánh niệm, bạn sẽ biết
nên huân tập các đức tánh nào, nên xả bớt những tính
bất thiện nào khi được nghe pháp và thân cận với các thiện
tri thức. Khi quán chiếu về tính chất vô thường và những
khổ đau trong cõi Ta bà, bạn sẽ thấy sợ và từ đó sẽ
tập được chánh niệm.
Một
phương pháp khác để thực tập chánh niệm là biết rằng
Bụt và các Bồ tát là những trí tuệ siêu quần. Họ luôn
luôn biết rõ bạn đang làm gì, nhớ tới sự hiện diện đó
bạn sẽ cẩn trọng hơn. vì Bụt và chư Bồ tát có chánh
niệm thường trực thông suốt, ta không thể dấu họ chuyện
gì. Ta thực tập quán tưởng kính ngưỡng Bụt khi hiểu chuyện
này. Bình thường chúng ta tưởng rằng Bụt và Bồ tát chỉ
để ý tới ta khi ta tụng kinh, cầu nguyện hay niệm hồng
danh của họ. Không phải vậy. Trí tuệ Bụt siêu việt, ngài
nhận biết mọi chuyện dù vi tế tới đâu. Ngài có đại
trí hiểu được mọi sự vật, vượt cả không gian lẫn thời
gian. Khi quán tưởng Bụt, ta nên biết răng Bụt và các Bồ
tát luôn hiện hữu bên ta. Ðây là một điều quan trọng trong
sự tu tập hằng ngày.
Nếu
bạn có chánh niệm, thì mỗi khi một niệm bất thiện khởi
lên, bạn có thể kềm chế được mình. Tỷ dụ, khi nói chuyện
với một người khác, bạn thấy mình bắt đầu nổi giận,
chánh niệm sẽ giúp bạn dừng lại hoặc thay đổi đề tài.
Bạn nghĩ tới bạn thì sẽ thấy dù đối phương có vô lý
và dùng những lời lẽ khiêu khích, bạn cũng không nên trả
đủa. Thay vì đối phó với tình trạng đó, bạn để tâm
tới khía cạnh tốt đẹp của đối phương. Làm vậy bạn
sẽ bớt giận.
Tâm
trí ta giống như một con voi, thường bị những cảm xúc lao
xao đầu độc, bạn nên cột nó vào một cái trụ vững chắc
của sự tu tập tâm linh. Rán cố gắng hết sức để quan
sát tâm mình, đừng sơ hở phút nào. Coi xem nó sắp làm gì,đang
làm gì. Chẳng hạn khi thiền quán, ngay từ lúc đầu bạn
nên chú tâm một cách cẩn thận, không bị xao lãng chút nào.
Thời gian đầu, có thể bạn chú tâm được khoảng 15 phút
không bị thất niệm. Sau khi đã có thói quen như vậy, bạn
có thể thiền tọa lâu hơn.
Dĩ
nhiên điều phục tâm và chú tâm quán sát đề tài thiền
quán là chuyện khó khăn. Buộc tâm mình làm điều mình muốn
cũng không dễ. Nhưng dần dà quen đi, bạn sẽ thành công.
Bạn có thể dùng bất cứ phương pháp nào giúp bạn kiểm
soát được tâm mình. Chẳng hạn ngồi quay mặt vào vách giúp
cho bạn ít bị chia trí hơn cách khác. Lúc này nhắm mắt lại
thì tốt, khi khác mở mắt ra lại dễ thực tập hơn. Tất
cả tùy thuộc vào khuynh hướng cá nhân và cơ duyên của bạn.
Vậy
nên cần phải tỉnh thức và cẩn thận đối với những phiền
não và các hành động vô nghĩa lý. Nếu bạn muốn đi đâu
hay làm chuyện gì, trước hết phải biết việc đó có đáng
làm chăng? Khi bạn bắt đầu bị tham đắm hay giận dữ ai,
thì bạn đừng làm gì cả. Không nói gì, không nghĩ gì, bạn
làm như mình là một khúc gỗ. Khi bạn muốn cười cợt hoặc
ba hoa về chuyện gì, hay muốn nói về lầm lỗi của ai, muốn
đánh lừa kẻ khác, hoặc giả muốn nói những lời thô lỗ,
muốn đưa ra những nhận xét chua cay, hoặc tự khen mình chê
kẻ khác... những khi đó, bạn nên coi mình như khúc gỗ thì
hơn. Khi thấy mình có khuynh hướng muốn đạt tới mục tiêu
cá nhân mà không đếm xỉa tới người khác, mà lại muốn
thảo luận về chuyện đó, thì cũng nên làm như mình là khúc
củi. Khi bạn sắp mất kiên nhẫn, lười biếng hay chán nản,
hoặc khi muốn nói ra những nhận xét tàn nhẫn hay quá tự
mãn, thì hãy rán làm như khúc gỗ đi.
Người
thiếu trưởng thành về tâm linh có đầu óc hẹp hòi giống
như những đứa trẻ con ưa tranh cải, không thể chơi chung
với ai khác. Ðừng bực với họ mà nên từ bi với họ, quán
để hiểu rằng tính khí khó chịu của những đứa trẻ ấy
là do phiền não trong tâm trí chúng. Do đó ta hiểu chúng hơn,
đừng bắt chước chúng. Thiền quán về tính giác giúp bạn
vượt thoát được ý niệm về cái ngã riêng biệt, Bạn sẽ
thấy bạn là một phần của Bồ tát. Hãy luôn quán như vậy
và nhất quyết đạt tới chân như trong đời người quý giá
này.
4.-
THÂN VAY MƯỢN
Chúng
ta cũng cần đối diện với sự vướng mắc vào cái thân
này. Khi chết đi, thân ta có thể được liệng cho chim kên
kên ăn, ta đâu có quan tâm. Vậy cớ sao ngày nay ta lại vướng
mắc vào thân mình đến thế? Nếu ta mượn món đồ gì của
một người có thế lực, sớm muộn gì ta cũng phải trả
nợ thôi. Cái thân này cũng là thứ vay mượn, dù ta cố gắng
giữ gìn tới đâu, sẽ có lúc ta phải bỏ nó lại. Vậy mà
vì nó, ta tạo ra những hành nghiệp gây ra biết bao đau khổ.
Chúng
ta hãy quán chiếu về cái thân này: trước hết là lớp da.
Dưới nó là thịt, gân cốt, mạch máu v.v... Quang tuyến cho
ta thấy sự thật: thân ta là tập hợp của xương, da và thịt.
Nhưng ta thường nghĩ đây là thân thể đẹp đẽ lịch sự
của tôi. Nhưng nếu nhìn sâu vào, dưới lớp da hồng hào
chỉ là thịt, xương, rồi tủy... Căn bản của nó là gì?
Sao ta lại yêu quý cái thân đến thế? Ta cho là phải săn
sóc thân mình cẩn thận. Nó cần quần áo và thức ăn, mà
không phải bất kỳ quần áo nào, y phục phải là thứ đẹp.
Dĩ nhiên ta cần quần áo che thân cho ấm hay đỡ nóng nực,
nhưng sao lại tiêu nhiều tiền vào chuyện che thân đến thế?
Ngoài ra người giàu sang còn cần trang sức, người thì xỏ
lỗ tai, kẻ xỏ mũi để đeo những thứ tòng teng vô đó?
Tất cả những điều trên là kết quả của vô minh. Nếu
bạn quán chiếu chuyện này cho kỹ, bạn sẽ thấy rằng bạn
không thể tìm được tự tánh của cái thân. Ðó chỉ là
do trí khôn của con người tạo ra bao nhiêu thứ chuyện. Do
vọng tưởng, ta gọi người này là giàu có, kẻ kia là đẹp
đẽ. Người đời nghĩ vậy thì còn được, chứ tu sĩ mà
đeo trang sức thì thật là tệ hại. Hãy nghĩ coi Bụt Thích
Ca sống ra sao? Ngài chỉ là một vị tu sĩ giản dị, không
có chút trang sức nào.
Vậy
khi quán chiều về thân, bạn sẽ thấy nó không có tự tánh.
Nó chỉ là tập hợp của nhiều chất dơ bẩn, giống như
một bộ máy sản xuất rác rưởi, sao ta còn vướng mắc nó.
Vì sao bạn giữ gìn thân thể vật chất này? Bạn không ăn
được thứ thịt đó, không uống được loại máuđó và
cũng chẳng gậm được loại ruột gan của mình. Cơ thể ta
có lợi ích gì? Có phải ta rán bảo vệ thân mình cho tới
khi chết để cho kên kên ăn chăng. Thân chúng ta bắt đầu
từ hai cái trứng của bố mẹ, nhưng nếu chúng ta bước qua
một vũng những thứ này trên sàn nhà, ta sẽ thấy nó gớm
ghiếc vô cùng. Nếu nhìn xa nữa, ta sẽ thấy cơ thể mình
được tạo ra nhờ những chất xấu xí đó từ bao đời trước.
Cũng vậy, khi ta nhìn sâu vào tính chất của thân ta, thì xưong,
thịt, da... đều là những thứ đáng ghê tởm.
Mỗi
ngày, cho tới khi chết ta ăn uống để nuôi dưỡng cái thân.
Tôi đã ngoài lục tuần rồi, suốt hơn sáu mươi năm đó,
tôi đã ăn bao nhiêu thực phẩm, ăn bao nhiêu thịt? Bao nhiêu
sinh vật đã mất mạng vì tôi? Chúng ta dùng bao sức lực
để nuôi cái thân. Nếu mục đích cuộc đời chỉ có thế
thôi thì có lẽ ta nên làm loài thú hay sâu bọ, ít nhất là
ta không làm hại loài khác.
5.-
Ý NGHĨA CUỘC ÐỜI
Nếu
chúng ta không thể dùng trí thông minh của con người một
cách tích cực, thì có lẽ cuộc đời này không có mục tiêu
nào cả. Ta chỉ là cái máy sản xuất ra phân bón. Làm người,
chúng ta phải biết dùng trí tuệ và chánh niệm về bất nhị
để làm lợi ích cho chúng sanh. Như vậy cuộc sống mới có
ý nghĩa, đó là con đường dẫn tới hòa bình tạm thời và
vĩnh cửu. Học cao hay giàu sang chẳng có gì lạ hết. Nếu
chúng ta không có lòng từ bi thương xót chúng sanh, thì dù
có phương tiện và tài năng tới đâu cũng vô ích và vô nghĩa.
Vì thế, chúng ta phải dùng thân mình để nuôi dưỡng trí
tuệ, thực tập để chứng nghiệm những tánh thiện.
Hãy
rán tự kếm chế và hiểu rằng giúp ích kẻ khác là mục
đích của đời người. Khi hiểu vậy bạn có thể luôn luôn
kiểm soát được thân tâm và dùng nó để giúp ích chúng
sanh. Những người thông minh biết nuôi dưỡng chánh niệm
và đánh đổi sự an lạc của họ lấy những sự đau khổ
của kẻ khác. Ðó là những người có thể đạt tới quả
vị Phật, đó là con đường của tự do và độc lập. Với
lòng can đảm, tự tin và thoải mái, họ tin sẽ đạt tới
mục tiêu nên họ thường tươi cười với người khác thay
vì giận dữ, cau có. Họ từ bi với mọi người, thân thiện
và thẳng thắn, đối xử với mọi người như bằng hữu.
Trong
cách cư xử, đừng gây phiền não hay làm hại kẻ khác. Nên
cư xử giản dị, khiêm tốn, hãy bắt chước con mèo luôn
hành động nhẹ nhàng, lặng lẽ chớ không rối rít lên. Khi
có người nào cho bạn những lời khuyên có ích, hãy tiếp
nhận và kính trọng họ. Học những đức tính nơi người
khác, coi mình như học trò của tất cả chúng sanh. Khi người
ta nói hay làm những điều tốt, hãy khen ngợi họ, bạn có
thể khen thẳng mặt, nhưng như vậy coi như nịnh người ta.
Tốt hơn là nên khen họ với người khác. Khi có người nào
được ca ngợi hãy vỗ tay theo. Thường khi nghe người ta khen
nhau, ta hãy nói một cách bi quan: "Ðúng vậy, tuy nhiên...",
hoặc không công nhận những lời khen đó mà lại nêu lên
vài khuyết điểm. Nếu có người nói tới những đức tánh
của bạn, thì bạn nên xét lại coi mình có những tánh thiện
đó chăng. Ðừng để cái tôi nó phồng lên, coi mình là người
rất quan trọng. Thay vì tự mãn, bạn hãy tỏ ra biết ơn khi
được tán thưởng như vậy.
Khi
tôi còn nhỏ, thầy trụ trì tu viện dạy tôi viết chữ. Thầy
kể chuyện khi dạy học, có lần thầy nói tới bộ râu, cái
bướu cổ và sói đầu là ba thứ trang sức của một thầy
tu. Trong thính chúng có một tu sĩ cũng có đủ ba thứ ấy.
Anh ta cảm thấy hãnh diện, duỗi dài đôi chân ra một cách
tự mãn. Nhưng khi thầy tôi nói đó là dấu hiệu của một
số mệnh không tốt, anh bạn vội rụt ngay chân lại. Khi được
khen ngợi, bạn đừng phỉnh mũi lên, chỉ nên nghĩ rằng người
khen đó có thiện tâm vì họ nhận ra được những thiện
tính.
Khi
bắt đầu bất cứ dự án gì bạn cũng nên hướng vào việc
mang phúc lợi cho chúng sanh. Hạnh phúc và an lạc trong tâm
mình là chuyện không thể mua được, ta chỉ có thể nuôi
dưỡng chúng. Khi thấy người có hạnh phúc, ta nên chia xẻ
niềm vui với họ. Hãy vui sướng khi thấy người khác hạnh
phúc, không ganh tỵ, không cạnh tranh chỉ vui vậy thôi. Ðược
như vậy, bạn sẽ tự nhiên được hài lòng và sẽ thấy
đời mình có ý nghĩa. Bạn có thể an tâm khi bạn không bao
giờ là kẻ thù hay làm phiền người khác.
Những
người hay gây hấn và làm phiền người khác thường luôn
luôn bất an, không phải chỉ khi thức mà ngay trong giấc mộng
cũng vây. Nếu bạn giúp đở người khác và tạo nên môi
trường hoà bình an lạc, bạn sẽ được an lạc ngay trong
giấc mơ. Vui sướng khi thấy người khác hạnh phúc là niềm
vui trong sáng, vô nhiễm. Nó cho ta phúc đức ngay lúc đó và
trong tương lai. Nếu bạn khổ sở và ghen tỵ khi thấy kẻ
khác hạnh phúc, thì mắt bạn sẽ cay, lưng bạn sẽ đau và
huyết áp cao vọt lên. Ngay lúc này, tại đây, bạn đã khổ
tâm và đau đớn, tương lai còn tệ hơn nữa.
6.-
TA VÀ NGƯỜI KHÔNG KHÁC
Bạn
nên nhìn chúng sanh cánh nào? Khi nhìn họ bạn nên nghĩ nhờ
họ mà bạn có thể đạt tới Phật tánh. Hãy nhớ tới những
tính thiện và nhìn họ bằng con mắt thương yêu. Nếu bạn
giúp đở những người có thiện tâm, ủng hộ những ai tử
tế với bạn hay đang đau khổ thì bạn sẽ tích tụ được
công đức. Tỷ dự như bạn hãy kính trọng người lớn tuổi
hay cha mẹ bạn, người già sẽ công nhận những tính thiện
nơi bạn và người trẻ sẽ học được nhiều kinh nghiệm
nơi người già. Liên hệ hòa hợp giữa cha mẹ và con cái
là điều rất quan trọng. Cha mẹ có bổn phận chăn sóc con
cái và con cái phải biết ơn cha mẹ. Ngày nay tại nhiều quốc
gia, cha mẹ và con cái không gần nhau lắm. Cha mẹ không yêu
con mấy và con thì không kính trọng phụ huynh. Những người
con như vậy chỉ mong bố mẹ chết sớm, và bố mẹ thì muốn
ở xa con.
Giúp
đở người cùng khổ là chuyện quan trọng. Khi nhìn thấy
một người ăn mặc tươm tất và hấp dẫn, ta thường muốn
giúp đở họ ngay; nhưng khi nhìn thấy một người rách rưới,
ốm yếu ta thường quay đi. Như vậy không tốt. Bề ngoài
tươm tất và hấp dẫn có thể làm ta lầm lẫn, nhưng người
khốn khó không có gì đáng ngại. Mỗi khi thấy một người
hành khất, tôi rán không bao giờ nghĩ rằng họ thấp kém
hơn tôi. Tôi không khi nào tự cho mình hơn một người ăn
mày. Nhưng khi gặp một người tỏ ra thông minh khôn khéo,
tôi không bị để họ chinh phục ngay. Người ta có thể thẳng
thắn dễ thương thì chúng ta cũng vậy. Nếu hai người cởi
mở gặp nhau, thì bạn có thể trở thành bằng hữu. Nhưng
khi bạn vồn vã thành thực mà người kia đáp ứng ngược
lại, dĩ nhiên bạn sẽ dùng một phương cách khác để đối
phó. Dù sao, điều quan trọng là đừng bao giờ lừa dối hay
làm tổn thương một người đã bị áp bức.
Hãy
sáng suốt và khôn ngoan để biết nên huân tập những gì,
xả bỏ những gì. Nên có lòng tin vào những sinh hoạt tích
cực chứ đừng nương tựa vào sự hỗ trợ của người khác.
Ðiều quan trọng nhất là mỗi hành động của bạn phải
có lợi ích cho người khác và thoả mãn những nguyện vọng
của họ. Hiểu được điểm then chốt này, bạn sẽ luôn
cố gắng giúp người. Bụt là người thấy rất xa nên biết
cái gì có ích lâu dài, cái gì ngắn hạn. Vì vậy lời khuyên
của ngài có tính cách uyển chuyển và một vị Bồ tát luôn
luôn cứu độ chúng sanh thì đôi khi có thể làm một vài
điều thường bị cấm kỵ.
Chúng
ta nên chia xẻ thực phẩm với ba loại người: những người
bị đọa đày như ma đói; những người không được ai bảo
vệ như ăn mày, súc vật; và những người tu hành, trì giới
như tăng ni. Chia thức ăn ra làm bốn phần, ta nên cho đi ba
phần, chỉ giữ lại một. Mỗi khi ăn uống hãy cúng dường
Phật, Pháp, Tăng và bố thí một phần cho ăn mày, một phần
cho ma đói. Thân thể của bạn là môi trường cho phép bạn
quán chiếu sự tu tập tâm linh. Vậy nên đừng hy sinh cái
thân một cách nhẹ dạ. Bạn nên tránh hai thái cực: đừng
sống xa hoa quá, mang đủ các đồ trang sức, mặc đủ thứ
quần áo kỳ lạ; ăn uống quá bổ dưỡng, vì làm vậy bạn
tiêu hết công đức của mình. Nhưng cũng không nên rơi vào
thái cực kia, sống hoàn toàn khổ hạnh, thì có thể kiệt
lực. Những lối hành xác như ở trần dù thời tiết ra sao,
xiêng lình vào bắp đùi... đều là cực đoan. Ðừng làm khổ
mình trong khi không nhắm vào mục tiêu nào cả, điều này
chỉ làm cho thân mình trở nên vô dụng, cản trở việc tu
tập. Vậy nên nếu bạn dùng chính cái thân này để tu tập
Giới, Ðịnh, Huệ, bạn có thể nhanh chóng đáp ứng được
nguyện vọng
của
các chúng sanh.
Thái
độ phân biệt, bè phái cũng rất nguy hiểm cho sự tu tập,
vì giáo pháp của Phật có nhiều trình độ để đạt tới
giác ngộ. Nếu thay vì dùng Phật pháp để thấy được Phật
tánh, chúng ta lại dùng nó để tạo nên sự chống đối hay
chia rẽ giữa các truyền thống hay các tôn giáo thì thật
là bất hạnh. Việc quan trọng là chúng ta phải làm quen với
các giáo pháp khác, bằng cách lắng nghe, nhìn sâu và quán
chiếu mà không kỳ thị một môn phái nào. Có hai quan điểm:
trước đây người ta chỉ lo học hỏi truyền thống của
mình, không chú ý tới các truyền thống và trường phái khác.
Lại có nhiều người tìm cách học hỏi những môn phái khác
với mình. Phương pháp thứ hai này thích hợp vớ tình trạng
thế giới ngày nay.
Trong
giới Phật tử Tây phương, nhiều người chỉ biết truyền
thống mình đã theo, ngoài ra không hiểu gì hết. Họ lo lắng,
bứt rứt khi tiếp xúc với các truyền thống khác. Tôi thuờng
giảng để họ hiểu là cả bốn môn phái Phật giáo của
Tây Tạng đều theo Phật pháp hết, không hề trái chống nhau.
Theo tôi, tôi đã nhận ra là nếu ta học theo cả bốn phái
thì rất có ích và lợi lạc. Nghe nói thế, nhiều người
cho biết họ muốn học cả bốn môn phái, nhưng tìm được
thầy dạy hết mọi môn phái như vậy rất khó. Vậy nên chúng
ta cần phải hiểu thấu các trình độ khác nhau trong bốn
cách tu tập để có thể giúp được hết thảy chúng sanh.
Tại
xứ Tây Tạng, dân ít, không khí và nước trong lành. Trước
khi người Hoa tràn sang, nước ở đâu cũng uống được. Với
khí hậu và môi sinh như thế, nên chúng tôi ít phải chú ý
tới vấn đề sức khỏe và vệ sinh. Ngày nay tại nhiều nước
tân tiến, nạm ô nhiễm đã khiến dân chúng phải có nhiều
biện pháp phòng ngừa để bảo vệ trẻ em. Chúng ta phải
học tập với nhau về chuyện này. Chúng ta đã có đủ các
thứ căn bản cho một cuộc sống an lành, thì phải để tâm
tới đời sống của các chúng sanh khác. Tỷ dụ như nếu
ta đào đất hay cắt cỏ không có mục tiêu, ta đã làm hại
bao nhiêu loài sâu cái kiến. Ðể ý tới loài vật nhỏ bé
đó, là ta đã bảo vệ môi sinh. Những người đã hiểu biết
chuyện này nên đứng ra giúp người khác hiểu vấn đề này.
Trong
sự tu tập Bồ tát đạo, việc huấn luyện tâm thức là quan
trọng nhất. Trong khi tu duỡng, Bồ tát không coi thường một
chuyện gì, vậy nên không có chuyện gì mà không mang phúc
lợi tới cho Bồ tát. Khi bạn hành trì phép tu này, nên nhớ
mọi hành nghiệp đều chỉ để mang phúc lợi tới cho mọi
loài và nhớ hồi hướng mọi công đức của bạn cho họ.
Nhìn kỹ vào các Bồ tát ta sẽ thấy họ hành xử hoàn toàn
vô ngã. Bạn cũng nên tỉnh thức để tu tập như vậy. Chỉ
nói thôi thì có ích gì? Bạn phải thực chứng. Làm sao ta
có thể giúp được một người bệnh bằng cách chỉ đọc
sách y khoa? Bàn luận về hạnh nguyện Bồ tát không đủ,
ta phải hạ thủ công phu hành trì và thực tập.
