.
SỐNG HẠNH PHÚC -
CHẾT BÌNH AN
The Joy
of Living - Dying in Peace
Ðạt
Lai Lạt Ma thứ 14
Dịch:
Chân Huyền
CHƯƠNG MỞ
ÐẦU
Tôi
xin tặng những bài giảng này cho những người không có thì
giờ để học hỏi nhiều. Tôi không có gì để nói khác hơn
những chuyện đã nói trước đây. Vậy, xin quý vị đừng
đọc sách chỉ để có thêm kiến thức hay thêm những từ
ngữ mới, mà nên cố gắng dùng những điều tôi giải thích
để chuyển hóa tâm mình. Nếu chỉ nghe hoặc đọc thôi không
đủ, quý vị nên thực tập những gì học hỏi được, luôn
luôn cố gắng áp dụng những điều đó vào các sinh hoạt
tâm linh. Như vậy giáo pháp mới có ích lợi thực sự.
Chính
Bụt đã nói: "Ðừng làm các việc ác, hãy rán tu nhân tích
đức, làm điều lành và chuyển đổi toàn diện tâm thức
mình". Ðó là giáo pháp Như Lai. Chúng ta nên nghe theo lời Bụt
dạy vì trong thâm tâm tất cả chúng ta, không ai muốn bị
đau khổ, người nào cũng muốn sống hạnh phúc. Khổ đau
là kết quả của những hành động sai lầm và bất thiện,
trong khi hạnh phúc là kết quả của những hành thiện tốt
đẹp. Tuy nhiên, muốn bỏ điều xấu làm điều tốt, chúng
ta không thể chỉ thay đổi cách nói năng hoặc hành động
mà chúng ta chỉ có thể làm được chuyện này bằng cách
chuyển hóa tâm của mình.
Trong
đời sống chúng ta nên hành động một cách thông minh, có
mục đích và phải biết coi các mục tiêu đó có thể thực
hiện được chăng. Trong truyền thống tu học Phật giáo, mục
tiêu của chúng tôi là đạt tới Niết bàn tịch tĩnh, tới
quả vị Bụt. Loài người chúng ta may mắn có khả năng đạt
tới các mục tiêu này. Quả vị Giác ngộ mà chúng ta tìm
kiếm chính là sự tự do nhờ vượt thoát được những vọng
tưởng thiêu đốt tâm tư.
1.-
BẢN TÂM THANH TỊNH
Bản
chất của tâm vốn dĩ thanh tịnh, những cảm xúc bất an làm
khổ chúng ta chỉ là những lầm lẫn nhất thời.Tuy thế,
chúng ta không thể loại bỏ những cảm thụ tiêu cực đó
bằng cách cắt bớt một số tế bào trong bộ não. Kỹ thuật
giải phẩu tối tân nhất ngày nay cũng không thể làm được
chuyện này. Cách duy nhất là chúng ta phải chuyển hóa được
tâm của chúng ta.
Ðạo
Phật dạy rằng tâm là nhân duyên chính khiến ta bị luân
hồi. Nhưng cũng chính tâm lại là cái duyên lớn nhất giúp
ta thoát vòng sanh tử. Sự giải thoát này thực hiện được
khi ta kiểm soát được những ý nghĩ bất thiện và phát huy
được những tư tưởng tích cực, hướng thiện. Ðiều cần
biết là công việc chuyển đổi này đòi hỏi sự kiên trì
nhiều năm trường. Chúng ta đừng nên mong có kết quả tức
thời. Hãy nghĩ tưởng tới các vị thầy lớn trong quá khứ.
Quý ngài đã chịu rất nhiều gian khổ trong việc thực chứng
tu tập. Cuộc đời tu hành của Bụt Thích Ca là tấm gương
toàn thiện nhất cho chúng ta.
Vì
lòng từ bi đối với chúng sanh, Bụt Thích Ca ra đời trước
đây hơn 2500 năm tại Ấn Ðộ. Ngài lọt lòng Mẹ đã là
một hoàng tử. Ngay từ khi còn nhỏ, ngài đã có nhiều hiểu
biết và từ bi. Ngài hiểu rằng bản chất của chúng ta là
ai cũng ưa sống hạnh phúc, không ai muốn bị đau khổ. Khổ
đau không phải lúc nào cũng do ngoại cảnh đưa tới cho ta.
Không phải chỉ đói kém hoặc bị hạn hán mới khổ. Trong
hai trường hợp trên, chúng ta có thể tự bảo vệ, chẳng
hạn bằng cách tích trữ lương thực. Nhưng những nỗi khổ
như sanh, già bệnh chết là những cái khổ liên hệ tới bản
chất sâu xa của dòng đời, thì chúng ta không thể giải quyết
bằng những điều kiện ngoại biên được. Ngoài ra chúng
ta còn có sẵn trong mình một cái tâm không thuần hòa, có
thể tiếp nhận đủ mọi vấn đề rắc rối. Nó chứa đựng
nhiều tư tưởng bất thiện, tiêu cực như nghi ngờ, sân hận.
Khi tâm ta còn bị những tư tưởng tiêu cực này bủa vây,
thì dù ta có quần áo lụa là để mặc, thực phẩm tuyệt
hảo để ăn, chúng cũng không giúp ta giải quyết được vấn
đề.
Bụt
Thích Ca đã để tâm quán sát những chuyện đó và quán tưởng
về bản chất của chính cuộc đời ngài. Thấy mọi người
đều khổ, ngài cũng biết rằng chúng ta sở dĩ khổ vì có
cái tâm vô kỷ luật. Ngài thấy rằng tâm ta chạy như thú
hoang đến nỗi nhiều đêm ta mất ngủ. Ðối diện với cái
tâm chất chứa những đau khổ và khó khăn của con người,
ngài dùng trí tuệ để tìm xem phải chăng có một phương
cách nào giúp cho người ta thoát được những khổ đau đó?
Bụt
cho rằng cuộc sống đời vương giả trong cung điện không
phải là phương cách thoát khổ mà có thể nó còn là một
trở ngại nữa. Vậy nên ngài từ bỏ hết thảy những tiện
nghi hoàng gia, kể cả liên hệ với vợ con, để sống cuộc
đời của kẻ không nhà. Trong việc tìm đạo, ngài học với
nhiều vị thầy, lắng nghe họ dạy dỗ. Ngài học được
ít nhiều từ các vị thầy này, nhưng không ai đưa ra được
con đường thoát khổ một cách tuyệt đối. Ngài tu khổ hạnh
rất nghiêm mật trong sáu năm. Từ bỏ cuộc đời sung sướng
của hoàng gia và tu khổ hạnh nhiều năm giúp ngài có đủ
duyên phát triển trí tuệ trong khi thiền quán. Ngồi dưới
gốc cây Bồ đề, ngài vượt thoát được tất cả mọi chướng
ngại và đạt được quả vị Giác ngộ. Sau đó, ngài bắt
đầu giảng dạy, chuyển pháp luân, căn cứ vào những kinh
nghiệm và sự thực chứng của chính mình.
2.-
HỌC THEO BỤT THÍCH CA
Khi
nói về Bụt, chúng ta không nói tới một con người đã có
tỉnh thức ngay từ khi ra đời. Bụt bắt đầu giống y như
chúng ta. Ngài là một con người bình thường như chúng ta,
cũng nhìn thấy cái khổ của sanh, lão, bệnh, tử. Ngài cũng
có những tư tưởng và cảm thọ sướng khổ y như chúng ta.
Nhưng nhờ vào ý chí tu luyện quyết tâm và kiên trì, ngài
đã đạt được những quả vị tỉnh thức đưa tới tình
trạng toàn giác.
Chúng
ta nên nhìn ngài như một tấm gương để noi theo. Chúng ta
ra đời với tư cách một con người tự do và may mắn. Dù
đã phải chịu ít nhiều khổ đau, chúng ta vẫn may mắn có
trí thông minh, có sự tỉnh thức không khác gì ai. Chúng ta
lại được nghe những lời giảng dạy thâm sâu của Bụt,
và hơn nữa còn có khả năng hiểu được Phật pháp. Từ
thời Bụt Thích Ca tới nay, các Phật tử đã nhìn Bụt và
các đệ tử giỏi của ngài như những tiền nhân đáng noi
gương.
Dù
chúng ta sanh ra là một con người bình thường, chúng ta cũng
nên rán lợi dụng những duyên may quý báu này trước khi chết
để thực chứng phần nào Phật pháp. Làm được vậy, chúng
ta sẽ không còn sợ chết. Một người tu tập giỏi có thể
chết bình an không hối tiếc gì, vì người đó đã xử dụng
được tiềm năng của họ. Trái lại, làm người mà chúng
ta không mang được dấu ấn tích cực nào vào trong tâm thức,
chỉ lưu giữ những gì phiền trược, thì chúng ta đã lãng
phí đời mình. Gây đau khổ hay chết chóc cho con người hay
các loài khác, ta giống như loài quỷ chứ chẳng giống người.
Vậy nên hãy sống cho xứng đáng với kiếp người, đừng
làm một thứ phá hoại.
3.-
THỰC HÀNH THEO GIÁO PHÁP
Trên
thế giới có khi người ta nhân danh tôn giáo để gây ra chiến
tranh. Chuyện này xảy ra khi chúng ta coi tôn giáo là một thứ
nhãn hiệu chứ không thực hành theo giáo pháp của tôn giáo
đó. Tu tập phần tâm linh là một phương cách giữ gìn kỷ
luật cho tâm trí ta. Nếu chúng ta để cho những tư tưởng
bất thiện hướng dẫn, không bao giờ chịu gắng sức chuyển
hóa chúng; nếu chúng ta dùng giáo pháp để làm cho tự ái
tăng trưởng hơn, thì giáo pháp có thể trở thành mầm mống
của chiến tranh. Trái lại, nếu chúng ta thực tập để chuyển
hóa tâm mình, thì không bao giờ nó sẽ là nguyên nhân gây
ra xung đột.
Có
nhiều người chỉ nói giáo pháp trên môi lưỡi. Thay vì dùng
giáo pháp để trừ khử những tư tưởng bất thiện của
mình, họ lại nắm lấy nó như một thứ của cải mà họ
là chủ nhân. Họ dùng giáo pháp để gây ra chiến tranh hay
thúc đẩy các hoạt động phá hoại khác. Dù là đệ tử
theo đạo Phật, đạo Ấn Ðộ, đạo Thiên Chúa, Do Thái giáo
hay Hồi giáo, chúng ta không nên hài lòng chỉ với cái danh
hiệu mà thôi. Ðiều quan trọng là ta biết rút tỉa ra những
thông điệp được giảng dạy trong các truyền thống tôn
giáo khác nhau này, để chuyển đổi tâm thức vô kỷ luật
của chúng ta. Nói tóm lại, là con Bụt chúng ta nên noi gương
Bụt Thích Ca.
4.-
TU TẬP KHÔNG DỄ
Ðôi
khi suy ngẫm trên cuộc đời Bụt Thích Ca, tôi cảm thấy mắc
cở. Dù giáo pháp của ngài được giảng dạy theo nhiều trình
độ khác nhau, nhưng Bụt trong lịch sử rõ ràng đã khổ tu
trong sáu năm liền. Ðiều này chứng tỏ rằng tâm ta không
thể được chuyển đổi bằng cách chỉ ngủ, sống thoải
mái và hưởng thụ những tiện nghi. Nó cũng chứng tỏ ta
chỉ có thể đạt đạo sau một thời gian dài tu luyện khó
khăn. Thật không dễ gì đạt tới một trình độ tâm linh
trong một thời gian ngắn hoặc khi ta không cố gắng. Ngay cả
Bụt, người đề xướng ra giáo pháp mà chúng ta theo đây,
cũng còn phải khổ luyện như thế! Chúng ta làm sao hy vọng
đạt được giác ngộ khi ta chỉ tu tập ít nhiều và an vui
với sự thanh thản? Nếu đọc chuyện các bậc đại sư thời
xưa, ta thấy rằng họ đã khổ công quán tưởng và thiền
tập trong ẩn mật. Họ không dùng con đường tắt nào khác.
Nếu
chúng ta thực tâm quy y Bụt, ta phải nhìn vào ngài như tấm
gương để noi theo. Muốn khổ công tu luyện cũng phải biết
tu như thế nào, không phải cứ cố gắng khổ cực là giác
ngộ được. Trong đạo Bụt, chúng ta cần có niềm tin và
sự tận tụy, nhất tâm, nhưng thêm vào đó ta cũng phải có
trí tuệ sáng suốt nữa. Dĩ nhiên ta có thể đạt tới một
mức phát triển tinh thần nào đó nhờ nỗ lực và tín tâm,
nhưng muốn tới bờ giác, ta cần phải có trí tuệ.
Ðể
có thể nuôi dưỡng những đức tính và phát triển những
tánh thiện đã có sẵn, ta cần hiểu là trí tuệ cũng có
nhiều trình độ. Ðiều quan trọng là ta biết chú tâm ta vào
một đối tượng đáng quán chiếu. Một người thông minh
nếu không có cơ hội, thì anh hay chị ta cũng không có cơ
hội dùng trí tuệ của mình cho một đối tượng thích hợp.
Muốn có sự hiểu biết lớn, ta cần tìm những cơ hội có
thể áp dụng giáo pháp vào đời sống. Vậy nên Bụt không
dạy ta chỉ cần có lòng tin vào Bụt là đủ. Ðầu tiên,
Bụt dạy về Tứ Diệu Ðế rồi căn cứ vào đó ngài giảng
dạy theo nhiều trình độ, đưa ra những phương cách khác
nhau cho đại chúng học theo.
5.-
HẠNH PHÚC - KHỔ ÐAU ÐỀU DO CHÍNH TA
Kinh
điển do Bụt giảng dạy đã được dịch ra tiếng Tây Tạng
gồm trên 108 cuốn, chứng tỏ ngài đã giảng dạy rất nhiều.
Nhiều kinh điển còn chưa được phiên dịch ra ngôn ngữ Tây
Tạng nữa. Học đạo đàng hoàng, ta sẽ có lòng tin và có
trí tuệ. Ta nên cố gắng học cho hiểu và hành trì những
lời Bụt dạy, ta sẽ phát triển được trí tuêï và lòng
từ bi. Dần dà ta sẽ giữ được kỷ luật cho tâm mình. Theo
triết lý Phật giáo, chúng tôi không tin rằng mọi sự vật
được hình thành hay chủ động bởi những yếu tố bên ngoài.
Chúng tôi cũng không tin những sự vật có nhân duyên bất
biến. Chúng tôi cho là hạnh phúc hay đau khổ là do chính mình
tạo ra. Tính chất của các hành nghiệp chúng tôi làm ra tùy
thuộc vào tình trạng của tâm thức mình, tùy tâm có kỷ
luật hay không mà thôi.
Khó
khăn và đau khổ tới từ cái tâm vô kỷ luật. Vậy nên,
hạnh phúc thật sự ở ngay trong tay ta. Chúng ta tự gánh lấy
trách nhiệm, chúng ta không thể mong đợi người khác mang
tới cho ta hạnh phúc. Muốn được hạnh phúc, ta cần nhận
biết những nguyên nhân tạo ra nó, rồi phát triển những
cái duyên này. Trong khi đó ta nhận diện những nguyên nhân
gây đau khổ, rồi loại bỏ chúng đi. Nếu ta biết nên tập
những gì, nên bỏ những gì, thì ta tự nhiên được sung sướng.
Căn
nguyên của đau khổ là vô minh. Vô minh có nghĩa là quan niệm
sai lầm về tự ngã. Tất cả những khổ đau vô lượng chúng
ta gặp đều do quan niệm sai lầm này. Vậy nên khi nói rằng
Bụt vì lòng từ bi mà loại trừ mọi tà niệm, có nghĩa là
Bụt do lòng từ bi làm lợi cho muôn loài. Muốn vậy, ngài
đã dạy nhiều giáo pháp có trình độ khác nhau để ta thoát
được vô minh và những tư tưởng bất thiện. Ai học theo
ngài, hiểu được chánh kiến và thực tập được thì sẽ
thoát được khổ. Chúng ta kính ngưỡng Bụt Thích Ca vì ngài
đã dạy ta những giáo pháp thâm diệu như thế.
6.-
HẠNH PHÚC DO LÒNG TỪ BI
Bụt
là nơi nương tựa đáng tin cậy vì ngài đã phát triển tâm
từ bi và dùng hết cuộc đời ngài để nuôi dưỡng tâm đó.
Trong đời sống bình thường cũng vậy, người đáng tin hay
không là người có lòng từ bi hay không. Khi một người thiếu
lòng từ bi, thì dù họ học cao và thông minh, ta cũng không
thích nương tựa vào họ. Học giỏi không đủ, điều căn
bản của con người biết giúp ích kẻ khác chính là lòng
từ bi. Một con gười có lòng từ bi hay có ý thiện muốn
làm điều tốt lành cho người khác, thì ta có thể yên tâm
tin vào họ. Ðức tính quan trọng nhất của Bụt là lòng từ
- là ý muốn mang lợi lạc tới cho muôn loài. Vì ngài đã
phát triển được những tính thiện nơi ngài, nên Bụt có
đủ khả năng giải thích về sự quan trọng của những đức
tính đó. Vì ngài đã thực chứng được nên ta có thể nương
tựa vào ngài.
Bụt
Thích Ca, vị sáng lập ra đạo Bụt, là con người vững chãi,
toàn thiện, ta có thể nương tựa vào ngài một cách an toàn.
Nhưng không phải chỉ trông vào sự toàn thiện của ngài,
ta còn phải thực tập theo gương Bụt. Ta phải biết cách
bỏ những con đường bất thiện để đi vào nẻo thiện.
Dù không được học hỏi trực tiếp với ngài, nhưng nếu
chúng ta hiểu biết ít nhiều về những giáo pháp này, thì
ta đã có thể đối đầu với những khó khăn và khổ lụy
một cách tốt đẹp hơn.
Cứ
tưởng tượng có hai người cùng gặp một vấn đề. Tùy
theo họ hiểu đạo hay không mà họ sẽ có những thái độ
và phương cách khác nhau để ứng xử. Thay vì làm giảm bớt
khổ lụy, người không biết đạo lại làm cho tình trạng
bết bát hơn vì giận hờn, ghen tỵ v.v... Con người có chút
tỉnh thức và hiểu biết, sẽ có tinh thần để ứng xử
cởi mở hơn, thẳng thắn hơn. Với chút ít hiểu biết về
Phật pháp và kinh nghiệm tu tập, dù ta chưa thể chấm dứt
mọi khổ đau, ta cũng có thể đối diện với chúng một cách
dễ chịu rồi. Như vậy, nhờ giáo pháp mà chúng ta được
lợi lạc trong đời sống hằng ngày.
Cuộc
đời vô thường như mây mùa thu. Sinh tử của muôn loài có
thể coi như những màn kịch. Con người sinh ra, chết đi nào
khác những vai trò các nghệ sĩ đóng tuồng ra vô trên sân
khấu. Vì sự vô thường đó mà chúng ta không thể có an bình.
Ngày nay hãy biết mình may mắn được làm người. So sánh
với súc vật và quỷ dữ trong địa ngục, đời sống con
người thật đáng quý. Nhưng dù nó đáng quý tới đâu, chúng
ta rồi cũng sẽ phải chết. Suy ngẫm về cuộc đời người
ta từ khi sanh ra tới lúc chết đi, ta không thấy có hạnh
phúc trường cửu và cũng không có an toàn.
Ngay
sự sanh cũng đã kèm theo đau khổ. Sau đó là phải đối diện
với những vấn đề như bệnh tật, già nua, gặp cảnh bất
như ý hay khi không đạt được những gì mình ưa thích. Một
vài vấn đề ta phải đối diện như chiến tranh thì do chính
con người gây ra. Nhưng tựu chung, khi nào còn sống trong cõi
luân hồi này, khi nào còn bị những cảm thọ phiền não-
một thứ độc dược - xâm nhập tâm trí, thì chúng ta còn
đau khổ, không có hạnh phúc hay an bình lâu dài.
Tất
cả các phần tử của cây độc dược - trái, hoa, rễ, lá
và cành - tất cả đều bị chất độc ngấm vô. Vì mọi
sinh hoạt của chúng ta đều bị ảnh hưởng bởi những cảm
thọ xao động này, ta sẽ sớm muộn gặp vấn đề và khổ
đau. Vì bệnh và chết là tính cách tự nhiên của đời sống,
ta không nên ngạc nhiên khi bị đau ốm hay tử vong. Nếu không
thích bệnh không thích chết, vậy thì ta nên chấm dứt vòng
luân hồi. Ta nên chấm dứt không sanh ra trong cõi này nữa.
Khi nào tham sân si còn ở trong ta thì ta sẽ gặp cảnh khổ
hoài hoài. Khi tâm trí bị phiền trược ta không thể có bình
an. Câu hỏi quan trọng là: làm sao cho ta dứt được chúng.
7.-
BẢN CHẤT CỦA TÂM
Những
cảm xúc phiền trược không phải là bản chất của tâm.
Vì nếu chúng là tâm thì khi nào tâm có mặt chúng cũng có
mặt. Không phải vậy. Thí dụ một người có thể rất nóng
tính, nhưng đâu phải người đó nổi nóng suốt ngày? Người
khó thương đôi khi cũng dễ chịu tươi cười. Vậy nên, những
cảm xúc phiền não trong ta dù rất mạnh mẽ, chúng không phải
là những thứ dính chặt vào tâm ta. Chúng không phải là tâm.
Phiền não là do vô minh. Giống như khả năng tiếp xúc có
mặt trên toàn thân thể ta. Vô minh xâm nhập tất cả những
cảm xúc tiêu cực trong ta. Không có phiền não nào mà không
liên hệ với vô minh.Vậy thì ta phải tìm hiểu vô minh là
gì. Ðó chính là tình trạng tiêu cực của tâm gây ra tất
cả những phiền não cho ta. Nó chính là cái nhân đưa ta vào
vòng luân hồi. Dù vô minh hay chấp ngã rất mạnh, nhưng đó
chỉ là một tâm thức sai lầm. Có những thành tố của tâm
thiện (gọi là tâm sở thiện), có thể chống lại với tâm
vô minh. Nếu ta dựa vào chúng, ta sẽ nhổ được gốc vô
minh. Bản chất của tâm là trong sáng và tỉnh thức. Trong
bản tâm, không có những phiền não. Ðó chỉ là sự che lấp
cái tâm chân thật. Vậy nên tâm chân thật có thể nhổ bật
gốc rễ của vô minh. Một ngày nào đó, ta sẽ giác ngộ:
tâm ta trong sáng tỉnh thức hoàn toàn.
8.-
NIẾT BÀN TRONG TÂM
Hiện
nay có thể bạn chưa thực chứng được lòng tin tưởng vào
những chân lý này. Nhưng nếu bạn chịu học hỏi và áp dụng
luận lý, phân tích học, bạn sẽ dần dần tin vào khả năng
dứt bỏ được những cản trở đó của tâm. Ðại cương,
ta có thể nói Niết bàn chính là dự vắng mặt của phiền
não, và ta có thể đạt tới Niết bàn ngay trong tâm ta. Vì
ta không muốn bị khổ và ta có thể đạt tới Niết bàn,
ta cần quán tưởng vềø cái khổ. Nếu hiểu được sự luân
hồi và bản chất của khổ, ta sẽ tu tập Giới, Ðịnh và
Tuệ. Khi thấy vật gì đẹp tới đâu, ta hiểu rằng nó có
tính chất gây khổ đau. Ðể có hứng khởi muốn đạt tới
cảnh giới Niết Bàn, ta nên có ý muốn đạt được một
cảnh đời tốt đẹp hơn trong tương lai. Trước đó, ta phải
biết quý trọng cuộc đời hiện tại, nếu không biết cách
sống sao cho phát triển được lòng từ bi, thì có lẽ ta chẳng
cần bàn tới chuyện đạt tới đời sống tốt đẹp hơn
sau này. Vì ta có thể thoát vòng sanh tử, nên điều căn bản
là ta phải tu học để làm hiển lộ Phật tánh. Muốn nuôi
dưỡng ý hướng này, ta nên quán chiếu về sự khao khát hạnh
phúc và ghét khổ đau của mọi loài cũng như mọi người.
Vậy mỗi chúng ta đều nên phát nguyện giúp tất cả chúng
sanh đạt tới quả vị Phật. Muốn đạt tới mục tiêu đó,
ta cần thực tập con đường giải thoát.
Kinh
điển nói tới quy y Bụt, Pháp và Tăng để được giác ngộ.
Nói chung chúng ta có thể nương tựa vào nhiều phương pháp.
Khi bị nắng cháy, ta nương vào bóng mát của cây. Khi đói
ta nhờ tới thực phẩm. Tương tự như vậy, khi muốn được
lợi lạc nhất thời, ta có thể nương tựa vào các thần
quyền địa phương. Trong các tôn giáo khác nhau, chúng ta thấy
nhiều giáo pháp để nương tựa. Trong đạo Bụt, Niết bàn
tịch tĩnh hay tình trạng thoát khổ tuyệt đối, chính là
nơi ta nương tựa.
Niết
Bàn hay trạng thái an lạc hòa bình là gì? Dù chúng ta không
thích đau khổ, ta vẫn cứ khổ vì tâm ta bị những phiền
não chiếm ngự. Do cái tâm không kỷ luật này mà ta tích lũy
những cảm thọ tiêu cực. Tâm vô kỷ luật chính là nguyên
nhân của phiền não. Nếu ta dứt bỏ được nguyên nhân này,ta
sẽ đạt tới trạng thái dứt khổ, gọi là giải thoát hay
Niết bàn, là hạnh phúc trường cửu. Do đó ta nương vào
Phật pháp.
Ðể
có thể thật sự dứt khổ, ta phải đi theo chánh đạo. Ta
cần nuôi dưỡng những tính thiện trong ta. Khởi đầu, ta
chỉ nhận biết rằng tâm ta là đối tượng của ngu si, thiên
kiến và lầm lẫn. Khi sự hiểu biết về bản chất các pháp
của ta tăng tiến, ta sẽ nghi ngờ, tìm hiểu mọi sự vật
có tự tánh riêng chăng? Ta sẽ dần dà hiểu rằng những đối
tượng trước đây ta thấy hoàn toàn tốt đẹp mà ta mê thích,
thực sự chúng có bản chất riêng trong tự thân chúng hay
chăng?
Tương
tự như vậy, những gì làm ta giận dữ có tự tánh độc
lập không? Càng quen thuộc với những suy ngẫm này, ta càng
tiến sâu vào sự hiểu biết và thực chứng. Kết quả là
ta sẽ có khả năng phát triển trí tuệ và thực chứng về
tự tánh Không của mọi sự vật. Chuyện này y như thắp lên
một ngọn đèn sáng tại nơi tối tăm. Nhưng không có nghĩa
là chúng ta có thể giác ngộ được ngay, vượt thoát vô minh
tức thì như khi ta bật ngọn đèn điện. Phát huy những tính
thiện trong tâm phải có thời gian, từ từ mới làm được.
Những
tôn giáo khác có nhiều phương pháp phát triển tình thương
và lòng bác ái, nhưng không có truyền thống tâm linh nào giải
thích rằng mọi sự vật trống rỗng, rằng vạn pháp đều
nương vào nhau (tương tức, tương nhập). Chỉ có đạo Bụt
cho rằng ta sẽ được giải thoát khi hiểu được tánh Không,
bản chất thật sự của vạn vật. Vậy nên chỉ có Bụt,
Pháp, Tăng là tam bảo xứng đáng cho những ai mong được giải
thoát nên nương tựa vào. Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã
dạy chúng ta như vậy.
Ta
quy y nương vào Phật, Pháp, Tăng giống như ta không còn lối
nào khác để đi. Có nhiều loại tín ngưỡng. Trong niềm tin
tưởng sáng láng, trong lành ta quý trọng tánh thiện của Bụt,
Pháp, Tăng. Rồi tới lòng tin vì tín nhiệm và tín tâm khao
khát muốn cố gắng đạt tới những quả vị giống như tam
bảo. Nếu ta cố gắng như vậy, chắc chắn kiếp sau ta sẽ
khá hơn. Khi ta tu tập hàng ngày, lúc chết ta sẽ không nuối
tiếc chi nữa. Ðiều quan trọng lúc lâm chung làm sao ta giữ
được thiện tâm và những ý hướng thiện, trong lành. Bạn
có thể thực hiện được điều ấy vì bạn đã tu tập trong
đời sống hàng ngày. Nếu ta tỉnh thức được khi sắp lìa
đời và hướng tâm ta về đường thiện, chắc chắn khi tái
sanh, bạn sẽ tới được chỗ tốt đẹp hơn.
9.-
CUỘC ÐỜI QUÝ GIÁ
Học
hỏi về các trình độ giác ngộ và các giáo pháp đưa tới
tình trạng hướng thiện đó là điều rất lợi ích cho tâm
ta. Khi học, ta sẽ cố gắng làm theo những bài giảng và chắc
chắn sẽ tiến bộ về tinh thần, có thể đi tới giác ngộ.
Ðừng nghĩ rằng mình không có đủ thông minh để học hành
như vậy. Chớ bỏ qua những cơ hội được học hỏi giáo
pháp kẻo lỡ mất dịp may. Mọi loài chúng sanh, kể cả loài
sâu bọ, cũng được cho là có Phật tánh. Loài người chúng
ta may mắn có khả năng hiểu được Phật pháp.
Khi
nghe hay đọc về giáo pháp, rán áp dụng để hiểu được
những tính bất thiện và làm hiển lộ được trong tâm những
tính thiện. Nếu ta không nhìn thấy được những khuyết điểm
của mình, ta không thể tiến bộ được. Người ta thường
như vậy, khi không chú ý đặc biệt, ta không thể nhận ra
được những lỗi lầm của chính mình. Ta thường hay kêu
ca rằng ta không làm gì sai quấy hết. Tự xét mình là chuyện
tối quan trọng. Ta có thói quen sống mà không hay biết mình
đã làm những gì. Ta phải làm sao để làm tôn vẻ đẹp của
tâm lên. Tôi không có nhiều kinh nghiệm lắm, chỉ biết chút
ít thôi, nhưng tôi bảo đảm với bạn rằng chúng ta có thể
làm được như vậy.
Chúng
ta thấy cuộc đời quý gia vô cùng vì ta có tự do và nhiều
may mắn. Nhưng chuyện này không kéo dài mãi mãi. Sớm muộn
gì ta sẽ phải đối diện với cái chết. Nếu bị đọa vào
kiếp tệ hơn, ta khó có cơ hội gặp Phật pháp. Ta sẽ bị
đau khổ triền miên. Chúng ta rất cần tu tập ngay để có
thể bảo tồn được những tính thiện, loại trừ tính ác,
trong hiện tại và tương lai. Như vậy chúng ta sẽ thực chứng
được ít nhiều con đường thoát khổ. Hiểu rõ điều này,
ta sẽ biết ơn Bụt, người thầy có giá trị và đáng tin
biết bao. Ta cũng sẽ hiểu thêm được giáo pháp của ngài.
Ðược
sinh ra trong hoàn cảnh tốt hơn, làm người hay làm thần cũng
chưa đủ. Khi nào ta chưa dứt bỏ được phiền não trong tâm,
ta vẫn chưa thực chứng được an lạc và hạnh phúc vĩnh
cửu. Khi đã hiểu chút đỉnh về chánh đạo và con đường
thoát khổ, ta sẽ biết được các đối lực của phiền não
mạnh ra sao và sự giải thoát là có thật. Từ đó, ta sẽ
nuôi dưỡng ý hướng muốn đạt tới Niết bàn, thoát được
mọi nỗi khổ. Nhưng như thế cũng chưa đủ, ta phải đi xa
hơn, nuôi lòng mong ước giúp cho tất cả chúng sanh đều thoát
khổ.
Tôi
đã giảng về những kinh nghiệm của riêng tôi, nghĩ rằng
như vậy có lợi ích cho các bạn nhất. Chúng ta tu học thì
nên nhìn xa. Ta khởi đầu với một căn bản vững vàng, xây
dựng một cái gì có giá trị tâm linh. Dĩ nhiên ta cần thời
gian, nhưng khi bắt đầu biết nhìn xa và cố gắng liên tục,
ta sẽ từ từ đạt được vài kết quả. Dù quả vị Phật
là chuyện xa vời, nhưng khi thực tập hàng này, ta nên bắt
đầu trên căn bản đó. Cuối cùng ta cũng có thể đạt tới
giác ngộ. Ðể có thể thực tập, ta phải biết làm gì và
làm cách nào, nên ta cần nghe hay đọc những bài giảng như
vầy.
