Thành
kính đảnh lễ
Trí
Tuệ Bất Nhị Thù Thắng. [1]
Này
Naropa thông minh, kẻ đang kham nhẫn khổ đau,
ngươi
đã chịu đựng gian nan, và hết lòng tận tụy với đạo
sư.
Do
vậy, cho dù Đại Thủ Ấn không có thể được phô bày,
ngươi
hãy một lòng ghi khắc lời dạy này, hỡi kẻ may mắn!
Ô!
Hãy nhìn kỹ vào các pháp [hiện tượng] thế gian!
Hư
ảo và hệt như mơ, chúng không thể còn mãi!
[Nhưng]
chúng không phải là mơ hay hư ảo trong đời thường.
Do
vậy, khi xa lìa được tà kiến,
ngươi
phát huệ, chiếu kiến vào các họat động thế gian.
Hòan
tòan cắt lìa các tâm thủ và xả, ưa thích và ghét bỏ
--
[các tâm đó là] cõi của luân hồi,
hãy
thiền định đơn độc nơi núi rừng.
Khi
cảnh giới vô-chứng (non-attainment) được chứng nhập,
nhờ
giữ tâm mình liên tục phi-thiền-định (non-meditation),
thì
Đại Thủ Ấn được thành tựu.
Những
chuyện thế gian là nguyên do của đau khổ.
Hãy
nhìn vào ý nghĩa cốt tủy tối hậu
mà
nhận chân ra cái vô dụng của hành vi so đo suy lường (deliberate
action).
Sự
thật vượt ngoài tri thức
sẽ
không thể thấy được bằng phương tiện tri thức.
Nơi
của vô-tác (non-action)
sẽ
không tới được bằng hành vi so đo tạo tác.
Nếu
ngươi muốn đạt tới nơi của niệm siêu vượt vô-tác,
thì
hãy cắt đứt gốc rễ của tâm,
và
hãy an nghỉ trong tánh biết trần trụi.
Hãy
để dòng sông ô nhiễm của niệm tưởng
vào
trong cái trong trẻo [tự nhiên] của nó.
Đừng
thủ hay xả, đừng nhận hay bỏ đối với các hiện tướng,
hãy
cứ để mặc chúng như chúng là.
Khi
không nhận mà cũng không bỏ,
thì
[tâm] được giải thóat vào Ðại Thủ Ấn.
Cũng
như, [khi] cắt đi cội rễ của một cây có nhiều cành và
cuống lá,
thì
mười ngàn cành và hàng trăm ngàn lá sẽ rụi tàn.
Cũng
như, ngay cả bóng tối gom về của một ngàn đại kiếp
cũng
bị xua tan bởi một ngọn đèn đơn độc.
Tương
tự, một khỏanh khắc bừng sáng của tự tâm
Chắc
chắn sẽ xua hết nhiều đại kiếp tội lỗi u mê.
Nếu
người hạ căn không thể an trụ trong nghĩa tối hậu,
họ
nên tập pháp Niệm Hơi Thở, [2]
và
đừng ráng sức đưa mình vào tánh biết.
Hãy
tinh tấn nỗ lực cho tới khi nào
ngươi
an trụ được trong tánh biết hiện tiền
nhờ
phuơng tiện Thiền Chỉ và Thiền Quán.
[3]
Cũng
như, khi ngươi nhìn vào giữa hư không,
tất
cả định kiến về biên địa và trung tâm đều biến mất.
Cũng
vậy, khi ngươi lấy tâm nhìn tâm,
thì
vô lượng niệm sẽ biến mất, và ngươi thấy được tự
tánh của tâm.
Cũng
như, hơi nước bay lên từ đất và mây tan biến vào hư không,
chúng
đi không về đâu và cũng không trụ vào bất kỳ đâu.
Cũng
thế, vô lượng niệm khởi lên từ tâm:
bằng
cách nhìn vào tự tâm mình, thì các làn sóng niệm biến mất.
Cũng
như, hư không lìa xa các sắc màu và hình tướng.
Hư
không bất biến, không nhiễm chút gì của trắng hay đen.
Cũng
thế, tự tâm, siêu vượt qua sắc màu và hình tướng,
thì
không nhiễm bởi các hiện tượng trắng, đen của đức hạnh
và tội lỗi.
Cũng
như, mặt trời trong trẻo và thanh tịnh
không
bị ngăn che bởi bóng tối của một ngàn đại kiếp.
Tương
tự, các đại kiếp trôi lăn trong luân hồi
không
thể ngăn che tự tánh chiếu ngời của tâm.
Cũng
như, mặc dù hư không bị xem là ‘rỗng không,’
nhưng
tự hư không lại không thể được mô tả bởi [các chữ]
như thế.
Tương
tự, cho dù tự tâm được mô tả là ‘tịnh quang,’
nhưng
vẫn không có cơ sở nào để xem xét nó qua các lời mô tả
như thế.
Thí
dụ, hư không vốn không chỗ trụ nào để bám víu, nương
tựa
Hệt
như hư không, Ðại Thủ Ấn -- tức là chính tự tâm mình
cũng
không có chỗ nào để trụ.
Hãy
[để tâm] an nghỉ tự nhiên
trong
dòng chảy liên tục nguyên sơ không tạo tác.
Khi
các buộc ràng được nới lỏng,
thì
không còn ngờ vực gì về giải thóat.
Trong
cách đó, tự tánh của tâm thì hệt như hư không.
Tất
cả các hiện tượng đều được bao trùm trong đó.
Hòan
tòan, đừng lao nhọc thân thể
và
hãy giữ [thân tâm] an nghỉ tự nhiên.
Không
nói nhiều, sẽ nghe [âm thanh] hệt như một tiếng vang.
Không
nghĩ ngợi tư lường, hãy nhìn vào thực tại được hiển
lộ minh bạch.
Thân
này mong manh, hệt như lau sậy;
và
tâm, hệt như giữa bầu hư không, siêu vượt cảnh giới của
niệm.
Hãy
an nghỉ [thân tâm] trong trạng thái đó,
không
rời ra hay đặt để vào, không xả không thủ.
Khi
tâm không còn chỗ trụ nào [vô sở trụ],
thì
đó là Ðại Thủ Ấn.
Khi
tự ngươi vào được như thế,
thì
sự giác ngộ tối thắng được thành tựu.
Khi
không còn một pháp [vật] để trụ,
thì
tâm trong trẻo tự nhiên.
Khi
không còn một đường nào [để đi],
thì
đã vào được con đường của chư Phật.
Bằng
cách an trụ phi-thiền-định,
thì
sự giác ngộ tối thắng được thành tựu.
Cái
nhìn bất nhị, siêu vượt tất cả chủ thể và đối tượng
là
vua của các thị kiến.
Khi
không còn dao động gì [ngòai cái nhìn này]
thì
đó là vua của các thiền định.
Khi
không còn tâm tạo tác suy lường nào,
thì
đó là vua của các pháp hành.
Khi
không còn mong đợi hay ngờ vực nào,
thì
quả được hiển lộ.
Tự
tánh vô sinh của vạn pháp hiển hiện khi tan bức màn vô minh.
Đừng
thực hành thiền định và hậu-thiền-định (post-meditation),
nhưng
hãy an nghỉ trong tự tánh vô sinh.
Như
thế, các cảnh tướng [ở ngòai], các niệm tưởng [ở trong],
và ý thức so đo suy lường đều biến sạch.
Giải
thóat hoàn toàn khỏi các biên vực là thị kiến tối thượng.
Không
bờ bến, sâu thẳm và bao la bát ngát, là thiền định tối
thượng.
Vô
tác, an trú trong tự tánh, là pháp hành tối thượng.
Xa
lìa các mong đợi, an trú trong tự tánh, là quả tối thượng.
Với
người mới tu, tâm hệt như thác nước.
Tới
giữa, nó chảy dịu dàng, như Sông Hằng.
Tới
tận cùng, nó hệt như sông chảy hòa vào biển -- như mẹ
và con hội ngộ.
Tánh
sáng, tức Ðại Thủ Ấn,
sẽ
không thấy được xuyên qua việc diễn giải [các cỗ
xe] ba-la-mật [Đại Thừa] và mật chú [Kim Cang Thừa],
các
bộ kinh kể cả bộ Luật Tạng,
hay
ngay cả xuyên qua các kinh luận đơn lẻ và hệ thống giáo
điều.
Khi
ngươi không còn tạo tác thêu dệt nào trong tâm,
và
không còn bất kỳ ước muốn nào,
thì
[các niệm] hệt như các đợt sóng tự sinh và tự diệt trong
nước.
Khi
một ước muốn khởi lên,
thì
tánh sáng bị che đi, và không được chứng ngộ.
Gìn
giữ các lời nguyện một cách khái niệm tri thức,
thì
ngươi đã vi phạm mật nguyện samaya [4]
trên tầng đệ nhất nghĩa.
Nếu
tâm an trú trong đệ nhất nghĩa vô trụ, phi đối tượng,
thì
mật nguyện samaya bất khả hư hoại là một ngọn đèn trong
bóng tối.
Khi,
vắng sạch bất kỳ ước muốn nào,
ngươi
không bị chấp thủ vào một cách nhìn nào,
thì
tất cả giáo pháp trong Kinh Phật, không loại trừ giáo pháp
nào,
đều
sẽ được chứng ngộ.
Nếu
ngươi gắng sức vào được chân lý này,
thì
ngươi sẽ được giải thóat khỏi nhà tù luân hồi.
Nếu
ngươi thiền định trong chân lý này,
thì
tất cả vô minh, chướng ngại và si mê sẽ bị thiêu rụi.
Do
vậy, nó được gọi là ngọn đèn của giáo pháp.
Những
người u mê không hướng tâm đến chân lý này,
cứ
đều đặn bị cuốn trôi đi và vùi dập bởi dòng sông lớn
của luân hồi.
Thật
là buồn khi chúng sanh cứ chịu nỗi khổ bất khả chịu đựng
của
việc tái sanh vào đường dữ.
Nếu
ngươi muốn giải thóat khỏi đau khổ, hãy theo một vị đạo
sư thượng thủ.
Được
ơn lành của thầy, tâm của ngươi sẽ được giải thóat.
Nếu
ngươi dựa vào dấu ấn hành động, [5]
thì
trí tuệ của Đại Lạc và Tánh Không sẽ khởi dậy.
Như
thế, hãy hợp nhất phước lành của phương tiện thiện xảo
và trí tuệ.
Tinh
lực sẽ từ từ hạ xuống, ngừng lại, đảo ngược và lan
tỏa.
Nó
sẽ được mang vào trong nội thân và lan khắp cơ thể.
Khi
không còn chấp thủ nào, trí tuệ của niềm an lạc rỗng
rang khởi dậy
và,
chiếu sáng như mặt trăng tròn đầy,
người
sẽ thành tựu trường thọ mà không bạc một sợi tóc.
Ngươi
sẽ trở thành sáng chói và rực rỡ, với năng lực như của
một sư tử.
Các
thành tựu thông thường sẽ mau chóng đạt được, dẫn tới
bậc thành đạt tối hậu.
Những
chúng sinh may mắn, hãy ghi nằm lòng lời khuyên cốt tủy này
về Ðại Thủ Ấn.
Bên
bờ Sông Hằng, những lời giảng này được Ngài Tilopa dạy
cho Naropa. Xin nguyện thành tựu công đức.
[1]
Trí Tuệ Bất Nhị Thù Thắng: Bản của Ari Kiev viết là ‘glorious
coemergence’; chữ coemergence có nghĩa là cái thấy bất nhị,
khi thấy tâm với pháp là một, khi thấy sinh tử với niết
bàn là một.
[2]
Bản của Ari Kiev viết là hãy ‘giữ điểm chủ yếu của
năng lực gió’ -- hold the vital point of wind energies. Như thế
sẽ tối nghĩa, cho dù có đúng với bản gốc Phạn Ngữ.
Bản
Anh Ngữ của Kunzang Tenzin nói rõ là niệm hơi thở: If the mind
is dull and you are unable to practice these instructions, Retaining essential
breath’ (Nếu tâm thô tháo và ngươi không có thể tu tập
các lời dạy này, giữ gìn hơi thở chủ yếu.)
Còn
bản Anh Ngữ của The Dharma Fellowship viết: ‘One who wishes to
attain this level of meditation should first begin by practicing remembrance
of the breath.’ (Học nhân nào muốn thành tựu bậc thiền này,
trước tiên hãy bắt đầu bằng pháp niệm hơi thở.)
[3]
Nhờ phương tiện chỉ và quán: dịch từ nhóm chữ ‘by means
of myriad gazes and [modes of] focused attention,’ nghĩa là ‘bằng
phương tiện chiếu kiến thâm sâu và [các trạng thái của]
sự chú tâm.’ Đối với người Việt, nói ngắn gọn là
‘nhờ phương tiện thiền quán và thiền chỉ’ thì dễ hiểu
hơn.
[4]
Samaya, gốc chữ Sanskrit, nghĩa là các lời nguyện Mật Tông
trong Phật Giáo Kim Cang Thừa; vi phạm các lời nguyện này
sẽ có ảnh hưởng cực kỳ tai hại.
[5]
Dấu ấn hành động, action mudra (Phạn: karmamudra): có 2 nghĩa
-- nghĩa thứ nhất là một thế ấn ở tay, biểu tượng hành
vi giác ngộ; nghĩa thứ nhì là nhờ sự trợ giúp của người
phối ngẫu tâm linh. Theo định nghĩa từ trang: http://www.namsebangdzo.com/Action_Seal_Seal_of_Action_p/g00012.htm
Bản
tiếng Anh do Ari Kiev chuyển ngữ. Copyright @ The Gar
Choding Trust, 2005. Giữ bản quyền. Bản tiếng Anh có trên trang
www.gar-choding-trust.org được tự do phổ biến nếu
giữ văn bản chính xác không thay đổi.
Bản
tiếng Việt do Cư Sĩ Nguyên Giác chuyển ngữ, dựa phần
chính vào bản tiếng Anh ‘The Ganges: Essential Instructions
on Mahamudra’ của Ari Kiev; một vài chỗ tham khảo thêm ở
2 bản Anh-ngữ khác: bản ‘Tilopa’s Mahamudra Instruction
to Naropa in Twenty Eight Verses’ của Kunzang Tenzin, tại http://www.kagyuasia.com/l_tilo_t_song_mahamudra2.html
và
bản ‘Ganga-Mahamudra-Upadesa of Sri Tilopa’ của The Dharma Fellowship,
tại
http://www.dharmafellowship.org/library/texts/the-ganga-ma.htm.
Viet_Vajra
Foundation trình bày và ấn tống để cúng dường
Ðại Sư Garchen Triptrül Rinpoche tôn quý, bậc thành tựu giả
Ðại-Thủ-Ấn, hiện thân của lòng từ bi vô lượng của
Quan-Âm. Nguyện tất cả chúng sinh sớm thành tựu Ðại-Thủ-Ấn
viên mãn, trong đời này, hoặc trong các đời sau.
Liên
lạc dịch giả Nguyên Giác: hai520222@yahoo.com
Liên
lạc Viet_Vajra Foundation: vietvajra@yahoo.com
Tháng
02/2006
Ngài
Tilopa (968-1069) sanh truởng tại xứ Ðông Bengal trong một gia
đình quý tộc Bà-la-môn. Ngài tu học với nhiều vị
thượng thủ, đặc biệt là qua linh kiến với các vị bổn
tôn như Vajrayogini,Vajrapani, Chakrasamvara, và với Ngài Long Thọ
(Nagarjuna) về tánh sáng, về thân huyễn ảo và pháp môn Mật
thừa Guhyasamaja. Khi làm vua, ngài đã dùng thần lực từ bi
để chặn đứng cả một đại quân khát chiến. Ngài
nhập thất tu ẩn nhiều năm và đạt đuợc nhiều chứng đắc
thâm diệu, nhưng chính khi được bổn sư Long Thọ giao phó
cho ngài công việc giã mè cho một điếm-nữ mà ngài
Tilopa đã đắc quả vô thượng trên tầng đệ nhất nghĩa.
Những
lời giảng này đã được ngài truyền lại cho đại đệ
tử của ngài là Naropa (1016-1100). Ngài Naropa xuất thân
là một vị hoàng tử xứ Ấn và là một học giả lỗi lạc
từ đại viện Phật Học Nalanda, nhưng ngài đã từ bỏ hết
thảy để tìm về dưới chân của đạo sư Tilopa, trải qua
12 cảnh khổ nhục cùng cực dưới sự hướng dẫn của thầy,
và đã đắc Ðại-Thủ- Ấn viên mãn. Hai ngài Tilopa
và Naropa được coi là hai vị Sơ Tổ của giòng ‘Khẩu Truyền’
Kagyu, sau truyền xuống đến các vị đại đạo sư Tây-Tạng
là Marpa Milarepa và Gampopa, cho đến tận ngày nay.