Thủ
đô Kualar Lumpur nằm ở phía Tây của bán đảo Malaysia. Từ
Kualar Lumpur đi về hướng Đông khoảng gần ba trăm cây số,
người ta sẽ đến bờ biển phía Đông. Xa lộ Miền Đông
vượt qua một miền núi non của bang Pahang và dẫn về thủ
phủ Kuantan. Trên đường đi, khách bỗng thấy ghi trên bảng
chỉ đường một địa danh quen thuộc mang tên Terengganu. Nhiều
điều xưa cũ của gần 30 năm về trước bỗng nhói dậy trong
lòng.
Kuantan
chỉ là một thị trấn nhỏ nhưng nằm trên bờ biển nên
là nơi hấp dẫn du khách. Một trong những khách sạn đón
khách quốc tế ở Kuantan nằm trên một mũi đất nhô ra biển
với hai bên là hai trái núi nhỏ. Hai trái núi này đáng gọi
là Hoa Quả sơn vì đây là nơi ẩn náu của loài khỉ.
Người
Malaysia hiền hoà hình như không thiết đến chuyện bắt khỉ
nên chúng khá lộng hành. Khách trú ở khách sạn được ân
cần khuyên nhủ đừng quên đóng cửa phòng. Khi từng nghiễm
nhiên xơi trộm trái cây của khách để quên trên ban công,
thậm chí có dịp thì lấy luôn cả món thịt sa tế truyền
thống ném cho lũ mèo đi dưới đất chẳng biết leo trèo như
chúng.
Hai
trái núi nằm tả hữu khách sạn xứng danh là rừng nhiệt
đới với cây cao bóng cả rậm rì. Khách đi dọc cầu gỗ
một bên là biển, một bên là núi, nhìn vào núi chỉ thấy
cây cối đan dày tối om. Hẳn trong rừng không chỉ có khỉ.
Ngoài kia là biển cả mênh mông, khách nhìn chếch về phía
Đông Bắc mờ mịt, hướng đó phải là mũi Cà Mau của chúng
ta, cách cả vài trăm cây số đường chim bay.
Người
ta đến Kuantan đề nghỉ dưỡng, tắm biển và tìm cảnh đẹp
của thiên nhiên hoang sơ. Họ hy vọng nơi đây chưa tràn ngập
quá nhiều khách du lịch. Thực vậy, Malaysia đã trở thành
một điểm dừng hấp dẫn của du khách, nhất là ở bờ biển
phía Tây với những địa danh nổi tiếng như Langkawi hay Penang.
Du
khách đến Malaysia thường bất ngờ trước sự chung sống
đầy thân thiện giữa các chủng tộc khác nhau, trong đó dân
bản xứ chiếm khoảng 60%, người Hoa 30% và người Ấn Độ
10%. Các tôn giáo lớn trên thế giới cùng tồn tại song song
bên nhau, để mỗi năm Malaysia phải cử hành đến bồn lần
lễ hội truyền thống, của Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Thiên
Chúa giáo và cuối cùng là Tết Âm lịch như chúng ta.
Lẫn
xem lịch sử cận đại của Malaysia, khách không thể không
nhớ đến Việt Nam. Trong lúc chúng ta phải lâm vào cảnh chiến
tranh chống lại nước ngoài, Malaysia có cái hạnh phúc không
phải đánh nhau với đế quốc nào.
Từ
khi được Anh trao trả độc lập năm 1957, họ xây dựng một
quốc gia nhiều chủng tộc, cởi mở với mọi chế độ khác
nhau trên thế giới. Với tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến
của quốc gia, Malaysia sớm gia nhập vào cộng đồng quốc
tế và phát triển nhanh theo đà toàn cầu hoá.
Xuôi
ngược trên đường phố Malaysia ta thấy người Âu chen lẫn
người Á, người da nâu trộn với da vàng, thiếu nữ bịt
khăn theo kiểu Hồi giáo vui vẻ chỉ đường cho khách nước
ngoài. Họ đã trở thành một nước giàu mạnh trong cộng
đồng Đông Nam Á, thậm chí họ đang rộng rãi tuyển chuyên
viên và lao động nước ngoài vào làm việc cho nền kinh tế
của mình.
Một
yếu tố nữa làm doanh nhân và du khách yêu Malaysia là khí
hậu ôn hoà và cây cối miền nhiệt đới của một nước
miền biển. Có lẽ không nơi nào nhiều dừa như Malaysia, và
cũng không nơi nào dừa mọc sát biển như tại các bãi ở
Kuantan. Mặt trời, bóng dừa và nước biển đã trở thành
biểu tượng của ngành du lịch, khách sạn xinh đẹp này không
hề thiếu chúng, khách thầm nhủ trên đường thẩn thơ đi
dạo.
Bên
cạnh vài gốc dừa bỗng hiện ra một chiếc thuyền. Đó là
một chiếc thuyền gỗ đen, mái tranh cao nhọn, mang mấy chữ
“The Sampan Bar”. Thì ra đây chỉ là một quán nước của
khách sạn trang trí như một chiếc thuyền. Quả thực trên
thuyền là những chiếc bàn xinh xắn cho du khách uống nước
ngắm biển nghe sóng.
Không
phải thế. Đến gần hơn, khách chú ý đến một tấm bảng
nhỏ mang tựa “The History of Sampan” với những dòng chữ:
“Chiếc thuyền này thường xuyên được neo tại đây vốn
là một chiếc thuyền của người Việt Nam di tản, đã dạt
vào bờ này với 167 người lớn và trẻ em vào tháng 5.1980”.
Khách
ngỡ ngàng nhớ lại. Trong những năm tháng đó, phần lớn
thuyền cập Malaysia đều đến Pulau Bidong. Pulau Bidong thật
ra là một hòn đảo vô danh, cách thành phố Terengganu khoảng
45 cây số, nằm về phía nam của quần đảo Pulau Redang mà
Redang là một thiên đường của ngành du lịch lặn biển.
Trong
một thời kỳ người Việt Nam lại biết đến Pulau Bidong
hơn mọi địa danh khác của Malaysia. Con thuyền này đến bãi
Teluk Champedak này tức là trôi dạt về hướng Nam thêm khoảng
hai trăm cây số nữa.
Một
giai đoạn khó khăn của dân tộc trở về trong đầu khách.
Cách đây gần 30 năm có một thời điểm, đó là những ngày
tháng đen tối nhất của lịch sử. Có nhiều người bỏ nước
ra đi và con thuyền này là một trong hàng chục ngàn chiếc
khác trong làn sóng to lớn đó.
Nhưng
con thuyền này đã gặp may, tất cả hành khách hẳn đã ứa
nước mắt vì mừng vui, đã sống lại, đã gặp dừa xanh,
nước ngọt, đất liền và gặp những người sẵn lòng giúp
đỡ họ. Nhưng cũng còn có những người khác, số phận bi
thảm hơn nhiều.
167
con người này, bây giờ đang ở đâu cả, đã có ai thấy
lại con tàu này chưa? Con tàu làm bằng những thanh gỗ vô
cùng chắc chắn, nhưng tại sao có nhiều lỗ khuyết lõm ở
đầu tàu? Từ mũi Cà Mau trên vùng Đông Bắc đó, con thuyền
đã trôi dạt khoảng trên 500 cây số về đây. Có ai gặp
nạn dọc đường không? Có nên nhắc lại chuyện cũ hay nên
để tất cả chìm trong bóng tối của quá khứ?
Những
kẻ liều mạng này đã hơn một lần được mệnh danh là
“không thích nghi” với xã hội mới. Đúng thôi. Nếu thích
nghi thì ai dại gì bỏ nước ra đi. Nhưng vấn đề không nằm
nơi họ mà ngược lại, các nhà kinh bang tế thế phải làm
sao cho mọi thành phần của xã hội phải được “thích nghi”,
nhất là khi các thành phần đó đều là những bộ phận của
một dân tộc duy nhất. Ở nhiều nơi khác trên thế giới,
nhiều chủng tộc khác nhau mà có thể “thích nghi” trong
một cộng đồng quốc gia, còn chúng ta chỉ là một dân tộc.
May
thay thời kỳ non trẻ đó đã trôi qua, nhiều kinh nghiệm quý
báu đã được tổng kết, người ta đã biết đắn đo hơn
khi nói về một thời đã qua. Ngày nay Việt Nam là một cộng
đồng hoà hợp tốt đẹp hơn xưa, thậm chí còn là chỗ “thích
nghi” cho một số người nước ngoài, là “điểm đến”
cho doanh nhân và du khách.
Có
những điều tưởng như giản đơn nhưng con người cần cả
một thế hệ mới hiểu hết. Bài học của hoà hợp dân tộc
và lòng cởi mở nhân ái ngày xưa của các vua Trần dường
như bị quên mất sau nhiều thời kỳ chiến tranh và chia cắt
khốc liệt, nay cần phải được ôn lại.
Có
lẽ trong số 167 người này đã có nhiều người trở lại
viếng quê hương, thậm chí có thể có người về sống luôn
tại Việt Nam. Những trẻ em ngày nọ có lẽ đã trở thành
những người hữu ích cho xã hội đã cưu mang mình. Đi và
về, nhận và cho, mỗi người đều phải tự làm trọn một
vòng cuộc đời của mình. Mỗi dòng đời là một số phận
nhỏ trong số phận lớn của dân tộc.
Con
tàu bằng gỗ đen vẫn đang nằm nghe sóng vỗ. Du khách đang
ngồi uống nước chắc chẳng bao giờ ngờ đến những gì
đã xảy ra trên khoang thuyền nhỏ hẹp này. Hàng trăm số
phận đã diễn ra một cách quyết liệt giữa tử và sinh.
Nơi đây hàng trăm con người đã thiết lập thành một thế
gian riêng, trong đó ý chí muốn sống và lòng tuyệt vọng
trước cái chết đan chen dày hơn cả cây rừng. Sóng gió trên
biển cũng không làm sao sánh được với lòng người trong
cảnh ngộ vô song này.
Nguyễn
Tường Bách
(Văn
hóa Phật giáo)
02-01-2008
09:23:34