Phần
III
NHỮNG
BẢN VĂN VỀ SÁU YOGA CỦA NAROPA
Giáo Huấn
Khẩu Truyền về Sáu Yoga
Đại Thành
Tựu giả Ấn Độ Tilopa
Kính
lễ Chakrasamvara Vinh Quang.
Hãy
tận dụng nhân quả nghiệp báo
Và
chiết suất được tinh túy của tiềm năng làm người.
YOGA
NỘI NHIỆT
Thân
thiền giả, một nhóm những kinh mạch
năng
lực,
Thô
và tế, có những trường năng lượng,
Cần
được đưa vào kiểm soát, sử dụng.
Phương
pháp bắt đầu với những thực tập thân thể.
Những
sinh khí được hút vào,
Làm
đầy, giữ lại và hòa tan.
Có
hai kinh mạch hai bên,
Kinh
mạch trung ương avadhuti,
Và
bốn luân xa (chakra)
Những
ngọn lửa khởi từ nội nhiệt tumo(1) ở rốn.
Một
dòng suối cam lồ giọt xuống
Từ
chữ HAM ở đỉnh đầu,
Khơi
dẫn bốn cái lạc.
Có
bốn kết quả, như quả tương tự với nhân,
Và
sáu thực tập bành trướng chúng.
Đây
là giáo huấn của Charyapa.
YOGA
THÂN HUYỄN
Mọi
vật sống động và vô tri của ba cõi
Đều
như những thí dụ về ảo ảnh, giấc mộng vân vân.
Hãy
thấy điều này trong mọi lúc, cả khi chuyển động và dừng
lặng.
Hãy
quan sát một bổn tôn ảo ảnh phản chiếu trong một tấm
gương ;
Hãy
lấy một hình vẽ Vajrasattva, và xem xét
Hình
ảnh phản chiếu xuất hiện sống động như thế nào.
Như
hình tướng ấy là một hình tướng ảo ảnh,
Với
tất cả mọi sự vật cũng thế.
Như
vậy thiền giả quán sát mười hai sự so sánh
Và
thấy sự thật mọi sự là ảo ảnh như thế nào.
Đây
là giáo huấn của Nagarjuna (Long Thọ).
Hãy
biết những giấc mộng là những giấc mộng,
Và
thường trực thiền định về ý nghĩa sâu xa của chúng.
Hãy
quán tưởng những chủng tử tự của năm đại
Với
hạt, nada và vân vân.
Người
ta tri giác chư Phật và những cõi Phật.
Thời
gian ngủ là thời gian cho phương pháp
Đem
đến sự thực hiện đại lạc.
Đây
là giáo huấn của Lawapa.
YOGA
TỊNH QUANG
Thiền
giả làm việc với kinh mạch trung ương
Để
tâm vào kinh mạch trung ương
Và
tập trung vào hạt ở trái tim.
Những
thị kiến sanh khởi, như những ánh sáng, tia sáng, cầu vồng,
Ánh
sáng mặt trời và ánh sáng mặt trăng khi mọc,
Mặt
trời, mặt trăng, và rồi
Những
hình tướng xuất hiện của những bổn tôn và hình sắc.
Trong
cách này vô số thế giới được tịnh hóa.
Con
đường yoga kỳ diệu nhất này
Là
giáo huấn của Nagarjuna.
YOGA
TRUNG ẤM
Thiền
giả vào lúc chết rút những năng lực
Của
những giác quan và những nguyên tố
Và
hướng những năng lực của mặt trời và mặt trăng đến
trái tim,
Làm
khởi lên vô số samadhi (đại định).
Thức
thường tham dự với những đối tượng bên ngoài,
Nhưng
nó nhìn chúng như những vật của một giấc mộng.
Những
hình tướng xuất hiện của cái chết kéo dài bảy ngày.
Hay
nhiều nhất là bảy lần bảy,
Và
rồi người ta phải nhận tái sanh.
Vào
lúc đó hãy thiền định yoga bổn tôn
Hay
chỉ đơn giản an trụ trong tánh không.
Sau
đó khi thời gian tái sanh đến,
Hãy
dùng yoga bổn tôn của một vị thầy mật thừa
Và
thiền định về guru yoga với bất cứ cái gì xuất hiện.
Làm
như vậy sẽ khiến kinh nghiệm trung ấm dừng lại.
Đây
là giáo huấn của Sukhasiddhi.
NHỮNG
YOGA CHUYỂN DI THỨC VÀ
PHÓNG
XUẤT MẠNH MẼ
Nhờ
những yoga này, vào thời gian chuyển di
Và
cũng nhờ phóng xuất mạnh mẽ vào thân khác,
Thiền
giả có thể sử dụng chủng tử tự của bổn tôn
Và
thực hành yoga bổn tôn phối hợp với
Hơi
thở ra và vào, dài và ngắn
Và
phóng xuất thức đến bất kỳ nơi đâu mình muốn.
Những
người muốn chuyển di đến một cõi cao
Có
thể chuyên tâm vào hai chữ YAM, cũng như
HI-KA,
và HUM-HUM.
Thức
được phóng đến trái tim
Của
bổn tôn không tách lìa khỏi guru,
Và
từ đó đến bất cứ cõi Phật nào mong muốn.
Đây
cũng là giáo huấn của Sukhasiddhi.
Lời
kết : Được viết ra từ lời dịch của đại thành tựu
giả Tilopa ; được dịch bởi Pandit trí giả Ấn Độ Naropa
và Marpa Lodrakpa Chokyi Lotru ở thánh địa Kash-miri, tức núi
Pushpahara.
Những
Câu Kệ Kim Cương của
Truyền
Thống Thì Thầm nơi Tai
Đại
Thành Tựu giả Ấn Độ Naropa
Kính
lễ Phật Vajradhara siêu việt và viên thành.
Eh-ma-hoh
!
Giáo
lý toàn hảo tối thượng của tất cả chư Phật,
Con
đường của hạt tối thượng của trí huệ chiến thắng,
Là
một thực tại vượt ngoài ngôn ngữ.
Nhưng
một lần tôi nghe những lời này của con đường vĩ đại
vô sanh :
“Ta,
Vajradhara, sẽ nói về nghĩa tốt lành ấy.
Hãy
kính lễ, hỡi Jnana Dakini, và lắng nghe.“
NHỮNG
TƯ CÁCH CỦA VỊ THẦY VÀ HỌC TRÒ
Vị
thầy cao cả là người đã
Uống
say với kinh nghiệm của Giới, Định, Huệ.
Học
trò đủ tư cách là người có
Tin
tưởng, nghị lực, thông minh và lòng bi,
Nhớ
nghĩ về những bất toàn của cuộc đời thế tục
Và
đã vượt khỏi mọi lưu tâm đến thế gian.
QUÁN
ĐẢNH NHẬP MÔN VÀ NHỮNG YOGA GIAI ĐOẠN PHÁT SANH
Lúc
bắt đầu người ta cần nương dựa vào truyền thống mật
thừa Chakrasamvara
Bằng
cách có bốn quán đảnh để vào mạn đà la sáu mươi hai
vị thần bổn tôn ;
Có
lẽ cũng nhận bốn quán đảnh của mười lăm dakini.
Hãy
làm trưởng thành tâm theo cách này, và thực hành trí huệ
và phương tiện phối hợp.
Hãy
nỗ lực hành bảy yoga, chẳng hạn những cái giống như vua
và tể tướng ;
Và
hòa hợp tất cả thành một vị, hãy chuyên tâm vào giới
luật Samaya.
YOGA
NỘI NHIỆT
Cột
trụ của con đường là sự tự cháy bừng của nội nhiệt
lạc phúc.
Với
tư thế thân theo bảy điểm, hãy thiền định
Về
một hình tướng của bổn tôn, thân thể như một vỏ rỗng.
Hãy
hình dung kinh mạch trung ương avadhuti, những kinh mạch hai bên
lalana và rasana,
Và
bốn luân xa, âm AH và HAM,
Sự
bừng cháy (của nội nhiệt) và nhỏ giọt (của các hạt).
Và
sự đi vào (kinh mạch trung ương)
Của
những năng lực sinh khí đi xuống
Hãy
thiền định về trì tụng kim cương với năm năng lực gốc.
Hãy
giữ lại và ổn định (những năng lực), và khởi dẫn kinh
nghiệm về trí huệ.
Hãy
hòa nhập bốn lạc và hòa lẫn những năng lực gốc và những
hạt.
Năng
lực và thức đi vào kinh mạch trung ương ;
Tâm
vượt khỏi ý niệm sanh khởi, những xúc cảm méo mó được
tự-bình lặng,
Và
một dòng không dứt của lạc phúc và sáng chói tuôn chảy.
YOGA
THÂN HUYỄN
Hãy
thấy bản tánh của Pháp thân và trầm mình trong Pháp thân.
Để
tăng cường tỉnh giác này, hãy thiền định về bản chất
như huyễn, tự-giải thoát của tám quan tâm thế gian.
Hãy
thấy mọi sự trong sanh tử và niết bàn là những ảo tưởng
;
Chúng
là như huyễn, như một cầu vồng và như trăng trong nước.
Những
hiện tượng tác động này xuất hiện với tâm :
Nếu
chúng là thật và tĩnh đọng như chúng có vẻ thế, thì làm
sao thay đổi có thể xảy ra ?
Nhưng
bởi vì chúng là những hình tướng hư vọng, trong bản chất
chúng không thật.
Hãy
thấy mọi hình tướng là những xuất hiện trống không, như
tiếng dội trong hang.
Bám
nắm vào nhị nguyên lắng xuống, và người ta thoát khỏi
thích và ghét.
Với
căn cứ là quán chiếu này, mọi hành động trở nên thoát
khỏi bám chấp
Và
người ta tiến đến thành tựu thân cầu vồng và Pháp thân.
YOGA
GIẤC MỘNG
Vào
ban đêm, hãy cố gắng cầu khẩn sự tự-tịnh hóa của những
giấc mộng mê mờ ;
Hãy
giữ ba cửa với cái móc của chánh niệm.
Giữ
lại, tịnh hóa, tăng cường và chuyển hóa những nội dung
của những giấc mộng,
Và
loại bỏ mọi chướng ngại cho sự thực hành.
Người
ta cỡi trên mặt trời và mặt trăng, du hành đến mọi cõi
Phật,
Và
nhìn xem ! Mọi ảo tưởng “tốt” và ”xấu” đều trở
thành tự-giải thoát.
YOGA
TỊNH QUANG
Cuối
cùng để chiếu rạng địa thứ mười và hoàn thành mục
tiêu vĩ đại,
Và
nhất là để tách lìa tịnh quang khỏi bóng tối vô minh,
Hãy
trau dồi những phương pháp yoga và đi vào bốn Định (samadhi)
;
Và
hãy nhìn ! Hạt thiêng liêng không bị ba độc giam giữ nữa.
Người
ta giữ gìn khoảng giữa của giấc ngủ và giấc mộng với
những ý tưởng,
Và
hòa nhập bốn giai đoạn và hòa lẫn sự thực hành của ngày
và đêm.
Một
kinh nghiệm không ngăn ngại và không thể diễn tả về tịnh
quang sanh khởi,
Nó
là trí huệ bổn nguyên thoát khỏi bám nắm vào sáng tỏ và
tánh không.
Và
nhìn thấy bản thân Đại Ấn.
YOGA
CHUYỂN DI THỨC
Trong
phương pháp làm ra vàng của chuyển di thức,
Nhờ
đó Phật quả được thành tựu mà không cần thiền định,
Hãy
chờ đợi những dấu hiệu của cái chết xảy ra, và rồi
Để
tâm trong một trạng thái hoan hỷ không bám nắm.
Hãy
đóng chín cửa thoát ra, áp dụng những căn bản mật thừa,
Và
trang hoàng sự thực hành với những nguyện vọng tâm linh.
Năng
lực và tâm được hòa trộn với HUM trong kinh mạch trung ương,
Thần
chú KSHA sáng chói ; (tâm) được phóng ra khỏi thân
Qua
con đường của cổng brama, và được phóng
Đến
Pháp thân của guru và rồi đến một cõi Phật.
YOGA
CỦA TRAU DỒI CÁI THẤY
Để
làm bật cháy sự rạng rỡ của trí huệ Đại Ấn,
Hãy
giữ ba cửa bất động và siết chặt năm giác quan.
Thấy
mà không thấy gì ; hãy nhìn thẳng vào bản tánh của tâm.
Để
tâm vào chánh vị của nó, không tạo tác và không một đối
tượng.
Không
nhìn ra ngoài, hãy chứng ngộ bản tánh của tâm,
Từ
nền tảng không tạo tác của nó, từ sự bắt đầu tự nhiên.
Hãy
đặt nó trong truyền thống vĩ đại của người bình thường
;
Không
chuyển động, thấy ra bầu trời bao la
Của
Pháp thân bất sanh bất diệt.
Dù
nhiều hiện tượng xuất hiện như những đối tượng bên
ngoài,
Chúng
chỉ là tâm của chính mình và không có hiện hữu nào khác,
Nào
kể gì những méo mó, ý niệm, và bám nắm nhị nguyên có
biểu lộ.
Và
hãy nhìn xem ! Những thứ đó tan mất theo dòng của chúng.
Tinh
túy của tâm là vô sanh, tánh không, Pháp thân.
Những
hiện diện sáng chói không dứt sanh khởi là Hóa thân.
Đại
lạc vô trụ của hợp nhất là Báo thân.
Đây
là nghĩa của Đại Ấn hay (tiếng Tây Tạng) chak-gya chenpo,
Ở
đây chak ám chỉ mọi sự được nhìn với trí huệ bất nhị
;
Gya
ám chỉ lạc của sự cởi thoát những nút thắt của tâm
thái sanh tử ;
Và
chenpo có nghĩa rằng nó là Pháp thân tự-giải thoát
Sanh
từ ngọn đèn của hợp nhất hoàn hảo, và không từ cái
gì khác.
Hai
che chướng là tự-giải thoát ; chủ thể và đối tượng
không còn phân cực.
Tâm
sanh diệt, và mọi sự vật trong sanh tử và niết bàn, tan
mất.
Phạm
vi của hiểu biết là tự-tròn đầy với mọi đức tính
Và
người ta trở thành một vị Phật tự-sanh, vượt khỏi tư
tưởng và lời nói.
NHỮNG
YOGA TRUNG ẤM
Nghĩa
sâu xa của đi vào trung ấm được phát lộ
Và
cắt đứt ba trung ấm :
Trung
ấm của sanh đến tử, trung ấm của giấc mộng, và trung
ấm của trở thành.
Không
cho, đó là cho ; không thấy, đó là cái thấy tối thượng.
Đây
là tâm tự-tỉnh giác rỡ ràng, trống không vượt khỏi ý
niệm và thoát khỏi mọi che chướng ;
Đại
lạc, cảnh giới của thực tại, trí huệ thanh tịnh rốt
ráo,
Vốn
bất khả phân, biểu lộ như là ba thân. Hãy nhìn !
Những
người chưa chứng ngộ thực hành với ba trung ấm cần hòa
hợp
Những
yoga giai đoạn phát sanh, yoga thân huyễn và yoga tịnh quang
và Pháp thân.
Những
nguyên tố – đất, nước, lửa, không khí – tuần tự hòa
tan ;
Tâm
tám mươi ý niệm được dừng lại, và ba thị kiến đi qua.
Yếu
tố trắng, yếu tố đỏ, và bản thân tâm gom vào hoa sen.
Khi
điều này xảy ra, hãy nhìn xem khuôn mặt của tâm tịnh quang
;
Hãy
hòa lẫn (hai tịnh quang) mẹ và con thành không thể tách lìa.
NHỮNG
KẾT QUẢ CỦA THỰC HÀNH
Hành
giả tốt nhất trên con đường của Phật quả Pháp thân
Thành
tựu giác ngộ ngay trong đời này nhờ những yoga này.
Hành
giả bậc trung hoàn thành giác ngộ trong trung ấm.
Như
một con cá trong nước, họ làm những chuyển hóa thuộc Báo
thân.
Năm
điệu múa, năm ánh sáng, ba độc, những nghiệp lực,
Thích
và ghét : khi đi đến tái sanh
Họ
áp dụng năm sự hòa lẫn và lấy tất cả làm con đường.
Đối
với những người trước kia đã tu hành bốn ấn,
Trung
ấm của trở thành là nơi chốn cho tự-giải thoát.
Những
hành giả bậc kém trở nên thoát khỏi thích và ghét
Và
thành tựu một tái sanh với thân lưu xuất.
Dùng
những giáo huấn tổng quát, họ loại trừ những trở ngại
Và
nhận biết các ma.
Họ
đi vào những thực tập thân kim cương khác nhau,
Như
sáu yantra gốc với ba mươi chín nhánh,
Và
dùng mỗi hoạt động như một nguồn cho những tích tập
Nếu
người ta có thể hoàn thành ba giai đoạn thực hành này không
lầm lỗi,
Trong
bốn khoảnh khắc ba niềm vui được phát lộ.
Những
hạt thanh tịnh rơi rắc từ trên và khởi sanh từ dưới ;
Những
nút thắt trong các luân xa được cởi mở,
Và
những năng lực sinh khí đi vào kinh mạch trung ương.
Những
năng lực sinh khí và những méo mó xúc tình – 21.600 và năm
gốc –
Được
dừng lại và trí huệ bổn nguyên sanh khởi.
Từ
Pullimaru trở lên, hai mươi bốn thắng cảnh và gần như thắng
cảnh
Đã
được đầy ; những giáo lý từ miệng của một Hóa thân
hay Báo thân hoàn hảo,
Một
trăm thấu thị đã hoàn thành, và người ta tìm thấy một
bình kho tàng.
Trong
một đời người ta đi qua những giai đoạn của con đường
giác ngộ
Và
đạt đến trạng thái của một vị Phật Vajradhara.
Trong
mười ba thế hệ giáo lý này
Cần
được dấu kín như là sự trao truyền miệng.
Nó
là tinh túy của tất cả Kinh và Tantra
Và
đem đến giải thoát cho người có phước
Hãy
dùng nó để thành tựu cái đầy ý nghĩa.
Lời
kết : Là trọn vẹn bản văn Những Câu Kệ Kim Cương : Một
Giáo Huấn cho Jnana Dakini. Nó từ miệng hiền triết Ấn Độ
Mahapandita Naropa, và được dịch (thành tiếng Tây Tạng) và
rồi được xác quyết bởi dịch giả Marpa Chokyi Lotru ở thắng
cảnh thiêng liêng được biết với tên là Pushpahari.
Bản Chép Tay
Con Đường Thậm Thâm Sáu Yoga của Naropa : Một Nguồn Tài
Liệu của Mọi Chứng Ngộ
TT.
Thabs lam na ro’i chos drug gi lag rjes dngos grub kun byung bởi Gyalwa
Wensapa Lobzang Dondrup
1505-1566
Kính
lễ Guru Vajradhara, cùng với vô số bổn tôn mạn đà la.
Để
đi vào thực hành Sáu Yoga của Naropa người ta phải hiểu
ba chủ đề : thực tại của nền tảng ; những giai đoạn
đi trên con đường ; và cách thức biểu lộ những kết quả.
THỰC
TẠI CỦA NỀN TẢNG
Thực
tại của nền tảng của kinh nghiệm chúng ta gồm ba chủ đề
: thực tại của thân ; thực tại của tâm ; và thực tại
của thân và tâm chung nhau.
Thực
tại của Thân
Thực
tại của thân có ba : thô, vi tế và rất vi tế.
Thân
thô là thân bình thường làm bằng thịt, máu, xương và sanh
từ tinh trùng và trứng của cha mẹ.
Thân
tế ám chỉ những kinh mạch chứa năng lực, những năng lực
trôi chuyển, và những hạt có năng lực sáng tạo đỏ và
trắng (nghĩa là âm và dương).
Thân
rất vi tế là năng lực vi tế nâng đỡ thức của bốn cái
không, đặc biệt là cái không thứ tư, được gọi là “cái
không rốt ráo”, nó là tâm tịnh quang.
Thực
tại của Tâm
Về
phần tâm, nó cũng có ba chiều kích giống như vậy : thô,
tế và rất vi tế.
Tâm
thô là cái tâm đồng khởi với năm thức giác quan.
Tâm
tế là cái tâm đồng khởi với sức mạnh điều khiển của
sáu méo mó gốc, hai mươi méo mó phụ và tám mươi khởi tâm
ý niệm.
Tâm
rất vi tế là chiều kích của thức cùng một bản chất với
bốn cái không, và đặc biệt cái thứ tư, “cái không rốt
ráo”, nó là tâm tịnh quang.
Thực
tại của cả Thân và Tâm chung nhau
Khi
chúng sanh gặp gỡ cái chết, những phương diện rất vi tế
của những năng lực sinh khí và của thức trở thành một
thực thể. Thực thể này là thực tại chung của cả thân
và tâm.
NHỮNG
GIAI ĐOẠN ĐI TRÊN CON ĐƯỜNG
Những
giai đoạn đi trên con đường gồm hai loại kỹ thuật chính
: những kỹ thuật để rút năng lực sinh khí vào kinh mạch
trung ương và những kỹ thuật được áp dụng sau khi những
năng lực đã được rút vào (kinh mạch trung ương).
Những
Kỹ Thuật để Rút Những Năng Lực Sinh Khí vào Kinh Mạch
Trung Ương
Kỹ
thuật để rút những năng lực sinh khí vào kinh mạch trung
ương bằt đầu với sự phát sanh hình ảnh của chính mình
như là Phật Vajradhara kết hợp đôi, và hình dung những kinh
mạch năng lực cùng với những chữ (âm) mật chú ở những
luân xa. Rồi người ta thiền định về nội nhiệt và về
những hạt chảy lỏng. Điều này làm cho năng lực sinh khí
đi vào, ở lại và hòa tan.
Dấu
hiệu chỉ sự đi vào của những năng lực sinh khí là, khi
một hơi thở được hít vào để trắc nghiệm sự tiến bộ
của người ta, không khí đi qua cả hai lỗ mũi một cách êm
nhẹ, trơn tru. Dấu hiệu chỉ rằng những năng lực đã được
làm ở lại là những thị kiến về những hòa tan cơ bản
và cũng về sự hòa tan của ba trạng thái thị kiến xảy
ra. Những hòa tan này phải được nhận biết một cách cá
nhân.
Trước
hết đất hòa tan vào nước và có một thị kiến như thấy
một ảo ảnh. Rồi nước tan vào lửa, và có một thị kiến
giống như khói. Tiếp theo lửa tan vào không khí, và có một
thị kiến như đom đóm lập lòe. Nguyên tố không khí bắt
đầu tan vào thức thì được gọi là “xuất hiện”, và
có một thị kiến giống như ánh sáng mờ của một ngọn
đèn sáp. Không khí hòa tan hoàn toàn vào “xuất hiện” và
có một thị kiến màu trắng, như một bầu trời trong sáng
mùa thu đầy ánh trăng tròn. Cái này tan vào thức thì gọi
là “gần gần” (ở trước dịch là “tăng trưởng”),
và có một thị kiến màu đỏ, như bầu trời trong sáng đầy
ánh sáng mặt trời. Cái này tan vào “gần đạt” (ở trước
dịch là “đạt đến”), và có một thị kiến bóng tối
bao trùm, như bầu trời trước bình minh, không mặt trăng mặt
trời. “Gần đạt“ bấy giờ tan vào tịnh quang ; có một
thị kiến rạng rỡ trong sáng, như bầu trời lúc rạng đông,
thoát khỏi ba hoàn cảnh. Người ta phải nhận biết những
kinh nghiệm này khi chúng xảy ra. Đây là tiến trình được
biết như “hòa nhập với Pháp thân trong trạng thái thức”.
Khi
đến lúc xuất khỏi định tịnh quang, người ta đề khởi
bản năng mạnh mẽ loại qua một bên những hợp uẩn cũ kỹ
và khởi lên trong hình tướng một vị Phật Vajradhara kết
hợp đôi. Rồi khi người ta khởi lên từ tịnh quang, những
hợp uẩn già nua sẽ bị bỏ qua một bên và trong tâm hình
thành hình ảnh một vị Phật Vajradhara kết hợp đôi. Đồng
thời người ta áp dụng những kỹ thuật khơi dẫn những
giai đoạn của sự hòa tan (mô tả ở trên) theo thứ tự ngược
lại. Như vậy người ta đi từ tịnh quang đến gần đạt,
đến gần gần, và đến xuất hiện. Người ta kinh nghiệm
những dấu hiệu của sự hòa tan cơ bản (tức là hòa tan
của những nguyên tố) theo chiều ngược lại : một ánh sáng
mờ của đèn sáp, những lập lòe như đom đóm, khói và cuối
cùng, ảo ảnh. Đây là tiến trình được biết như là “hòa
nhập với Báo thân trong trạng thái thức”.
Người
ta đi vào những giai đoạn thiền định về những chuyển
hóa liên kết với hình tướng Báo thân ấy và tập chú cái
định của người ta vào đó. Khi quyết định xuất khỏi
định, người ta làm điều này bằng cách thiền định về
những hợp uẩn cũ kỹ của người ta như là Con Người Biểu
Tượng (samayasattva), với Con Người Trí Huệ (jnanasattva) ở
trái tim. Đây là tiến trình được biết như là “hòa nhập
với Báo thân trong trạng thái thức”.
Đồng
thời với sự việc này, khi không khí bắt đầu qua hai lỗ
mũi trở lại và năm thức giác quan sống lại, bất cứ hình
tướng xuất hiện nào xảy ra đều được thấy là tánh không,
tánh không như lạc, và lạc như mạn đà la và những bổn
tôn của nó. Đây là sự thực hành được trau dồi trong những
thời sau-thiền định.
Tương
tự, khi đi ngủ người ta cố gắng giữ lại tịnh quang của
giấc ngủ và quyết tâm sanh khởi như một bổn tôn Báo thân
trong trạng thái mộng. Khi người ta chuẩn bị ngủ người
ta đi vào những thiền định về những kinh mạch, năng lực
và luân xa, làm cho những hạt tan chảy và những lạc sanh
khởi. Những năng lực sanh khí đi vào, ở lại và hòa tan
trong kinh mạch trung ương. Mọi dấu hiệu của tiến trình
hòa tan xảy ra, từ “đất vào nước”, cho đến sự khởi
hiện của tịnh quang. Bốn cái không khởi hiện trong bản
chất của bốn cái lạc. Đồng thời khi tịnh quang xảy ra,
người ta đi vào thiền định về lạc hòa hợp với (trí
huệ) tánh không. Đây là tiến trình được biết là “hòa
nhập với Pháp thân trong giấc ngủ”.
Khi
đến lúc khởi lên từ tịnh quang ấy, người ta quyết tâm
sanh khởi với một thân giấc mộng bằng cách bỏ qua một
bên thân hợp uẩn cũ kỹ và mang lấy hình tướng của một
vị Phật Vajradhara kết hợp đôi. Rồi khi người ta khởi
lên từ tịnh quang (của giấc ngủ) thân giấc mộng xuất
hiện. Tuy nhiên, người ta không làm điều đó trong thân các
hợp uẩn cũ ; mà thân giấc mộng sanh khởi với tâm như là
một vị Phật Vajradhara kết hợp đôi. Đây là cái được
biết như “hòa nhập với Báo thân trong giấc mộng”.
Người
ta tập chú cái định vào những thiền định của những tiến
trình chuyển hóa của Báo thân ấy. Khi đến lúc thức dậy
từ giấc ngủ, người ta làm điều đó bằng cách khởi lên
với những hợp uẩn cũ được hình dung như là Con Người
Biểu Tượng với Con Người Trí Huệ ở trái tim mình. Đây
là tiến trình được biết như “hòa nhập với Hóa thân
khi thức dậy”.
Đồng
thời với điều này, khi không khí bắt đầu qua hai lỗ mũi
và năm thức giác quan sống lại, bất cứ hình tướng nào
xuất hiện đều được thấy là tánh không, tánh không như
lạc, và lạc như những bổn tôn mạn đà la. Đây là sự
thực hành được trau dồi trong những thời sau-thiền định.
Thiền
giả không có khả năng hoàn thành những chứng ngộ giai đoạn
cao nhất trước thời gian chết cần trau dồi quyết tâm áp
dụng những kỹ thuật để lưu giữ tịnh quang của cái chết,
sanh khởi trong Báo thân trong trung ấm và nhận lấy sự sanh
với tái sanh của một vị thầy mật thừa, hay mantracharyin.
Bấy giờ lúc cái chết đến gần, người ta cần thiền định
về những kinh mạch, những năng lực, những luân xa… như
ở trên, và thiền định về sự cháy hừng và tan chảy. Điều
này khiến cho những năng lực sinh khí đi vào kinh mạch trung
ương và ở lại rồi hòa tan, phát sanh những dấu hiệu của
những hòa tan, cho đến những dấu hiệu của tịnh quang xảy
ra. Khi tịnh quang của cái chết khởi hiện, người ta chú
tâm vào thiền định về tánh không. Đây là tiến trình được
biết như “hòa nhập với Pháp thân vào lúc chết”.
Khi
đến lúc sanh khởi từ tịnh quang, người ta phát khởi bản
năng bỏ qua một bên những hợp uẩn cũ và, khi lấy một
thân trung ấm, sanh khởi trong hình tướng một vị Phật Vajradhara
kết hợp đôi. Bấy giờ từ tịnh quang người ta phát khởi
hình ảnh của thân trung ấm như là Phật Vajradhara kết hợp
đôi, và những hợp uẩn cũ được bỏ qua một bên. Đồng
thời những dấu hiệu của tiến trình hòa tan biểu lộ theo
chiều ngược, thức trở ngược lại từ tịnh quang đến
gần đạt… cho đến thị kiến ảo ảnh. Đây là tiến trình
được biết như “hòa nhập với Báo thân trong trung ấm”.
Người
ta vẫn chú tâm vào những cấp bậc định trong những thiền
định của những chuyển hóa Báo thân. Rồi khi muốn nhận
lấy tái sanh, người ta tìm một môi trường di truyền thích
hợp trong những hạt trắng và đỏ của cha mẹ tương lai
để hoàn thành tái sanh như là một pháp khí đặc biệt của
một vị thầy mật thừa. Đây là tiến trình được biết
như là “hòa nhập với Hóa thân vào lúc tái sanh”.
Chúng
sanh vào bụng mẹ theo cách này sẽ đi qua năm giai đoạn lớn
lên, như giai đoạn chỉ là một khối kết những tế bào…
Đến lúc rời bụng mẹ, qua tuổi ấu thơ và thanh niên, rồi
đi vào thực hành và hoàn thành phần còn lại của con đường,
như thế thành tựu Phật quả.
Kỹ
thuật được Áp dụng sau khi những Năng lực đã được rút
vào (kinh mạch trung ương)
Sau
khi chuyên tâm vào những phương pháp này để hướng dẫn
những năng lực sinh khí vào kinh mạch trung ương, về sau người
ta hoàn thành một nhập định thông thạo trong tiến trình.
Người ta sớm tri giác những dấu hiệu tiếp cận giai đoạn
trong đó thân huyễn có thể được phát sanh. Với điều kiện
bên ngoài là quán tưởng karmamudra, người ta đi vào điều
kiện bên trong, tức là thiền định về những kinh mạch,
luân xa… và thiền định về cháy hừng và chảy lỏng. Những
năng lực sinh khí được làm cho đi vào kinh mạch trung ương
và ở lại và hòa tan, phát sanh những dấu hiệu của hòa
tan, từ ảo ảnh v.v… cho đến dấu hiệu của tịnh quang.
Bốn cái không hiện khởi trong bản chất của bốn lạc. Khi
tịnh quang bổn nguyên (hay vốn sẵn, bẩm sanh) sanh khởi, người
ta thiền định về lạc hòa hợp với tánh không. Đây là
kỹ thuật đi vào tịnh quang bổn nguyên ‘tương tự’, và
với nó căn cứ của thân huyễn được sanh thành.
Khi
đến lúc xuất khởi khỏi tịnh quang, người ta phát khởi
bản năng để qua một bên những hợp uẩn cũ và lấy hình
tướng của một vị Phật Vajradhara kết hợp đôi. Rồi khi
người ta sanh khởi từ tịnh quang, năng lực sinh khí của
năm ánh sáng chiếu diệu, trên đó tịnh quang bổn nguyên cưỡi
lên, được dùng như nguyên nhân chất thể ; và tâm dùng như
điều kiện hiện diện đồng thời. Căn cứ trên những cái
đó, những uẩn cũ được bỏ qua và người ta sanh khởi trong
hình tướng của một vị Phật Vajradhara kết hợp đôi, trang
hoàng bằng những tướng chánh và phụ. Đây là giai đoạn
của “thân huyễn chưa thanh tịnh”. Đồng thời người ta
kinh nghiệm tiến trình hòa tan ngược lại, đi từ tịnh quang
đến gần đạt v.v… cho đến dấu hiệu ảo ảnh.
Trong
những hệ thống tantra như Guhyasamaja thân huyễn này được
minh họa và giải thích bằng cách dùng mười hai cái tương
tự.(2)
Vào
lúc ấy ba yếu tố xảy ra đồng thời : sự dừng dứt của
cái tương tự với cái bổn nguyên (nghĩa là thức tịnh quang
“tương tự” hay “ẩn dụ”), sự viên mãn của gần đạt
trong tiến trình hòa tan, và sự khởi lên trong hình tướng
thực sự của một “thân huyễn chưa thanh tịnh”. Bấy giờ
người với thân huyễn ấy chú tâm vào những giai đoạn của
định.
Người
ta đi vào những giai đoạn của định như thế nào ?
Trước
hết người ta thiền định về những “pha” của tiến trình
hòa tan, nó khiến cho những năng lực sinh khí đi vào kinh mạch
trung ương, ở lại và hòa tan. Điều này làm khởi lên những
dấu hiệu của các định, từ ảo ảnh đến tịnh quang. Khi
đến lúc khởi lên khỏi tịnh quang người ta phát sanh quyết
tâm có một thân huyễn chưa thanh tịnh chuyển hóa thành một
thân huyễn thanh tịnh. Bấy giờ khi người ta sanh khởi từ
tịnh quang, thân huyễn chưa thanh tịnh bị bỏ qua một bên
và hình ảnh của thân huyễn thanh tịnh sanh khởi trong tâm.
Đồng thời với cái đó, người ta kinh nghiệm tiến trình
hòa tan theo chiều ngược lại. Người ta đi từ tịnh quang
đến gần đạt v.v…, cho đến dấu hiệu ảo ảnh. Người
đi vào hình tướng Báo thân ấy bấy giờ sanh khởi như Hóa
thân, lưu xuất ra những mạn đà la được duy trì và duy trì.
Khi người ta muốn sanh khởi từ thiền định, người ta làm
điều đó bằng cách thiền định về những uẩn cũ như là
Con Người Biểu Tượng với Con Người Trí Huệ ở trái tim.
Ở
trong bình chứa (pháp khí) này người ta chỉ dạy Pháp cho
những người tu hành và trau dồi những hoạt động sau-thực
hành, bao gồm cả những sinh hoạt như ăn, uống…
Hành
giả của giai đoạn thân huyễn này trau dồi những thiền
định cao cấp ấy và sau cùng thấy những dấu hiệu rằng
sự thành tựu giai đoạn gọi là “đại hợp nhất của tu
hành” đang đến gần. Nó đi vào điều kiện bên ngoài và
điều kiện bên trong là những thiền định về những giai
đoạn hòa tan… làm cho những năng lực sinh khí đi vào kinh
mạch trung ương, ở lại và hòa tan. Những dấu hiệu của
những hòa tan xảy ra, từ ảo ảnh đến tịnh quang. Bốn cái
không sanh khởi trong bản chất bốn lạc. Vào khoảnh khắc
của tịnh quang bổn nguyên, người ta đi vào thiền định
về lạc hòa hợp với tánh không.
Vào
lúc đó năm yếu tố đồng thời xảy ra : trạng thái “gần
đạt trong tiến trình hiển lộ” ngừng dứt ; lạc bổn nguyên
khơi dẫn một chứng ngộ trực tiếp chưa từng có về tánh
không ; thân huyễn được tịnh hóa trong tịnh quang thực sự,
xuất hiện như một cầu vồng trong bầu trời rạng rỡ ;
người ta hoàn thành giai đoạn không ngăn ngại trong đó đối
trị trực tiếp với những che chướng xúc cảm (phiền não
chướng) được sanh ra trong dòng tâm ; và dòng tương tục
của người ta trở thành dòng tương tục của một vị thánh.
Lúc
tiến trình khởi lên khỏi tịnh quang bắt đầu, sức mạnh
hướng dẫn trước kia trong thực hành sẽ vào cuộc, đặt
người ta ở cánh cửa qua đó thân huyễn thanh tịnh có thể
được hoàn thành. Khi người ta khởi lên từ tịnh quang, với
vai trò của nguyên nhân chất thể được vào cuộc bởi năng
lực vi tế của năm ánh sáng chiếu diệu, trên đó thức tịnh
quang bổn nguyên và thực sự cỡi lên, và vai trò của điều
kiện hiện diện đồng thời được vào cuộc bởi tâm, người
ta khởi lên trong một “thân huyễn thanh tịnh” thực sự.
Thân huyễn thực sự này là một dòng không đứt đoạn trong
một hình tướng như của Phật Vajradhara kết hợp đôi, trang
hoàng bởi những tướng chánh và phụ, với những uẩn cũ
để lại đàng sau.
Đồng
thời biểu lộ những dấu hiệu của tiến trình hòa tan ngược
lại, từ tịnh quang đến gần đạt cho đến dấu hiệu ảo
ảnh. Vào lúc đó năm yếu tố cùng xảy ra : ‘thức tịnh
quang bổn nguyên thực sự’ ngừng dứt ; trạng thái ‘gần
đạt’ trong tiến trình hòa tan được sanh ra ; sự khởi lên
của “thân huyễn thanh tịnh” ; người ta hoàn thành con đường
giải thoát rốt ráo thoát khỏi những che chướng xúc cảm
; và dòng tương tục của người ta trở thành dòng tương
tục của một A La Hán.
Con
người của hình tướng Báo thân ấy bấy giờ chú tâm vào
định.
Cái
gì là những giai đoạn của định ấy ? Người ta tập chú
vào thiền định nhất tâm về tánh không và rồi khiến cho
những năng lực sinh khí đi vào kinh mạch trung ương, ở lại
và hòa tan, làm khởi lên những dấu hiệu, cho đến tịnh
quang xảy ra. Vào lúc đó người ta đã đạt đến chỗ, nơi
đó trạng thái đại hợp nhất có thể được hoàn thành
không trở ngại, nơi thân và tâm có thể được cùng hòa
hợp thành một thực thể duy nhất. Ở đây thân là thân huyễn
thanh tịnh trang hoàng bởi những tướng chánh và phụ, và
tâm là thức tịnh quang thực sự.
Khi
đến lúc sanh khởi từ kinh nghiệm tịnh quang ấy, sức mạnh
hướng dẫn trước kia từ sự thực hành vào cuộc, và người
ta thấy mình ở cánh cửa qua đó thân của “đại hợp nhất
trong tu hành” có thể trở thành thân của “đại hợp nhất
vượt khỏi tu hành”. Khởi lên từ tịnh quang, người nơi
giai đoạn của “đại hợp nhất của tu hành” tri giác hình
ảnh thân thể của giai đoạn “đại hợp nhất vượt khỏi
tu hành”. Đồng thời những dấu hiệu của tiến trình ngược
lại xảy ra, từ tịnh quang đến gần đạt v.v… cho đến
ảo ảnh.
Báo
thân ấy nắm giữ tiềm năng của Hóa thân và Hóa thân lưu
xuất một mạng hoạt động, như biểu lộ những mạn đà
la được duy trì và duy trì.
Khi
người ta muốn sanh khởi khỏi thiền định, người ta đi
vào những hợp uẩn cũ hay những hợp uẩn cũ khác, tùy cái
nào thích hợp. Rồi, ở trong bình chứa đó, người ta chỉ
dạy Pháp cho những người tu hành và trau dồi những hoạt
động sau-thực hành…
CÁCH
BIỂU LỘ NHỮNG KẾT QUẢ
Thiền
giả ở giai đoạn đại hợp nhất của tu hành trau dồi những
định của cấp độ đó trong cả thiền định chính thức
và sau-thiền định, và sau cùng thấy những dấu hiệu của
sự tiếp cận với chứng đắc “đại hợp nhất vượt khỏi
tu hành”. Người ta có điều kiện bên ngoài là quán tưởng
karmamudra và điều kiện bên trong là thiền định nhất tâm
về tánh không, làm cho những năng lực sinh khí đi vào kinh
mạch trung ương, ở lại và hòa tan. Những dấu hiệu xảy
ra, bắt đầu bằng ảo ảnh v.v… cuối cùng đến những dấu
hiệu của tịnh quang biểu lộ. Bốn cái không sanh khởi trong
bản chất của bốn lạc.
Giây
phút tịnh quang bổn nguyên này biểu lộ, người ta đi vào
thiền định về lạc hòa hợp với (trí huệ) tánh không.
Khoảnh khắc thứ nhất của tịnh quang này là giai đoạn không
ngăn ngại trong đó những chướng ngại tri giác (sở tri chướng)
được vượt qua. Khoảnh khắc thứ hai của nó cũng là khoảnh
khắc đầu tiên của Phật quả toàn giác, trong đó người
ta an trụ trong định toàn hảo về bản tánh tối hậu của
tất cả hiện hữu, cùng lúc thấy trực tiếp mọi thực tại
quy ước rõ ràng như một miếng trái cây trong lòng bàn tay.
Thân của đại hợp nhất của tu hành trở thành đại hợp
nhất vượt khỏi tu hành, Báo thân thực sự phát ra hàng ngàn
Hóa thân lưu xuất để làm lợi lạc cho những ai tu hành.
Như vậy người ta hoàn thành Phật quả trọn vẹn trong bản
tánh của ba thân.
Như
một sơ bộ để đạt đến giai đoạn đại hợp nhất vượt
khỏi tu hành, người ta phải đi qua giai đoạn đại hợp nhất
của tu hành. Như một sơ bộ cho cái đó người ta phải hoàn
thành thân huyễn, và để cho điều đó người ta trước hết
thiền định về những kinh mạch, luân xa, cháy bừng, tan chảy
v.v…
Lần
lượt, như một sơ bộ (cho những thực hành của giai đoạn
thành tựu này) người ta phải đi đến chỗ kết thúc của
những thực hành giai đoạn phát sanh thô và tế, chúng lấy
sanh, chết và trung ấm, những căn cứ cần tịnh hóa, như
là những con đường của ba thân. Để cho điều này người
ta phải đã nhận quán đảnh trọn bộ và trưởng thành, chín
chắn trong việc tuân thủ những giới luật được trao vào
lúc quán đảnh. Hơn nữa, trước khi vào thực hành mật thừa
người ta cần tu hành tâm thức trong con đường chung, từ
trau dồi một tương quan làm việc hiệu quả với một vị
thầy tâm linh, cho đến tu hành thiền định phối hợp shamatha
(chỉ) và vipassyana (quán).
Như
vậy hành giả như viên ngọc quý đi vào con đường sâu xa
của Sáu Yoga của Naropa theo cách này đã vào con đường trọn
vẹn và không lỗi lầm cho sự thành tựu giác ngộ trong một
đời ngắn ngủi, dù trong thời đại suy đồi này.
Lời
kết : Những ghi chú về dòng những giáo lý của Vajradhara
Lobzang Dondrup, với không có gì vượt quá và không có gì bỏ
sót, được sao chép và ấn hành bởi nhà sư Phật giáo Basowa
Tenpai Gyaltsen (đệ tử của ngài Lobzang Dondrup).
(1)
Tummo : Tôi dịch từ Sanskrit chandahi là “nội nhiệt”. Từ
tương đương của Tây Tạng là tummo, trong đó âm thứ nhất
nghĩa là “mãnh liệt” và ám chỉ lạc ấm áp sanh khởi
từ thực hành, và âm thứ hai, một phần tử giống cái, ám
chỉ trí huệ là đối tượng của cái lạc ấy. Tum là giống
đực và mo giống cái, chỉ ra sự cần thiết phải quân bình
giữa hai yếu tố dương và âm – nghĩa là năng lực và trí
huệ – trong sự tu tập.
(2)
Mười hai cái tượng tự : một xuất hiện như ảo ảnh, những
vật trong một giấc mộng, một ảo giác, một phản chiếu
trong gương, tia chớp trong bầu trời, một tiếng vang trong
hang núi, một cầu vồng, mặt trăng trong nước, một thành
phố của Càn thát bà, những hình đám mây làm mắt mê lầm,
và hình dạng do huyễn thuật.
NHỮNG SÁCH
ĐÃ XUẤT BẢN
Những
Khai Thị Từ Đức Liên Hoa Sanh Về Con Đường Đại Toàn Thiện
– Padmasambhava
Trí
Huệ Và Đại Bi – Dalai Lama Thứ 14
Một
Tia Sấm Chớp Sáng Trong Đêm Tối – Dalai Lama Thứ 14
Kho
Tàng Tâm Của Các Bậc Giác Ngộ – Dilgo Khyentse
Đại
Toàn Thiện Tự Nhiên – Khenpo Nyoshul
Con
Đường Đến Tự Do Vô Thượng – Dalai Lama Thứ 14
Con
Đường Kim Cương Thừa Về Sự Tịnh Hóa – Lama Yeshe
Cuộc
Đời Siêu Việt Của 16 Vị Tổ Karmapa Tây Tạng – Karma Thinley
Mật
Thừa Tây Tạng – Tsong Khapa và Dalai Lama Thứ 14
Những
Yoga Tây Tạng Về Giấc Mộng Và Giấc Ngủ – Tenzin Wangyal
Rinpoche
Những
Giáo Huấn Của Gampopa – Lama Yeshe Gyamtso và Evans Wentz
Tu
Hành Tâm Linh Liên Hệ Với Trung Ấm – Tulku Pema Wangyal
Năng
Lực Chữa Lành Của Tâm – Tulku Thondup
Phật
Tâm – Longchen Rabjam
Milarepa
¬– Lobsang P. Lhalungpa
Con
Đường Căn Bản Đến Giác Ngộ – Chošgyam Trungpa
Tử
Thư Tây Tạng – Chošgyam Trungpa và Francesca Fremantle
Nghệ
Thuật Để Sống Trọn Vẹn Ý Nghĩa Cuộc Đời – Akong Tulku
Rinpoche
Đại
Ấn – Karmapa Thứ Chín Wangchug Dorje
Sông
Lửa Sông Nước – Taitetsu Unno
Vài
Chú Giải Về Thiền Đốn Ngộ – Nguyên Giác Phan Tấn Hải
Một
Kho Tàng Các Giáo Huấn Siêu Việt – H. H. Orgyen Kusum Lingpa
Bát
Nhã Tâm Kinh Thiền Giải – Đương Đạo
Những
Chữ Vàng – Garab Dorje
Bức
Thư Bồ Tát Long Thọ Gởi Cho Vua Gautamiputra – Sakya Trizin
Yoga
Giấc Mộng Và Sự Thực Hành Ánh Sáng Tự Nhiên – Namkhai
Norbu
Tịnh
Độ Tư Tưởng Luận – Các đại sư Tịnh Độ Trung Hoa
Uống
Dòng Suối Núi – Milarepa
Đức
Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Chúa Jésus – Dalai Lama Thứ 14
Mười
Tư Tưởng Pháp Hoa Trong Đời Sống Hàng Ngày – Đương Đạo
Tánh
Giác Lộ Toàn Thân – Karma Chagmé
Chánh
Pháp Nhãn Tạng – Thiền sư Đạo Nguyên
Sống
Trong Tham Thiền Chu Kỳ Ngày Và Đêm – Namkhai Norbu
Thực
Tại Thiền – Đương Đạo
Sáu
Yoga Của Naropa – Garma C. C. Chang và Glenn H. Mullin
Xã
Hội Giác Ngộ – Chošgyam Trungpa
Đánh
Thức Trí Thông Minh – J. Krisnamurti
Viên
Ngọc Như Ý – Dilgo Khyentse
Chú
Giải Về P’howa – Chagdud Khadro
Những
Lối Vào Pháp Thân – Dudjom Lingpa
Ngữ
Lục Bồ Đề Đạt Ma – Nguyên Hảo dịch
Yên
Tĩnh Và Trong Sáng – Lama Mipham
09-01-2007
04:34:45