Phần II
Tóm lược
một dẫn nhập
vào
Sáu Yoga của
Naropa
Tóm
lược một dẫn nhập vào Con Đường Thậm Thâm
Sáu
Yoga của Naropa
viết
bởi Drashi Namjhal
Đảnh
lễ Guru Dorje Chang (Kim Cương Trì).
Nhất
thể của bản thể và hiện tượng
Là
thực tại của Pháp
Sự
đồng nhất của Phương tiện và Trí Huệ
Là
Con Đường của Lạc-Không.
Tính
nhất như của các sắc và Không
Là
Quả của Ba Thân.
Trước
Phật Kim Cương Trì, người chỉ bày
Con
Đường
Con
xin đảnh lễ.
Tịnh
hóa thân, khẩu và tâm
Ngài
làm chủ ba Yoga,
Đã
tìm được sự Thành Tựu Tối Thượng ;
Trước
Gampopa,(1) Guru vô song,
Con
xin chân thành đảnh lễ.
Tánh
Không phúc lạc của Bí Mật Nhiệt Tum-Mo
Là
tinh túy của tuồng huyễn thuật.
Những
Yoga Thân Huyễn và Giấc Mộng
Là
tinh túy của Ánh Sáng.
Trong
cõi Trung Ấm, đạt được Ba Thân
Giúp
cho sự sanh về các cõi Phật.
Trước
những Guru trong Dòng Phái
Đã
chủ trị mọi Yoga này,
Con
xin chân thành đảnh lễ.
Những
Yếu Chỉ của Sáu Yoga này
Được
giới thiệu ở đây để giúp đỡ người có khả năng.
Hỡi
Đấng của những Bí Mật và của những Dakini,
Con
cầu xin Ngài hướng dẫn chúng con với sự ban phước.
Giáo
lý này được ban cho những người đã từ bỏ thế gian, và
tha thiết đạt đến Phật quả trong chỉ đời này. Chính
vì để giúp cho những người thành tâm có khả năng trong
hai Yoga(2) nhanh chóng đạt đến Ba Thân của Phật tánh mà
sự giảng giải về những giáo lý tinh yếu của Con Đường
Thậm Thâm được viết ra.
Trước
hết, chúng ta sẽ ôn lại ngắn gọn những nguyên lý nền
tảng của sự thực hành (về Sáu Yoga) ; rồi chúng ta sẽ
bàn luận những thực hành đó trong chi tiết ; và cuối cùng
chúng ta sẽ bình luận về kết quả, hay là sự Thành Tựu.
NHỮNG
NGUYÊN LÝ CĂN BẢN
CỦA
THỰC HÀNH TANTRA
Những
nguyên lý căn bản của thực hành (Tantra) nằm trong một sự
hiểu biết về (sự tương quan giữa thân người và Thân của
Phật quả). Bởi thế người ta cần phải hiểu bản chất
của năng lực khí (prana), kinh mạch (nadi) và hạt (bindu), và
toàn bộ hoạt động của thân thể vật lý. Nói tổng quát,
thiền giả cần biết sự cấu tạo của Thân Kim Cương, làm
bằng Sáu Đại (địa, thủy, hỏa, phong, không, thức) – sự
sanh thành, hiện hữu và hoại diệt của nó. Đặc biệt, người
ấy cần biết kinh mạch, khí và hạt hoạt động như thế
nào, và hiểu triệt để bản tánh của tâm và những hình
thức khác nhau mà nó có thể biến hiện. Người ấy cũng
cần biết mọi sự đều do A Lại Da thức phóng chiếu ra thành
những biểu lộ thô, vi tế và cùng cực vi tế của nó. Sự
biểu lộ thô bao gồm toàn bộ Bảy Thức, cái vi tế để
chỉ tám mươi loại tư tưởng vọng động, và cái cùng cực
vi tế để chỉ những giai đoạn “Xuất Hiện”, “Tăng
Trưởng” và “Đạt Đến”.(3) Người ta cũng cần quen với
lý thuyết thế nào và tại sao ba hiện tượng này xảy ra
và biến mất. Thêm nữa, người ta cần quen với những nguyên
lý căn bản Nền Tảng, Con Đường và Thành Quả của Mật
thừa : những tình thức phải được chuyển hóa, con đường
phải theo, và đại trí huệ phải đạt được. Tất cả những
điểm này cần được nghiên cứu cẩn thận trong những kinh
điển khác nhau, và trầm tư sâu xa.
SỰ
THỰC HÀNH SÁU YOGA
Trước
khi đi vào sự thực hành chính về Sáu Yoga, vài sơ bộ cần
có. Đó là những thiền định căn bản về sự vô thường
của cuộc đời, về những khổ đau của sanh tử, về sự
khó khăn có được một tái sanh thuận lợi để thực hành
Pháp, về sự cương quyết từ bỏ cuộc đời này, về lòng
tốt và bi mẫn với tất cả chúng sanh, và Bồ đề tâm vô
lượng – cái Thấy lớn và Nguyện lớn để đem mọi chúng
sanh đến trạng thái Phật tánh. Chỉ qua những thực hành
này mà nền tảng của Pháp mới được xây dựng. Rồi hành
giả tiếp tục thực hành những sơ bộ Mật thừa như sau
:
Để
tịnh hóa những chấp thủ và đặt một nền móng vững chắc
cho sự thực hành cao cấp Sáu Yoga, người đệ tử trước
hết cần có bốn Quán Đảnh về Demchog,(4) và thực hành Yoga
Phát Sanh cho đến khi đạt đến một mức độ thực sự vững
chắc. Để chiến thắng sự trì trệ và lười biếng, người
ấy phải tham thiền thêm nữa về cái chết ; để vượt qua
những chướng ngại của mình, nó cần cầu nguyện chư Phật
và phát Bồ đề tâm ; để chuẩn bị đủ lương thực cho
Con Đường Pháp, nó phải bố thí và dâng cúng Mạn đà la
; để tự tịnh hóa khỏi tội lỗi và vi phạm, nó phải sám
hối và trì tụng Thần Chú Vajrasattva ; để được những
ân phước, nó phải thực hành Guru Yoga. Mỗi sự thực hành
sơ bộ này có thể được tiến hành trong năm đến bảy ngày
liên tiếp. Những lời chỉ dạy và những nghi thức về chúng
có thể tìm được ở các nguồn khác.
Sự
thực hành chính về Sáu Yoga được nêu ra như sau :
1.
Chỉ dạy về Nội Nhiệt, hay Tumo Yoga – Nền Tảng của Con
Đường.
2.
Chỉ dạy về Yoga Thân Huyễn – sự Nương Dựa của Con Đường.
3.
Chỉ dạy về Yoga Giấc Mộng – Tiêu Chuẩn So Sánh của Con
Đường.
4.
Chỉ dạy về Yoga Ánh Sáng* – Tinh Túy của Con Đường.
5.
Chỉ dạy về Yoga Trung Ấm – cái được gặp trên Con Đường.
6.
Chỉ dạy về Yoga Chuyển Di – Cốt Lõi của Con Đường.
(*
Ánh Sáng trong sách này là chữ Tịnh Quang (Clear Light) được
dịch trong các cuốn sách khác của NXB. Thiện Tri Thức.)
1.
NHỮNG GIÁO HUẤN VỀ NỘI NHIỆT
HAY
TUMO YOGA
A.
THỰC HÀNH CƠ BẢN
Thực
hành cơ bản của Yoga Nội Nhiệt có năm bước liên tiếp
:
(1)
Quán tánh Không, hay sự Trống Rỗng của Thân.
(2)
Quán những Kinh Mạch Chính, hay Nadi.
(3)
Những thực tập Thở (Cái Bình).
(4)
Vận dụng những Hạt (Bindu).
(5)
Những thực tập về thân.
(1)
Quán tánh Không, hay sự Trống Rỗng của Thân
Bắt
đầu, thiền giả cần cầu nguyện Bổn Sư để được một
tiến bộ vững chắc về Nội Nhiệt Tumo. Nó ngồi trong tư
thế “Phật Tỳ Lô Giá Na với bảy điểm” : Xếp hai chân
trong tư thế hoa sen ; đặt hai bàn tay cái này trên cái kia,
ở dưới rốn ; xương sống thẳng như một mũi tên ; nghiêng
nhẹ cổ để ép vào yết hầu ; đặt lưỡi ép vào nóc họng
; và hai mắt tập chú vào đầu mũi. Rồi thiền giả quán
tưởng thân thể của mình trở thành thân thể của Phật
Bổn Tôn – nhưng trống rỗng như một trái banh. Từ đầu
đến ngón chân chỉ là trống không. Nếu nó không thể thấy
toàn thân hoàn toàn trống không, nó phải cố gắng quán tưởng
mỗi phần thân thể trong một lúc. Ví dụ, nó có thể quán
tưởng sự trống không của cái đầu, của cổ, của hai cánh
tay, của ngực… cho đến khi sự trống không toàn thể trở
nên rõ ràng. Rồi thiền giả quán tưởng thân thể mình với
những kích cỡ khác nhau – nhỏ như hạt cải, hay lớn như
toàn thể vũ trụ, nhưng tất cả đều trống không ở trong.
Nó cần thực hành điều này với sự chuyên cần nhiều cho
đến lúc cái thấy về thân trống không trở nên cực kỳ
rõ ràng.
(2)
Quán những Kinh Mạch Chính, hay những nadi
Khi
cái thấy sự trống không của thân đã rõ ràng, bấy giờ
thiền giả quán tưởng Kinh Mạch Trung Ương ở giữa thân.
Đầu chót phía trên của nó chạy đến đỉnh đầu, rồi
cong xuống điểm giữa hai lông mày ; đầu chót phía dưới
của nó chạy đến một điểm khoảng bốn ngón tay dưới
rốn. Bề rộng của nó bằng sợi dây để bện thừng ; và
màu của nó là ở ngoài màu trắng, bên trong màu đỏ. Thiền
giả cũng quán tưởng hai Kinh Mạch khác, gọi là Phải và
Trái (Roma và Junma). Bề rộng của chúng bằng thân của mũi
tên ; màu của Kinh Mạch Phải là màu đỏ hơi trộn với trắng,
và màu của Kinh Mạch Trái thì ngược lại. Hai kinh mạch này
chạy song song và cách Kinh Mạch Chính khoảng một phân. Đầu
chót phía trên của chúng cũng đến đỉnh đầu và rồi cong
xuống hai lỗ mũi. Cả ba kinh mạch này đều trống rỗng,
thẳng, sáng và trong suốt. Vài chỉ dạy nói rằng Kinh Mạch
Trung Ương thì dày như thân của mũi tên và hai cái kia dày
như thân cây lúa ; rằng Kinh Mạch Phải và Trái cần được
quán tưởng như ruột một con dê, để khô rất cũ ; rằng
Kinh Mạch Trung Ương phải được quán tưởng là màu xanh,
Kinh Mạch Phải màu đỏ, Kinh Mạch Trái màu trắng ; những
chỉ dạy khác nói rằng cả ba Kinh Mạch đều trắng ở bên
ngoài và đỏ ở bên trong. Dầu những chỉ dạy này khác nhau
theo nhiều cách, người ta có thể chọn một cái nào trong
đó để thực hành.
Một
vài chỉ dạy thêm rằng điểm chót phía trên của Kinh Mạch
Trung Ương chạy đến cái Cổng của sự Thanh Tịnh(5) và đầu
chót phần dưới kéo dài đến chỗ mở của bộ phận kín.
Nhưng tôi nghĩ tốt hơn là theo các chỉ dạy đã nêu ra ở
trên.
Khi
ba Kinh Mạch này(6) được thấy rõ ràng, thiền giả bấy giờ
quán tưởng Bốn Luân Xa(7) trong đầu, cổ họng, ngực và
rốn. Luân Xa Rốn cũng được gọi là Trung Tâm Chuyển Hóa,
và có 64 kinh mạch mở lên phía trên như những cái gọng của
một cái dù lật ngược. Luân Xa Trái Tim được gọi là Trung
Tâm Pháp, với 8 kinh mạch mở xuống phía dưới như gọng
của một cái dù. Luân Xa Cổ Họng được gọi là Trung Tâm
Vui Thích, với 16 kinh mạch mở ra lên phía trên. Và Luân xa
Đầu, Trung Tâm Đại Lạc, có 32 kinh mạch mở về phía dưới.
Bốn Luân Xa này liên hệ với, hay “nảy sanh” từ Kinh Mạch
Trung Ương, như những cái nan gọng từ cây dù. Từ đầu của
mỗi kinh mạch nhỏ tỏa ra bao phủ toàn thân – tạo thành
vô số mạng hay là mạng lưới thần kinh. Mọi kinh mạch này
đều đỏ bên trong và trắng bên ngoài, và trống rỗng bên
trong. Một số người nói rằng chúng màu đỏ hay vàng, một
số nói rằng Trung Tâm Cổ Họng và Rốn là màu đỏ, Trung
Tâm Trái Tim màu trắng và Trung Tâm Đầu màu lục. Tuy nhiên,
người ta có thể thực hành lối nào cũng được. Nếu người
ta không thể quán tưởng rõ ràng chúng trong tất cả một
lần, thì nên quán tưởng một phần trong một thời gian. Nhưng
điểm quan trọng là làm cho cái thấy cực kỳ rõ ràng (nhất
là ba kinh mạch chính và bốn luân xa). Vài chỉ dạy nói rằng
thêm vào Bốn Luân Xa này, phải tính cả Luân Xa Đỉnh Đầu
và Luân Xa Chỗ Kín, như vậy là có sáu cái ; một số nói
người ta nên quán tưởng tất cả 72 ngàn kinh mạch trong toàn
thân. Nhưng tôi nghĩ người ta có thể, hoặc không, làm việc
với các Luân Xa và kinh mạch thêm vào này.
(3)
Những tập thở Cái Bình
Thời
gian tốt nhất để thực hành Thở Cái Bình là khi hơi thở
đi qua cả hai lỗ mũi đều nhau. Nếu người ta biết rằng
có nhiều không khí đi qua một lỗ mũi hơn cái kia, nó nên
nằm ở phía bên kia và dùng ngón tay cái để bịt lỗ mũi
ấy, bắt buộc không khí phải ra qua lỗ mũi bên kia. Sau một
số hơi thở, nó sẽ thấy không khí chạy qua đều nhau nơi
cả hai lỗ mũi.
Bây
giờ ngồi dậy, dùng một ngón tay bịt lỗ mũi trái và thở
ra một hơi dài qua lỗ mũi phải. Rồi, (sau khi thở vào) thở
ra một hơi ngắn, rồi một hơi dài và êm. Thực hành điều
này ba lần, rồi làm thế với lỗ mũi kia, và cuối cùng thở
cả hai lỗ mũi.
Khi
thở ra, thiền giả phải nghĩ rằng mọi chướng ngại, tội
lỗi và bệnh hoạn trong thân được tống ra. Những ai chưa
từng thực hành thực tập này nên đè lỗ mũi với ngón trỏ
cùng phía và ép lồng ngực với bàn tay phía đối diện khi
thở ra. Thiền giả nên đặt hai bàn tay trên hai đùi khi thở
đều qua cả hai lỗ mũi. Sau mỗi hơi thở ra, nên thở vào
sâu, cổ hơi cong trước khi thở ra trở lại. Đây gọi là
“Hơi thở Chín Lần”, và chỉ được dùng một hay hai lần
trước lúc thiền định. Nếu làm nhiều, nó sẽ bị đau đầu
và rối loạn hơi thở. Nhưng đôi khi, giữa lúc thiền định,
nó có thể áp dụng rất nhẹ nhàng khi cần thiết.
Bây
giờ là thực hành chính của thực tập Thở Cái Bình :
Ngồi
như đã dạy ở trước, xương sống thẳng. Để một cái
gối hay mền dày khoảng ba, bốn phân dưới mông. Rồi hít
vào một hơi thở sâu, tinh tế, ép không khí xuống phía dưới
rốn, và nuốt nước bọt với không khí. Bây giờ thắt nhẹ
cơ vòng của hậu môn, và giữ không khí ở Luân Xa Rốn.
Khi
thiền giả đã thành thạo trong việc ép không khí xuống phía
dưới, nó có thể thắt cơ vòng của hậu môn mạnh hơn trước
mà không cử động bụng. Sự thực hành này – ép không khí
ở trên xuống dưới, đẩy không khí ở dưới lên, và hòa
trộn chúng ở Trung Tâm Rốn làm cho bụng dưới phình ra có
hình cái bình hay cái lọ – bởi vì lý do ấy, được gọi
là “thực tập Thở Cái Bình”.
Khi
thiền giả không thể giữ không khí lâu thêm nữa, nó cần
lấy thêm một hơi rất ngắn để làm dịu sự căng thẳng,
chuyển vòng bắp thịt bụng ba lần, và cố gắng giữ hơi
thở một lần nữa đến mức có thể. Khi không thể giữ
lâu hơn, nó hơi ngẩng nhẹ đầu và để cho không khí thoát
ra càng chậm càng tốt. Bốn tiến trình này được gọi là
hít vào, chứa đầy, hòa tan và phóng ra.
Vài
quán tưởng cần được thực hành khi thực tập Thở Cái
Bình. Khi thở vào, quán tưởng những khí của Năm Đại, trong
năm màu, được hút qua lỗ mũi từ một khoảng cách từ một
tấc rưỡi từ mũi. Khi chứa đầy, quán tưởng không khí
đi xuống qua cả hai Kinh Mạch như thổi phồng một con dê,
đi qua điểm liên kết, vào Kinh Mạch Chính và giữ ở đó.
Khi hòa tan, quán tưởng không khí lưu chuyển trong Kinh Mạch
Chính. Khi phóng ra, quán tưởng một Hạt Bindu(8) tượng trưng
Tinh Túy của Tâm Khí, phóng theo Kinh Mạch Trung Ương và thoát
ra ở Trung Tâm Đầu. Sự quán tưởng phóng ra này, tuy nhiên,
chỉ được làm một lần lúc bắt đầu thiền định ; làm
nhiều sẽ dẫn đến rắc rối.
Theo
vài vị Guru, trong quá trình phóng ra người ta cần tưởng
tượng không khí rời khỏi thân thể qua điểm giữa hai lông
mày. Theo lời chỉ dạy khác, cái khí của năm Đại được
quán tưởng như những tia sáng Năm màu phóng xuất từ nhiều
chày Kim Cương (dorje) nhỏ có chỉa ba. Những chày Kim Cương
nhỏ này đi vào, hiện lên và ở trong thân trong tiến trình
thở vào, thở ra và giữ lại. Một số vị nói rằng trong
tiến trình hòa tan người ta trước hết cần quán tưởng
không khí như tràn đầy Kinh Mạch Trung Ương, rồi đến Bốn
Luân Xa, và cuối cùng mọi kinh mạch toàn thân ; nhưng điều
này bị các nhà khác phê bình như là một phương pháp xấu
nó sẽ làm cho không khí rò rỉ khỏi thân thể.
Không
bao giờ nên bắt đầu bằng loại Thở Cái Bình đầy mãnh
liệt này, bởi vì dù có thể có vài kinh nghiệm nhất thời,
người ta sẽ không có lợi lạc nhiều về lâu dài ; ngoài
ra, nó sẽ gặp nhiều khó khăn hiểm trở. Bởi thế một người
mới bắt đầu được khuyên không nên thực hành loại Thở
Cái Bình mãnh liệt ; thay vào đó, nên thực hành loại Thở
Cái Bình êm dịu, nó sẽ đem lại cho thiền giả nhiều điều
tốt lành mà có ít hay không có trở ngại. Cũng thế, nhất
định không nên thực hành bất kỳ loại Thở Cái Bình mãnh
liệt nào trước khi đã thông thạo với loại êm dịu. Cái
gọi là Thở Cái Bình êm dịu tức là giữ không khí trong
một lúc ngắn, buông thả không khí ra trước khi có một căng
thẳng nào, rồi lập tức hít một hơi thở khác và lại giữ
nó. Mọi cái này phải được lập lại từ tám đến mười
lần, làm thành đầy đủ một vòng. Rồi thiền giả có thể
nghỉ một lúc trước khi làm vòng khác. Người ta nên cố
gắng kéo dài giai đoạn giữ hơi một cách tiệm tiến và
nhẹ nhàng ; không bao giờ thở qua miệng, và khi thực hành
nên tránh những chỗ không khí có khói hay xấu.
Nếu
người ta có thể giữ hơi thở mà không ráng sức trong hai
phút, nó được xem như đã thỏa mãn yêu cầu tối thiểu
về việc chế ngự khí ; bốn phút là trung bình ; nhưng sáu
phút hay hơn nữa, là yêu cầu cao nhất.
Ở
đây cần nói đôi lời về dấu hiệu (tiên khởi) khi những
khí đi vào Kinh Mạch Trung Ương. Điều này xảy ra khi, bất
cứ lúc nào đang thiền định, hơi thở bắt đầu chảy qua
cả hai lỗ mũi một cách êm ả trơn tru, rồi trở nên vi tế
cùng cực, và cuối cùng hoàn toàn dừng lại. Tuy nhiên hiện
tượng này cũng xảy ra khi khí bị chìm hay thất thoát. Nếu
bị chìm, người ta cảm thấy tâm thức trở nên lờ mờ và
uể oải ; trong trường hợp sau, nó không thể quán tưởng
rõ ràng. Nhưng những hiện tượng này không xảy ra trong trường
hợp khí đi vào Kinh Mạch Trung Ương. Người ta nên nhớ điều
khác biệt lớn lao này.
(4)
Vận dụng những Hạt
Thiền
giả cần quán tưởng một hạt trắng, nhỏ (như một hạt
sương), cỡ khoảng một hạt đậu Hà Lan nhỏ, lấp lánh và
trong suốt, ở điểm giữa hai lông mày. Thiền giả nghĩ rằng
hạt này (Tig Le hay bindu) là hiện thân của tự tâm mình, và
quán tưởng nó cho đến khi nó trở nên cực kỳ rõ ràng.
Rồi khi thở vào như nói ở trên, nó quán tưởng Hạt đi
lên từ giữa hai lông mày đến phần cao chót của Kinh Mạch
Trung Ương ; và trong tiến trình giữ lại, nó tập trung chú
ý vào đó. Khi thở ra nó tưởng tượng Hạt chảy trở lại
điểm giữa hai lông mày. Nó làm các thứ này trong vài lần.
Rồi, nó lấy một hơi dài và đẩy không khí xuống Trung Tâm
Rốn. Cùng lúc nó tưởng tượng rằng những Hạt đi xuống
Trung Tâm Rốn qua Kinh Mạch Trung Ương như một hòn bi sắt
nhỏ rớt qua một ống với tiếng kêu lách cách ; rồi khi
giữ lại hơi thở, nó cần tập chú vào Hạt ở Trung Tâm
Rốn. Khi thở ra, Hạt trở lại Trung Tâm Đầu bằng Kinh Mạch
Trung Ương.
(Kiên
trì phát triển thiền định này), thiền giả trước tiên
quán tưởng Hạt chạy xuống chỉ tới Trung Tâm Cổ Họng
cho đến khi cái thấy trở nên rất rõ ràng mà không cần
cố gắng. Cuối cùng, nó quán tưởng Hạt chảy xuống đến
Trung Tâm trái Tim và rồi đến Trung Tâm Rốn.
Sau
khi thông thạo thực hành này, thiền giả chú tâm vào Hạt
ở Luân Xa đã nói (đặc biệt là Luân Xa Rốn) và đồng thời
thực hành Thở Cái Bình năm đến bảy lần. Người ta cần
lưu ý rằng trong khi thở vào, các Hạt Tig Le đi xuống các
Luân Xa phía dưới ; khi hơi thở được giữ lại, nó ở trong
trung tâm của Luân Xa ; và khi thở ra, nó trở lại điểm giữa
hai lông mày. Vào lúc cuối mỗi lần thiền định, người
ta cần tập trung vào Trung Tâm này.
(5)
Những thực tập về thân
Chính
là nhờ những thực tập về thân mà các nút thắt trong kinh
mạch được cởi mở. Chúng phát triển dòng chảy của Khí
và Hạt trong những kinh mạch ; chúng cũng làm tươi trẻ, phục
hồi lại những khí, kinh mạch và những hạt bị suy yếu.
Bởi thế người ta cần học và thực hành những thực tập
khác nhau về thân được nêu ra trong các bản văn Mật thừa,
điều này cực kỳ quan trọng. Cần có chú ý đặc biệt đến
sự thực hành Sáu Thực Tập Luân Phiên của Naropa – một
thực tập căn bản cho Yoga Nội Nhiệt – cả lúc bắt đầu
và lúc chấm dứt thiền định. Nó cũng cần thực hành các
thực tập khác cho các mục tiêu đặc biệt mà nó có thể
tìm thấy trong cuốn Sách Đỏ về Yoga Nội Nhiệt của tôi.
(Cuốn sách này hiện giờ không tìm thấy, trong Tạng ngữ
lẫn Anh ngữ – Người dịch.)
Bây
giờ để thiết lập một nền tảng tốt đẹp cho Yoga Nội
Nhiệt, những thực hành sau đây được nhấn mạnh :
Ngồi
trên sàn, tréo hai chân, đặt một cái gối cao dưới mông,
buộc một sợi dây vải để cột thắt lưng và đùi cho thân
chắc vững trong lúc thiền định.
Ngồi
trong tư thế “Tỳ Lô Giá Na với bảy điểm” như đã chỉ
dẫn ở trước, thiền giả bây giờ thực hành cách Thở Cái
Bình, nhưng không nên làm khi no quá hay đói quá, cũng không
lúc giữa trưa hay nửa đêm. Lúc tốt nhất là khi hơi thở
chảy đồng đều qua cả hai lỗ mũi.(9) Bởi thế, người
ta nên bắt đầu thực hành khi hơi thở sắp chuyển từ một
lỗ mũi này sang lỗ mũi kia, vì lúc ấy hơi thở quân bình
nơi cả hai lỗ mũi. Khi quán tưởng, điều này không nên làm
giảm sút sự chú tâm vào các kinh mạch, mà còn chú trọng
nhiều hơn sự thấy Nội Nhiệt Tumo ở chỗ tiếp hợp của
Ba Kinh Mạch phía dưới rốn. Lửa Tumo này có hình như một
chữ A Tây Tạng [ ] (hay một ngọn lửa hình trứng hay quả
chanh với một lưỡi nhỏ và nhọn uốn như một cái móc hay
cái đầu mở nút chai). Màu nâu đỏ, rất nóng và gợn sóng,
nó có thể tạo ra nhiệt và lạc trong mọi kinh mạch toàn
thân.
Khi
thở vào và chứa đầy, thiền giả tưởng tượng không khí
chạy xuống theo Kinh Mạch Phải và Trái, và giống như gió
trong một ống thổi lửa, quạt Lửa Tumo lên thật nóng ; khi
hòa tan, nó nghĩ rằng mọi khí trong thân tụ vào ở đó, và
tan vào Lửa Tumo này. Trong khi (“phóng ra”) hay thở ra, Lửa
Tumo tiến lên qua Kinh Mạch Trung Ương.
Lửa
Tumo là nền tảng của Yoga Nội Nhiệt ; bởi thế cần được
quán tưởng rất rõ ràng để thực sự sản sanh ra nhiệt.
Một sự quán tưởng vững chắc và rõ ràng về Tumo phải
được thiết lập (trước khi người ta có thể hy vọng những
tiến bộ có thực chất). Lúc bắt đầu, lưỡi lửa cháy
sáng của Tumo không nên được quán tưởng hơn chiều cao của
một bề ngang ngón tay ; rồi dần dần nó tăng cao lên hai,
ba và bốn bề ngang ngón tay. Lưỡi lửa cháy sáng của Tumo
này là mảnh và dài, có hình cái kim xoắn ; nó cũng có đủ
bốn tính cách của Bốn Đại – sự cứng chắc của đất,
tính ướt của nước, sức nóng của lửa, và sự di động
của gió ; nhưng phẩm tính nổi bật của nó nằm nơi sức
nóng mãnh liệt của nó – cái có thể làm bốc hơi các khí
và sản xuất ra Lạc.
Thiền
giả theo những chỉ dạy trên là đã có khả năng đặt một
nền móng vững chắc cho Yoga Nội Nhiệt và sản sanh ra Nhiệt
và Lạc.
Một
số người nói rằng trong Yoga Nội Nhiệt, người ta cũng cần
quán tưởng bốn chủng tử tự(10) trong Bốn Luân Xa. Điều
này được diễn tả trong những Tantra của Hevajra và Demchog,
nhưng không có trong hầu hết các tác phẩm về Sáu Yoga.
B.
SỰ THỰC HÀNH CAO CẤP HƠN
Những
chỉ dạy ở trên đều hướng về phần thực hành sơ cấp
hay cơ bản. Bây giờ chúng ta sẽ đề cập phần thực hành
cao cấp hơn, với sự nhấn mạnh đặc biệt vào :
(1)
Làm thế nào để tăng cường Tumo, hay Nội Nhiệt.
(2)
Làm thế nào tăng cường Lạc.
(3)
Làm thế nào tăng cường sự Không Khác Biệt.
(4)
Làm thế nào phát triển Định Không-Lạc.
(5)
Làm thế nào chiến thắng những chướng ngại trong thực hành
Tumo.
(1)
Làm thế nào tăng cường Tumo, hay Nội Nhiệt
Để
tăng cường Nhiệt, thiền giả làm dài lưỡi của ngọn lửa
Tumo đến tám bề ngang ngón tay, nhưng nó vẫn tập trung chính
yếu vào chính Tumo nguyên gốc – tức là nguồn gốc từ đó
lưỡi lửa phát ra. Rồi nó có thể quán tưởng lưỡi lửa
dâng lên đến Trung Tâm Trái Tim, Cổ họng hay Đầu. Một số
người nói rằng Tumo không nên được quán tưởng trên Trung
Tâm Cổ Họng, nhưng bởi vì ở đây chúng ta chú ý đến việc
sản sanh ra nhiệt nhiều hơn nữa, thì làm như vậy là đúng
đắn. Thiền giả cũng nghĩ rằng lửa Tumo tỏa khắp trong
mọi kinh mạch – lớn hay nhỏ, dài hay ngắn – của toàn
bộ thân thể. Như thế toàn thân thành một ngọn lửa cháy
sáng. Lúc kết thúc thiền định này, tất cả lửa rút về
Nội Nhiệt căn bản.
Nếu
theo thực hành này, người ta vẫn không thể sản sanh Nhiệt,
hay chỉ sản sanh được trong một phần thân, nó có thể làm
thực tập sau đây :
Ngồi
khoanh chân và hai tay nắm quanh đầu gối ; rồi giữ hơi thở
Cái Bình, trong khi luân chuyển phần dưới của bụng theo chiều
kim đồng hồ và ngược chiều kim đồng hồ nhiều lần ;
phình bụng và thót bụng nhiều lần ; xoa bóp thân thể, nhất
là những chỗ lạnh… và cũng làm những thực tập khác về
thân để tăng cường Nhiệt. Mọi cái này được làm khi đang
giữ hơi thở. Quán tưởng một ngọn lửa lớn lan khắp thân
thể cũng sẽ giúp cho tăng cường Nhiệt, nhưng điều quan
trọng nhất là vẫn nghĩ Lửa Tumo đang cháy sáng trong Kinh
Mạch Trung Ương…
Dù
những thực tập mạnh mẽ, như Hơi Thở Cái Bình, những cử
động của thân v.v… có thể sản sanh nhiệt nhanh chóng, nhiệt
được sản sanh đó không bền vững, và không thể kéo dài
lâu. Bởi thế lợi lạc rất ít. Nhưng nếu người ta có thể
sản sanh ra Nhiệt dần dần và vững chắc, nhiệt ấy sẽ
không yếu đi, và lợi lạc vô lượng sẽ có được.
Dầu
trời rất lạnh, thiền giả cũng không nên mặc áo lông ;
và khi rất nóng cũng không bao giờ để thân trần. Nó cũng
không ở gần lửa, phơi mình ngoài nắng nóng, thổi kèn lớn
hay thở qua miệng. Nó nên thực hành “Hơi Thở Cái Bình Luôn
Luôn Vững Bền”(11) trong mọi lúc, ăn thức ăn tốt và bổ,
và giữ gìn cẩn thận Hạt của mình.
Nếu
nhiệt mãnh liệt sanh ra nơi một phần thân thể, khắp thân
thể, hay giữa xương và da, thiền giả nên biết rằng đó
là một triệu chứng thình lình cháy lên của Khí-Lửa. Nhưng
vì thứ nhiệt này không bền vững và sẽ nhanh chóng biến
mất, nó không cần chú ý vào đó, mà tập trung vào Tumo trong
Trung Tâm Rốn, và cố gắng dẫn khí vào Kinh Mạch Trung Ương.
Nếu
nó cảm thấy một sức nóng phúc lạc hay “xuất thần”
trong Trung Tâm Rốn, rồi tăng cường độ dần dần và bắt
đầu lan tỏa khắp thân thể, nó phải biết đây là Nhiệt
Tumo chân thực làm tăng trưởng lớn lao sự sản xuất những
Hạt đỏ và trắng.
Nếu
thiền giả theo những chỉ dạy này nhưng còn chưa sản sanh
được Tumo, nó cần làm những thực tập về thân nhiều hơn
nữa, như là “Sáu Chuyển Động về Thân của Naropa” và
v.v… như những chỗ khác có nói.
(2)
Làm thế nào tăng cường Lạc
Ngồi
trên mặt bằng, với gót của bàn chân trái (ép vào bụng
dưới) sát với cơ vòng của hậu môn (để tránh sự thoát
rỉ của Hạt). Rồi quán tưởng Hạt trắng tượng trưng bằng
âm Ham Tây Tạng lật ngược [ ] – cỡ bằng một hạt đậu
Hà Lan, màu trắng như tuyết, tròn, sáng chiếu lóng lánh, và
nằm trong Trung Tâm Đầu. Cũng quán Lửa Tumo trong Trung Tâm
Rốn, phần chót trên của nó mảnh như một móc kim nhưng rất
nóng – nó bắt đầu phát sanh nhiệt đi vào trong Kinh Mạch
Trung Ương ; kết quả là Hạt trắng của Trung Tâm Đầu bắt
đầu chảy lỏng và rơi giọt xuống. Qua sự chảy lỏng này
của Hạt, một Lạc lớn được sanh ra. Trong thực hành sản
xuất ra Lạc này, thiền giả thở không khí vào để quạt
Nội Nhiệt Tumo ở dưới Rốn, Nội Nhiệt này lại tiếp tục
làm chảy lỏng Hạt trắng ở Trung Tâm Đầu, khiến cho Hạt
giọt xuống không ngừng (và không vơi cạn) đến Trung Tâm
Cổ Họng và tỏa khắp mọi kinh mạch từ đó. Một nguồn
lạc và nhiệt lớn, thấm khắp toàn thân, được sanh ra như
vậy. Bấy giờ dòng các Hạt nhỏ giọt chảy xuống đến
Trung Tâm Rốn, và lại sản sanh lạc lớn hơn…
Nếu
sự quán tưởng này chỉ phát sanh một lạc yếu ớt, thực
hành sau đây cần được nhấn mạnh :
Nghĩ
rằng lửa Tumo, mảnh như một cây kim, vươn từ Trung Tâm Rốn
đến Trung Tâm Đầu, chạm đến Hạt trắng, làm chảy lỏng
nó và làm cho nó lan tỏa qua những kinh mạch của Trung Tâm
Đầu ; cùng lúc tưởng tượng rằng lạc nhiều hơn được
sản sanh ; rồi tập trung vào kinh nghiệm lạc phúc này một
lúc ngắn. Theo cách này thiền giả quán tưởng Hạt giọt
xuống và lan qua tất cả Bốn Luân Xa.
Sau
đó, “tiến trình ngược lại” được áp dụng bằng cách
quán tưởng Hạt trắng trở lại Trung Tâm Đầu. Cả hai sự
đi xuống và đi lên của Hạt cần được thực hành thường
xuyên. Thêm nữa, thiền giả cần quán tưởng Hạt trắng và
Tumo hòa lẫn với nhau làm một và tỏa khắp toàn thân qua
vô số kinh mạch, như thế tạo ra lạc lớn lao. Khi Hạt trắng
chảy giọt xuống Lửa Tumo, cái này co lại vào kích thước
ban đầu của nó ; và khi Hạt trắng đi lên, Tumo cũng theo
nó lên đến Trung Tâm Đầu.
Trong
tiến trình hòa tan, và thở ra, xương sống phải giữ thẳng
và những Hạt hòa lẫn (với Tumo) phải được tỏa khắp
toàn thân bằng những cử động thích hợp của thân.
Nếu
trong khi thực hành như thế, Lạc vẫn chưa thể sanh ra, thiền
giả bấy giờ cần quán tưởng phần dưới của Kinh Mạch
Trung Ương – xuống đến bộ phận bí mật – và thiền định
vào Luân Xa Đại Lạc và ba mươi hai kinh mạch của nó. Tiếp
theo, nó quán tưởng Hạt trắng tiếp tục giọt xuống bộ
phận và lan tỏa qua những kinh mạch ấy, và kết quả là
đại lạc được sanh ra. Những thực tập tiếp thêm theo chiều
ngược lại để đưa Hạt lên các Luân Xa cao hơn bấy giờ
được áp dụng…
Nếu
những biện pháp này vẫn không làm cho một Đại Lạc sản
sanh, người ta có thể áp dụng Ấn Hành Động (Karmamudra)
bằng cách quán tưởng với một Dakini, trong khi dùng hơi thở
để kích thích Nội Nhiệt Dumo, làm chảy lỏng Hạt trắng…
Trong thực hành thường lệ, bốn Luân Xa được sử dụng
; chỉ khi làm tăng cường Lạc thì Luân Xa Đại lạc (Trung
Tâm Bí Mật) mới được thêm vào và Karmamudra mới được
áp dụng. Nếu làm thế thiền giả không thể giữ được
Hạt, nó cần đưa các khí phía dưới lên một cách mạnh
mẽ, co thắt cơ vòng ở hậu môn, quán tưởng Hạt đi lên
đến Trung Tâm Đầu… và làm những bước đi ngược lên
khác… Sau đó, nó tức thời thực hành những thực tập thích
hợp về thân trong một ít thời gian để lan tỏa Hạt khắp
hết thân thể, và rồi thiền định vào Tinh Túy Tâm giác
ngộ một khoảng thời gian.
Vài
bình luận về kinh nghiệm của Lạc bây giờ cần được nói
đến.
Tổng
quát, kinh nghiệm có thể chia thành bốn phạm trù :
(a)
Nếu thiền giả cảm thấy toàn thân trở nên mềm dịu và
nhẹ nhàng, và kinh nghiệm một cảm giác thích thú và dễ
chịu khi chạm vào bất cứ vật gì, điều này chứng tỏ
rằng nó đã “thuần hóa” được nhiều kinh mạch trong thân.
Loại lạc này bởi thế được gọi là Lạc do Kinh Mạch.
(b)
Nếu một cảm giác lạc thú tinh tế được cảm thấy trong
một phần của thân – như khi một chỗ ngứa được gãi
– nhưng cảm giác chỉ chốc lát và nhanh chóng biến mất,
thiền giả được gọi là đã kinh nghiệm Lạc do Khí.
(c)
Nếu một cảm giác ấm áp và xuất thần đồng thời khởi
sanh khắp thân, hay trong một phần thân, đây là lạc được
sản sanh do sự tăng cường Hạt đỏ.
(d)
Nếu cảm giác là “khoái lạc” giống như lạc của hành
động tính dục – mạnh mẽ và thấm toàn thân – nó là
một lạc sanh ra do Lửa Tumo làm chảy lỏng Hạt và tùy theo
cường độ của nó, có thể chia thành ba nhóm :
(i)
Nếu lạc và khoái lạc mạnh mẽ và khó chịu đựng đến
nỗi người ta rất khó giữ lại Hạt, bấy giờ nó được
gọi là “Lạc Nam”.
(ii)
Nếu lạc và khoái lạc mạnh mẽ, nhưng không mạnh như ở
trên, và thiền giả khá dễ dàng kiểm soát Hạt, bấy giờ
nó được xem là “Lạc Nữ”.
(iii)
Nếu lạc và khoái lạc không mạnh như ở trên, và thiền
giả rất dễ dàng kiểm soát Hạt, bấy giờ nó được gọi
là “Lạc Trung Tính”.
Người
ta phải nhớ rằng những lạc này đều do Lửa Tumo làm chảy
lỏng Hạt, chúng không phải là Đại Lạc được sản sanh
khi những khí đi vào và hòa tan trong Kinh Mạch Trung Ương,
điều chúng ta sẽ bàn chi tiết ở sau.
Vì
sự giữ lại của Hạt trong suốt kinh nghiệm xuất thần là
điều quan trọng chủ yếu, vài bình giảng cần có ở đây.
Tổng quát, nhiều người thường có thể giữ lại Hạt nếu
họ có thể quán tưởng rõ ràng Ba Kinh Mạch và Bốn Luân
Xa với sự trợ giúp của vài thực tập như Sáu Cử Động
của Naropa v.v… Nhưng có những người mà Hạt của họ rất
không ổn định và khó kiểm soát, bởi thế khi họ thực
hành tăng cường lạc, họ thấy khó giữ lại dòng Hạt. Trong
trường hợp này, vài thực tập đặc biệt để kiểm soát
nó, như là “Những Cử Động thân của Con Cọp”, “Con
Voi”, “Con Rùa”, và ”Con Sư Tử” nên được thực hành,
những thực tập này làm cho Hạt có thể giữ được, kéo
lại và tỏa ra…
(3)
Làm thế nào tăng cường sự Không Khác Biệt
Theo
những vị Guru, để làm mạnh thêm kinh nghiệm Không Khác Biệt
thiền giả quan sát rất cẩn trọng bản chất của Lạc tạo
ra bởi Tumo, cũng như bản tánh của tâm và những biểu lộ
của nó. Nó cần nỗ lực thấy được bản tánh Không của
mọi sự và ở trong trạng thái bổn nhiên càng lâu càng tốt.
Trong sự thực hành Yoga về Lạc, nó cố gắng hòa lẫn Lạc
và tánh Không. Đây là nguyên lý tổng quát của thực hành
Không Khác Biệt. Với người đã chứng nghiệm tánh Không
và Tinh Túy Tâm, ít lời này là đã đủ, nhưng với người
chưa được như vậy, phải nói thêm rằng :
Để
có được sự quán thấy sâu hơn vào Không Khác Biệt, thiền
giả cần để một nửa đến hai phần ba trong mỗi thời thiền
định để làm việc này. Người ấy không phải quán tưởng
các kinh mạch, cũng không thực tập Hơi Thở Cái Bình hay các
thứ, mà tập chú vào sự quan sát tánh Không. Nếu nó đã
được một mức độ vững vàng trong Định, nó phải dùng
sức định đó để tiến thêm trong sự quán chiếu tánh Không
; nếu không, trước tiên nó phải cố gắng đạt đến một
Định vững chắc bằng pranayama (sự kiểm soát hơi thở) hay
những biện pháp khác. Bởi vì trừ phi Định của nó vững
chắc, nó không thể quán chiếu Tự Tâm một cách hiệu quả
và đạt đến trạng thái Không Khác Biệt. Sau đó, thiền
giả dùng phương pháp “thình lình buông lỏng và thình lình
cảnh giác” để đạt đến Định vượt qua sắc tướng,
và nhờ đó quán sát sâu xa hơn trước bản tánh của tâm
và trò biến hóa của nó. Bấy giờ nó sẽ chứng ngộ rằng
Tinh Túy Tâm bất khả tư nghì là một Toàn Thể Minh-Không,
siêu vượt mọi ý niệm, và rằng mọi biểu lộ và tư tưởng
xao động như sóng tự chúng là trống không, bởi thế mà
vĩnh viễn thoát khỏi mọi nghi ngờ và sợ hãi. Thiền giả
cũng cần quán sát tâm sanh, trụ và diệt như thế nào, và
cố gắng cảm nghiệm những tiến trình này trong một cách
sâu xa nhất. Với thực hành đồng nhất tánh Không với âm
thanh, với hình sắc, và với Giác Ngộ cũng sẽ cực kỳ có
ích.
Một
phần ba của mỗi thời thiền định sẽ được dùng để
thực hành Hơi Thở Cái Bình “loại nhẹ”, và Đại Ấn
(Mahamudra). Sau khi thiền định, người ta vẫn cố gắng giữ
Tỉnh Giác sống động, và đồng hóa mọi kinh nghiệm với
Con Đường. Những chi tiết về sự thực hành này, xin xem
Tổng Quát về Thiền Định Đại Ấn của tôi.
(4)
Làm thế nào phát triển Định Không-Lạc
Bây
giờ tôi sẽ bình giải ngắn gọn làm thế nào để phát triển
Định Không-Lạc.
Thực
hành Định này (của Yoga giai đoạn Thành Tựu) là sự hòa
nhập sự chứng nghiệm tánh Không của mình với Bốn Lạc
sanh ra bởi Tumo. Thực hành với những khí, kinh mạch, và hạt
trong khi tâm chìm trong kinh nghiệm Không-Lạc, là con đường
nhanh nhất đến giải thoát và giác ngộ. Nhưng trước hết
người ta phải khơi dẫn một Lạc vững chắc để nếm mùi,
quan sát nó và đồng hóa nó với tánh Không trong cách mật
thiết nhất. Ví dụ, khi Hạt chảy lỏng tỏa ra qua Luân Xa
Đầu, Lạc Thứ Nhất sẽ khởi sanh. Trong lúc đó tâm thiền
giả phóng thẳng vào trong Lạc này – hòa lẫn tâm với tánh
Không tự sáng tỏ, hay cái gọi là “Kinh Nghiệm Đại Ấn
Không-Lạc Hai trong Một”, mà không có một thất niệm nhỏ
nhất nào. Thực hành như thế, đa số các hình thức thô của
những tư tưởng phóng dật sẽ được chế ngự. Khi những
Hạt đi xuống Trung Tâm Cổ Họng và tỏa ra qua nó, Lạc Tối
Thượng sẽ sanh khởi. Và nếu bấy giờ thiền giả tập trung
vào Trung Tâm Cổ Họng trong khi đắm mình vào Định Không-Lạc,
hầu hết những tư tưởng phóng dật vi tế sẽ được chế
ngự. Khi Hạt xuống đến Trung Tâm Trái Tim và tỏa ra qua nó,
cái Thứ Ba hay Lạc Siêu Vượt sẽ sanh khởi ; bấy giờ thiền
giả tập trung vào Trung Tâm Trái Tim trong Định Không-Lạc,
và như thế mọi tư tưởng phóng dật sẽ được chế ngự.
Khi những Hạt xuống đến Luân Xa Rốn… Lạc Bổn Nguyên
sẽ sanh khởi…
Tiến
trình ở trên được gọi là tiến trình Đi Xuống. Sau đó,
thiền giả cần thực hành tiến trình Đi lên, nó là sự ngược
lại với cái trước… Từ Rốn, Hạt đi lên Trung Tâm Trái
Tim, Cổ Họng và Đầu, và Đại Lạc Bổn Nguyên lúc ấy sẽ
khởi sanh…
Vào
lúc kết thúc thiền định này, thiền giả không lưu tâm tới
mọi kinh mạch và Luân Xa, và thực hành Hơi Thở Cái Bình
loại nhẹ một số lần, tập trung vào Đại Ấn và Tumo. Trong
hoạt động hàng ngày, nó cũng cần cố gắng giữ gìn cảm
giác về Không-Lạc và dùng tất cả những gì nó gặp để
triển khai thêm mục tiêu này.
Nếu
người ta tập trung vào một Luân Xa, khí sẽ tự nhiên tự
chứa ở đó. Nếu khí được tập trung vào những Luân Xa,
Hạt cũng sẽ trở nên an định và Bốn Trí Huệ-Lạc(12) sẽ
khởi sanh.
Một
điểm cực kỳ quan trọng cần được nói rõ ở đây. Những
Lạc này được sản sanh khi Hạt chảy lỏng bởi Nội Nhiệt
Tumo chỉ có thể khởi dẫn Bốn Trí Huệ-Lạc “Tương Tự”
nhưng không phải là Bốn Trí Huệ-Lạc “Thật Sự”. Nhưng
người nào qua sự thực hành liên tục duy trì và làm an định
những kinh nghiệm Không-Lạc này cuối cùng sẽ dẫn khí đi
vào trong Kinh Mạch Trung Ương… và Bốn Lạc “Thật Sự”
lúc ấy sẽ khởi sanh. Nếu thiền giả có thể nhận ra chúng
và đồng hóa chúng với Tinh Túy Tâm minh-không, bấy giờ Bốn
Trí Huệ-Lạc sẽ khởi sanh.
Trí
Huệ “Tương Tự” còn pha trộn với ngã-pháp vi tế, hay
những ý niệm nhị nguyên, là cái biểu lộ ra trong giai đoạn
đầu của sự quán sát tánh Không. Trí Huệ Thật Sự là Trí
Huệ chân thực thoát khỏi mọi nhị nguyên.
Bốn
Lạc sanh ra bởi thực hành Yoga Tumo là quá bao la và quá sâu
thẳm trong phạm vi và cường độ, đến nỗi không lời nào
có thể diễn tả chúng. Khi một người đạt đến trạng
thái này nó được nói là đã đạt đến Định Không-Lạc.
Bởi thế Tumo là nền tảng của mọi thực hành Tantra. Từ
“Tumo” (TT. gTum Mo) có nghĩa là “một người đàn bà hung
dữ có thể phá hủy mọi phiền não” ; nó cũng có thể hiểu
là “người có thể sản sanh ra Trí Huệ Minh-Không”. Bởi
thế Tumo là Lửa của Trí Huệ siêu việt thiêu sạch mọi
vô minh và thói xấu.
Thiền
giả cũng cần biết bốn loại Tumo :
(a)
Tumo ngoài : Tumo của Yoga Phát Sanh, nó có thể tiêu hủy mọi
cái xấu và chướng ngại.
(b)
Tumo trong : Tumo của Sinh Khí nó có thể chữa lành bốn trăm
lẻ bốn loại bệnh.
(c)
Tumo bí mật : Tumo của sự chảy lỏng và đi xuống nó có
thể hủy diệt mọi phiền não.
(d)
Tumo siêu việt : Tumo của Không Khác Biệt nó có thể làm hiển
lộ Trí Huệ Bổn Nguyên.
(5)
Làm thế nào chiến thắng những Chướng Ngại trong thực hành
Tumo
Những
chướng ngại chính khi thực hành Yoga Tumo là bốn cái thông
thường chung cho mọi thiền giả và hành giả – bệnh hoạn,
gián đoạn, tham dục và cái chết. Nhưng người ta phải không
bị chúng hàng phục, mà chiến đấu với chúng bằng sự can
đảm và kiên trì. Những khó khăn đặc biệt trong thực hành
Tumo là như sau :
Trong
giai đoạn đầu, khi các kinh mạch trong thân chưa được thuần
hóa, thiền giả sẽ có nhiều khó khăn về thân. Nó sẽ bị
quấy nhiễu bởi nhiều loại bệnh hoạn và đau đớn, mất
sức và cảm thấy rất yếu. Nếu nó đã có vài bệnh kinh
niên hay “bệnh cũ”, chúng sẽ phát triển thêm. Bởi vì
những khí chưa được thuần hóa trong giai đoạn bắt đầu,
người ta gặp những sự yếu kém (khác) và những khó khăn
khi giữ hơi thở. Bởi vì các hạt chưa tỏa khắp toàn thân,
tâm thức người ta không thể hoạt động một cách sáng tỏ,
và như thế kinh nghiệm của nó sẽ kém. Bởi vì sự tập
trung chưa vững chắc, nhiều tư tưởng phóng dật sẽ khởi
lên, và kết quả là người ta trở nên rối loạn khó thực
hành và tư duy chân chánh. Hơn nữa, khi người ta không biết
cách thực hành đúng, những chướng ngại lớn về khí, kinh
mạch và hạt sẽ xảy ra. Mọi sự quấy nhiễu này sẽ ngăn
cản thiền giả thực hành Tumo. Sự chữa lành thì giản dị
: can đảm và kiên trì. Lúc ấy thiền giả nên tham thiền
về các khổ của sanh tử luân hồi, sự vô thường của đời
sống… để sanh khởi một tinh thần từ bỏ sâu xa. Nó cần
làm mới lại nguyện vọng đạt đến Thân Kim Cương Hai trong
Một của Phật quyết định chịu đựng mọi đau bệnh và
nghiệp quả mà không có một tư tưởng lùi bước. Nó cũng
cần đọc tiểu sử của các Guru và bậc Thánh thành tựu
để làm mạnh thêm can đảm và quả quyết. Nó phải tin rằng
can đảm và kiên trì có thể chiến thắng mọi khó khăn trên
Con Đường.
Ngược
lại, nếu thiền giả sống quá khổ hạnh, nó sẽ không có
sức mạnh để duy trì thực hành Tumo. Kết quả là nó sẽ
miễn cưỡng không muốn thực hành thêm, và sẽ dừng lại
dọc đường. Trong trường hợp này, nó cần nghỉ ngơi hoàn
toàn và ăn thức ăn tốt và bổ để phục hồi sức mạnh
và sức khỏe.
Trong
thực hành Tumo, nếu người ta thuần hóa được khí và kinh
mạch, nó sẽ cảm thấy toàn thân khinh an ; sức nóng sẽ phát
sanh (từ Trung Tâm Rốn) và hạt sẽ trở nên nhẹ nhàng và
không ngừng.
…
Mọi thứ này làm cho nó cảm thấy rất hoan hỷ và mạnh mẽ.
Nhưng kết quả là tăng thêm rất nhiều Hạt, và dục lạc
cũng tăng thêm tương đương. Ở thời điểm quyết định
này người ta cần cực kỳ thận trọng và khéo léo trong việc
bảo tồn Hạt của mình. Nếu chểnh mảng hay buông lỏng cố
gắng, nó sẽ bị mối nguy mất Hạt – điều này có thể
xảy ra trong khi mộng, khi thiền định hay ngay cả khi thức.
Sự mất mát Hạt là một thất bại chí tử cho Yoga Nội Nhiệt
; bởi thế người ta phải cực kỳ cẩn trọng để giữ gìn
nó. Người ta cần tuân thủ giới luật một cách chặt chẽ
và tham thiền về những sự bất tịnh của thân thể con người,
và vân vân, để hàng phục dục lạc. Quán sát thâm nhập
vào bản chất của dục lạc cũng sẽ giúp cho sự chiến thắng
nó.
Nói
chung, sự mất mát Hạt làm chướng ngại mọi thực hành thiền
định, nhưng nó luôn luôn là chí tử đối với Yoga Nội Nhiệt.
Không có lợi lạc nào có thể có được từ bất cứ loại
thiền định nào nếu người ta mất đi Hạt của mình. Bởi
thế mọi cố gắng cần được làm để bảo tồn năng lực
sinh khí này, gồm cả những áp dụng các thực tập đặc
biệt khác nữa được chỉ định để giữ lại và củng
cố nó.
Khi
một thiền giả đã có vài tiến bộ trong thực hành Tumo và
có được một số kinh nghiệm tốt về Lạc, Giác và Không
Khác Biệt, cũng như những công đức khác, (nó sẽ có một
thôi thúc mạnh mẽ) nói những kinh nghiệm của nó cho những
người khác ; nhưng nếu làm thế, nó có thể mất mọi công
đức và kinh nghiệm và sẽ khó khăn để có được chúng
trở lại. Hơn nữa, nếu người ta vi phạm Giới Luật Samaya
(những Giới Luật Tantra), nó cũng sẽ mất những kinh nghiệm
và thành quả có được trong quá trình cầu Đạo. Nếu điều
này xảy ra, nó nên nghĩ rằng mọi kinh nghiệm và công đức
là như huyễn – không có tự tánh, như cầu vồng – và không
bám chấp vào chúng, mà quán chiếu chân lý tánh Không. Nó
cần sám hối lỗi lầm không giữ kín những kinh nghiệm bên
trong của mình và phải quyết định không nói cho bất kỳ
ai về chúng ngoại trừ Guru của mình, trong tương lai. Nếu
nó xâm phạm vài luật Samaya, nó cần thú tội và trì tụng
Thần Chú Vajrasattva để tái lập, và cũng cầu xin bậc Guru
ban cho những quán đảnh nhập môn mới, hay cầu nguyện Phật
Bổn Tôn để quán đảnh nhập môn cho một lần nữa. Nó phải
thực sự từ bỏ mọi vinh quang thế gian, kiêu mạn và bám
chấp, và quyết định phát triển thiền định như một thiền
giả đích thực.
Nếu
người ta theo những lời dạy căn bản của giáo pháp, và
thực hành tương hợp với những chỉ dạy này, nó sẽ không
gặp nhiều chướng ngại. Tuy nhiên, đối với những người
khả năng thấp và những người thực hành quá dũng mãnh,
nhiều chướng ngại về khí, kinh mạch và hạt sẽ khởi lên.
Để chiến thắng chúng, người ta có thể dựa vào một tác
phẩm khác của tôi, Sách Đỏ về Yoga Nội Nhiệt.
Những
người coi Yoga Nội Nhiệt như là sự thực hành đều đặn
và thường xuyên của họ cần giữ vài luật lệ đặc biệt.
Để bảo tồn sức nóng, thiền giả trong bất kỳ thời thiền
định nào, cần thực hành những thực tập hơi thở ít nhất
một khoảng thời gian, và luôn luôn quán tưởng Lửa Tumo.
Nó không nên sợ nóng hay lạnh ; ngay trong khí hậu rất lạnh
cũng không bao giờ mặc áo lông hay quần áo quá dày, và không
bao giờ đi trần trong thời tiết nóng. Nó không thổi tắt
một ngọn đèn hay lửa, cũng không uống hay ăn đồ quá lạnh.
Để
giữ gìn lạc phúc, thiền giả cần cố gắng nhiều để bảo
tồn hạt ; không để mất chúng trong bất kỳ trường hợp
nào. Cũng không ăn gừng, ớt, tỏi, tiêu, cá thịt đã hư,
hay loại gì quá chua, mặn, hay thức ăn quá nhiều chất bổ.
Nó không ở quá gần ngọn lửa hay phơi mình trong nắng nóng
; cũng không ngồi trên đất mà không có đệm, không đi chân
trần, ngủ ban ngày, hay làm hoạt động gì đổ nhiều mồ
hôi.
Để
duy trì sự thiền định sâu xa, nó cần ở nơi tĩnh mịch
và từ bỏ mọi hoạt động vô nghĩa.
NHỮNG
KINH NGHIỆM VÀ CÔNG ĐỨC
CỦA
THỰC HÀNH YOGA NỘI NHIỆT
Bởi
vì căn cơ và Nghiệp khác nhau nhiều giữa người này với
người khác, khó mà tổng quát những kinh nghiệm và công đức
khác nhau được tạo ra bởi Yoga Nội Nhiệt. Một người có
thể đạt được một số lớn “công đức”, nhưng lại
không có nhiều kinh nghiệm ; với người khác, điều này có
thể ngược lại. Cũng khó tiên đoán kết quả xác định
của nhiều kinh nghiệm khác nhau mà một thiền giả phải trải
qua. Tuy nhiên, bây giờ chúng ta sẽ bàn ngắn gọn một vài
kết quả quan trọng hơn của Yoga Nội Nhiệt. Trong những trang
trước chúng ta đã nói về những dấu hiệu hay kinh nghiệm
của việc thuần hóa khí và sự cháy lên của lửa Tumo ; giờ
đây chúng ta sẽ bàn đến một chủ đề ý nghĩa khác, gọi
là những kinh nghiệm người ta có khi Tâm-Khí được tập
trung trong các Luân Xa khác nhau.
(Theo
giáo lý của Tantra), những kinh mạch của mỗi cái trong Năm
Luân Xa có những hình thức khác nhau của chủng tử tự (bija)
riêng biệt. Năm chủng tử tự hay chính xác hơn, năm hình
thức khác nhau mà những kinh mạch kết thành là những tượng
trưng hay “diễn đạt” của năm phiền não chính của con
người, tức là tham, sân, si, mạn và ghen ghét. Trong quá trình
thực hành Tumo, khi thiền giả tập trung vào những Luân Xa
này, Tâm Khí của nó cũng nhóm tụ ở đó. Sự tập trung của
Tâm Khí vào những chủng tử tự này sẽ tự nhiên khuấy
động những phiền não mà những chủng tử này tượng trưng.
Kết quả là, thiền giả sẽ cảm thấy mọi phiền não thô
trọng, như tham dục, sân giận, nghi ngờ, kiêu mạn… tự
do khởi lên ngoài ý muốn của nó. Mọi loại tư tưởng phóng
dật quấy nhiễu và bệnh hoạn sẽ khởi ra, làm chướng ngại
sự tu hành của nó. Vì tập trung Tâm Khí vào những Luân Xa,
nó cũng sẽ có một số thị kiến ảo huyễn trong giấc mơ,
trong thiền định hay trong trạng thái thức. Đây là lúc nó
cần cầu nguyện, sám hối, trau dồi tâm Bồ đề, củng cố
tinh thần từ bỏ và quán sát tánh Không để chiến thắng
những trở ngại này. Nó cũng cần thực hành những thực
tập về thân để cởi mở những nút thắt kinh mạch trong
các Luân Xa. Nó phải biết rằng mọi chướng ngại này thực
sự là những giúp đỡ, và là những dấu hiệu tốt trong
việc cầu Đạo. Như thế, nó nên tự chúc mừng và vui vẻ
chấp nhận sự thách thức.
Đã
thuần hóa khí và kinh mạch, nếu thiền giả có thể giữ
và gom tụ khí của Năm Đại từ chỗ ở bình thường của
chúng và dẫn chúng vào Kinh Mạch Trung Ương, Năm Dấu Hiệu
Đêm – khói, ảo ảnh, lập lòe của đom đóm, ánh sáng của
ngọn đèn và ánh sáng của tánh Không vô sanh – sẽ khởi
hiện ; rồi, tiếp tục giữ Năm Khí, những Dấu Hiệu Ngày
– ánh trăng, ánh sáng mặt trời, “ánh sáng sấm chớp”,
ánh sáng cầu vồng và ánh sáng của mặt trời và mặt trăng
đồng thời – sẽ khởi hiện lần lượt. Trong vài trường
hợp, nhiều đốm hay bụi ánh sáng sẽ xuất hiện. Những
cái này tạo thành “Mười Dấu Hiệu”.
Nếu
tinh chất của khí, kinh mạch [?], và hạt có thể gom tụ trong
Năm Luân Xa, những Quốc Độ Phật trắng, đỏ, xanh, vàng
và lục sẽ xuất hiện. Cũng như nếu Tâm-Khí có thể gom
tụ được trong những kinh mạch huyền bí, hai mươi bốn nơi
chốn linh thiêng ẩn mật(13) và những Yidam, Dakini và Hộ Pháp(14)
cũng sẽ xuất hiện…
Người
nào có thể làm chủ hoàn toàn Năm Khí hay giữ chúng trong
những Trung Tâm tương ứng của chúng sẽ được những công
đức sau :
Thân
thể sẽ trở nên cường tráng, da mịn láng, khuôn mặt sáng
láng và mạnh mẽ, và nó đầy năng lực trong mọi lúc, ngay
cả một bức tường cao, dày không thể cản ngại nó.
Người
nào có thể gom và giữ các Hạt đỏ và trắng trong Kinh Mạch
Trung Ương, sẽ có được ba công đức sau :
(1)
Nó có thể tỏa những tia sáng từ thân thể, và cũng không
có bóng khi đứng trong ánh sáng (mặt trời) ;
(2)
Làm cho thân thể tan biến ;
(3)
Làm nhiều loại phép lạ.
Người
nào có thể đem Tâm-Khí và Tinh Túy trong sạch của Năm Đại
vào Kinh Mạch Trung Ương có thể :
(1)
Chuyển hóa đá thành vàng ;
(2)
Đi trên mặt nước không chìm ;
(3)
Đi vào trong lửa không cháy ;
(4)
Làm tan lỏng một núi tuyết bằng Nội Nhiệt Tumo ;
(5)
Du hành đến những vũ trụ ở xa trong vài giây ;
(6)
Bay trên trời và đi xuyên qua đá và núi…
Bề
rộng và bề sâu của công đức trình bày ở trên thay đổi
rất nhiều tùy theo mức độ thiện xảo trong việc điều
ngự Tâm-Khí. Sự kéo dài của những năng lực lạ thường
cũng khác nhau nhiều ; nếu thiền giả không giữ Tâm Khí,
những công đức này sẽ tan biến.
Bởi
vì kinh mạch và hạt được tịnh hóa, thiền giả có thể
làm mọi loại phép lạ ; bởi vì Hạt được củng cố và
chuyển lên (những Luân Xa phía trên), thiền giả có thể làm
dừng một dòng sông đang chảy ; bởi vì Tâm Khí được tập
trung, nó có thể thôi miên người bằng cách nhìn thẳng vào
họ ; bởi vì Hỏa Đại được kiểm soát, nó có thể dừng
mặt trời đang quay vòng…, với năng lực của những kinh
mạch, nó có thể sản xuất ra sự giàu có và vô số ngọc
quý ; với năng lực của khí, nó có thể hấp dẫn con người
; và với năng lực của hạt, nó có thể hấp dẫn loài chẳng-phải-người
(chư thiên, ma và quỷ)…
Dầu
có thể có mọi lợi lạc và công đức này, nó cần phải
được biết rằng chúng đều huyễn hóa như cầu vồng, không
có tự tánh. Nó phải không bao giờ tự cao vì những năng
lực này, mà cố gắng vượt qua Tám Sở Đắc Thế Gian(15)
và chú tâm vào Đại Ấn tự-sáng tỏ không xao lãng, bởi
vì đây là con đường duy nhất để chứng ngộ sâu thêm.
Tóm
tắt, thực hành Yoga Nội Nhiệt khiến người ta có thể chứng
đắc Trí Huệ Đại Ấn Vô Sanh, đạt được sự giải thoát
khỏi mọi bám chấp và vô minh, cởi mở mọi nút thắt kinh
mạch Sanh Tử, chuyển hóa mọi kinh mạch Sanh Tử thành Kinh
Mạch Trí Huệ, tịnh hóa mọi khí nghiệp và chuyển hóa chúng
thành Khí Trí Huệ không chướng ngại, tịnh hóa mọi Hạt
nhiễm ô và chuyển hóa chúng thành Hạt của Lạc, và đạt
đến Thân Cầu Vồng Hai-trong-Một của Phật tánh viên mãn.
2.
NHỮNG GIÁO HUẤN VỀ YOGA
THÂN
HUYỄN
Trước
hết, thiền giả cần hoàn thành mọi thực hành sơ bộ, như
thiền định về vô thường của đời sống, về khổ đau
của sanh tử, về từ bỏ, về tâm Bi, về Bồ đề tâm v.v…
Rồi trong mỗi thời thiền định, nó nên dành một phần ba
thời gian cho thực hành Tumo. Nó nên tự nhắc rằng chính vì
muốn làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh mà cần đạt đến
Báo thân (Thân vinh quang và thiêng liêng) Phật và bây giờ
Yoga Thân Huyễn cần được tu tập. Rồi nó cầu nguyện Guru
Báo Thân màu đỏ với người phối ngẫu của ngài (Yum)(16)
ngồi nơi Trung Tâm Cổ Họng ban phước và trợ giúp… Nó
cần nghĩ rằng mọi thứ trong thế giới bên ngoài – nhà
cửa, thành phố, núi, sông, người, thú vật, và mọi bộ
phận và giác quan của thân thể – đều chỉ là những biểu
lộ của một tâm mê lầm, chúng không có hiện hữu thực
sự hay không có tự tánh ; chúng giống như những ảo ảnh,
huyễn thuật, giấc mơ, bọt nước, bóng dáng và sương móc…
bởi vì thật tế chúng không hiện hữu. Nó phải nghĩ rằng
mọi sự khởi lên tùy thuộc lẫn nhau (duyên sanh : pratitya-samutpada)
giống như bóng phản chiếu, như tiếng dội, không có chút
tự thể nào, và rồi tiếp tục tư duy tiếng dội và bóng
phản chiếu ; nghĩ rằng các pháp là chốc lát và thoáng qua
như sương móc và bọt nước ; quán tưởng sương móc biến
mất khi mặt trời lên và bọt nước tan biến trong nước
như thế nào… Nó nghĩ rằng ngay trong một sát na sự vật
cũng không thể bất biến, rằng mọi pháp là như cầu vồng,
đẹp đẽ nhưng không thực và sẽ tức thì tan biến giữa
hư không… Theo cách ấy nó thiền định về Huyễn và Không.
Ngay cả sau thiền định này nó cần tiếp tục quán sát sự
thực là mọi sự đều là trò chơi của Huyễn Hóa cho đến
khi nó có thể nhổ sạch mọi bám níu mọc rễ lâu đời.
(Sự
thực hành ở trên là nền tảng hay sự chuẩn bị cho Yoga
Thân Huyễn). Bây giờ chúng ta bàn đến chính sự thực hành
đó, trong hai phần :
(1)
Thực Hành Thân Huyễn Chưa Trong Sạch
(2)
Thực Hành Thân Huyễn Trong Sạch
(1)
NHỮNG GIÁO HUẤN VỀ THỰC HÀNH
THÂN
HUYỄN CHƯA TRONG SẠCH
Đứng
trước một tấm gương, quán sát sự phản chiếu của thân
thể bạn – nhìn vào hình ảnh trong một lúc – và xem xét
hình ảnh ấy được tạo thành bởi một hỗn hợp nhiều
yếu tố khác nhau – tấm gương, thân thể, ánh sáng, khoảng
không… – trong những điều kiện nào đó. Nó là một vật
duyên sanh, không có tự thể nào – có xuất hiện, nhưng trống
không. Rồi quan sát hiện tướng của hình ảnh, cùng với
áo quần và trang sức, và xem bạn vui thích hay không ưa đối
với nó ; lại giả bộ nổi sân, chống lại chính bạn và
quan sát xem bạn bị ảnh hưởng bởi nó. Thực hành như thế,
bạn sẽ khám phá ra rằng mọi ưa thích và chán ghét là huyễn
hóa và chủ quan, được tạo ra bởi tâm thức của riêng bạn,
và như thế sự bám chấp của bạn sẽ giảm nhiều.
Để
thực hành thiền định về tiếng vang, bạn đi đến một
nơi chúng có thể sanh ra. Rồi hét lớn những lời đáng ưa
và đáng ghét để ca ngợi hay làm tổn hại chính bạn, và
quan sát những phản ứng thích và ghét. Thực hành như thế,
bạn sẽ sớm hiểu rằng mọi lời nói đáng ưa hay đáng ghét
đều là huyễn hóa như chính tiếng vang. Nếu bạn có thể
thực hành thiền định này thành công, bạn sẽ sớm trở
nên thản nhiên đối với cả hai thứ khen và chê, và bạn
sẽ được Giải Thoát…
Cho
đến khi bạn có thể đối xử bình đẳng với ưa và ghét,
sướng và khổ, được và mất… Bạn cần tiếp tục thiền
định về như huyễn trong một nơi yên tĩnh hay nơi vắng vẻ.
Sau đó bạn có thể đi vào làng hay thành phố để thực hành
giữa những con người và hoạt động. Nếu bạn thấy rằng
mình còn phản ứng thuận theo hay nghịch lại với những điều
thích và không thích, bạn cần trở lại nơi tĩnh mịch và
thực hành lần nữa…
(2)
NHỮNG GIÁO HUẤN VỀ THỰC HÀNH
THÂN
HUYỄN TRONG SẠCH
Trong
nhiều sách dạy về Sáu Yoga, sự thiền định về Phật Bổn
Tôn (Yidam) không được giải thích rõ ràng. Dầu hiểu rằng
người ta trước hết phải thực hành và hoàn tất Yoga Phát
Sanh trước khi có thể thực hành Yoga Thành Tựu, ngày nay người
Tây Tạng hiếm khi thực hiện cố gắng này. (Đây thực là
điều rất đáng tiếc) bởi vì quán tưởng thân huyễn của
Phật Bổn Tôn là một nền tảng cho Yoga Thành Tựu đồng
thời là một phương tiện để đạt đến Báo Thân viên mãn
trong trạng thái Trung Ấm. Sự quán tưởng hình ảnh của Phật
Bổn Tôn trong thực hành Yoga Phát Sanh bởi thế được nêu
ra sau đây :
Kiếm
một bức vẽ rất rõ ràng Phật Bổn Tôn, đặt nó (ở một
góc) giữa hai tấm gương, và quan sát tính như huyễn của
ba hình ảnh này. Dùng bức hình như một chỗ dựa để quán
tưởng Phật Bổn Tôn, cho đến khi Ngài xuất hiện rõ ràng
trong con mắt tâm như một người tình trong con mắt tâm của
một người đang yêu. Hành giả được khuyên quán tưởng
toàn bộ hình ảnh toàn thân cùng một lần, và giữ nó lại
rõ ràng càng lâu càng tốt. Sau một lúc thị kiến nhạt mờ
đi, và bấy giờ nó cần quán tưởng một phần thân thể
cho đến khi nó trở nên cực kỳ rõ ràng. Nó nên bắt đầu
với đầu và mặt ; rồi cổ, thân, tay chân… cho đến khi
toàn thể thân trở nên sống động và rõ ràng.
Như
một người đã xem khiêu vũ trong một thời gian dài có thể
dễ dàng hình dung mình như người khiêu vũ, cũng thế người
quan sát một bức vẽ có thể quán tưởng nó một cách rõ
ràng và dễ dàng. Một thị kiến rõ ràng và bền vững chỉ
có thể thiết lập qua thực hành liên tục, đều đặn. Sự
ngắt quãng là tai hại cho sự thành tựu quán tưởng.
Người
nào thực hành thực tập này cực kỳ tốt có thể thấy thị
kiến của mình còn rõ hơn chính bức vẽ ; người thực hành
tốt vừa có thể thấy nó cũng rõ ràng như bức vẽ ; và
người không tốt thì mờ tối hơn bức vẽ…
Người
thực hành quá chặt chẽ sẽ khơi dẫn một số nhiều những
tư tưởng phóng dật ; nếu quá buông lỏng, sẽ trở nên hôn
trầm. Bởi thế cần tự điều chỉnh với những điều kiện
khác nhau và theo con đường trung đạo.
Khi
thị kiến về Phật Bổn Tôn trở nên rất vững chắc và
rõ ràng, thiền giả cần bước thêm một bước nữa, và đồng
hóa thị kiến với tánh Không. Quán tưởng mà không có cái
thấy về tánh Không thì cùng lắm chỉ là tưởng tượng tốt.
Ngay cả sự thiền định về tính như huyễn của Thân Phật
Bổn Tôn mà không có một chứng ngộ trực tiếp về tánh
Không thì cùng lắm chỉ tạo ra được một Thành Tựu tương
đối chứ không phải tối hậu. Mặt khác, người nào biết
tánh Không có thể lập tức thấu hiểu thị kiến về Phật
Bổn Tôn như một ảo ảnh của tâm thức được phóng chiếu
ra, không có chút thực thể nào. Nó thấy rằng hình tướng
là tự thân tánh Không và chẳng cần phải đồng hóa nó với
tánh Không…
Trong
thiền định thiền giả cần “nhúng” thị kiến Phật Bổn
Tôn vào trong tánh Không tự-sáng-chiếu mà không có lơ đãng.
Sau thiền định, nó cố gắng giữ gìn tánh Giác và đồng
hóa nó với mọi thứ nó gặp…
Tóm
tắt, thị kiến Phật Bổn Tôn được phóng chiếu ra trong
thực hành Yoga Phát Sanh là một diễn đạt Chân Lý rằng mọi
cái xuất hiện là tánh Không, và là một biểu tượng của
tánh huyễn không có thực thể hay thực tại nào. Nếu dùng
ví dụ, chúng ta có thể so sánh nó với sự xuất hiện huyễn
thuật ; với sự phản chiếu của mặt trăng trong nước ;
với một cái bóng không xương và thịt ; một ảo ảnh thoáng
qua chốc lát ; một giấc mộng do tâm thức phóng chiếu ; một
tiếng vang sanh từ duyên khởi ; một ảo tưởng không có thực
thể ; một đám mây thường xuyên thay đổi hình dạng ; một
cầu vồng, đẹp đẽ và sống động, nhưng không có chất
thể ; một tia chớp, nhanh chóng xuất hiện và biến mất ;
một bọt nước, thình lình sanh ra và tan vỡ ; một hình ảnh
trong gương, biểu lộ sống động nhưng không có tự thể.
Khi
thiền giả có thể an định thị kiến Phật Bổn Tôn một
cách dễ dàng và thoải mái, bấy giờ người ấy bành trướng
Thân của Bổn Tôn đến tầm cỡ vũ trụ ; rút nhỏ nó lại
bằng tầm cỡ một hạt cải nhỏ ; và nhân nhiều nó lên
từ một đến triệu triệu. Rồi nó rút mọi hóa thân này
về Thân nguyên khởi và thiền định về nó trong một ít
lâu. Trong sinh hoạt hàng ngày nó cần đồng hóa mọi kinh nghiệm
của nó với cõi Phật ; nhà cửa và đô thị với Mạn đà
la ; thế giới với quốc độ thanh tịnh của Phật ; mọi
người với chư Phật chư Bồ tát. Nó cần nghĩ rằng mọi
âm thanh là xướng tụng của những Thần Chú ; mọi tư tưởng
là trò chơi của Pháp Thân ; mọi đồ vật và những thứ
thưởng thức là đồ cúng dâng lên chư Phật. Theo cách này,
nó sẽ tịnh hóa mọi biểu lộ hình tướng của Sanh Tử và
hòa lẫn chúng với tánh Không tự-chiếu sáng.
* *
*
Để
biểu lộ Bốn Không hay Bốn Lạc, trước hết thiền giả
đem khí vào Kinh Mạch Trung Ương, và rồi từ cái Không thứ
tư, hay Không Bổn Nguyên, Thân Huyễn làm bằng Tâm-Khí sẽ
sanh khởi. Để thành tựu điều này, một chữ Hum [ ] màu
xanh – biểu tượng của Tâm-Khí – phóng những tia sáng năm
màu, được quán tưởng trong Trung Tâm Trái Tim khi duy trì Hơi
Thở Cái Bình. Đây là phương cách những khí sẽ được đưa
vào Kinh mạch Trung Ương và những dấu hiệu khói, ảo ảnh
v.v… và những Ánh Sáng của sự Xuất Hiện, Tăng Trưởng
và Đạt Đến sẽ lần lượt sanh khởi. Trong lúc đó chữ
Hum cũng tan vào trong Ánh Sáng Vĩ Đại. Bấy giờ thiền giả
trầm mình trong Định Ánh Sáng càng lâu càng tốt. Cuối cùng
khi nó ra khỏi Định này, nó phóng xuất ra Thân Huyễn của
Phật Bổn Tôn làm bằng Tâm-Khí.
Người
nào cảm thấy khó làm chủ những việc này cần tập trung
trước tiên vào chữ Hum màu xanh khi duy trì Hơi Thở Cái Bình,
và thực hành Tiến Trình Hòa Tan của hơi thở đó.
MỘT
TỔNG DUYỆT LẠI
THỰC
HÀNH THÂN HUYỄN
Mọi
pháp trong Sanh Tử lẫn Niết Bàn đều vô tự tánh và như
thế là huyễn. Nhưng sự bám chấp, lầm lạc và tư tưởng
phân biệt của chúng sanh làm cho sự vật xuất hiện là thật.
Để trừ sạch sự bám chấp và lầm lạc, người ta phải
quan sát bản tánh Không của tất cả các pháp và học hỏi
sự thực về huyễn hóa. Đây là nguyên lý tổng quát của
tánh như huyễn.
Nguyên
lý nền tảng của thực hành Yoga Thân Huyễn trong các Tantra
có thể tóm gọn trong những lời sau : Trong thân người thô
thiển do nghiệp báo vẫn thường trụ tinh túy thanh tịnh của
Thân Phật, bị che dấu do sự bám chấp và lầm lạc của
con người. Qua sự thực hành Định Yoga Thân Huyễn, những
bám chấp và lầm lạc này sẽ dần dần được trừ sạch,
và Trí Huệ minh-không được chứng ngộ. Kết quả là, những
khí, kinh mạch và hạt thuộc sanh tử được tịnh hóa và
thân người được chuyển hóa thành Thân Huyễn như-cầu-vồng
của Phật quả.
Cốt
lõi của Yoga Thân Huyễn là sự hiển lộ Ánh Sáng Bổn Nguyên
và sự phóng chiếu liên tục của nó thành Thân Huyễn nhờ
Tâm-Khí…
Trong
thực hành này, thiền giả sẽ cảm thấy một cách mạnh mẽ
rằng không có gì thực sự hiện hữu. Kinh nghiệm này sẽ
tiếp tục đi sâu cho đến khi người ta đạt đến Giác Ngộ
viên mãn.
3.
NHỮNG CHỈ DẠY VỀ YOGA GIẤC MỘNG
Sự
nhận biết giấc mộng là cốt lõi của thực hành Yoga Giấc
Mộng. Để thực hiện điều này, trước hết người ta phải
dẹp bỏ mọi nguyên nhân che chướng Tánh Giác trong sáng của
mình. Những nguyên nhân nổi trội làm ngăn ngại tánh Giác
và những đối trị của chúng được nêu ra ngắn gọn sau
đây :
(1)
Người vi phạm những Giới Luật Mật thừa sẽ không thể
nhận ra những giấc mộng. Trong trường hợp này, thiền giả
cần sám hối những vi phạm và thực hành thần chú Vajrasattva(17)
để tẩy sạch tội lỗi và lập lại những Giới Luật Samaya.
Nó cũng phải cố gắng có được một quán đảnh mới hoặc
từ Guru của mình hay qua cầu nguyện.(18)
(2)
Người có ít lòng tin vào Guru của mình và vào những giáo
huấn Mật thừa sẽ thấy khó mà nhận ra những giấc mộng
; trong trường hợp này, nó phải cố gắng tăng cường lòng
tin.
(3)
Người tham lam những sở đắc vật chất sẽ không thể nhận
ra những giấc mộng ; trong trường hợp này, nó phải vất
bỏ những lệ thuộc vật chất của nó và thôi bám chấp
vào đời sống này.
(4)
Người mất Hạt, hay làm dơ bẩn thân thể(19) không thể nhận
ra những giấc mộng của mình ; thế nên người ta cần cố
gắng mạnh mẽ để bảo tồn Hạt và tránh chung đụng với
người, thức ăn và nơi chốn không trong sạch. Nếu phải
tiếp xúc với chúng, nó phải cử hành những nghi lễ tẩy
tịnh để sửa chữa.
(5)
Người ta không thể nhận ra những giấc mộng nếu tâm thức
họ đầy những tư tưởng phóng dật, hay ước muốn làm được
điều ấy yếu ớt. Trong trường hợp này, nó nên sống một
mình và cố gắng làm mạnh niềm tin và nguyện vọng vào sự
Thành Tựu.
(6)
Ban ngày liên tục nghĩ rằng mọi thứ mình thấy, nghe, sờ
chạm… đều là trong giấc mộng, sẽ làm tăng trưởng lớn
lao cơ may nhận ra giấc mộng vào ban đêm.
Trước
khi bắt đầu tu hành Yoga Giấc Mộng, trước hết người ta
cần hoàn thành những thực hành sơ bộ tổng quát, rồi dành
một phần ba của mỗi thời để thực hành Tumo, và hai phần
ba để quán tưởng những chủng tử tự trong Trung Tâm cổ
Họng – một kỹ thuật tốt để phát sanh những giấc mộng.
Trước tiên cầu nguyện đến Guru ngồi trong Luân Xa Cổ Họng
để gia hộ cho nhận ra những giấc mộng vào ban đêm ; rồi
quán tưởng một hoa sen bốn cánh trong Luân Xa Cổ Họng, ở
trung tâm của hoa sen một chữ Om [ ] màu trắng, trên cánh trước
mặt một chữ A [ ] màu xanh, trên cánh bên phải một chữ
Nu [ ] màu vàng, trên cánh phía sau một chữ Ta [ ] màu đỏ,
và trên cánh bên trái một chữ Ra [ ] màu lục. Tất cả đều
rất rõ ràng và sống động.
Người
ta có thể đơn giản hóa bằng cách chỉ quán tưởng một
chữ Om màu đỏ trong Trung Tâm Luân Xa Cổ Họng, và duy trì
Hơi Thở Cái Bình càng lâu nếu có thể ; hay nó có thể xướng
ngâm bằng tâm trí một âm Om dài với mỗi hơi thở.
Một
số người nói rằng điều này chỉ làm khi ngủ. Vậy là
không đúng, bởi vì nếu tu hành nó lúc ban ngày như là thiền
định chính, Tâm Khí sẽ tập trung trong Luân Xa Cổ Họng nhanh
chóng và dễ dàng, để cho nhiều giấc mộng rõ ràng hơn sẽ
sanh ra. Thêm nữa, thực hành này cũng sẽ giúp cho khí vào
Kinh Mạch Trung Ương, và làm hiển lộ Bốn Cái Không.
Thiền
giả phải nghĩ liên tục trong trạng thái thức rằng mọi
thứ nó thấy, nghe, xúc chạm, suy nghĩ và hành động đều
là trong giấc mộng. Nó cũng tránh thức ăn bổ dưỡng nhiều
hay ăn nhiều quá, và không làm cạn kiệt mình bằng những
hoạt động hao tốn nhiều sức. Tóm lại, nó cần cố gắng
phối hợp những năng lực của khí, của ý chí mạnh mẽ
và của những phương pháp khác để nhận ra những giấc mộng.
Thời
gian tốt nhất để quan sát giấc mộng là giữa lúc gần sáng
và mặt trời mọc, bởi vì đây là lúc thức ăn đã được
tiêu hóa và nghỉ ngơi đã đủ, hôn trầm không nặng, và
tâm thức tương đối sáng tỏ. Nhưng người nào ngủ chập
chờn cũng có thể thực hành điều này trong đêm.
Thiền
giả dùng một cái mền mỏng, một cái gối cao, và nằm nghiêng
bên hông. Trước khi rơi vào giấc ngủ, nó cần làm mạnh
thêm lòng tin và quyết tâm nhận ra những giấc mộng ít ra
bảy hoặc nhiều là hai mươi mốt lần. Nó có thể quán tưởng
bốn chữ cốt yếu trong Trung Tâm Cổ Họng trong một lúc,
rồi tập trung duy nhất vào chữ Om đỏ trong khi nhẹ nhàng
duy trì Hơi Thở Cái Bình.
Một
giấc ngủ dài và liên tục là điều nên tránh ; thay vào đó,
người ta nên cố gắng ngủ nhiều kỳ ngắn. Mỗi lần thức
dậy, nó cần xem xét lại nó đã nhận ra được những giấc
mộng của nó trong giấc ngủ trước đó chưa. Nếu không,
một sự cầu nguyện chân thành cần được làm trước khi
ngủ trở lại.
Nếu
sau mọi thứ này người ta vẫn không thể nhận ra được
những giấc mộng, nó nên ngồi dậy và quan sát những đồ
vật trong phòng – ghế, bàn, giường, áo quần, tranh ảnh…
và nghĩ rằng chúng đều là những thị kiến trong một giấc
mộng. Với cảm giác này, nó đi vào giấc ngủ một lần nữa.
Người
không thể nhận ra những giấc mộng bởi vì hôn trầm quá
sức, nên quán tưởng một chữ Om đỏ rạng rỡ trong Trung
Tâm Cổ Họng, phát ra những tia sáng đầy toàn thân và căn
phòng, hay một Hạt trắng ở giữa hai lông mày. Người có
khuynh hướng ngủ chập chờn nên quán tưởng một chữ Hum
hay một Hạt màu xanh trong Trung Tâm Bí Mật…
Người
thực hành cẩn thận mọi lời dạy ở trên, nhưng còn chưa
nhận ra giấc mộng, cần rút vào cô tịch, cởi hết áo quần,
nhảy nhót, múa may và chạy trần truồng và kêu lớn “Đây
là một giấc mộng ! Một giấc mộng !” Nó cũng có thể
đến mé của một bờ vực nguy hiểm, nhìn xuống vực thẳm,
và la to lên như thế. Nếu nó còn chưa thể nhận ra những
giấc mộng, nó nên xấu hổ với chính nó và cầu khẩn hết
lòng với Guru và Phật Bổn Tôn. Rồi nó cần quán tưởng
trong Trung Tâm Cổ Họng một dĩa bén quay càng lúc càng nhanh,
đi lên và đi xuống khắp toàn thân như một lưỡi cưa tròn
– cắt lát nó thành từng mảnh và tro bụi – và dâng cúng
chúng cho chư Phật và cho những chúng sanh đói. Bấy giờ nó
thiền định về Đại Ấn mà không có một tư tưởng phân
biệt nào…
Người
chỉ có thể nhận ra những giấc mộng đôi khi và chốc lát,
nhưng không thường trực, sẽ thấy sự thực hành của mình
kém hiệu lực. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp
thức tỉnh đột ngột ngay sau khi nhận ra những giấc mộng.
Nếu thế, thiền giả cần không ngừng cảnh giác với khuynh
hướng này và làm mạnh mong muốn trong trạng thái mộng. Dầu
có thức dậy, nó không nên mở mắt, mà cố gắng tiếp tục
giấc mộng, hay định tâm vào Trung Tâm Trái Tim hay Trung Tâm
Bí Mật.
Thiền
giả cần tìm tòi cẩn thận điều gì gây ra sự tỉnh giấc
nhanh chóng khỏi những giấc mộng – nếu do quá căng thẳng,
nó phải thư giãn hơn nữa ; nếu là tiếng ồn, nó nên ngủ
nơi yên tĩnh ; nếu lạnh hay nóng, nó nên mặc thêm hay cởi
bớt áo quần… Một vài chỉ dạy nói rằng quán tưởng mình
ngồi giữa một Hạt đỏ và trắng – những năng lực dương
và âm – sẽ tốt. Cũng nói rằng quán tưởng một chữ Hum
màu xanh trong Trung Tâm Cổ Họng, trong khi duy trì Hơi Thở Cái
Bình, cũng trợ giúp nhiều… Tóm tắt, thiền giả luôn luôn
cố gắng tìm ra tại sao nó không thể nhận ra những giấc
mộng, và rồi dùng những biện pháp chữa trị thích hợp.
Ví dụ, nếu quá hôn trầm, hãy quán tưởng một Hạt đỏ
hay trắng trong Cổ Họng, hay trong điểm giữa hai lông mày,
tỏa chiếu ánh sáng rực rỡ ; nếu quá căng thẳng hay quá
dễ dàng tỉnh dậy, hãy quán tưởng một Hạt xanh hay đen
trong Trung Tâm Trái Tim hay Trung Tâm Bí Mật ; nếu những giấc
mộng không rõ ràng, hãy quán tưởng một Hạt đỏ trong Trung
Tâm Cổ Họng, chiếu ánh sáng toàn khắp mọi kinh mạch của
toàn thân.
Khi
thiền giả có một giấc mộng dễ sợ, nó cần loại bỏ
sợ hãi vô cớ bằng cách nói rằng : “Đây là một giấc
mộng. Làm sao lửa có thể đốt hay nước nhận chìm ta trong
một giấc mộng ? Làm sao con thú này hay quỷ ma này… có thể
làm hại ta ?” Giữ sự tỉnh giác này, nó giẵm đạp lên
lửa, đi qua nước hay biến hình thành một ngọn lửa lớn
và bay vào tim của một con quỷ đáng sợ hay một con thú dữ
và thiêu rụi nó…
Thiền
giả nào có thể nhận ra những giấc mộng một cách khá rõ
ràng và ổn định, nên tiếp tục thực hành Sự Chuyển Hóa
những Giấc Mộng. Nghĩa là trong trạng thái Mộng, nó cố
gắng chuyển hóa thân thể mình thành một con chim, một con
cọp, một con sư tử, một Bà la môn, một nhà vua, một cái
nhà, một tảng đá, một rừng cây… hay thứ gì nó muốn.
Khi sự thực hành này đã vững chắc, bấy giờ nó chuyển
hóa mình thành Thân Phật Bổn Tôn trong nhiều hình dạng, ngồi
hay đứng, nhỏ hay lớn, v.v… Cũng thế, nó chuyển hóa những
sự vật thấy trong giấc mộng thành những đồ vật khác
nhau – ví dụ, một con vật thành một con người, nước thành
lửa, đất thành không gian, một thành nhiều, hay nhiều thành
một… Nó thực tập nhiều thần lực khác nhau, như làm lửa
vọt ra từ thân trên hay nước từ thân dưới, giẵm lên mặt
trời và mặt trăng, hay hóa thân mình thành một triệu, tỷ
thân lấp đầy toàn bộ vũ trụ…
Một
trong những mục đích chính của thực hành Yoga Giấc Mộng
là giúp người ta thực hiện Thân Huyễn trong trạng thái Trung
Ấm và ngay trong đời này. Để hoàn thành nó, trước hết
người ta phải nhận ra Bốn Cái Không của Giấc Ngủ,(20)
rồi từ Cái Không Bổn Nguyên thứ Tư, nó lập tức phóng
xuất Thân Huyễn của Phật Bổn Tôn làm bằng Tâm-Khí trong
một Mạn đà la, và rồi làm tan biến Mạn đà la và Phật
Bổn Tôn vào trong Đại Không một lần nữa. Đây là, một
cách ngắn gọn, tiến trình Sanh Khởi và Hòa Tan được thực
hành trong Yoga Giấc Mộng.
Sau
đó, thiền giả thực hành Sự Du Hành đến những Đất Phật
như lời dạy sau :
Quán
tưởng chính mình trở thành Phật Bổn Tôn, và tức khắc,
như một ngôi sao băng, đi đến cõi Trời Indra, hay một cõi
trời trong sanh tử nào khác ; quan sát quang cảnh trước khi
trở lại. Khi điều này đã vững chắc, bấy giờ người
ta du hành đến một trong những quốc độ Phật, như Tịnh
Độ của Vairocana hay của Amitabha… Điều này cũng xảy ra
trong nháy mắt. Đến Tịnh Độ của Phật, người ấy đảnh
lễ và cúng dường Phật rồi nghe Ngài thuyết pháp…
Lúc
bắt đầu, những thị kiến và kinh nghiệm chưa thật rõ ràng,
nhưng người ta phải cương quyết tin rằng điều nó thấy
trong giấc mộng chính thực là Tịnh Độ, bởi vì cả hai
Sanh Tử và Niết Bàn rốt ráo chỉ là mộng ; thực hành như
thế, những thị kiến càng ngày càng rõ ràng hơn…
Nếu
người ta hỏi “Có sự khác biệt gì giữa Yoga Thân Huyễn
và Yoga Giấc Mộng ?” câu trả lời là tự nền tảng, chúng
giống nhau, nhưng Yoga Giấc Mộng nên được xem như bổ sung
cho Yoga Thân Huyễn. Một cái dùng để phát sanh Thân Huyễn
và cái kia để tiến thêm hay hoàn thiện nó. Người ta cũng
cần biết rằng Thân Huyễn sanh khởi từ Ánh Sáng trong trạng
thái Thức thì sâu xa hơn và vi tế hơn nhiều so với thân
huyễn của những giấc mộng. Nhưng cả hai Yoga cần được
thực hành để bổ sung lẫn nhau ; vì theo cách đó, sự bám
chấp về thời gian biểu lộ trong phân đôi giữa trạng thái
Mộng và trạng thái Thức cuối cùng có thể vượt qua được.
Thực hành phối hợp hai Yoga này có thể dẫn người ta đến
chỗ tịnh hóa những tư tưởng thói quen của Sanh Tử, chứng
ngộ rằng mọi sự là những biểu lộ của tâm thức và tâm
thức thì vô tự tánh, như những giấc mộng ; biết rằng
cả Sanh Tử và Niết Bàn là những ảo ảnh không thật, và
rằng chúng không trói buộc cái gì và không giải thoát cho
cái gì ; tẩy sạch khỏi mọi luyến chấp thô và tế, tịnh
và bất tịnh ; và cuối cùng làm hiển lộ Báo Thân như huyễn
hóa của Phật quả.
4.
NHỮNG GIÁO HUẤN VỀ YOGA ÁNH SÁNG
LÀM
THẾ NÀO NHẬN RA ÁNH SÁNG
Những
bước cần có trong thực hành sơ bộ để dẹp bỏ những
chướng ngại và tập hợp mọi điều kiện tốt đẹp cho
sự nhận biết Ánh Sáng* (* Ánh
Sáng trong phần này là Tịnh Quang (chú thích của bản tiếng
Việt do các dịch giả của NXB. Thiện Tri Thức).thì
cũng như trong Yoga Giấc Mộng. Nhưng thêm vào đó, thiền giả
cần ăn thức ăn tốt và bổ dưỡng, xoa bóp thân thể, sống
nơi rất yên tĩnh, giữ gìn Hạt, và nhẹ nhàng thư giãn trong
mọi lúc. Trong mỗi thời thiền định, nó cần để ra một
phần ba thời gian thực hành Tumo, và hai phần ba thực hành
Yoga Ánh Sáng. Trước tiên nó quán tưởng một vị Phật Vajradhara
màu xanh với phối ngẫu ngồi trong Trung Tâm Trái Tim, và cầu
nguyện Ngài khai mở cho Ánh Sáng Bổn Nguyên (Ánh Sáng Vốn
Sẵn), rồi nó quán tưởng một chữ Hum màu xanh trong Trung
Tâm Trái Tim và duy trì Hơi Thở Cái Bình, hay trì tụng trong
trí một tiếng Hum dài… rồi tất cả thế giới bên ngoài
tan biến vào thân thể nó, thân tan biến vào trong Hum, Hum vào
trong Nada,(21) và Nada vào trong Đại Không. Nó thiền định
về tánh Không và giữ hơi thở. Xuất khỏi Định này, thiền
giả lại quán tưởng Thân Huyễn của Phật Bổn Tôn…
Vài
người nói sai rằng điều này chỉ nên làm vào ban đêm ;
nhưng thật ra nếu người ta thực hành điều đó suốt ngày,
nó sẽ tăng cường lớn lao cơ hội để làm chủ Tâm Khí
và sẽ củng cố sự phát lộ của Ánh Sáng, nên sẽ rất
dễ dàng nhận ra Ánh Sáng trong khi ngủ. Ngoài ra, còn có những
lợi ích lớn lao nhờ giữ hơi thở vào cùng lúc ấy. Nhận
ra Ánh Sáng bằng những phương pháp khác thì rất khó khăn
; và ánh sáng được nhận ra như vậy không thể kéo dài lâu
dài… Người theo phương pháp này chắc chắn đem được những
khí vào Kinh Mạch Trung Ương và khai mở Bốn Cái Không… Bởi
thế, đây là thực hành quan trọng nhất về Yoga Ánh Sáng.
GIỮ
ÁNH SÁNG TRONG KHI NGỦ
Những
người có thể khai mở lần lượt Bốn Cái Không bằng cách
quy tụ khí vào trong Kinh Mạch Trung Ương lúc ban ngày cũng
có thể làm thế trong khi ngủ nếu họ tập trung vào chữ
Hum trong Trung Tâm Trái Tim ngay trước khi rơi vào giấc ngủ.
Thời
gian tốt nhất để “giữ” Ánh Sáng không phải là (trong
khoảng giữa) đêm khi giấc ngủ quá nặng, mà là lúc bình
minh, hay bất kỳ lúc nào giấc ngủ nhẹ ; và tư thế tốt
nhất là nằm nghiêng bên hông, với hai đầu gối cong.
Đến
đây, hai cái chính yếu của thực hành Yoga Ánh Sáng là quán
tưởng năm chữ then chốt trên năm cánh hoa sen trong Trung Tâm
Trái Tim, và giữ hơi thở.
Trước
khi rơi vào giấc ngủ, thiền giả nghĩ (lập đi lập lại)
hai mươi mốt lần, rằng nó phải nhận ra Ánh Sáng Bổn Nguyên
khi nó khởi hiện sau những giai đoạn Xuất Hiện, Tăng Trưởng
và Đạt Đến. Rồi nó quán tưởng toàn thân tan biến vào
chữ Hum và chữ Hum vào trong Ánh Sáng, và định tâm vào đó.
Khi cảm thấy hơi buồn ngủ, nó tập trung vào chữ A [ ] ;
khi khá buồn ngủ, vào chữ Nu [ ] ; khi rất buồn ngủ, vào
chữ Ta [ ], khi gần như rơi vào giấc ngủ, vào chữ Ra [ ]
và khi rơi vào giấc ngủ (hay trở nên vô thức), vào chữ
Hum [ ].
Lúc
bắt đầu thiền giả thấy khó quán tưởng hai chữ chót này,
vì nó có khuynh hướng rơi vào giấc ngủ ngay sau khi tập trung
vào ba chữ trước ; nhưng qua thực hành lập lại nhiều lần
nó có thể dần dần làm được. Người không thể giữ cho
tỉnh giác trong trạng thái vô thức của giấc ngủ, cần thực
hành nhiều vào ban ngày để có được sức Định nhiều hơn.
Điều ấy sẽ làm cho nó giữ được tỉnh giác trong trạng
thái vô thức và thấy được phần nào Ánh Sáng…
Vài
chỉ dạy nói rằng nếu người ta còn chưa nhận ra Ánh Sáng,
nó cần bỏ ngủ trong ba ngày đêm và rồi cố gắng làm lại…
Người
có thể khai mở lần lượt Bốn Ánh Sáng hay Bốn Cái Không,
tức là những Ánh Sáng của Xuất Hiện, Tăng Trưởng, Đạt
Đến và Bổn Nguyên, có thể loại trừ cả hai loại tư tưởng
thô và tế của Sanh Tử và siêu vượt tâm thức phân biệt.
Rồi nó sẽ thấy mặt đối mặt với Ánh Sáng đích thật
của Giấc Ngủ, trong suốt và sáng tỏ như một bầu trời
không mây. Đây là kinh nghiệm kỳ vĩ, hay Ánh Sáng hoàn chỉnh.
Tiếp theo cái này là cái mà chúng ta có thể gọi là kinh nghiệm
“kha khá”, hay Ánh Sáng “kém”, trong đó, dầu thiền giả
không thể nhận ra Bốn Cái Không lần lượt hay loại trừ
mọi biểu lộ của Sanh Tử, nó cũng có thể vượt thắng
được hôn trầm nặng và nhận thấy rõ ràng tánh Không-Sáng
Tỏ trong suốt. Tiếp theo là kinh nghiệm “thấp”, trong đó
thiền giả có thể không nhận ra Ánh Sáng “hoàn chỉnh”
hay Ánh Sáng “kém”, mà kinh nghiệm một tâm sáng tỏ và
trong suốt trong trạng thái ngủ trước khi những giấc mộng
khởi sanh… Đây gọi là kinh nghiệm về Ánh Sáng “tương
tợ”.
Nếu
trong thực hành ban ngày người ta đã đạt đến một Định
vững chắc, sức mạnh của nó sẽ xuyên suốt ngày và đêm,
bao gồm những trạng thái ngủ và mộng. Trong trường hợp
đó, thiền giả sẽ không mộng (như lệ thường) ; và nếu
nó có mộng, nó có thể nhận ra lập tức. Nhưng vài vị Guru
nói rằng đây không phải là Ánh Sáng của Giấc Ngủ, mà
chỉ là một kinh nghiệm của Định trong trạng thái ngủ.
Điều này có thể đúng, nhưng nếu người ta có thể thực
hành như thế, nó thật sự có thể làm tăng cơ hội để
nhận ra Ánh Sáng và sẽ sớm thấy Ánh Sáng “kém”.
Dầu
có nhiều phương pháp để giữ được Ánh Sáng, những lời
dạy ở trước đã khá đầy đủ cho mục đích ấy ; thiền
giả nên theo cái nào đặc biệt trợ giúp nhiều nhất cho
nó…
NHỮNG
BÌNH GIẢNG VỀ BỐN CÁI KHÔNG
Bốn
Cái Không, Bốn Ánh Sáng hay Bốn Lạc, là cốt tủy của kinh
nghiệm Yoga Ánh Sáng. Chúng được khởi dẫn bằng cách gom
tụ khí trong Kinh Mạch Trung Ương trong thực hành ban ngày của
trạng thái thức. Người có thể làm như thế, thì nên định
tâm đặc biệt vào cái Không thứ Tư, hay Ánh Sáng Bổn Nguyên.
Phương pháp để nhận ra Bốn Cái Không này là như sau :
Trong
khi thực hành Yoga Ánh Sáng lúc ban đêm, thiền giả trước
hết tập trung vào chữ A trên một cánh hoa sen trong Trung Tâm
Trái Tim. Qua sự thực hành của nó, những khí của Năm Đại
sẽ gom vào Kinh Mạch Trung Ương và những dấu hiệu khói,
ảo ảnh, ánh sáng đom đóm… sẽ sanh khởi lần lượt. Khi
cảm thấy buồn ngủ, nó tập trung vào chữ Nu, sau đó nhiều
khí sẽ gom tụ, những tư tưởng phân biệt thô sẽ tan biến,
và cái Không lúc Ban Đầu, hay Ánh Sáng của Xuất Hiện, sẽ
khởi hiện ; bấy giờ nó sẽ kinh nghiệm một cảm giác như
đang thấy ánh trăng sáng trong một bầu trời không mây. Khi
thiền giả trở nên buồn ngủ hơn, nó tập trung vào chữ
Ta, nhiều khí sẽ gom tụ, mọi tư tưởng phân biệt tế sẽ
tan biến, và cái Thứ Hai hay cái Không Cùng Cực – còn gọi
là Ánh Sáng của Tăng Trưởng – sẽ khởi hiện ; bấy giờ
nó sẽ kinh nghiệm một cảm giác như đang thấy ánh sáng mặt
trời trong một bầu trời không mây. Khi cảm thấy rất buồn
ngủ, nó tập trung vào chữ Ra, sau đó mọi khí sẽ gom tụ,
phần lớn những tư tưởng vi tế nhất sẽ tan biến, và cái
Thứ Ba hay Đại Không – còn gọi là Ánh Sáng của Đạt Đến
– sẽ khởi hiện ; bấy giờ nó sẽ kinh nghiệm một cảm
giác như đang thấy bóng tối bao trùm tất cả trong một bầu
trời không mây và sâu thẳm. Cuối cùng, khi thiền giả rơi
vào giấc ngủ (hay trở nên vô thức), tập trung vào chữ Hum,
mọi khí của sự Đạt Đến và mọi tư tưởng phân biệt
vi tế nhất sẽ tan biến, và cái Thứ Tư, hay cái Không Toàn
Thể – còn gọi là Ánh Sáng Bổn Nguyên – sẽ khởi hiện
; bấy giờ nó sẽ kinh nghiệm một cảm giác như đang thấy
vòm trời trong sáng lúc bình minh, và tất cả Ba Nhiễm Ô c