Phần
I
Giáo lý Đại
Ấn
Bài
Ca Đại Ấn của Tilopa
Đại
Ấn thì vượt khỏi mọi lời nói và biểu tượng,
Nhưng
với con, nhiệt tâm và trung thành,
Naropa,
điều này phải được nói ra.
Tánh
Không không cần có chỗ trụ,
Đại
Ấn nằm yên nơi không có gì cả.
Không
khởi một nỗ lực nào,
Mà
buông lỏng và tự nhiên,
Thì
người ta có thể phá tan ách xiềng
Bèn
có ngay giải thoát.
Nếu
người ta thấy không có gì cả khi nhìn vào không gian,
Nếu
với tâm bấy giờ người ta quan sát tâm,
Người
ta phá tiêu những phân biệt chia cách
Và
Phật quả viên thành.
Những
đám mây lang thang qua bầu trời
Không
gốc rễ, không nhà trú ;
Cũng
thế những tư tưởng phân biệt trôi nổi qua tâm.
Một
khi thấy được Tự Tâm,
Phân
biệt bèn ngừng dứt.
Trong
không gian những hình dạng và màu sắc thành hình,
Nhưng
không gian không nhuốm màu đen, trắng.
Từ
Tự Tâm mọi cái khởi lên
Nhưng
tâm không nhiễm ô bởi tốt hay xấu.
Bóng
tối bao đời không thể che tối mặt trời ;
Những
kiếp dằng dặc triền miên
Của
sanh tử không thể che dấu
Ánh
Sáng rạng rỡ của Tâm.
Dù
lời nói được nói ra để giải thích tánh Không,
Tánh
Không là như vậy, không thể nào diễn tả.
Dù
chúng ta nói, “tâm là ánh sáng chói ngời”
Nó
thì vượt khỏi mọi ngôn từ biểu tượng.
Dù
tâm vốn là không trong bản chất
Nó
bao trùm và chứa đựng mọi sự.
Chớ
làm gì cả với thân mà chỉ buông xả,
Đóng
kín miệng và giữ im lặng,
Tâm
trống không và không nghĩ gì.
Như
thân một cây tre rỗng
Để
cho thân nghỉ ngơi thoải mái.
Không
lấy cũng không bỏ,
Để
cho tâm ở yên.
Đại
Ấn là một tâm không bám trụ.
Thực
hành như vậy, đến lúc con sẽ đạt đến Phật quả.
Thực
hành Thần chú và Ba la mật,
Giáo
huấn trong Kinh và Giới luật,
Và
giáo lý từ những Trường phái và Luận điển sẽ không đem
lại
Sự
chứng ngộ Chân Lý Vốn Sẵn.
Vì
nếu tâm còn ham muốn
Mà
tìm kiếm mục đích, nó chỉ che mất Ánh Sáng.
Người
nào giữ những giới luật Mật thừa
Nhưng
lại phân biệt, thì đã phản bội tinh thần Samaya.
Hãy
ngừng mọi hoạt động, từ bỏ mọi ham muốn,
Hãy
để những tư tưởng khởi lên và diệt mất
Như
những làn sóng trong đại dương.
Người
không hề làm chướng ngại cái Vô Trụ
Và
nguyên lý Vô phân biệt,
Là
đang giữ giới Mật thừa.
Người
từ bỏ khao khát
Và
không bám níu cái này cái nọ,
Bèn
tri giác được thật nghĩa
Ban
cho trong Kinh điển.
Trong
Đại Ấn tất cả tội lỗi nhiễm ô cháy sạch ;
Trong
Đại Ấn người ta được giải thoát
Khỏi
ngục tù của thế gian này.
Đây
là ngọn đuốc tối thượng của Pháp.
Những
người không tin nó
Là
những người ngu mãi mãi chìm sâu
Trong
khốn khổ và muộn phiền.
Nỗ
lực cho giải thoát
Người
ta cần nương dựa một vị Thầy.
Khi
tâm con nhận những ban phước của ngài
Giải
thoát bèn ở ngay bên cạnh.
Than
ôi, mọi sự trong thế gian là vô nghĩa,
Chúng
chỉ là những hạt giống của muộn phiền.
Những
giáo lý nhỏ đưa đến những hành vi ;
Người
ta chỉ nên theo
Những
giáo lý Lớn.
Siêu
vượt nhị nguyên
Là
cái Thấy Tối Cao (Vua).
Chiến
thắng những phóng dật
Là
sự thực hành Vương Giả.
Con
Đường không-làm
Là
Đường chư Phật ;
Ai
giẵm bước trên Con Đường đó
Thì
đạt đến Phật quả.
Thoáng
chốc là thế gian này ;
Như
những bóng ma, những giấc mộng,
Có
bản chất nào đâu.
Hãy
buông bỏ nó, từ bỏ thân thích,
Cắt
đứt những buộc ràng của tham lam, thù hận,
Hãy
thiền định trong rừng trong núi.
Nếu
không cố gắng nào mà thảnh thơi,
Con
an trụ trong “trạng thái tự nhiên”,
Thì
Đại Ấn sẽ sớm hiện tiền với con
Và
chứng Vô Sở Đắc.
Cắt
đứt rễ của một cái cây
Thì
lá sẽ héo tàn ;
Hãy
cắt đứt rễ của tâm con
Thì
sanh tử rơi rụng.
Ánh
sáng bất kỳ ngọn đèn nào
Xóa
tan trong chốc lát
Bóng
tối của những kiếp dằng dặc ;
Ánh
sáng mạnh mẽ của tâm
Trong
một tia chớp đốt cháy
Tấm
màn của vô minh xưa cũ.
Người
nào bám níu vào tâm thì không thấy
Sự
thật của cái vượt khỏi tâm.
Người
nào nỗ lực thực hành Pháp
Không
tìm ra sự thật của cái vượt khỏi thực hành.
Để
biết cái vượt khỏi cả tâm và thực hành,
Người
ta cần cắt sạch gốc rễ của tâm
Và
mở to mắt trần trụi. Như thế cần xa lìa
Mọi
phân biệt và an trụ thảnh thơi.
Người
ta không lấy hay bỏ
Mà
ở yên tự nhiên,
Vì
Đại Ấn thì vượt khỏi
Mọi
chấp nhận và từ chối.
Vì
thức A Lại Da thì không sanh,
Không
ai có thể ngăn lấp hay làm nhiễm ô nó ;
Ở
trong “cảnh giới” không sanh
Mọi
hình tướng xuất hiện sẽ tan vào Pháp tánh,
Mọi
chấp ngã và kiêu mạn sẽ tan thành không.
Sự
Hiểu Ngộ tối thượng siêu vượt mọi đây và kia.
Hành
Động tối thượng bao trùm phương tiện thiện xảo vĩ đại
Mà
không bám luyến.
Sự
Thành Tựu tối thượng là chứng ngộ
Cái
vốn sẵn mà không mong cầu.
Ban
đầu thiền giả cảm thấy tâm thức mình
Đổ
ào ào như một thác nước ;
Ở
chặng giữa, nó chảy từ từ
Và
êm ả như sông Hằng ;
Cuối
cùng, nó là một đại dương bao la
Nơi
đó hai Ánh Sáng
Của
Con và Mẹ hòa thành một.
Lời
Nguyện Đại Ấn
Karmapa
Rangjung Dorje
thứ
Ba
(1)
Trong
Mạn đà la con thấy Guru, Bổn tôn và các Thánh,
Trong
mọi lúc mọi phương con thấy chư Phật và chư Bồ tát,
Với
thành tâm sâu xa con cầu nguyện tất cả các ngài ;
Ban
phước cho những ước nguyện của con.
(2)
Những
nghiệp thiện của tâm và thân
Và
những công đức của tất cả chúng sanh
Là
những dòng suối sạch trong từ Núi Tuyết.
Nguyện
chúng tự do đổ về biển cả
Của
Bốn Thân của Phật quả bao la.
(3)
Qua
mọi đời tương lai của con
Nguyện
con không nghe những từ
Như
“khổ đau” và “tội lỗi”
Nguyện
con luôn luôn
Chia
xẻ niềm vui và cái tốt đẹp
Trong
đại dương Pháp bao la.
(4)
Nguyện
con luôn luôn có rảnh rang, lòng tin, chuyên cần và trí huệ,
Gặp
những Guru và nhận những giáo huấn cốt lõi của các ngài.
Trong
thực hành nguyện con không bao giờ gặp
Những
trở ngại mà luôn luôn
Hưởng
thụ Pháp trong những đời tương lai.
(5)
Nguyện
Tỉnh Giác phân biện và thiêng liêng
Giải
thoát cho con khỏi vô minh ;
Nguyện
những Giáo Huấn cốt lõi phá tan mọi nghi ngờ bóng tối.
Qua
ánh sáng của thiền định
Nguyện
con thấy ra Chân Lý lộ bày,
Và
đốt lên ánh sáng của Ba Trí Huệ.
(6)
Nền
Tảng là Hai Chân Lý (nhị đế)
Vượt
khỏi những kiến chấp có, không ;
Con
đường là sự chuẩn bị tâm linh
Xa
lìa tăng và giảm ;
Quả
là Hai Lợi Lạc, tự giác giác tha
Siêu
vượt khỏi sanh tử và Niết bàn.
Nguyện
con luôn luôn gặp được những giáo pháp
Chân
chánh này suốt những đời vị lai.
(7)
Tinh
túy Tâm rỗng rang và sáng chói –
Cội
nguồn đích thực của Hai trong Một.
Đại
Ấn kim cương cắt đứt thường tịnh hóa
Vô
minh và nhiễm ô, những mê lầm thoáng chốc.
Nguyện
con đạt đến Pháp thân vô cấu
Quả
của tịnh hóa, thường hiển lộ.
(8)
Cái
Thấy của Đại Ấn là không thêm chút gì
Vào
bản tánh của Tâm.
Chánh
niệm với cái Thấy này, không xao lãng là Thiền Định.
Thường
trực ở trong đó là Hạnh tối thượng.
Nguyện
con xác quyết an trụ trong cái Thấy, Thiền Định và Hạnh
này,
(9)
Mọi
hình tướng chỉ là những biểu hiện của tự tâm
Tâm
vốn vô tâm và trống không trong bản chất.
Dù
trống không nhưng không đoạn diệt,
Mà
biểu lộ tất cả mọi sự.
Nguyện
con luôn luôn quán sát Chân lý này
Và
đạt được cái Thấy xác quyết.
(10)
Vì
mê, những tự-biểu lộ vốn trống không
Chúng
ta lầm cho là những đối tượng có thực và ở bên ngoài
;
Chúng
ta chấp lấy tánh tự giác
Mà
cho là ngã
Do
hai cái chấp (ngã và pháp) này,
Con
người lang thang trong sanh tử.
Ôi,
nguyện con cắt đứt
Sự
mù tối căn bản này.
(11)
“Không
có gì thực sự có !”, vì ngay cả
Phật
cũng không thấy có gì.
“Tất
cả chẳng phải là không !“, vì niết bàn
Và
sanh tử vẫn hiện hữu.
Trung
đạo kỳ diệu này của Hai trong Một
Thì
không thuận cũng không nghịch.
Ôi
nguyện con chứng ngộ tự tâm
Thoát
khỏi mọi phân biệt.
(12)
Không
ai có thể diễn tả Nó bằng cách nói “Nó là cái này”.
Không
ai có thể bác bỏ Nó bằng cách nói “Nó không phải là cái
này”.
Cái
Không này của thật pháp
Siêu
vượt khỏi lãnh vực của thức –
Nguyện
con hiểu ngộ nó
Với
sự xác tín sâu xa.
(13)
Mê
mờ Cái Này, người ta lang thang trong sanh tử ;
Thấy
được Cái Này, không có giác ngộ nào khác.
Trong
chân lý rốt ráo không có đây và kia.
Nguyện
con chứng ngộ pháp tánh –
Nghĩa
và nguồn của tất cả hiện hữu.
(14)
Hình
tướng biểu lộ là tâm ;
Tánh
không cũng là tâm.
Giác
ngộ là tâm.
Mê
mờ cũng là tâm
Khởi
diệt của các pháp
Cũng
chỉ có trong tâm.
Nguyện
con hiểu rằng mọi sự
Duy
chỉ là tâm.
(15)
Không
nhiễm ô bởi ý định thực hành hay nỗ lực,
Xa
lìa khỏi ảnh hưởng thế gian và những phóng dật,
Nguyện
con an trụ thong dong trong trạng thái tự nhiên của tâm
Và
khéo học điểm vi diệu của tu tâm.
(16)
Mạnh
và yếu, tỏ và mờ
Những
sóng tư tưởng chìm lặng mất ;
Dòng
tâm nhẹ nhàng chảy không hề bị quấy động,
Xa
lìa cấu nhiễm của hôn trầm phóng dật.
Nguyện
con đi vào đại dương chánh định thường trụ bất động.
(17)
Thường
quán sát cái Tâm không thể quán
Thấy
rõ ràng Chân lý không thể thấy.
Nguyện
đoạn trừ những nghi ngờ thấy có thấy không.
Nguyện
con nhìn thấy xác quyết Bản lai diện mục.
(18)
Khi
quán sát ngoại vật, con chỉ tìm thấy tâm mình ;
Khi
quán sát tâm, con chỉ tìm thấy tánh không ;
Khi
quán sát cả tâm và vật,
Con
thoát khỏi hai chấp ngã-pháp.
Nguyện
con chứng ngộ tự tánh của tâm tỏa sáng.
(19)
Vì
Cái Ấy siêu việt tâm thức,
Nó
được gọi là Đại Ấn ;
Vì
Cái Ấy thoát khỏi những cực đoan,
Nó
được gọi là Trung Đạo vĩ đại ;
Vì
Cái Ấy bao trùm tất cả,
Nó
được gọi là Đại Toàn Thiện ;
Nguyện
con luôn hiểu rằng
Biết
cái một là biết tất cả.
(20)
Vì
không tham luyến, Đại Lạc tương tục sanh khởi.
Thoát
khỏi bám chấp, Ánh Sáng thành rạng rỡ
Thấu
thoát những ngăn ngại và bóng mờ
Nguyện
con hành không ngừng sự thực hành-không-cố gắng này,
Nó
là tự do mà tự duy trì, không dính dáng gì đến tư tưởng.
(21)
Tham
cầu kinh nghiệm thiền định tự tan biến về phần nó ;
Vọng
niệm và ác niệm tự tịnh hóa trong Pháp Giới ;
Tâm
bình thường trong đó không có lấy, bỏ, được mất ;
Nguyện
con chứng ngộ Pháp tánh –
Vốn
xa lìa mọi hý luận, tạo dựng.
(22)
Không
biết tự tánh của mình
Là
một với tánh của Phật,
Chúng
sanh không ngừng lang thang trong sanh tử.
Đối
với tất cả chúng sanh trói buộc trong khổ đau phiền não,
Nguyện
con luôn luôn xót thương chân thật
Bằng
lòng đại bi không thể chịu đựng.
(23)
Khi
lòng bi này sanh khởi,
Tánh
không vĩ đại cũng sáng rỡ hiện bày.
Con
Đường tối thượng sáng tỏ Hai trong Một này,
Nguyện
con ngày đêm không lìa bỏ.
(24)
Nguyện
con sử dụng nhãn và những thông
Có
được từ thiền định,
Để
thành tựu những chúng sanh,
Và
phụng sự tất cả chư Phật và cõi của các ngài.
Nguyện
con làm tròn đại nguyện của các bậc Giác Ngộ,
Và
nhanh chóng đạt đến Phật quả tối thượng và toàn hảo.
(25)
Vĩ
đại thay năng lực của mọi công đức trong vũ trụ,
Vĩ
đại thay năng lực của lòng bi của chư Phật,
Bồ
tát.
Với
sự nâng đỡ của thần lực vĩ đại này,
Và
được ánh sáng của Pháp hướng dẫn
Nguyện
mọi nguyện lành của con và của chúng sanh
Được
dễ dàng thành tựu.
Những
Cơ Bản
của
Thực Hành Đại Ấn
như
được ban cho bởi
Lama
Kong Ka
Lama
Kong Ka nói :
Để
thực hành thiền định Đại Ấn này, trước hết người
ta cần được nhập môn (quán đảnh) với một vị Thầy đầy
đủ phẩm chất. Mục tiêu của nhập môn này là làm cho học
trò nhận biết tánh Giác minh-không của tự tâm mình. Chỉ
sau khi nhận biết tánh giác vốn sẵn và không có tướng này
mà học trò mới có thể thực hành Đại Ấn một cách đúng
đắn. Trừ phi nó làm được điều đó, còn không nó cảm
thấy khó thoát khỏi vướng mắc nhị nguyên chủ thể-đối
tượng và nâng tâm thức nó đến trạng thái không phân biệt
và không bám luyến. Để thâm nhập tánh giác minh-không (sáng
tỏ và trống không) này, nó cần thường xuyên thực hành
những giáo huấn cơ bản sau đây.
Người
có thể để tâm nghỉ ngơi trong tánh Tỉnh Giác thuần tịnh
của chính mình sẽ có thể làm bất cứ điều gì. Thực hành
Đại Ấn, nó cần chấm dứt phân biệt, bỏ những tư tưởng
thói quen lấy cái này, bỏ cái kia, và cố gắng đạt đến
một trạng thái trong đó Samadhi (chánh định) và những hoạt
động là một. Cho đến khi nó làm được điều đó, trước
tiên nó cần nhấn mạnh vào thiền định tĩnh lặng, và rồi
áp dụng tỉnh giác Đại Ấn vào những hoạt động hàng ngày
như một thực tập phụ trợ.
•
* *
•
Có
ba cơ bản trong thực hành Đại Ấn : quân bình, thư giãn và
tự nhiên.
Quân
bình nghĩa là làm quân bình thân, khẩu và tâm. Cách làm quân
bình thân theo Đại Ấn là buông lỏng nó, quân bình khẩu
là làm chậm hơi thở, và quân bình tâm là không bám níu,
nương dựa vào bất cứ cái gì.
Đây
là cách tối thượng để điều phục thân, hơi thở (khí)
và tâm.
Thư
giãn buông lỏng tâm, để cho mọi sự tự diễn tiến, bỏ
hết những ý niệm và tư tưởng. Khi toàn thân và tâm trở
nên buông lỏng, người ta có thể an trụ trong trạng thái
tự nhiên mà không nỗ lực. Trạng thái tự nhiên này vốn
không phân biệt và không có phóng dật.
Tự
nhiên nghĩa là không lấy hay bỏ cái gì cả : nói cách khác,
thiền giả hoàn toàn không làm một nỗ lực nhỏ bé nào.
Nó để cho giác quan và tâm tự dừng hay tự chuyển động
mà không hỗ trợ hay ngăn chặn chúng. Thực hành sự tự nhiên
là không nỗ lực và để tự nhiên.
Những
điều trên có thể tóm tắt như vầy :
Tinh
túy của quân bình là không bám níu.
Tinh
túy của thư giãn là không nắm giữ.
Tinh
túy của tự nhiên là không nỗ lực.
NĂM
THÍ DỤ
VỀ
KINH NGHIỆM ĐẠI ẤN
Có
năm thí dụ tương tự diễn tả kinh nghiệm đúng đắn về
Đại Ấn :
Một
thực tại bao la như hư không vô tận.
Tỉnh
giác toàn khắp như đại địa.
Một
tâm kiên cố vững vàng như ngọn núi.
Tánh
Giác tự thấu suốt trong trẻo và sáng chiếu như một ngọn
đèn.
Thức
thuần tịnh, trong vắt như pha lê và không có tư tưởng phân
biệt.
Kinh
nghiệm Đại Ấn cũng có thể diễn tả như thế này :
Như
một bầu trời không mây, thực tại thì khoáng đạt vô ngại.
Như
một đại dương không sóng, tâm thì vững chắc không có tư
tưởng phân biệt.
Như
một ngọn đèn sáng trong đêm không gió, thức thì trong trẻo,
sáng chiếu và vững chắc.
* *
*
Để
thực hành Đại Ấn, hãy giữ tâm và thân thư giãn nhẹ nhàng
không gắng sức ; chấm dứt nghi ngờ lo toan và ở yên quân
bình.
Khi
thực hành Đại Ấn, hãy đồng hóa mọi cái gì bạn gặp
với tánh không vô sanh và ở yên tự nhiên và thư giãn.
* *
*
Giữ
thân buông lỏng và nhẹ nhàng không phải là hoàn toàn từ
bỏ mọi hoạt động, mà những hoạt động cần được tiến
theo một cách êm ả, thư giãn và tự nhiên, tự phát.
Giữ
thân buông lỏng và nhẹ nhàng không phải là làm cho nó trì
độn hay không nhạy cảm, mà người ta cần làm cho sự tỉnh
giác sáng chiếu của nó thêm sắc bén.
Đồng
hóa mọi sự với tánh không vô sanh có nghĩa là người đã
chứng ngộ tánh tỉnh giác của chính mình và có thể duy trì
nó, bấy giờ hãy để cho mọi sự mà nó gặp và kinh nghiệm
được tự-giải thoát vào trong tánh không.
NĂM
CÁCH LẠC KHỎI ĐẠI ẤN
(1)
Người ta có thể hiểu lầm tánh không là không có thiện
ác nếu họ không biết rằng hiện hữu (sắc) và tánh không
là đồng nhất trong bản chất, và điều này bao gồm mọi
sự thật và quy luật đạo đức. Hiểu lầm như vậy là lạc
khỏi cái Thấy của Đại Ấn. Mặt khác, nếu người chỉ
có một kiểu hiểu nào đó về chân lý này nhưng không thể
kinh nghiệm nó một cách thân thiết, người đó cũng được
xem là lạc khỏi sự thấu hiểu Đại Ấn.
(2)
Nếu người ta không biết rằng thực hành Đại Ấn (Con Đường)
trong bản chất thì không khác với thành tựu Đại Ấn (Quả)
và rằng mọi công đức kỳ diệu đều nằm trong chính sự
thực hành, nó có thể nghĩ rằng thực hành có trước và
chứng ngộ theo sau, như vậy giác ngộ là một sản phẩm của
sự thực hành. Điều này có lẽ đúng trên cấp độ thông
tục hàng ngày, nhưng khi ở trong cái Thấy, đó là sự đi
lạc.
(3)
Nếu người ta có một nỗ lực đích thực trong thực hành
Đại Ấn mà không có niềm tin không chuyển dời vào bản
thân giáo lý, nó có thể nuôi dưỡng một hy vọng thầm kín
rằng một ngày nào đó nó sẽ đạt được một giáo lý cao
hơn Đại Ấn. Đây cũng là một dấu hiệu đi lạc khỏi Đại
Ấn.
(4)
Người không biết rằng trong bản chất sự chữa trị và
cái được chữa trị là một, thì có thể bám chấp quan niệm
rằng sự thực hành Pháp (sự chữa trị) và những phiền
não (cái được chữa trị) là hai cái tuyệt đối khác nhau.
Đây cũng là sự lạc khỏi cái Thấy của Đại Ấn.
(5)
Trong thực hành Đại Ấn, luôn luôn có một khuynh hướng của
thiền giả làm quá nhiều chỉnh trị, sửa sai. Người thấy
mình luôn luôn cố gắng sửa chữa những lỗi lầm thì hầu
như đã lạc khỏi Con Đường.
BA
KINH NGHIỆM CHÁNH
CỦA
ĐẠI ẤN
Trong
tiến trình thực hành thiền định, thiền giả sẽ gặp ba
kinh nghiệm : Lạc, Sáng Tỏ và Không phân biệt.
Trong
kinh nghiệm Lạc, một số người cảm thấy một sự say sưa
lớn lao bao trùm toàn thân và không giảm bớt dù trong những
nghịch cảnh, như gặp khí hậu quá lạnh hay quá nóng. Một
số cảm thấy cả thân và tâm biến mất, và họ cực kỳ
vui sướng, và thường phá lên cười. Một số cảm thấy
đầy cảm hứng và hăng say, hay cực kỳ bình an, hài lòng
và hạnh phúc. Sự xuất thần có thể lớn lao và mạnh mẽ
đến độ họ trở nên không còn ý thức ngày và đêm.
Trong
kinh nghiệm Không phân biệt, một số người cảm thấy mọi
sự đều trống không hay thấy bản chất trống không của
thế giới ; những người khác kinh nghiệm mọi sự là không
có tự tánh, hay cả thân và tâm là không hiện hữu ; trong
khi có những người khác lại hiểu thật sự chân lý về
tánh không.
Không
có kinh nghiệm nào ở trên được xem là hoàn hảo và trọn
vẹn, và người ta không bao giờ nên bám lấy chúng. Trong ba
kinh nghiệm ấy, Không phân biệt (không có tư tưởng) là quan
trọng nhất và không đi lầm. Một số kinh nghiệm Sáng Tỏ
và Lạc rất có thể dẫn đến lầm lạc và thậm chí có
hại.
•
* *
Điều
sâu xa nhất của mọi giáo huấn truyền miệng về Đại Ấn
là :
Buông
bỏ mọi bám níu và bản tánh sẽ tức thời hiển lộ.
Cốt
lõi của thực hành Đại Ấn gồm hai điều, không nỗ lực
và không sửa trị. Tuy nhiên người ta cần biết không sửa
trị là gì. Jetsun Milarepa giải thích điều này rất rõ ràng
: “Về không sửa trị, người ta cần hiểu ba điều : Nếu
những tư tưởng lang thang và những phiền não không được
sửa trị, người ta sẽ rơi vào ba cõi thấp. Nếu Lạc, Sáng
Tỏ, và Không phân biệt không được sửa trị, người ta
sẽ rơi vào ba cõi sanh tử. Chỉ có tự tâm vốn sẵn là không
cần sửa trị.”
* *
*
Vào
mọi lúc trong ngày, trong hay sau thời thiền định, người
ta cần cố gắng không để mất bản tánh. Nói cách khác người
ta cần cố gắng đem kinh nghiệm thiền định vào những hoạt
động hàng ngày của nó.
Thật
dễ hiểu là người ta thường bị xao lãng trong công việc
hàng ngày, như vậy quên bẵng bản tánh, nhưng hễ cố gắng
luôn luôn đem tỉnh giác trở lại, và nếu họ thành công,
bản tánh sẽ lập tức hiển lộ.
Người
ta cần cố gắng không mất tánh Tỉnh Giác cả ngày lẫn đêm.
Thực hành Đại Ấn trong giấc ngủ và trong giấc mộng cũng
cực kỳ quan trọng. Người nào không thể làm điều đó một
cách thích đáng thì nên tránh mọi hoạt động và thực hành
thiền định Đại Ấn trong năm, sáu ngày, rồi nghỉ ngơi
trong một ngày trước khi tiếp tục. Người ta không nên chán
nản nếu không thể giữ tỉnh giác luôn luôn sống cho suốt
một ngày. Nỗ lực liên tục và kiên trì là thiết yếu. Người
làm được như thế chắc chắn sẽ mở rộng sự tỉnh giác
và chứng ngộ của mình.
TRAU
DỒI ĐẠI ẤN QUA NHỮNG HOÀN CẢNH TRÁI NGHỊCH NHƯ THẾ NÀO
Sau
khi đã chứng ngộ bản tánh, người ta cần tiếp tục thực
hành cái gọi là ‘sử dụng những thực tập’. Thế nghĩa
là người ta cần sử dụng một số hoàn cảnh đặc biệt
để tăng thêm chứng ngộ.
(1)
Sử dụng xao lãng và những tư tưởng phân biệt để tăng
thêm chứng ngộ :
Điều
này không có nghĩa là quan sát bản chất những tư tưởng
phân biệt, cũng không phải thiền định về tánh không, cũng
không chánh niệm về sự xao lãng, mà là giữ gìn ‘tánh giác
sáng ngời’ – bản tánh của những tư tưởng phân biệt
– một cách sống động linh hoạt. Tánh giác này trong trạng
thái tự nhiên của nó chính là Đại Ấn. Nếu ban đầu rất
khó khăn, người ta cần cố gắng vượt qua và hòa lẫn những
tư tưởng xao lãng vào Con Đường.
(2)
Sử dụng phiền não để tăng thêm chứng ngộ :
Đôi
khi bạn cần chủ định khơi dậy những phiền não như tham
muốn, thù hận, ghen tỵ v.v… rồi quan sát chúng một cách
sâu xa. Bạn không nên chạy theo, đoạn trừ hay sửa trị chúng
mà chỉ an trụ một cách sáng tỏ và tỉnh thức trong một
trạng thái buông lỏng và tự nhiên. Khi ở trong giấc ngủ
sâu bạn hãy hòa lẫn tánh giác với vô thức một cách không
ráng sức. Đây là cách tốt nhất để chuyển hóa vô thức
thành Ánh Sáng.
(3)
Sử dụng những hiện hình và ma quỷ để tăng thêm chứng
ngộ :
Bất
cứ khi nào hiện hình đáng sợ nào xuất hiện, bạn hãy dùng
thiền định Đại Ấn về sự sợ hãi. Chớ có xua tan sợ
hãi mà hãy ở trong nó một cách sáng tỏ và buông lỏng. Khi
làm thế, nếu hiện hình tan biến, bạn nên kêu gọi lần
nữa những hiện hình còn đáng sợ hơn và lại áp dụng Đại
Ấn với chúng.
(4)
Sử dụng lòng bi và buồn thương để tăng thêm chứng ngộ
:
Bởi
vì phân tích rốt ráo, đời sống sanh tử chỉ bao gồm khổ
đau, một Phật tử cần có lòng đại bi với tất cả chúng
sanh. Khi suy ngẫm những khổ đau của con người, một lòng
đại bi sẽ sanh khởi, ngay lúc lòng bi sanh khởi, người ta
cần thực hành thiền định Đại Ấn về nó. Khi làm như
vậy, cả Trí huệ và lòng Bi sẽ tăng trưởng.
(5)
Sử dụng bệnh tật để tăng thêm chứng ngộ :
Khi
nào bạn bệnh, bạn cần thực hành thiền định Đại Ấn
về bệnh tật. Bạn cũng cần quán sát thấu suốt bản tánh
của cả người bệnh và của bệnh tật, như thế loại trừ
nhị nguyên của chủ thể và đối tượng.
(6)
Sử dụng cái chết để tăng thêm chứng ngộ :
Người
có thể thực hành Đại Aán như được chỉ dạy sẽ không
hoang mang hay sợ hãi khi cái chết xảy ra. Bấy giờ nó có
thể nhận thức mà không có sợ hãi mọi thị kiến và kinh
nghiệm xảy ra trong tiến trình chết. Thoát khỏi bám luyến
và ước mong, bấy giờ nó có thể hợp nhất Tịnh Quang (Ánh
Sáng) Mẹ và Tịnh Quang Con thành một toàn thể vĩ đại.
NHỮNG
LỖI LẦM TRONG
THỰC
HÀNH ĐẠI ẤN
(1)
Nếu sự thực hành Đại Ấn chỉ nhằm cố gắng ổn định
tâm, những hoạt động của tất cả sáu thức sẽ dừng lại
hay mờ đi. Đây gọi là một kiểu thực hành ‘đóng băng’
và là một khuynh hướng rất tai hại trong thiền định Đại
Ấn cần phải tránh.
(2)
Người xao lãng tánh giác sáng tỏ mà chỉ an trụ vào cái
Không phân biệt, Không tư tưởng sẽ không thấy hay nghe gì
khi giáp mặt với sắc, thanh, hương, vị… Đây là một lỗi
lầm vì sẽ trở nên đờ đẫn.
(3)
Khi tư tưởng cuối cùng đã qua và tư tưởng tiếp theo chưa
đến, khoảnh khắc hiện tại, trực tiếp là một sự rất
kỳ diệu nếu người ta có thể ở trong đó ; nhưng nếu nó
làm được như vậy mà lại không có tỉnh giác sáng tỏ,
thì nó vẫn rơi vào lỗi lầm đờ đẫn.
(4)
Người có thể hộ trì tánh giác sáng láng nhưng nghĩ rằng
không có gì hơn nữa trong Đại Ấn thì cũng rơi vào lỗi
lầm.
(5)
Nếu người ta chỉ trau dồi Lạc, Sáng Tỏ và Không phân biệt
mà không thực hành ‘quán sát thấu suốt vào tâm’, đó
chưa thể được xem là thực hành Đại Ấn đúng đắn.
(6)
Người phát triển một sự ghét bỏ đối với những hiện
tướng ở bên ngoài thì hầu như đã đi lạc.
(7)
Người tập trung vào tỉnh giác và hộ trì Tự Tâm minh-không
được nói là thực hành đúng đắn. Tuy nhiên, ‘nỗ lực
tập trung’ này có một khuynh hướng làm ngăn ngại tính tự
nhiên và tự do của tâm ; không có tính tự nhiên và tự do
này sẽ khó khám phá Tâm bao la và tự tại. Thế nên người
ta cần không bao giờ quên thực hành ‘buông lỏng’, ‘thênh
thang’ và ‘tự nhiên’.
* *
*
Thế
thì sao là thực hành Đại Ấn đúng đắn ?
Trả
lời : Bản thân tâm bình thường (TT. Thal. Ma. Ces. Pa) là sự
thực hành đúng đắn. Nghĩa là, để tâm bình thường ở
yên trong trạng thái tự nhiên của chính nó. Nếu với tâm
này người ta thêm hay bớt cái gì, bấy giờ đó không phải
là tâm bình thường mà là cái gọi là ‘tâm đối tượng’
(TT. Yul). Không tạo thêm một ý định hay nỗ lực nhỏ nhất
nào thêm cho sự thực hành, nhưng cũng không xao lãng một khoảnh
khắc nào, là thực hành tâm tự nhiên một cách đúng đắn.
Thế nên, chừng nào bạn vẫn giữ tánh Tỉnh Giác của chính
mình, thì bất kể bạn làm gì, bạn vẫn đang thực hành Đại
Ấn.