THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 
cMỤC LỤC SÁM PHÁP
TUYỂN TẬP CÁC BÀI SÁM VĂN - TẬP VI
 55 BÀI SÁM VĂN PHỤ LỤC
Thích Đồng Bổn Sưu Tập
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo - Hà Nội  - Phật lịch 2548 - DL 2004
PHẦN IV
SÁM VĂN CẢNH SÁCH KHUYẾN TU

309. Sám Bồ Đề Tâm 
310. Bài Tống Chung
311. Sám Tâm Kinh Tỉnh Thế 
312. Sám Vô Thường 
313. Sám Tỉnh Mộng 
314. Kệ Sám Tỉnh Tâm 
315. Sám Chữ Tu 
316. Tỉnh Thế Sám Ca 
317. Sám Bào Ảnh 
318. Sám Khuyến Tu Văn Uyển 
319. Sám Giác Ngộ Mê Nhơn 
320. Sám Văn Luận Đời Phải Quấy 
321. Sám Văn Tỉnh Giấc Mộng Trần
322. Sám Văn Thức Tỉnh Thế Gian
323. Giác Mê Khải Ngộ Văn
324. Sám Văn Đại Nhân
325. Sám Văn Phổ Khuyến
326. Sám Văn Phổ Thí
327. Sám Khuyến Tu
328. Kệ Sám Khuyến Thiện
329. Sám Kệ Dòng Tâm Thức
330. Chú Bát Nhã Tâm Kinh

309- SÁM BỒ ĐỀ TÂM
(Văn Khuyến tu 10)
ĐÀM HÀ

Bồ đề tâm vốn là hạt giống,
Biết vun trồng thì chóng nảy sinh,
Khi xưa Phật cũng như mình,
Vì trải bao kiếp thực hành công phu.
Nói ngay ở kiếp ngục tù,
Chạnh lòng thương bạn ra công tu hành.
Bồ đề tâm từ đó phát sinh,
Tu hạnh Bồ tát phát tâm Bồ đề.
Giác ngộ giải thoát độ mê,
Vẹn toàn thiện sự Bồ đề mở mang,
Chúng sinh nhờ bóng Từ quang,
Thấm nhuần mát mẻ muôn vàn tình  thương.
Bồ đề tâm như thửa đất nương,
Muôn loài nương tựa hướng dương trưởng  thành.
Hữu tình cùng với vô tình,
Cùng trong khối đất trưởng thành Pháp thân.
Bồ đề tâm như thể nước nguồn,
Dội tắt lửa dục, rửa lòng cáu nhơ,
Bồ đề tâm như ngọc gió đưa,
Thổi suốt thế tục, thổi đưa lên ngàn.
Những gì chướng ngại cũng tan, 
Gió Từ mát mẻ quang minh dịu hiền.
Bồ đề tâm như ngọn lửa thiêng,
Đốt cháy hý luận thế gian nhàm bàn.
Ngọn lửa dập tắt lòng phàm,
Thuận nghịch được mất cũng vì lửa đây.
Bồ đề tâm như thể mặt trời,
Soi thấu hết thảy mọi nơi phàm trần.
Không phân biệt cảnh giả, chân,
Bao hàm bình đẳng muôn phần sạch trong.
Bồ đề tâm như thể trăng rằm,
Tròn đầy viên mãn bội phần quang minh.
Bồ đề tâm như suối nước thiêng,
Rửa cho sạch bợn lại thêm mát nhuần.
Tâm thanh tịnh, tính lại thuần,
Xa lìa phiền não thoát miền si mê.
Bồ đề tâm như cỗ xe kia,
Chở các Bồ tát lại về độ sinh.
Bồ đề tâm là vật vô hình,
Chư Phật Bồ tát chúng sinh đều nhờ.
Đưa bao trần khách tới bờ,
Tới nơi giác ngạn bấy giờ nghỉ ngơi.
Đã qua thoát khỏi cõi đời,
Bồ đề tâm ấy mới tròn nguyện xưa.
Bồ đề tâm như hạt nước mưa,
Thấm nhuần mát mẻ đượm phần bao la.
Bồ đề tâm như đức của cha,
Che chở bảo hộ cho ta yên lành.
Bồ đề tâm là tính mẹ hiền,
Dưỡng nuôi giáo dục cho nên thân người.
Muôn loài khắp ở mọi nơi,
Tâm Bồ đề ấy sáng ngời bao la.
 

-----------------
-  Nguyên là bài “Ước vọng giác ngộ”, tác giả Ni sư Thích Đàm Hà, chùa Vọng Cung, Nam Định. Phân viện Nghiên cứu Phật học Hà Nội ấn hành, Hà Nội, 1992.

 310- BÀI TỐNG CHUNG
(Sám Hối Tâm 11)

Đời sống người mấy mươi mấy chốc,
Phút thôi rồi kẻ khóc người thương,
Sanh ly tử biệt đôi đường,
Ai xui nên nỗi vấn vương mối sầu ?
Kẻ còn thổn thức canh thâu,
Hỡi người thiên cổ đi đâu, đâu rồi ?
Khi nào có như có hồi,
Bây giờ không tời không lui thế nầy !
Khi nào dậy sớm thức khuya,
Bây giờ khắc thẳm canh chầy không hay.
Khi nào lao động hôm mai,
Bây giờ yên nghỉ không nài tăng lương.
Khi nào thế lực hào cường,
Bây giờ phá sản gia đường tan hoang.
Khi nào du lịch thanh nhàn,
Bây giờ biệt xứ lỡ làng sầu bi.
Khi nào đi học đi thi,
Bây giờ Quốc ngữ chữ Tây không màng.
Khi nào ruộng rẫy lo toan,
Bây giờ đặng mất mùa màng mặc ai.
Khi nào kỹ nghệ giồi mài,
Bây giờ chẳng đoái đồ ngoài tối tân.
Khi nào buôn bán tảo tần,
Bây giờ vô giá chợ đen mặc người.
Khi nào luân lý dạy đời,
Bây giờ thơ rượu, rung đùi cũng không !
Khi nào thầy thuốc Tây Đông,
Bây giờ tiêm, hốt ai hòng rước đưa.
Khi nào sơn hướng chọn lừa,
Bây giờ điểm huyệt như chưa biết gì.
Khi nào sủ lá, mu qui,
Bây giờ cung Tốn, cung Ly tách vời.
Khi nào xem ráng, dòm trời,
Bây giờ mây bạc, sao rơi chia buồn.
Khi nào số mạng tinh thông,
Bây giờ đâu biết gốc nguồn Tử vi.
Khi nào nổi tiếng Ma y,
Bây giờ xem tướng coi tay ra gì ?
Khi nào coi hát ca hay,
Bây giớ tấn kịch thảm thay cả vùng.
Khi nào chồng vợ yếm âu,
Bây giờ như gãy chiếc cầu sông Ngân.
Khi nào huynh đệ tương thân,
Bây giờ như gãy tay chân xa lìa.
Khi nào thăm viếng sớm khuya,
Bây giờ cha mẹ như tia khuất ngàn.
Khi nào ông cháu họ hàng,
Bây giờ nội ngoại xóm làng rẽ phân.
Khi nào dâu rể hôn nhân,
Bây giờ thác thể Chế - Trần bao lăm. (1)
Tuổi ông Bành tổ tám trăm,
Nhan Hồi băm mấy cũng xong một đời.
Sang như Hai Nhiểu ăn chơi,
Nghèo như Tư Đặng cũng nơi quan tài.
Sống còn phân biệt gái trai,
Thác rồi ai cũng như ai một hòm.
Mặc cho chồng Tây vợ Nam,
Cha Tiều mẹ Thổ cũng gom một gò.
Ví dù nhiều khúc quanh co,
Cũng quán tạo hóa cũng đò âm dương.
Chiếc thân mỏng mảnh vô thường,
Như mơ trong mộng như sương trên cành.
Phập phồng cái kiếp phù sanh,
Thể đèn trước gió, độc bình ngoài sông.
Xác phàm nhiều nỗi long đong,
Ép dầu trong bộng, tuyết nung trên lò.
Người ơi ! mau tỉnh sớm lo,
Chi chi cũng thế còn đo đắn gì ?
Người ơi ! sống đặng mấy khi ?
Trăm năm sống thác một kỳ dở dang.
Người ơi ! giác ngộ là ngoan,
Căn lành là đạo, dây oan là tình.
Người ơi ! thôi chớ niệm tình,
Cùng nhau niệm Phật để nghinh hồn về.
Phật xưa đã có lời thề,
Phóng quang tiếp dẫn hồn kề theo sau.
Quan Âm, Thế Chí cùng nhau,
Gót nương ánh ngọc, tay trao đài vàng.
Dọc dài bảo cái tràng phan,
Hương thơm nực đất nhạc vang rền trời.
Thuyền từ đón rước thảnh thơi,
Lướt qua bể khổ, tách rời sông mê.
Đồng lên giác ngạn Bồ đề,
Hoàn thành thanh tịnh chỉnh tề trang nghiêm.
Địa cầu bằng chất hoàng kim,
Giới biên rực rỡ trung tim chói ngời.
Nước nhà sáng rạng mọi nơi,
Lộ hừng Tứ bửu, lầu ngời Thất trân.
Ao sen bằng chất kim ngân,
Nước đầy tám đức hoa phân bốn màu.
Thai sen hóa thể sạch làu,
Nên rằng Tịnh độ, tự hào Lạc bang.
Hóa sanh thân thể bằng vàng,
Hồn nay thác chất dự hàng pháp thân.
Áo giải thoát ấm tinh thần,
Khát dùng sữa pháp, đói ăn cơm thiền.
Muốn chi có nấy hiện tiền,
Sẵn sàng thọ dụng tự nhiên ý‎ mình.
Không phiền thủ xả kinh doanh,
Không cần phấn đấu hy sinh điên khùng.
Vô sanh quả, sống vô cùng,
Không già không bệnh không chung, thỉ gì.
Không tham không giận không si,
Không kiêu không ngạo không nghi không nghì.
Không Bát khổ, không Ngũ suy,
Đã không tám nạn, có gì ba tai !
Không tử khứ, không sanh lai,
Nên không các khổ, có hoài các vui.
Có trời thường rải hoa tươi,
Có người đem cúng cả mười phương xa.
Có chim Ca Lăng Tần Già,
Đã hay thuyết pháp lại hòa nhã âm.
Có Bửu thụ, có Quỳnh lâm,
Gió mầu thổi động reo trăm nhạc vần.
Có nghe rồi niệm Phật... Tăng,
Nhứt là có Phật thường hằng nói kinh.

------------------
-  Trích từ “Phật hóa Gia đình”, nguyên tác có lẽ của Hòa thượng Thái Không soạn, Hòa thượng Khánh Anh sao lại. Nhà in Sao Mai ấn hành, Sài Gòn 1951
-  Thư viện Phật học Xá Lợi tàng bản.
(1)  Chế - Trần : Ý nói xa xôi như thể triều đại Chế Bồng Nga – Trần Nhân Tôn thuở xưa.

311- SÁM TÂM KINH TỈNH THẾ
(Cảnh Tỉnh Vô Thường 12)

Khuyên ai khéo giữ lòng ngay,
Nhớ thầm tưởng Phật đó đây hiệp vầy.
Ai ơi ! giả hợp thân nầy,
Dễ gì gặp đặng vơi đầy khó thay.
Có căn lành mới gặp đây,
Kệ kinh Phật nói không sai một lời.
Cây khô rã mục ngàn đời,
Làm cho bông trổ vậy thời dễ hơn.
Thân người chết mất một cơn,
Ngàn muôn ức kiếp không hườn đặng thân.
Dẫu mà trở lại thành nhân,
Bần cùng khốn khổ cô thân tật nguyền.
Điên khùng khờ dại thiếu duyên,
Người khinh kẻ mắng triền miên đủ điều.
Trọn đời chẳng đặng mỹ miều,
Sân si phiền não còn nhiều hơn xưa.
Tạo thêm ác nghiệp như mưa,
Luân hồi quả báo dây dưa chập chùng.
Yêu nhau khuyên nói đến cùng,
Nhiệm mầu quả báo ngàn trùng khó tin.
Người vật đều có tánh linh,
Hình hài tiêu mất tánh linh còn hoài.
Thay hình đổi dạng khác loài,
Xuống lên mãi mãi đọa đày khắp nơi.
Khi làm heo chó chim dơi,
Khi làm trâu ngựa, kiến ruồi hóa sinh.
Khi làm ác thú, yêu tinh,
Trầm luân sáu ngả linh đinh đổi dời.
Kể sao cho hết những lời,
Sanh sanh hóa hóa đời đời khổ lao.
Vì lòng ăn, hại lẫn nhau,
Trả vay qua lại “trước sau” rất mầu.
Bởi không biết rõ “đuôi đầu”,
Ai nhơn ai quả ai đầu ai đuôi ?
Oan gia sau trước đổi ngôi,
Ngọn ngành gốc rễ tỏ rồi đừng nghi.
Chừng nào đã rõ tâm si,
Tức thì giải thoát không chi buộc ràng.
Nằm ngồi đi đứng an nhàn,
Một lòng chánh trực Niết bàn diệu tâm.
Nếu người không có suy tầm,
Thấy nghe như thể điếc câm không màng.
Nếu người không có lòng vàng,
Nói gì thì nói lòng càng trơ trơ.
Nếu người không có lòng mơ,
Biết hay không biết sạch nhơ ích gì ?
Nếu người không có lòng bi,
Đặng hay chẳng đặng không tri không sầu.
Nếu người chẳng có lòng cầu,
Dầu nghe diễn nói phép mầu ích chi !
Những người lòng dạ thế ni,
Cần gì luận nói làm chi mích lòng.
Cùng nhau xét nét “tâm đồng”,
Phá tan ba cõi sáu vòng nghiệp oan.
Cùng nhau giải thoát khinh an,
Dắt dìu đồng loại hướng về Lạc bang.
Nguyện cùng Phật tổ Tây phang,
Từ bi tiếp độ bước sang an lành.
Cùng nhau chung ở Bảo thành,
Không còn phân biệt, thực hành yêu hương.
Cùng nhau lòng thể ánh dương,
Sáng soi bình đẳng tỏ tường đường mê.
Cùng nhau lòng chẳng khen chê,
Tự nhiên giác ngộ ở quê giác tình.
Cùng nhau lòng đặng “tịnh bình”,
Thật là Cực lạc vô hình tướng thay !
Lòng ai đặng vậy mới hay,
Rõ ràng là Phật chứng ngay sen vàng.
Nói nói luận luận bàn bàn,
Thật là huyền diệu nghĩ tràn không ra.
Lòng ai chẳng nghĩ gần xa,
Thích Ca Văn Phật cùng ta một mầu.
Lòng ai chẳng có buồn rầu,
Một bầu tịch tịnh nhiệm mầu linh thông.
Lòng ai chẳng tưởng đục trong,
Ngày ngày hội đặng môn phong Phật rồi.
Tới lui qua lại nằm ngồi,
Đứng đi tự tại vãn hồi không ngăn.
Đạo mầu nhà Phật Pháp Tăng,
Rảnh rang vô ngại tuệ đăng chơn thường.
Dễ gì bàn nghĩ suy lường,
Giới hương thơm ngát mười phương Thánh hiền.
Đời đời kiếp kiếp lưu truyền,
Nhiệm mầu tròn sáng nối liền Tam thiên.
Hai ngàn trên năm trăm niên,
Khi mờ khi tỏ vững yên đạo trường.
Nhất tâm, ly vọng, chơn thường,
Không không có có Pháp vương ở đời.
Trí mầu biến khắp mọi nơi,
Không hay thấy biết không người không ta.
Lời vàng Tổ ấn chỉ ra,
Muốn tu thành Phật luận mà làm chi ?
Một lòng bằng thẳng không nghi,
Băm hai tướng tốt oai nghi hiện tiền.
Gắng lòng niệm niệm chí thiền,
Không sanh không diệt chứng liền «Ba La».
Tây phương trước mắt không xa,
Chỉ trong nháy mắt là qua đến liền.
Rõ rành Ta - Phật đồng miền,
Không hai không khác là Thiền nhất chơn.
Không ta không Phật trống trơn,
Không đi không đến Pháp luân nhiệm mầu.
-----------------
-  Trích « Pháp môn đáo bỉ ngạn » của Huệ Nhật Đại sư soạn, Linh Bửu 
Tự ấn hành, Sài Gòn, 1948
- Có biên tập lại và hiệu đính ngữ nghĩa thanh vận cho phù hợp. (người 
soạn). 

312- SÁM VÔ THƯỜNG
(CẢnh Tỉnh Vô Thường 13)

Phật rằng: các chúng do đâu,
Hữu thân thọ khổ dễ hầu thoát ra.
Thân này chẳng thiệt của ta,
Xương da máu thịt thiệt là nhớp nhơ.
Nào đàm ghèn mũi hèn dơ,
Còn thêm trùn lải chực chờ bên trong.
Ngày ngày đụt khoét tấn công,
Làm cho thân thể bà ông mau già.
Chờ ngày oằn oại thở ra,
Xóm giềng xúm lại đưa ma ra gò.
Thế mà chẳng mấy ai lo,
Tử sanh ít nghĩ miễn cho nhiều tiền.
Của nhiều lo nghĩ liền liền,
Hồi quang xét lại coi yên chỗ nào.
Bạc nhiều thường bữa nao nao,
Tâm hằng lo sợ chúng bao vây mình.
Ngủ ăn sợ hãi bất kinh,
Rủi ro một chút giữ gìn cho ai ?
Tánh tham được một muốn hai,
Được hai muốn bốn, muốn hoài chẳng thôi.
Kể từ còn ở trong nôi,
Đến khi tóc bạc chưa rồi kiếp ni.
Trẻ già đồng rủ nhau đi,
Nội trong sáu ngõ chẳng chi ra ngoài.
Phước thời kim các lâu đài,
Đức thời gồm đủ trí tài vẹn hai.
Tội nhiều quì trước Diêm đài,
Nghiệp gây dẫn dắt... thác thai thú cầm.
Thiên nhân, Tiên Phật do tâm,
Lông sừng có khác nhưng tâm khác nào.
Sanh tiền hung ác mày tao,
Đến khi tử biệt kêu gào tiếc thương.
Ăn năn là tánh thế thường,
Bởi thương chẳng rõ, thiên đường âm gian.
Ước chi mấy kẻ nghinh ngang,
Hiếu cha thảo mẹ vào hàng thiện nhơn.
Hữu tiền bất hiếu đâu hơn,
Gương ông Mẫn Tử, y đơn thuận hòa.
Thương em kính mẹ thờ cha,
Tiết hàn lạnh lẽo thế mà chẳng nao.
Gương lành để lại đời sau,
Lâu ngày chầy tháng cũng hao cũng mòn.
Mấy ai trọn phận làm con,
Biết thời đền đáp cho tròn mới hay.
Món ngon vật béo hằng ngày,
Không quên dưỡng dục đời này Khương -Thi.
Đời xưa hiếu thảo thiếu chi,
Đời nay khó kiếm, kiếm thì hiếm hoi.
Ai ai nghĩ lại mà coi,
Sánh cùng người trước thấy mòi khác xa.
Trời cao đất rộng bao la,
Biển sông sâu rộng thế mà dễ đo.
Lòng người gang tấc khó dò,
Túi tham không đáy cứ lo đêm ngày.
Công danh phú quí đủ đầy,
Huyễn thân nay đã gần ngày theo ma.
Sao bằng niệm Phật Thích Ca,
Thọ trì qui giới ấy là kế hay.
Giống lành gieo xuống từ đây,
Có ngày kết quả gặp Thầy độ sanh.
Có tu mới được trọn lành,
Minh tâm kiến tánh thinh danh còn hoài.
Thân người sẵn tánh Như Lai,
Ai mà tu chứng liên đài đỡ chân.
Thinh văn Bồ tát được gần,
Tiêu diêu giải thoát cảnh trần khỏi sanh.

-----------------
- Trích từ “Tâm trí khai thông”, trang 85 – 88, của soạn giả Thích Tâm 
Chơn, Sen Vàng ấn hành, Sài Gòn 1964.
- Tựa do biên giả đặt lại và chỉnh sửa một số từ..

313- SÁM TỈNH MỘNG
(Cảnh Tỉnh Vô Thường 14)
Thích Tâm Chơn

Cuộc đời giấc mộng Nam Kha,
Giật mình tỉnh dậy thì ta tuổi già.
Trăm năm cõi mộng người ta,
Sanh già bệnh tử thiệt là chẳng sai.
Còn thêm địa thủy hỏa tai,
Sang hèn nghèo khó chẳng ai khỏi nào.
Dù cho trí thấp tài cao,
Cùng chung số phận trước sau một gò.
Sanh tiền cất giữ bo bo,
Chẳng hề bố thí chẳng cho kẻ nghèo.
Chết rồi khó nỗi đem theo,
Oan gia nghiệp báo nó đeo bên mình.
Xin cùng chớ khá chẳng tin,
Dữ lành khó trả phân minh rõ ràng.
Rõ ràng sự tích Giáo-Quan,
Trước sau thấy rõ mới an nơi lòng.
Tin rằng nhân quả rất công,
Không mau thì chậm bà ông chớ sờn.
Của tiền bất nghĩa đâu hơn,
Việc làm phước thiện thi ơn cứu người.
Ai mà thấu rõ cuộc đời,
Quả là cảnh tạm đi mơi về chiều.
Chết rồi nhà cửa quạnh hiu,
Thân còn chẳng sớm thì chiều rã tan.
Hữu duyên kiếm chốn hỏi han,
Mấy nơi đạo đức hỏi đàng tu tâm.
Tức tâm tức Phật không lầm,
Muốn tu đi đứng ngồi nằm cũng tu.
Tu sao cho có công phu,
Ở ngoài danh lợi chẳng thù oán ai.
Tham thiền định tánh mới tài,
Đến khi phát huệ Liên đài ngồi trên.
 
 
 
 

-----------------
-  Trích trong quyển “Tâm trí khai thông” của soạn giả Thích Tâm 
Chơn, Sen Vàng ấn hành, Sài Gòn 1964.
- Nguyên tựa là : “Cuộc đời giấc mộng”, biên giả đặt lại tựa cho phù hợp với thể loại Sám văn. 

314 KỆ SÁM TỈNH TÂM
(Cảnh Tỉnh Vô Thường 15)

Đèn hiu hắt mượn văn cẩm tú,
Đâu sánh trang thi phú cầm ca,
Tạm xin gởi khách quan hà,
Còn đang vơ vẩn dần dà thế gian.
Xin tìm đến con đường chánh giác,
Chớ để cho đọa lạc luân hồi,
Cõi trần trăm nỗi thương ôi !
Nảy bông, trỗ nụ, đâm chồi tử sanh.
Ta đâu biết ngọn ngành kiếp sống,
Mà mong chi sóng sánh với đời,
Hầu lo những chuyện vơi vơi,
Rồi đây cái chết sắp thời bên lưng !
Quả địa cầu có ngưng đâu đặng,
Hết thu đông sang thẳng xuân hè,
Thời gian sống chết cận kề,
Nhẩn nhơ e trễ lối về còn xa.
Tuổi đâu dám sánh qua Bành Tổ,
Mà đắm say biển khổ trần ai,
Mong chi sắc sắc tài tài,
Để mang phải nghiệp trả vay nợ trần.
Nền chánh pháp lần lần mở rộng,
Thì khá mau bỏ bóng theo hình,
Cầu cho tâm đặng quang minh,
Trau giồi trí tuệ sửa mình học tu.
Nơi cảnh thế u minh khổ hải,
Kiếp luân hồi mãi mãi trả vay,
Ví như chấp cánh cao bay,
Nương nhờ thần lực Như Lai hộ trì.
Đường Cực lạc dễ đi chẳng khó,
Gắng hành trì cho tỏ gương lòng,
Bổn lai tâm địa sạch trong,
Bởi vì vọng tưởng nên không hiện tiền.
Đức Phật tổ giáo truyền đạo hạnh,
Khắp năm châu nối thạnh pháp mầu,
Kệ kinh triết lý cao sâu,
Một lòng chánh niệm mau lâu chẳng sờn.
Giờ rõ đặng nguồn cơn tội phước,
Lòng thảnh thơi rảo bước đăng trình,
Thế gian ba cõi thinh thinh,
Như là gần gũi bên mình đâu xa.
Trên lưới pháp bủa ra vòi vọi,
Bát nhã âm kêu gọi người mê,
Cõi lòng thanh tịnh lo về,
Ta bà trồng cội Bồ đề tàng cao.
Kìa đại chúng ra vào nườm nượp,
Gặp duyên lành tác hợp Phật tâm,
Lo phương dứt nẽo lỗi lầm,
Lục căn lục đạo thăng trầm bấy lâu !
Nương Lục độ chí cầu xuất thế,
Xa Lục tình quyết ý tu hành,
Đến khi đạo quả viên thành,
Mây từ che phủ cội lành đượm tươi.
Vườn Lộc uyển nhiều người sáng lập,
Ruộng Từ bi trồng ngọc độ đời,
Thiền môn chuông đổ luôn hồi,
Sao chưa tỉnh giấc còn vui mộng trần ?
Từ đây khá lần lần tỉnh dậy,
Nương Phật đài trông cậy thân sau,
Trì trai dưa muối tương rau.
Chuyên tâm thiền định bước mau khỏi trần.
Lời quê dốt, xa gần miễn chấp,
Mong sao cho khắp cõi nhân sanh,
Cùng nhau tác hợp duyên lành,
Chung xây Phật đạo, viên thành Lạc bang.
 

-----------------
- Bài của tác giả Lê Từ, tự Thế Vân, đăng trong tạp chí Bác Nhã Âm 
số 4. Thiên Thai Thiền Giáo Tông Liên Hữu Hội xuất bản. Bà Rịa 1936.
- Có sửa chữa một số từ cho phù hợp (Biên giả). 

315- SÁM CHỮ TU
(Văn Khuyến Tu 11)
THÍCH TÂM CHÔN

Tu hành giữ phận tu hành,
Tu đừng hay dở khỏi sanh oán thù.
Tu thì phải hiểu chữ tu,
Tu không kiêu ngã chẳng trù ếm ai.
Tu thời hỷ xả chiều mai,
Tu tâm sửa tánh sửa hoài sạch trơn.
Tu sao chẳng giận không hờn,
Tu gìn giới luật thua hơn ích gì.
Tu trì giữ dạ từ bi,
Tu ăn tu uống lúc đi khi ngồi. (1)
Tu đừng nghĩ đến chè xôi,
Tu sao đắc quả ắt ngồi tòa sen.
Tu đừng nghĩ tiếng chê khen,
Tu thì gương mẫu giới trai dạy đời.
Tu thì lựa chỗ an nơi,
Tu non tu thị chẳng rời bổn tâm.
Tu tâm tầm hiểu lý thâm,
Đường tà nẽo chánh đừng lầm mới hay.
Tu thì tâm tánh thẳng ngay,
Tu làm gương mẫu theo thầy mới vui.
Tu đừng lời nói bải buôi,
Tu không mưu kế chẳng xui việc tà.
Tu xem bộ tướng như là,
Giống người họ Thích ngọc ngà chẳng ham.
Tu đừng có cái túi tham,
Tu cho trong sạch đừng ham bạc tiền.
Tu sao lớn nhỏ kỉnh kiêng,
Tu trừ sạch nghiệp não phiền tránh xa.
Tu còn kiêu ngã ắt là,
Ỷ tài Huệ Viễn ông bà thấy chưa ?
Tu thì đạm bạc muối dưa,
Tu còn rượu thịt chẳng ưa chút nào.
Tu đừng tranh thấp tranh cao,
Tu nên tránh chỗ phú hào phú ông.
Tu thì gìn giữ luật công,
Sang hèn giàu khó cũng đồng nhứt tâm.
Tu tâm thành Phật tại tâm,
Tu ngoài tâm Phật thiệt lầm uổng công.
Tu mà chẳng hiểu không thông,
Tu sân ngã chấp nơi lòng vẫn tham.
Tu tiền thấy bạc còn ham,
Tu không giới luật chẳng kham chút nào.
Tu lầm sám hối cho mau,
Tu cho chơn chánh thế nào cũng nên.
Tu trì giới luật đừng quên,
Định tâm phát huệ ngồi trên liên đài.

--------------------
- Trích từ quyển “Tâm trí khai thông” do Thích Tâm Chơn soạn, Sen 
Vàng xuất bản, Sàigòn 1964.
(1)  Nghĩa là ẩm thực y giới luật.

316- TỈNH THẾ SÁM CA
(Văn Khuyến Tu 12)

Ngồi mà gẫm cuộc đời khe khắc,
Kiếp phù sanh đặng thất nơi ta,
Cân đai áo mão gọi là,
Đứt hơi nhắm mắt Ta bà xa chơi.
Hồi tưởng lại mấy thời cổ Thánh,
Dạy tu thân bỏ tánh tham si,
Danh mà chi, lợi làm gì,
Chẳng qua ngọn cỏ xanh rì mồ hoang !
Nơi khổ hải hí tràng diễn lớp,
Chốn tầm dương bóng chớp hồn mai,
Người khoe của, kẻ cậy tài,
Gây thêm trái chủ, kết dài oan gia.
Tầm nhả tơ giăng qua bủa lại,
Giăng càng nhiều chẳng lại ích chi ?
Hỡi người sao chẳng rộng suy,
Sống say chết ngủ có gì đem theo !
Gương Minh cảnh giá treo gợi chúng,
Nước Ma ha rửa sạch phàm tâm,
Cho hay một lỡ hai lầm,
Khá mau tỉnh thức mà tầm minh Sư.
Rày đã sẵn thuyền từ dựa bến,
Bát nhã âm tiếng dội rền vang,
Trăng soi gặp buổi hôn hoàng,
Dắt người ra khỏi mộng đàng mê tân.
Nếu chẳng sớm ân cần để bước,
E ngày sau ngược nước khó về,
Nầy giác ngạn, nọ sông mê,
Hoặc may hoặc rủi cận kề bên chơn.
Khua chày ngọc giúp cơn mộng túy,
Dộng chuông vàng cảnh thức thiện nhân,
Mở ra pháp hội đông rần,
Hoa sen đua nở xa gần thơm lây.
Đem bác ái làm thầy dẫn lối,
Dụng huyền đăng tỏ cội Bồ đề,
Rộng trương lưới pháp tư bề,
Vớt người vực thẳm nặng nề nghiệp duyên.
Muốn tìm thế tiêu phiền diệt khổ,
Không chi hơn nương đỗ thiền gia,
Một mai nguyệt xế bóng tà,
Bừng con mắt dậy tuổi già hết mong !
Cây tham dục lỡ trồng chật đất,
Mảnh phước điền hẳn mất giống linh,
Bao nhiêu tội tánh tự mình,
Tạo nhân kết quả muôn hình đổi thân.
Giữ Trung đạo lần vào nẽo chánh,
Diệt Vô minh cứu cánh Niết bàn,
Mênh mông sóng bạc từ thoàn,
Đường về Tịnh độ muôn ngàn liên hoa.
Đạo là quí, bao la vũ trụ,
Tâm hay trùm vạn vật sơn hà,
Khắp trong thế giới trần sa,
Hồi quang một niệm đến tòa Lạc bang.
Vậy mới rõ sen vàng lửa trổ,
Thế mới rằng quốc độ Như lai,
Kinh văn vừa đọc vừa say,
Thương đời nên chép đôi bài gọi nhau.
Đây chẳng phải tao nhân mặc khách,
Mà học đòi Lý Bạch ngâm nga,
Khuyên ai vui thú yên hà,
Tâm hương vợi đốt giao hòa từ bi.
Đâu là cách vật trí tri ?

-----------------  
- Bài của tác giả Lê Thanh Tân ở Lấp Vò, đăng trong tạp chí Bác Nhã 
Âm số 3. Thiên Thai Thiền Giáo Tông Liên Hữu Hội xuất bản, Bà Rịa 1936.
- Có sửa chữa một số từ cho phù hợp lưu thông - Biên giả. 

317- SÁM BÀO ẢNH
(Sám Hối Tâm 12)

Cũng là huyễn hóa có chi đâu !
Mà khách trần lao chịu dãi dầu,
Nước đục lóng trong còn dễ đặng,
Nghiệp duyên càng đắm, đắm càng sâu !
Hỡi người sao chẳng lo âu,
Bèo trôi nước giạt, công hầu ra chi ?
Rồi đây ngọn cỏ xanh rì,
Những danh những lợi còn gì hay chăng ?
Sự đời nhiều nỗi lố lăng,
Cũng như trong cuộc hí tràng mua vui !
Ham chi mật ngọt chết ruồi,
Trêu cay ngậm đắng cái mùi ra sao ?
Trông người nào khác chiêm bao,
Trông đời như thể ba đào bủa vây.
Nhìn làn sóng bạc chân mây,
Đâu người giác ngộ trời Tây an lành.
Dẫu đời muôn vẻ tốt xinh,
Gặp cơn lốc cuốn vô tình ra sao !
Thân ta như hạc sương bào,
Nằm trong biển cả thấm vào với ai.
Biết rằng giả hiệp hình hài,
Nương vào ngũ uẩn kết dài oan gia.
Khắp trong thế giới bao la,
Cũng là vọng huyễn Ta bà ham chi ?
Mau nhờ đuốc tuệ từ bi,
Ra ngoài hỏa trạch, thoát ly cõi trần.
Kìa thuyền tế độ đã gần,
Sớm sang bờ giác chớ tần ngần chi.
Trời Tây cảnh đẹp thiếu gì,
Có ao Thất bảo Liên trì uốn quanh.
Xa rời biển khổ đua tranh,
Xa miền lạc thú tàn nhanh vóc hình.
Bước chân xa cõi hữu tình,
Đời đời kiếp kiếp vô hình vô tung.
Hỡi ai còn nặng nghiệp trần,
Hãy mau dứt bỏ, định thần tu tâm.
 
 
 
 

--------------------
- Bài của tác giả Lê Thanh Tân ở Lấp Vò, Long Xuyên. Đăng trong tạp 
chí Bác Nhã Âm số 6, Thiên Thai Thiền Giáo Tông Liên Hữu Hội ấn hành, Bà Rịa 1937.
- Nguyên tác là một bài thi ca liên hành điệu, được biên giả tu chỉnh lại và thêm một số câu cho phù hợp thể loại Sám văn.

318- SÁM KHUYẾN TU VĂN UYỂN
(Văn Khuyến Tu 13)

Cây trong núi ngàn năm vẫn có,
Gẫm người đời ít thọ tuổi trăm,
Trải qua một cuộc thăng trầm,
Tang thương biến đổi khó cầm tạo công.
Cành phú quí không trồng mà mọc,
Bả vinh hoa chẳng học lại say,
Trong ba vạn sáu ngàn ngày,
Dở say dở tỉnh mặt mày cũng quên !
Nghĩ cuộc thế tên bay trước mắt,
Bóng quang âm như bắt gió đông,
Hỡi ai lướt dặm bụi hồng,
Dừng chân ngoảnh lại kìa vòng tỏa cương.
Bước lỡ trớn không phương lui lại,
Tay nhúng chàm khó hoại màu xanh,
Ít ai cội phúc sẵn dành,
Kìa công đức thủy sạch sành bợn nhơ.
Nương đèn Huệ, đến bờ Cực lạc,
Gội nước Từ, giải thoát phàm tâm,
Thong dong tiếng nhạc thâm trầm,
Hoa sen chín phẩm, Pháp âm dịu dàng.
Nặng vì nợ, lời vàng xin nhủ :
Quyết gọi nhau sạch dủ nghiệp duyên,
Người trong hội, khách một thuyền,
Đồng về Tịnh độ, chơi miền vô sanh .
Mới hay đạo quả viên thành !
 
 

-----------------
-  Bài của Cư sĩ Lê Khánh Vân ở Lấp Vò soạn, đăng trong tạp chí Bác Nhã Âm số 6, chùa Thiên Thai ấn hành, Bà Rịa 1937.

319- SÁM GIÁC NGỘ MÊ NHƠN
(Cảnh Tỉnh Vô Thường 16)

Cuộc phù thế khuyên người ngoảnh lại,
Thân huyễn này tứ đại hợp mà nên,
Biết bao nhiêu nghiệp lực xây nền,
Sao chẳng nhớ lời xưa chỉ giáo.
Cổ đức rằng :
Nhất nhật vô thường đáo,
Phương tri mộng lý nhơn,
Vạn bang tương bất khứ,
Duy hữu nghiệp tùy thân.
Còn tranh chi những sự vật trong trần,
Mà hệ lụy nguồn chơn như tịch tịnh.
Nẽo biệt ly nay mai đâu nhất định,
Cơn vô thường nào hẹn với nhân sanh,
Trong cõi nầy đặng mấy kẻ hùng anh,
Rồi rốt cũng tan tành nên gò đất.
Luận thế sự nay còn mai mất,
Thôi kíp mau xa lánh công danh,
Mà nương theo Phật giáo tu hành,
Hầu chứng quả bất sanh bất diệt.
Nầy khách trần bản lai mau tự biết,
Kíp trở về chỗ chơn thiệt đại đồng,
Mới là thoát đặng cõi hồng,
Mới là nhẹ bước tang bồng ngao du.
Cõi đời mơ mộng vì đâu,
Rồi đây thấm thoát bạc đầu kế bên.
Được thua rồi cũng mau quên,
Như tuồng huyễn hoặc trên sân khấu đời.
Sang hèn cũng một kiếp chơi,
Có đem chi được ở trời bên kia ?
Mau chân thẳng đến đền vô tướng,
Lẹ gót ra ngoài cuộc bể dâu,
Hỡi khách hồng trần xin thức tỉnh,
Diệu minh bản giác sớm mong cầu.
Hãy mau giác ngộ hồi đầu.
 
 
 

--------------------
- Nguyên tác của Sa môn Thích Chơn Kỉnh, Khánh Long tự, đăng trong 
tạp chí Bác Nhã Âm số 14, Bà Rịa 1941
- Biên giả soạn lại thành Sám văn từ hai bài ở thể Hát nói và Thất ngôn bát cú của tác giả.

320- SÁM VĂN LUẬN ĐỜI PHẢI QUẤY
(Sám hồi tâm 13)
PHÁP LANG

Một đời vô sự,
Miệng thế phân vân,
Mãn kiếp lăng xăng,
Cũng lắm nỗi, nhọc nhằn thân nam tử.
Việc phải quấy, biết đâu mà giữ,
Phải người nầy, quấy với người kia.
Trời là cao, đâu khỏi tiếng người bia,
Cơn mưa nắng, kẻ ưa người trách.
Đời trăm tuổi, đố ai giữ sạch,
Khổng thánh còn, Đạo chích chê bai.
Kẻ thì ưa tiếng vắn, tiếng dài,
Người thì chịu, lời chơn lời thật.
Ai nhẫn nhục, từ bi bằng Phật,
Đề Đạt Đa, hại rất nhiều phen,
Ai hiền lành, bằng Nhẫn nhục Tiên,
Vua Ca Lợi, chặt tan thân thể.
Trang hiền đức, như Văn vương ai chẳng
                                                      nể,
Còn mang câu: dủ lý chi tù.
Xét ở đời, kẻ trí với người ngu,
Cũng khó nỗi, lấy ngao lường biển.
Nín thì dại, nói ra nhiều chuyện,
Gẫm thân người, cái miệng rất nhiều lời.
Cơ hàn quần áo tã tơi,
Thì họ nói những đồ thất nghiệp.
Giàu có đủ, trên dù dưới dép,
Họ cho rằng, cái kiếp kiêu căng.
Thấy kẻ nghèo, đáng bác cũng gọi thằng,
Xem người khá đáng con mà kêu cậu.
Đời ít kẻ chiêm tiền cố hậu,
Lại nhiều người hữu nhãn vô châu.
Thiếu chi trang khanh tướng công hầu,
Tránh không khỏi những câu quí tiện.
Xét mấy bậc anh hùng hào kiệt,
Gẫm ở đời hơn thiệt chẳng làm chi !
Hễ mưu sâu, thì họa chẳng cạn gì,
Thuyền lớn sức, sóng càng lớn lượn.
Lời tục nói ông vua là sướng,
Xét cho tường có được chi đâu ?
Khi thái bình, rỡ mặt công hầu,
Cơn thế loạn, gươm đao đổi mạng.
Cuộc trần thế, gẫm âu quá ngán !
Tỏ ít lời, tỉnh giác thân tâm.
Kính khuyên đồng chí tri âm,
Xem qua lời cạn, ngỏ tầm lý sâu.
Văn chương mượn bút tiêu sầu,
Pháp diên kỉnh tạc đôi câu luận đời.
 
 
 
 

----------------
- Bài do Hòa thượng Thích Pháp Lan sáng tác, ngày xưa viết là Pháp
Lang, đăng trong tạp chí Bác Nhã Aâm số ra năm 1940, Thiên Thai Thiền Giáo Tông Liên Hữu Hội ấn hành, chùa Thiên Thai Bà Rịa 1940.
- Biên giả có sửa vài từ cho phù hợp lưu thông.

321- SÁM VĂN TỈNH GIẤC MỘNG TRẦN
(Sám hồi tâm 14)
HT. THÍCH MINH NGUYỆT

Chốn thiền quang nhàn đàm chơn tánh,
Nắm đỉnh chung đua sánh dầu ai,
Công hầu khanh tướng bao ngày?
Mây tan dưới nguyệt sương bay giữa trời.
Mà khách mộng ai ơi có biết,
Vui sướng chi tham tiếc hồng trần?
Bành, Thương tang hải mấy lần, (1)
Lều tranh đài các cũng phần tiêu ma!
Kìa Cát Lượng tài ba đâu tá? (2)
Mà Hạng Công hùng bá ly vong! (3)
Cuộc đời không có, có không,
Chấp chi những có mà không chẳng tầm!
Mãi ruỗi dong ngoài tâm cầu Phật,
Xu trục trần vật chất say mê,
Mây giăng ô cửa lạc đề,
Đoanh xoay lưới rập mà ngờ trường lưu!
Lấy huyễn hữu cho là chân tướng,
Nhận không hoa ngỡ tưởng trường tồn,
Mãn say những lối mộng hồn,
Đường chơn quên hẳn tâm tôn lạc loài.
Nay Bát nhã trần ai đứng gọi,
Kêu khách trần dẹp thói tham sân,
Cùng nhau hối quá tự tân,
Vén mây trùng ám, bóng trăng sáng lòa.
Trăng không sáng chẳng qua mây tỏa,
Trí chưa minh vật vả phù trầm,
Hỡi ai sớm tự xét thân,
Tuy là huyễn chất ẩn thần hư linh.
Sự pháp giới thinh thinh chân tướng,
Trong mảy trần dung dưỡng tự nhiên,
Những gì chất chứa não phiền,
Vô minh trói buộc biến thiên luân hồi.
Chừ nay đặng nhân thân nan đắc,
Tánh linh tri rõ mặt muôn loài,
Duyên trần há để đeo đai,
Ngọc lành bùn lấp, sen vàng cát pha.
Bến lục đạo vào ra chi nữa?
Kìa ba xe chọn lựa kíp lên,
Tử sanh xoay chóng dường tên,
Nỡ say trần khổ mà quên nẽo về!
Trường ngũ dục ham mê mấy chút,
Bãi tha ma hủy phút công danh!
Dã tràng một kiếp tan tành,
Nghiệp duyên trói buộc ai đành chịu cho!
Qua bến khổ kìa đò lục độ,
Lướt sông mê sẵn chỗ thuyền từ,
Còn chi tham mến phù hư,
Lên bờ giải thoát ta chừ thênh thang...
 
 
 
 

------------------
-  Bài do Hòa thượng Thích Minh Nguyệt sáng tác, đăng trong tạp chí Bác Nhã Âm, số ra năm 1942, Thiên Thai Thiền Giáo Tông Liên Hữu Hội ấn hành, chùa Thiên Thai Bà Rịa 1942.
(1)  Bành : Bành Tổ, người sống tám trăm tuổi thời cổ đại. Thương : vua Kiệt nhà Thương, nổi tiếng tàn ác vô đạo.
(2)  Cát Lượng : tức Khổng Minh Gia Cát Lượng, quân sư của Hán Đế Lưu Bang thời Tam Quốc, Trung Hoa.
(3) Tức Hạng Võ, danh tướng thời Hán Sở, cổ đại Trung Hoa.

322- SÁM VĂN THỨC TỈNH THẾ GIAN
(Văn khuyến tu 14)

Nhàn lai vô sự bất thong dong,
Tỉnh giấc đông song, nhật chớm hồng,
Xét soi thế sự càng nồng,
Những phú quí, công danh càng ngánngẫm.
Nhật ngã về tây, thiên địa ám,
Giấc Nam Kha thảm đạm xiết dường bao !
Xưa nay mấy kẻ anh hào,
Chợt nhìn võ trụ phải chào non sông.
Xót thương thay ! lòng buộc lấy lòng,
Ngao ngán nỗi ! nhợ tằm giăng trói kén.
Bầu tạo hóa rót chào bốn chén (1)
Ngẩn ngơ hồn mặc khách tao ông.
Chữ rằng : vạn vật giai không,
Lẫy lừng cho nhọc, khó mong được gì !
Dẫu tài hay diễn tẩu cao phi, (2)
Vô thường đáo, nan trì nan bã. (3)
Lắm mưu chước, lắm tài hay càng dễ ngã,
Máy hồng trần, đại tạ biết bao người.
Lụy trần như giữa giòng khơi,
Chưa toan tìm bến, đua bơi làm gì ?
Ít ai biết nghĩ suy cho thấu,
Gẫm cuộc đời như châu chấu bắt xe,
Thà rằng riêng phận muối dưa,
Còn hơn thế sự đong đưa mơ màng !
Người tỉnh ngộ, tìm đường giác ngộ,
Nẽo đường thanh, bạn với trăng thanh,
Gát ngoài tai thế sự đua tranh,