PHẦN
THỨ II
SÁM
VĂN KỶ NIỆM PHẬT BỒ TÁT
GIỚI
RĂN
289.
Sám Thánh Đản Quan Âm
290.
Sám Tụng Quán Ââm Đại Mẫu
291.
Sám Kệ Niệm Phật
292.
Sám Tụng Quan Ââm TARA
293.
Sám Răn Bỏ Trầu Thuốc
294.
Sám Ngũ Giới Cấm
295.
Sám Văn Ngũ Giới Cấm
296.
Sám Thọ Ký
297.
Sám Niệm Phật
289-
SÁM THÁNH ĐẢN QUAN ÂM
(Sám
tụng Quan Âm 9)
Chúng
con cung kính nghe rằng :
Hương
sơn đại định,
Viên
thành ngàn vạn đà la,
Nam
hải trùng ba,
Quảng
phát mười hai diệu hạnh.
“Viên
Thông” hiệu thánh,
“Tự
Tại” tên lành,
Cứu
khổ thầm thanh,
Độ
sanh tùy nguyện.
Hôm
nay đạo tràng khai diễn,
Giờ
này thánh lễ cữ hành,
Kính
dâng hoa giác đôi cành,
Phụng
hiến hương lòng một đảnh.
Cúng
dường Quan Âm vía thánh,
Lễ
bái Bồ tát mẹ hiền,
Ngửa
mong Đại sĩ linh thiêng,
Dũ
ánh quang minh chứng giám.
Chúng
con còn nhớ rằng :
Thuở
xưa Chánh Pháp Minh vương,
Đời
này Quan Âm Bồ tát,
Trợ
Phật Di Đà Cực Lạc,
Tràng
phan tiếp dẫn Tây thiên.
Giúp
Thầy Thích thị Kỳ Viên,
Thuyết
pháp độ sanh Đông độ.
Hiện
ba hai (32) thân cứu khổ,
Độ
hai bảy (27) chướng nạn cầu,
Đa
phương diệu dụng nhiệm mầu,
Nhất
niệm thần thông hiển hiện.
Nhơn
gian gái trai biết tiếng,
Thiên
hạ già trẻ nghe danh,
Phổ
môn tụng niệm chí thành,
Bát
nhã thọ trì cung kính.
Cành
dương sái tịnh,
Nước
pháp tẩy trần,
Gia
hộ nhân dân,
Dắt
dìu Phật tử.
Tôn
thờ khắp xứ,
Tín
ngưỡng mọi nhà,
Công
đức Phật bà,
Vô
biên vô tận.
Sanh
thời mạt vận,
Sống
kiếp hậu anh,
Đạo
nghiệp khó thành,
Chướng
duyên dễ ngại.
Tu
hành giãi đải,
Danh
lời tìm cầu,
Vì
vậy bể khổ còn sâu,
Sông
mê chưa cạn.
Ba
tai tám nạn,
Sáu
cõi ba đường,
Bất
trắc tai ương,
Vô
thường biến động.
Hoài
nghi kiếp sống,
Hồi
hộp cuộc đời,
Khó
hỏi đất trời,
Dễ
hơn số mạng.
Do
đó nếu không nhờ mẹ hiền cứu nạn,
Không
mong gì con dại thoát tai.
Từ
tâm cứu khổ mọi loài,
Bi
nguyện dắt dìu quảng đại.
Trước
đài một lòng lễ bái,
Trên
tọa muôn đức cảm thông.
Nam
mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn
Quan
Thế Âm Bồ tát.
------------------
-
Bài in trong “Pháp sự Khoa nghi Việt ngữ” tập I của soạn
giả Thích Giải
Hòa,
NXB Tôn Giáo ấn hành, Tp. Hồ Chí Minh, 2000.
290-
SÁM TỤNG QUAN ÂM ĐẠI MẪU
(Sám
Tụng Quan Âm 10)
Trước
đạo tràng từ bi bảo điện,
Các
chúng con tề tựu quanh đây,
Lòng
tưởng niệm công ơn đại mẫu,
Đem
lòng từ cứu khổ chúng con.
Trong
quá khứ mê mờ ái dục,
Biển
vô minh nghiệp báo tràn đầy,
Vào
thường trụ chùa chiền trộm cắp,
Lấy
tư riêng làm vật của mình.
Lời
Phật dạy chẳng nghe chẳng biết,
Phỉ
đại thừa, Tam bảo khinh chê,
Nương
tánh ác theo điều bất thiện,
Phá
tăng nhân, đốt hủy điển kinh.
Bao
tội báo biết nào tỏ hết,
Nghĩ
trò vui, hại kẻ nghèo nàn,
Lòng
sát hại bao nhiêu sinh vật,
Chẳng
biết thương, bất hiếu mẹ cha.
Tâm
tạo ác bao nhiêu phương cách,
Nghĩ
mưu này chước nọ hại người,
Lòng
chẳng biết ăn năn sám hối,
Nghiệp
chất chồng vô thủy sâu xa.
Nay
gặp phải kiếp gian kiếp ác,
Sanh
nghèo nàn bệnh tật, đui mù,
Bao
cảnh khổ tù đày giam hãm,
Sống
ngoài đời xã hội khinh chê.
Thân
cùng cực, cầu không như ý,
Vợ
chia lìa, con phải cách xa,
Trăm
việc khổ, vướng vào tù tội,
Thật
biết gì tả hết đau thương !
Vòng
lục đạo lang thang lên xuống,
Nẽo
luân hồi muôn kiếp trôi lăn,
Quỳ
trước điện Quán Âm từ mẫu,
Nay
cuối đầu sám hối thành tâm.
Đem
chút phước nhân duyên còn lại,
Cúi
đầu thành đảnh lễ ăn năn,
Cùng
chư Phật mười phương Bồ tát,
Mở
lòng từ dắt dẫn chúng con.
Bao
tội khổ lang thang biển khổ,
Quy
hướng về ánh đạo từ quang,
Thương
con dại trong cơn lầm lạc,
Rước
con về từ chốn lầm than.
Xin
từ lực Quán Âm đại mẫu,
Tầm
cứu trợ chúng con hoạn nạn,
Sớm
xa lìa nghiệp cảnh ác duyên,
Và
dạy bảo chúng con tu tập.
Xin
từ mẫu gia trì hộ trợ,
Bao
phương tiện cùng Ba la mật,
Lẫn
chánh tâm niệm Phật Di Đà,
Và
phương cách tu thành trí tuệ.
Đem
chỉ bày tận tỏ cội nguồn,
Hầu
lục đạo chúng sanh thoát khổ,
Đều
hướng về pháp bảo Phật đà,
Cùng
hoan hỷ quy y Tam bảo.
Nam
mô Viên Thông Giáo chủ Đại từ Đại bi Tầm thanh Cứu khổ
Quảng đại Linh cảm ứng Quán Thế Âm Bồ tát Ma ha tát.
--------------------
-
Bài được tìm thấy trên website Tịnh Độ Pháp Uyển, không
rõ tác giả.
-
Biên giả có sửa lại vài từ, đổi và thêm câu cho đủ
khổ vận.
291-
SÁM KỆ NIỆM PHẬT
Một
tiếng Phật hiệu, một tiếng tâm,
Nếu
tín tâm thâm, Phật càng thâm
Mắt
mộng chưa mở, tình loạn đuổi,
Từ
quang thường chiếu cõi u trầm.
Một
tiếng Phật hiệu, một tiếng lòng,
Tuyệt
diệu viên âm, nghe hiện kim.
Sao
có biết bao “si hán tử”,
Vẫn
lấy lá úa bỏ vàng ròng.
Một
tiếng Phật hiệu, một tiếng tâm,
Núi
tự cao chừ, nước tự sâu,
Chẳng
phải cung thương bao khúc điệu,
Chung
- Kỳ vị tất đã tri âm.
Một
tiếng Phật hiệu, một tiếng tâm,
Cửu
Pháp - tàng khai, thâm lại thâm,
Vạn
luận ngàn kinh đều nói hết,
Rõ
ràng đề mục chỉ như kim. (hiện giờ)
Một
thanh Phật hiệu, một thanh tâm,
Lá
tốt là do tự rễ sâu,
Chi
cậy gió Ðông về khẽ thổi,
Ưu
đàm hương vẫn nức tòng lâm.
Một
thanh Phật hiệu, một thanh tâm,
Hướng
thượng toàn đề nhập tủy thâm,
Lâm
Tế, Ðức Sơn như chửa thấu,
Để
rồi Trượng hét rộn thiền lâm.
Ta
Bà uế độ: duy tâm uế,
Cực
Lạc hương nồng: tự tánh hương,
Chẳng
hướng tông này suy thấu triệt,
Thì
sao tìm thấu chốn Tây Phương.
Nói
đến Liên Bang mưa lệ rơi.
Diêm
Phù nẻo khổ đáng thương thay!
Thế
gian, xuất thế suy cùng khắp,
Chẳng
niệm Di Ðà biết niệm ai?
Si
mê một niệm đọa Ta Bà.
Trường
kiếp trầm luân biết phải là!
Uế
độ muốn xoay thành Tịnh độ,
Toàn
thân chuyển niệm Phật Di Ðà.
Yên
phần giữ phận thái bình Tăng,
Liễu
tử thoát sanh chưa từng khước.
Chỉ
nguyện danh đề trong nhụy phẩm,
Nào
mong cao vọng đến truyền đăng,
Nói
đến vô thường những não lòng,
Trăm
năm chỉ thoáng biết chi làm?
Chỉ
mong Từ phụ giữ lòng thương,
Cho
cành sen nhỏ cũng cam lòng.
Tròn
phát ba tâm, tâm lại thiết,
Chỉ
hoài một niệm, niệm càng kiên.
Suốt
đời chẳng khởi lòng chi khác,
Chỉ
dốc gieo mầm thượng phẩm liên.
Học
đạo nay đà bốn chục niên,
Đường
về quê hãy y nhiên.
Chuỗi
tròn trăm tám luôn lần mãi,
Tâm
- Phật - Chúng sanh nhứt quán xuyên.
Di
Ðà, tự tánh lưỡng tương đương,
Cùng
chuyển cùng che chẳng ngại chương.
Niệm
đến viên dung chẳng chỗ trệ,
Thì
là ngửi được ngẫu hoa hương.
Khẩn
thiết niệm như cứu cháy đầu,
Ta
Bà nào phải ở hoài đâu.
Nay
buông tay tức về ngay đó,
Sánh
với tiền Hiền kém chút thôi.
Một
niệm Hồng danh, một đóa sen,
Thanh
thanh lưu xuất tự trong tâm.
Chỉ
sao niệm niệm cho tương tục,
Chẳng
sợ Di Ðà chẳng hiện tiền.
Tôi
niệm Di Ðà có khóa trình,
Sớm
chiều mười vạn niệm phân minh,
Muốn
sao đến chết thường như vậy,
Tịnh
nghiệp ai lo thành chẳng thành.
Cố
hương biền biệt trải qua bao,
Thống
thiết trông về mãi khát khao.
Mình
niệm Di Ðà, Ngài niệm lại,
Cha
- Con bảnh tánh cùng tương giao.
Một
A Di hết lại Di Ðà,
Ngoài
niệm đó thì chẳng biết chi.
Lần
chuỗi niệm hoài cho chuỗi đứt,
Cơm
thơm, rau chín đã lâu rồi.
Tăng
quê này chuyên tu Tịnh Nghiệp,
Ðến
đây xin khách rủ hồng trần.
Thế
gian có biết bao nam tử,
Chẳng
biết đường Tây rất tối chân.
Tâm
thường cơm cháo một nhàn tăng,
Luật,
giáo, thiền tông thảy chẳng năng,
Phật
hiệu sáu thời thường mật chuyển,
Nhất
tâm bất loạn rốt chưa từng.
Tịnh
Ðộ duy tâm biết chỉ tôi,
Người
mê đường rẽ dắt xa xôi.
Cố
hương về được, về ngay đó,
Kim
sắc hoa khai chánh lúc này.
Duy
tâm Tịnh độ mấy người tu?
Sáu
chữ Hồng danh phải khẩn trì;
Mãi
tới thủy cùng sơn tận xứ,
Lạc
Bang chẳng cách một hào ly.
Sóng
yên trăng hiện, chưa hoàn hảo,
Ðất
ấm hoa khai, dụ thật hay.
Phật
hiệu nhất thanh, sen chín phẩm.
Thấp
cao phần vị thuộc do ai?
Cùng
với Di Ðà có túc duyên,
Bình
thường hiện rõ mãi như nhiên.
Bằng
như chẳng đoạn trần duyên niệm,
Thì
phụ trân trì đại bảo liên.
Duy
tâm đủ tạo lý phân minh,
Chín
phẩm liên hoa bởi niệm thành.
Thử
giở Kim Kinh nghe giảng thuyết,
Câu
câu cùng một lý tương đương.
Bốn
cõi đâu từng khác cõi đây,
Ba
thân đích thật chính thân này.
Thân
- cõi vốn là xuyên nhất quán,
Mỗi
lần cử niệm, mỗi lần thân.
Sáu
chữ Di Ðà niệm tựa ngây,
Giống
như đã chết chỉ chưa mai. (chôn)
Cảnh
Ta Bà lắm sanh oan nợ,
Quyết
phải trở về Tịnh độ thôi!
Cắt
đứt duyên trần chẳng thiết chi,
Toàn
thân dốc sức niệm A Di.
Ta
Bà chán lắm luân hồi khổ!
Sớm
hướng Liên trì chiếm một chi. (1 cành sen)
Mười
vạn Di Ðà niệm đã xong,
Đỉnh
đồng trước án vẫn xông hương.
Áo
y còn đắp nhưng mơ thiếp,
Hồn
mộng du về thăm cố hương.
Một
đóa hoa hàm một thánh thai,
Trên
ghi tên tuổi thật kỳ thay!
Xưa
nay nhân quả từ tâm hiện,
Lý
ai đành rành chớ khá nghi.
Hồng
danh sáu chữ: Thủy Thanh Châu,
Tấc
dạ trong ngần, ưu lự thôi.
Mát
mẻ đây chừ gì sánh được?
Giữa
đời vạn dặm ánh trăng soi.
Đã,
đang, sẽ nguyện; đã, đang sanh,
Phật
đích thân truyền dạy chúng sanh.
Cớ
chi Ta bà hoài quyến luyến,
Tự
cam khổ lụy, chuộng đa tình!?
------------------
-
Nguyên tác là “Kệ Niêm Phật” của Liên tông Thập Nhị
Tổ Triệt Ngộ Đại Sư soạn, trong “Mộng Đông Thiền Sư
Di Tập”, do tỳ kheo Thích Nguyên Thành dịch, đăng trong website
Tịnh Độ.
-
Biên giả trích soạn từ phần hai, lược bỏ phần một cho
ngắn bớt, để thực hiện thành bài sám văn dễ dàng tụng
đọc phổ thông.
292-
SÁM TỤNG QUAN ÂM TARA
(Sám
Tụng Quan Âm 11)
Nam
mô thị hiện TARA Phật,
Biêng
biếc mắt xanh chiếu Ta-bà,
Vì
độ quần sanh làm thân nữ,
Tam
Giới liên hoa ngọc lệ thành.
Khể
thủ tướng hảo vạn trăng thu,
Diệu
vợi muôn sao phổ sáng ngời,
Vằng
vặt trên cao vô số ức,
Từ
quang rạng rỡ khắp muôn trời.
Khể
thủ thân tướng tợ kim ngân,
Sáu
hạnh liên hoa vô nhiễm trần,
Bố
thí, Trì giới đồng Kham nhẫn,
Tinh
tấn, Thiền định, Huệ quang tâm.
Nam
mô danh Tara Bồ tát,
Vô
thủy vô chung vượt mê lầm,
Vô
biên thế giới ưng đảnh lễ,
Ðáo
Bỉ Ngạn con nguyện theo Ngài.
Vô
thượng thần chú TUTTARA,
HUM
Ðại hùng đại lực đại mật âm,
Phá
tan dục vọng thệ hoằng thâm,
Muôn
cõi theo Ngài giải thoát tâm.
Vô
lượng Thánh hiền ái kính Danh,
Ða-hàm,
Thần Hỏa, Phạm thiên nhân,
Ma
vương, dạ xoa đồng chư quỷ,
Nhứt
thiết thế gian tác lễ Danh.
Nam
mô TRAT PHAT chú cam lồ,
Hàng
yêu phục quái diệt tam đồ,
Nơi
nào hung hiểm chân Ngài đến,
Ðuốc
tuệ vô biên bạt minh đồ.
Nam
mô oai vũ chú TURE,
Hàng
ma trừ quái diệt tà binh,
Liên
hoa tướng hảo từ bi hiện,
Phổ
chiếu quang minh địa ngục lùi.
Ngọc
thủ liên thành phát tịnh quang,
Án
Tam muội hiện khắp thế gian,
Kim
luân thường trụ thường lưu chuyển,
Bất
đoạn từ tâm tự chiếu thành.
Nam
mô Hoan hỉ TARA Phật,
Vi
diệu hào quang thân hiệp thành,
TUTTARE
pháp âm thường niệm,
Thắng
hết muôn loài khổ nạn tan.
Nam
mô diệu lực danh Bồ tát,
Vì
độ chúng sanh triệu hộ thần,
Dùng
muôn phương tiện Thanh Lương địa,
Tối
thượng âm HUM nguy hiểm tàn.
Nam
mô đảnh thượng nguyệt cung quang,
Chiếu
hộ quần sanh bất thất thời,
Trùng
trùng ánh sáng từng chân tóc,
Phổ
chiếu hào quang Phật Di Ðà.
Nam
mô tướng hảo quang cung Phật,
Rực
rỡ chính phương ngọn lửa thần,
Biến
ánh từ quang thành binh tướng,
Thiêu
hết hung đồ diệt ma quân.
Nam
mô uy dũng lôi chấn địa,
Ðại
hùng Phật thủ lực nan tư,
Cử
túc âm thinh rền địa ngục,
Chinh
phục mười phương diệu âm HUM.
Nam
mô Công đức, Từ bi, Hỉ,
Thanh
tịnh thường cư, cõi Niết bàn,
Biến
mãn không trung HUM hoằng phát,
SVAHA
năng bạt mê lầm.
Nam
mô biến khổ thành an lạc,
Tùy
duyên phương tiện hiện sắc thân,
Giải
thoát giải thoát tầm thinh nguyện,
Oai
vũ HUM thập đại âm thần.
Nam
mô đại sĩ cử túc tôn,
Chủng
tử uy nghi pháp tướng Hum,
Ðại
địa rung rinh tam giới chuyển,
Tu
di, Mạn-đà đồng chư thiên.
Nam
mô tướng hiện bàn tay ngọc,
Sáng
tựa trăng cao khắp cõi trời,
Hai
lần mật chú TARA PHAT,
Phá
bỉ trần lao nghiệp chướng tàn.
Nam
mô tam giới chi Bồ tát,
Nhơn-phi-nhơn
thánh hiền cử tán,
Bi
nguyện muôn phương tràn đại hỉ,
Tiêu
trừ hư vọng phá ma vương.
Nam
mô thiên nhãn châu quang diệu,
Nhật
nguyệt liên hoàn khắp cõi tiên,
HARA
thần chú TUTTARE,
Pháp
ngữ minh thời ngọc kệ tuyên.
Nam
mô giải thoát tam thế tri,
Ðại
hùng đại lực đại từ bi,
TURE
đại chú chư thiên hộ,
Thoát
ly lục đạo ngã qui y.
-------------------
-
Bài do TÂM TRI dịch, nhân Ðức Ðạt Lai Lạt Ma hoằng pháp
tại Úc mùng 8 tháng 4 Nhâm Ngọ (2002)
-
Được biên giả tìm thấy trên website Di Đà Nguyện Hải,
nhận thấy bài này được dịch giả dịnh thành văn vần,
có thể phổ biến rộng rải nên chọn làm sám văn cho thể
loại sám tụng. Vì đây là pháp môn thuộc Kim cang thừa, nên
biên giả giữ nguyên không thay đổi những chữ thuộc Phạn
ngữ như đã dịch.
293-
SÁM RĂN BỎ TRẦU THUỐC
Chúng
ta đã xuất gia thế phát,
Cũng
nghĩ điều giải thoát thân tâm,
Nào
tham dục, nào ái ân,
Nào
là tài vật cũng phân cho rồi.
Gẫm
thân thế bèo trôi giữa biển,
Bởi
vì đâu xui khiến như vầy,
Vì
tài vì sắc đắm say,
Vì
ăn vì uống kéo dây hoài hoài.
Mắt
còn mở hỏi ai, ai đó ?
Mắt
nhắm rồi không có, có không,
Ba
ngàn thế giới mênh mông,
Biết
ai đem đặng tấm lòng ta xưa.
Lòng
ta lúc còn chưa vật nhiễm,
Cũng
đều là một điểm quang minh,
Vì
chưng tham dục buộc mình,
Khiến
nên thân thể linh tinh giữa trần.
Sao
chẳng nghĩ tóc râu còn xả,
Huống
của tiền lại sá chi đâu,
Đã
về cõi Phật mà tu,
Chi
chi cũng bỏ, “thuốc trầu” còn ăn !
Trầu
có thuốc đánh răng mới đã,
Không
thuốc trầu sao đã bệnh ghiền,
Thuốc
trầu trầu thuốc liên miên,
Lâu
thời phải tốn của tiền không hay.
Người
ăn ít năm ngày một cắc,
Kẻ
ăn nhiều một cắc hai ngày,
Tính
dồn cho đến trăm ngày,
Mất
bao nhiêu bạc có hay chăng là ?
Người
giàu có chắc là không kể,
Kẻ
túng nghèo tình tệ biết bao,
Có
khi thơ thẩn ra vào,
Thấy
ai cũng hỏi cũng chào mà xin.
Việc
trầu thuốc đã ghiền như thế,
Việc
tu hành chậm trễ xiết bao,
Trầu
ghiền suy yếu về sau,
Thuốc
nghiền thì cũng kéo nhau ra đàm.
Có
ích gì thường ham theo mãi,
Tưởng
như vầy cũng bãi cho rồi,
Đắng
cay đến thế thì thôi,
Mấy
phen lầm lỗi mấy hồi ăn năn.
Ai
tạo nghiệp phải ăn trầu thuốc,
Thiệt
se dây mình buộc lấy mình,
Làm
cho tổn huyết hao tinh,
Làm
cho mất thể, kẻ khinh người cười.
Áo
cà sa đủ đời thọ dụng,
Mùi
thanh trai tưởng cũng no lòng,
Thuốc
trầu là vật giả dung,
Chi
bằng bỏ hết vui cùng Phật Tăng.
Tranh
vân cẩu khi tan khi nhóm,
Cuộc
bể dâu khi đổi khi dời,
Ngán
thay! tan, nhóm, đổi, dời,
Chắc
gì danh lợi mùi đời mà ham.
Bất
đắc dĩ áo cơm chẳng bỏ,
Vì
thân nầy còn chỗ cậy trông,
Thân
là đạo khí của chung,
Nếu
thân chẳng có, đạo không chỗ về.
Song
cũng giữ một bề tiết kiệm,
Độ
qua ngày đâu dám mặn nồng,
Thuốc
trầu còn phải sai lầm,
Còn
như tài sắc không mong đặng nào.
Huống
phép Phật người đều kính cúng,
Cúng
hương hoa, ai cúng trầu cau ?
Chư
huynh cấm giới cùng nhau,
Đã
về cõi Phật phải hầu bỏ đi.
Rày
sắp tới tôi đây cũng bỏ,
Xin
quỳ hương cho rõ tấm lòng,
Lời
một niệm, tiếng kiêm chung,
Ai
mà giả dối, chứng cùng Như Lai.
Vậy
có kệ rằng :
Hút
thuốc sanh đàm, hốc phế ta,
Ăn
trầu nhai nhổ, tổn tinh ba,
Vẫn
không có bệnh làm cho có,
Có
chắc mang eo lắm các nhà.
--------------------
-
Nguyên tác của HT. Huệ Đăng, Chùa Thiên Thai Bà Rịa sáng
tác năm
1936
để răn chúng tu học phải bỏ trầu htuốc.
-
Trích từ “Bác Nhã Âm tạp chí”, số 04 năm 1936, Thiên Thai
Thiền Giáo Tông Liên Hữu Hội xuất bản, Bà Rịa, 1936.
294-
SÁM GIỚI NGŨ CẤM
(Sách
Tấn Tu Tập 17)
Người
tu học cần trau giới cấm,
Giới
cấm gìn, dù chậm cũng mau,
Thử
xem chư Tổ khác nào,
Thân
tâm thanh tịnh ra vào thảnh thơi.
Muốn
định huệ đừng rời luật giới,
Giới
luật rời định huệ khó mong,
Đạo
Tuyên xưa lập luật tông,
Rộng
giăng giới pháp, rắm trồng giống linh.
Phận
thiện tín răn mình trong sạch,
Quả
Bồ đề chẳng cách bao xa,
Chớ
cho nhiễm lấy thói tà,
Qui
y Tam bảo kể ra năm điều :
1 -
Nhứt viết bất sát sanh :
Người
vật đồng loài chớ rẽ khinh,
Giữ
câu bác ái sớm răn mình,
Trả
vay, vay trả chi nên nợ,
Biết
thuở nào xong cuộc tử sinh.
Chữ
NHÂN là phải lo giới sát,
Thương
các loài in tạc như ta,
Cũng
thì máu thịt ruột rà,
Tánh
linh âu cũng Di Đà ban cho !
Tuy
không nói nhưng so cho kỹ,
Thể
cùng người húy tử tham sinh,
Những
loài xuẫn động hàm linh,
Giết
đi ai nỡ béo mình thiệt kia.
Nên
Phật cấm phải lìa sanh sát,
Chữ
từ bi ghi tạc lòng son,
Ngâm
câu bác ái vuông tròn,
Thế
gian rồi sẽ như con một nhà.
2
- Nhị viết bất thâu đạo :
Gian
tham dối trá mấy ai khen,
Tu
học khen nhau gắng chí rèn,
Luật
pháp chẳng dung người trộm cắp,
Tây
phương nào chứa thứ hư hèn !
Chữ
NGHĨA là cấm chừa trộm cắp,
Lòng
xan tham chớ tập, tránh xa,
Cũng
đừng đem dạ tinh ma,
Gạt
người lấy của, nhu hòa giả danh !
Công
khó nhọc người dành sẵn để,
Giọt
mồ hôi đâu nệ công lao,
Chớ
mong đổi ý khác nào,
Toan
lo gạt gẫm mưu cao về mình.
Phật
thường dạy phá trừ tham dục,
Dụng
gươm thần, liễu thúc tâm viên,
Xét
suy cho thấu chư duyên,
Cõi
đời mộng huyễn, bạc tiền ra chi ?
3
- Tam viết bất tà dâm :
Năm
điều dâm nghiệp bước chân ra,
Cũng
bậc nhơn thiên, cũng gọi là,
Bể
ái dồi dào con sóng sắc,
Cư
trần chẳng bợn xuất Ta bà.
Chữ
LỄ là cấm trừ dâm nghiệp,
Chớ
quen theo đắm nguyệt say hoa,
Tu
hành phải giữ tinh ba,
Muôn
vàn tội ác, tà dâm đứng đầu.
Trong
Tam giáo mặc dầu răn dạy,
Người
thế thường tục bại đồi phong,
Ít
ai giữ thửa chánh lòng,
Bánh
xe duyên nghiệp chạy trong biển trần!
Đường
chồng vợ khuyên lần tiết dục,
Chớ
say mê mãi miết hình hài,
Cửa
kia, cửa đọa, cửa đày,
Trầm
luân sanh tử mỗi ngày thêm sâu !
4
- Viết bất vọng ngữ :
Một
lời chân thật đủ làm gương,
Ăn
nói sao ra khác kẻ thường,
Khẩu
nghiệp khá tua gìn chánh ngữ,
Ngữ
ngôn âu cũng dụng nhiều phương.
Chữ
TÍN là cấm dùng vọng ngữ,
Lời
chánh chơn thêm giữ oai nghi,
Cũng
đừng thêu dệt thị phi,
Chuyện
đâu bỏ đó chớ bì hơn thua.
Lời
ác khẩu, tranh đua hoặc thế,
Lối
dâm từ, ỷ ngữ xiên ngoa,
Giới
răn ta phải thật thà,
Nói
năng từ thiện, ôn hòa từ bi.
Do
chữ khẩu, sanh ra bốn nghiệp,
Tu
cho tròn, miệng hiệp lòng lành,
Công
phu tu tập cho thành,
Thốt
ra nhiều kẻ phụng hành kỉnh tin.
5
- Ngũ viết bất ẩm tửu :
Rượu
là thuốc độc phải răn lòng,
Chớ
để say mê bỏ luống công,
Cất
chén thử xem, trời thấp bé,
Bầu
huỳnh rót cạn, đất lăn tròn.
Chữ
TRÍ là cấm từ uống rượu,
Việc
lỗi lầm do tửu làm duyên,
Người
khôn uống đến cũng ghiền,
Thần
hư, khí tán, dữ hiền biết đâu ?
Kìa
những kẻ giải sầu mượn chén,
Chén
cạn rồi, nhạo hẹn cùng ly,
Rượu
vào thêm tánh sân si,
Lòng
tà hôn muội kể gì đến thân.
Phật
thấy vậy ân cần dặn bảo :
Người
tu hành học đạo từ bi,
Sớm
trưa giới luật thọ trì,
Giữ
lòng chánh tín, đợi kỳ vãng sanh !
Trong
ngũ giới phân rành tỏ rõ,
Người
thiện tâm lấy đó thềm thang,
Một
lòng tinh tấn đâu màng,
Công
viên quả mãn vào đàng vĩnh sanh !
Dừng
gọi rẻ tranh giành cao thấp,
Năm
giới đầu luyện tập xong chưa ?
Chớ
rằng tu học « Tiểu thừa »
So
cao tính thấp, lọc lừa mặc ai !
Khuyên
những khách trì trai niệm Phật,
Ráng
tu hành, chẳng thất kỳ công,
Sớm
khuya giới luật tinh ròng,
Chơi
chèo Bát nhã, lướt giòng Ma ha.
Ngày
đêm chuyên niệm Di Đà !
-----------------------
-
Bài của Thích tử Thưòng Lạc, Long Xuyên, đăng trong tạp
chí Bác Nhã Âm số 7, Thiên Thai Thiền Giáo Tông Liên Hữu
Hội ấn hành, Bà Rịa, 1937.
295-
SÁM VĂN NGŨ GIỚI CẤM
(Sách
Tấn tu Tập 18)
Ngày
nay Sám, Hối ngày mai,
Y
theo giới cấm Như Lai dạy bày.
Muốn
cho hết khổ thân này,
Giữ
năm điều cấm ngày ngày chẳng quên.
Hết
lòng niệm Phật ngày đêm,
Ba
nghiệp thanh tịnh đặng lên thiên đàng.
Tu
thêm công đức vẹn toàn,
Duyên
lành phước đủ Niết bàn chẳng sai.
Xưa
không tin tưởng Như Lai,
Tạo
ba nghiệp ác ngày nay khổ nàn.
Thật
là quả báo nhãn tiền,
Có
vay có trả dám phiền cùng ai.
Vô
minh mê muội lầm sai,
Khiến
người tội ác, không hay biết mình.
1-
Sát sanh mạng vật nuôi người,
Ăn
tươi nuốt sống, chẳng tình xót thương.
Xúi
thêm người vật bất lương,
Giết
nhau qua lại, vấn vương chẳng tường.
Giết
ăn, hoặc bán, không lường,
Vì
lòng tham lợi, quên đường thiện nhân.
Oan
oan tương báo cõi trần,
Tranh
giành lẫn hại, chịu phần khổ lao.
Xét
ra nhơn vật giống nhau,
Hại
nhơn nhơn hại, chịu đau khổ hoài.
2-
Tham lam trộm cướp gia tài,
Cây
kim ngọn cỏ giá vài ba xu.
Chẳng
cho mà lấy êm ru,
Gạt
người dối trá ý lưu muốn thèm.
Bày
điều đặt chuyện pha dèm,
Để
người lầm tưởng mà kèm xin thêm.
Lòng
tham lo tính ngày đêm,
Mưu
kia kế nọ lấy kèm nuôi thân.
Hoặc
nuôi quyến thuộc ái ân,
Làm
cho người phải khổ thân buồn rầu.
Người
khổ ta sướng được đâu,
Nhớ
đừng trộm cướp để sầu phải mang.
3-
Tà dâm tội trọng muôn ngàn,
Nghĩ
lường tình toán lòng càng mê si.
Vợ
con người lại rủ đi,
Thất
trinh mất tiết khinh khi tiếng đời.
Chê
cười cha mẹ nhiều lời,
Cha
con chồng vợ rã rời oan ương.
Xấu
hỗ nhục nhã ghét thương,
Oan
gia tương báo vấn vương đời đời.
Thương
nhau cũng khó bứt rời,
Ghét
nhau cũng khó đoạn rời phân ly.
Đến
khi chết mất ai bi,
Lại
mau chôn lấp mất đi cho rồi.
Chưa
chôn cũng khó yên ngồi,
Xì
hơi hôi hám bồi hồi gớm ghê.
Nghĩ
mà thêm chán thêm chê,
Đời
người giả tạm chớ mê chớ lầm.
Sống
chết không thể giữ cầm,
Nhơn
duyên hội hiệp gốc lầm thuở xưa.
Sát
đạo dâm vọng quá ưa,
Hiện
thân đền trả mà chưa tỏ lòng.
Tánh
xưa nay đã tỏ chưa ?
Tỏ
rồi cũng chẳng ghét ưa làm gì.
Cùng
nhau ăn ở tạm thì,
Dụng
lòng bình đẳng tu trì rảnh rang.
Chớ
đừng buồn tủi riêng than,
Mà
mang quả báo trái oan đời đời.
4-
Nói láo, chẳng nói thật lời,
Chuyện
không nói có, có thời nói không.
Nói
lời đâm thọc kia đây,
Mặt
phải, lưng quấy, nói trây cho người.
Phải
quấy, quấy phải hai lòng,
Làm
cho quyến thuộc vợ chồng cách xa.
Ỷ
lời mắng nhiếc gần xa,
Miệng
ác chửi rủa rầy la họ hàng.
Anh
em cô bác xóm làng,
Không
kiêng không nể không hàng phục ai.
Ỷ
mạnh hiếp yếu là oai,
Tay
chân đánh đá chê bai nhạo cười.
Thân
ta ví cũng thân người,
Hơn
người người giận, hơn ta ta buồn.
Giận
người người giận ghét ta,
Thương
người người lại thương ta lạ kỳ.
5-
Uống rượu ưa uống nhiều thì,
Ganh
ăn mê ngủ nói gì chẳng kiêng.
Lững
lờ ngả gió đi xiên,
Nằm
bờ té bụi như điên khác nào !
Cuồng
tâm loạn trí tổn lao,
Nhiều
người vì rượu biết bao hư nhà.
Vua
Trụ mất nước cũng là,
Tham
mê tửu sắc vậy mà đời khi.
Uống
rượu nóng độc mê si,
Xa
lần hiền thánh, ác đi lại gần.
Dầu
có tài giỏi phép thần,
Không
ai tin cậy mất phần lợi danh.
Uống
rượu mất trí khôn lanh,
Tuổi
già nhiều tật, bệnh sanh chẳng lành.
Mạng
chung mất xác đã đành,
Truyền
sang con cháu cũng đành hồn mê.
Như
vầy xét kỹ mà ghê,
Tránh
xa chớ phạm tham mê rượu nhiều.
6-
Chơi bài thua bạc quá nhiều,
Sân
si tội ác trăm chiều tánh tham.
Lường
gạt xảo trá ăn gian,
Hại
người lầm lạc tiêu tan cửa nhà.
Bài
bạc thua lận rầy rà,
Chạy
xuôi chạy ngược muợn mà thua chung.
Thua
nhiều thiếu nợ lung tung,
Cầm
quần bán áo cũng chung thua hoài.
Thiếu
ăn thiếu mặc thiếu xài,
Sanh
tâm trộm cướp bày điều hại nhau.
Giết
người lấy của cho mau,
Chia
nhau ăn uống, rủ nhau làm càn.
Hư
nhà hại nước không màng,
Hại
người quê dốt lầm đàng tà gian.
Gia
đình sự nghiệp tan hoang,
Kẻ
buồn người khóc than van thảm sầu.
Trà
đình tửu điếm ca lâu,
Ăn
chơi bài bạc, bạc đầu ích chi.
Đời
cùng thế tận loạn ly,
Bạc
bài đủ cách mê si sự tình.
Bạc
bài, bạc đãi, bạc tình,
Thay
lòng đổi dạ, tình hình khó khăn.
Bất
bình vất vả hằng năm,
Bài
gian bạc lận, giận đâm giết người.
Xưa
nay cũng đã nhiều rồi,
Sa
mê bài bạc ngậm ngùi cuồng tâm.
Biếng
ăn, biếng nói, biếng cười,
Sợ
tội sợ lỗi sợ người cười chê.
Trầm
mình tự tử thảm thê,
Những
người bài bạc u mê nhiều đời.
Năm
giới tóm tắt vài lời,
Giữ
lòng không phạm suốt đời rảnh rang.
Cầu
cho quốc thái dân an,
Gió
hòa mưa thuận lầm than không còn.
Âm
siêu dương thới vuông tròn,
Mười
phương thế giới kết đoàn tấn tu.
-------------------
-
Trích “Pháp môn đáo bỉ ngạn” của Huệ Nhật Đại sư
soạn, Linh Bửu tự Cầu Hang ấn hành, Sài gòn, 1948
-
Biên giả có hiệu đính lại cho phù hợp câu chữ..
296-
SÁM THỌ KÝ
Một
lòng niệm Phật Di Đà,
Tâm
kinh bạch tự mở ra độ đời.
Ấn
tâm thọ ký hiện thời,
Kim
ngôn phú chúc khắp nơi đắc thành.
Ăn
chay niệm Phật làm lành,
Từ
bi hỷ xả tu hành gắng công.
Nghe
danh thấy tánh tỏ thông,
Bổn
lai diện mục thật lòng chẳng xa.
Định
tâm thấy Phật lòng ta,
Tây
phương cõi Phật Di Đà phân minh.
Quan
Âm thần lực oai linh,
Hóa
thân thọ ký cầm bình nước bông.
Cam
lồ rưới khắp giáp vòng,
Chúng
sanh mát mẻ vui lòng hiền lương.
Mở
khai tâm pháp tỏ tường,
Tịnh
lòng thấy Phật mười phương độ mình.
Chọn
truyền bổn thể tánh linh,
Tam
thân vô tướng vô hình sống lâu.
Không
thương không ghét không sầu,
Không
tham không giận có đâu luân hồi.
Việc
đời muôn việc thôi thôi,
Sắc
tài danh lợi phủi rồi không không.
Các
hàng như Phật không lòng,
Con
nay đệ tử cũng đồng quy y.
Nương
theo đức Phật từ bi,
Mãn
duyên theo Phật tức thì phóng quang.
Về
nơi Cực lạc Tây phang,
Hoa
khai kiến Phật hào quang sáng lòa.
Thường
thường thấy đức Di Đà,
Hai
hàng tứ chúng lục hòa sáng trong.
Thấy
chư Bồ tát quá đông,
Lóng
nghe Phật thuyết vui lòng mở khai.
Minh
tâm kiến tánh Như lai,
Pháp
thân thanh tịnh sống dai đời đời.
Tiêu
diêu tự tại thảnh thơi,
Bình
an vô sự vui chơi thanh nhàn.
Tốt
thay cõi Phật nghiêm trang,
Nhà
lầu bằng ngọc đất vàng khắp nơi.
Đêm
ngày nghe pháp sáu thời,
Chim
linh thuyết pháp đúng giờ siêng
năng.
Người
nghe tỏ ngộ siêu thăng,
An
lòng niệm Phật Pháp Tăng tịnh bình.
Thích
Ca giảng đạo độ mình,
Di
Đà từ phụ chứng minh độ đời.
------------------
-
Trích trong “Kinh Vu Lan Bồn, Di Đà, Phổ Môn”, Ban Hộ tự
chùa Từ Quang ấn tống, Huế, PL 2513 – 1970.
297-
SÁM NIỆM PHẬT
THÍCH
TÂM CHƠN
Pháp
môn niệm Phật rất hay,
Niệm
đừng ham muốn có ngày tịnh tâm.
Còn
như miệng niệm lâm râm,
Nơi
lòng vọng tưởng thiệt lầm đó thôi !
Niệm
dù mấy kiếp chưa rồi,
Niệm
sao đi đứng nằm ngồi đừng quên.
Niệm
Phật thương dưới kỉnh trên,
Niệm
tâm hằng nguyện lo đền báo ân.
Niệm
Phật ích nước lợi dân,
Niệm
cầu bá tánh nghĩa nhân vẹn toàn.
Niệm
Phật nhẫn nại thân an,
Niệm
tâm bình đẳng lại càng hay ho.
Niệm
Phật chớ khá so đo,
Niệm
đừng hờn giận chẳng cho mích lòng.
Niệm
sao thù oán cũng không,
Niệm
cầu dân chúng qui ông Phật đà.
Niệm
câu Bồ tát Ma ha,
Niệm
trừ cho được tà ma nơi lòng.
Niệm
Phật lời nói cho công,
Niệm
tâm ngay thẳng niệm không tham tiền.
Niệm
Phật lòng dạ cho hiền,
Niệm
ngay Phật tánh, Phật liền ký cho.
Niệm
đừng giữ của bo bo,
Niệm
thời bố thí, thí cho kẻ nghèo.
Niệm
Phật giúp kẻ mắc eo,
Niệm
câu Mô Phật làm theo điều lành.
Niệm
trong ngoài nhớ thật hành,
Niệm
y Phật pháp dạy rành thuở nay.
Niệm
Phật ăn ở cho ngay,
Niệm
cầu thế giới từ rày an vui.
Niệm
đừng ngoài miệng bãi bui,
Niệm
tâm chẳng có khiến xui việc tà.
Niệm
Phật thờ mẹ kính cha,
Niệm
cầu nam nữ trẻ già nhớ câu :
A
Di Đà Phật đứng đầu,
Niệm
thường quán tưởng, niệm thâu hình Ngài.
Niệm
Phật tánh định hoài hoài,
Tâm
không xao lãng Liên đài ngồi trên.
Xuất
gia, cư sĩ đôi bên,
Niệm
Phật y pháp dưới trên phụng hành.
---------------------
-
Trích từ quyển « Tâm trí khai thông » của soạn giả Thích
Tâm Chơn,
tr.
122 – 123, Sen Vàng ấn hành, Sài Gòn, 1964.